1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ CÁC NƯỚC LỚN SAU CHIẾN TRANH LẠNH (Tiểu luận Môn Quan hệ các nước lớn sau chiến tranh lạnh)

39 3,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 330,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A, SỨC MẠNH CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH Để đánh giá sức mạnh của một quốc gia là một nước lớn có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ trong khu vực mà còn cả phạm vi toàn thế giới, có 3 đặc điểm : Sức mạnh, ảnh hưởng, tư duy. I. SỨC MẠNH CỦA MỸ 1. Sức mạnh cứng 1.1 Về quân sự Sức mạnh quân sự luôn là yếu tố cơ bản được tính đến trong chính sách quan hệ quốc tế và chính trị quốc tế. Sức mạnh quân sự là yếu tố then chốt trong chiến tranh và là yếu tố có tính chất răn đe khi không có chiến tranh. Sức mạnh quân sự thể hiện ở các mặt: số lượng và chất lượng quân đội; năng lực chi huy; trình độ lý luận quân sự và trang thiết bị, khí tài quân sự đặc biệt là những vũ khí có sức hủy diệt lớn. Trước thời kỳ chiến tranh lạnh, sức mạnh về quân sự là sức mạnh quốc gia chủ yếu của Mỹ. Về sức mạnh quân sự Mỹ hiện là siêu cường số 1 trên Thế giới. Tổng thống giữ chức vụ tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang quốc gia và bổ nhiệm các lãnh đạo của quân đội, bộ trưởng quốc phòng và Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ . Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giám sát các lực lượng vũ trang, bao gồm Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Không quân .Trong năm 2008, các lực lượng vũ trang đã có 1.400.000 quân hiện dịch cùng với hàng trăm ngàn trong mỗi ngành như Lực lượng Trừ bị và Vệ binh Quốc gia. Bên ngoài biên giới Hoa Kỳ, Quân đội Hoa Kỳ khai triển 770 căn cứ và cơ sở tiện ích trên tất cả các lục địa, trừ Nam Cực. Vì mở rộng sự hiện diện quân sự trên toàn cầu, các học giả cho rằng Hoa Kỳ đang duy trì một đế quốc của các căn cứ.. Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ năm 2008 là hơn 600 tỉ USD, chiếm 41 phần trăm chi tiêu quân sự trên toàn thế giới và lớn hơn chi tiêu quân sự của 14 nước xếp kế tiếp

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ CÁC NƯỚC LỚN

SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Môn: Quan hệ các nước lớn sau chiến tranh lạnh

Nhóm lớp CT38

1 Nguyễn Hiền Mi (nhóm trưởng)_ CT38A

2 Nguyễn Thu Hà (0010)

3 Lê Kim Chi

4 Nguyễn Thu Hiền

Trang 2

A, SỨC MẠNH CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Để đánh giá sức mạnh của một quốc gia là một nước lớn có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ trong khu vực mà còn cả phạm vi toàn thế giới, có 3 đặc điểm : Sức mạnh, ảnh hưởng, tư duy

1 Sức mạnh cứng

1.1 Về quân sự

Sức mạnh quân sự luôn là yếu tố cơ bản được tính đến trong chính sách quan hệ

quốc tế và chính trị quốc tế Sức mạnh quân sự là yếu tố then chốt trong chiến tranh và là yếu tố có tính chất răn đe khi không có chiến tranh Sức mạnh quân sự thể hiện ở các

mặt: số lượng và chất lượng quân đội; năng lực chi huy; trình độ lý luận quân sự và

trang thiết bị, khí tài quân sự đặc biệt là những vũ khí có sức hủy diệt lớn Trước

thời kỳ chiến tranh lạnh, sức mạnh về quân sự là sức mạnh quốc gia chủ yếu của Mỹ

Về sức mạnh quân sự Mỹ hiện là siêu cường số 1 trên Thế giới Tổng thống giữ

chức vụ tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang quốc gia và bổ nhiệm các lãnh đạo của quân

đội, bộ trưởng quốc phòng và Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ Bộ Quốc phòng

Hoa Kỳ giám sát các lực lượng vũ trang, bao gồm Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Không quân Trong năm 2008, các lực lượng vũ trang đã có 1.400.000 quân

hiện dịch cùng với hàng trăm ngàn trong mỗi ngành như Lực lượng Trừ bị và Vệ binh Quốc gia

Bên ngoài biên giới Hoa Kỳ, Quân đội Hoa Kỳ khai triển 770 căn cứ và cơ sở tiện ích trên tất cả các lục địa, trừ Nam Cực Vì mở rộng sự hiện diện quân sự trên toàn cầu,

các học giả cho rằng Hoa Kỳ đang duy trì một "đế quốc của các căn cứ.".

Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ năm 2008 là hơn 600 tỉ USD, chiếm 41 phần trăm

chi tiêu quân sự trên toàn thế giới và lớn hơn chi tiêu quân sự của 14 nước xếp kế tiếp

Trang 3

cộng lại Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ đứng hạng 2 trong tốp 15 quốc gia chi tiêu

mạnh tay nhất cho quân sự , sau Ả rập Saudi Ngân sách đề nghị của Bộ Quốc phòng

năm 2011 là 549 tỉ, tăng 3,4 phần trăm so với năm 2010 và tăng 85% so với 2001 thêm

159 tỉ cho chiến dịch tại Iraq và Afghanistan

Sức mạnh quân sự của Mỹ không chỉ thể hiện ở những con số ấn tượng đó mà còn thể

hiện ở trình độ công nghệ và kỹ thuật ứng dụng trong quốc phòng Là quốc gia đứng đầu

về ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông vào lĩnh vực quân sự, vô địch trong

việc phối hợp và xử lý thông tin trên chiến trường và tiêu diệt các mục tiêu từ xa với độ

chính xác rất cao => Xét về cơ cấu lực lượng, Mỹ có thế thượng phong về hạt nhân, áp

đảo về không quân, mạnh nhất thế giới về hải quốc gia duy nhất có khả năng triển khai sức mạnh toàn cầu.

1.2 Về kinh tế

Hoa Kỳ có một nền kinh tế hỗn hợp tư bản chủ nghĩa được kích thích bởi tài

nguyên thiên nhiên phong phú, một cơ sở hạ tầng phát triển tốt, và hiệu suất cao.Hoa Kỳ

sở hữu nền kinh tế quốc gia lớn nhất thế giới với giá trị 16 nghìn tỷ dollar.Hoa Kỳ chiếm 21% GDP thế giới.Hoa Kỳ có mức GDP trên đầu người lớn hơn bất kỳ một siêu

cường đang nổi lên nào và cao hơn hầu hết các nước công ngiệp phát triển khác, ở mức

khoảng USD $48.000 Hoa Kỳ có mức GDP trên đầu người cao thứ 6 thế giới tình theo

sức mua tương đương, sau Luxemburg và Na Uy, Tuy nhiên, một người dân thường

Mỹ có mức thời gian lao động trong cuộc đời lớn hơn khá nhiều so với một người bình thường Châu Âu

Nước này thường có mức độ tăng trưởng kinh tế từ mức trung bình tới cao.Trong

20 năm qua, mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ trung bình chỉ hơn 3% mỗi năm.Hoa Kỳ là

nước nhập cảng hàng hóa lớn nhất và là nước xuất cảng đứng hạng ba.Canada,

Trung Hoa, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất của Hoa Kỳ Hàng xuất cảng hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí hàng đầu về nhập cảng

Trang 4

Hoa Kỳ là nơi đóng trụ sở của nhiều tập đoàn quốc tế và các định chế tài

chính.Các công ty Mỹ giữ vai trò hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như vật liệu mới, điện

tử và viễn thông, công nghệ thông tin, vũ trụ, năng lượng, kỹ thuật nano, công nghệ sinh học,dược phẩm, tin học sinh học (bioinformatics), cơ khí hóa chất (chemical engineering)

và phần mềm.Nước này là nhà sản xuất hàng đầu về hàng hóa tiêu dùng và sản phẩm nông nghiệp, dù họ phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu

Hoa Kỳ vẫn là một siêu cườngcông nghiệp với các sản phẩm hóa học dẫn đầu

ngành sản xuất.Hoa Kỳ là nước sản xuất dầu lớn hạng ba trên thế giới và nước tiêu thụ

dầu đứng hạng nhất.Đây là nước sản xuất năng lượng điện và hạt nhân số một của thế

giới cũng như khí đốt thiên nhiên hóa lỏng, nhôm, sulfur, phosphat, và muối.Nông nghiệp

chỉ chiếm 1% GDP nhưng chiếm 60% sản xuất nông nghiệp của thế giới Hoa Kỳ xếp

hạng ba trong danh sách chỉ số thuận lợi làm ăn của Ngân hàng Thế giới Sở Giao dịch

Chứng khoán New York lớn nhất thế giới theo giá trị đô la.Hoa Kỳ có ảnh hưởng

mang tính quyết định với các định chế tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân

hàng thế giới; đồng dollar Mỹ là đồng tiền tệ dự trữ và trao đổi quan trọng nhất thế

giới.

1.3 Về khoa học – kĩ thuật:

Mĩ cũng là cường quốc số 1 TG về vấn đề này Ngân sách dành cho Nghiên cứu và Phát

triển của Mĩ bằng 7 nước giàu nhất sau Mỹ cộng lại, chiến 40,6% tổng chi phí toàn cầu Bằng phát minh khoa học của Mỹ chiếm hơn 60% toàn bộ số bằng phát minh khoa học trên thế giới.Và đi đầu 20 trong 29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn trên thế giới.2/3 số người đạt giải Nobel về kinh tế và khoa học là công dân Mỹ

2 Sức mạnh mềm:

Các nguồn lực tạo ra sức mạnh mềm của một quốc gia bao gồm văn hóa (ở đó nó lôi cuốn các quốc gia khác), các giá trị (hấp dẫn và không thể bị thực tế của quốc gia sở tại cắt gọt do không tương thích) và các chính sách (được nhìn nhận là mang tính phổ quát

Trang 5

và hợp pháp trong con mắt của các quốc gia khác).

Về chính trị và văn hóa:

Văn hóa Hollywood:

Nói đến ảnh hưởng của văn hóa đại chúng Mỹ đối với tòan bộ phần còn lại của thế giới không thể không nhắc đến ảnh hưởng của Hollywood.Không có ngóc ngách nào trên trái đất này mà phim Hollywood chưa từng đặt chân đến và chinh phục

Phim Hollywood từ trước đến nay (đặc biệt là trong một hai thập niên gần đây) chủ yếu

là nhằm mục đích thương mại hóa, kiếm được lợi nhuận càng nhiều càng tốt Yếu tố nghệ thuật thường bị xem nhẹ, yếu tố câu khách, thu hút khách đến rạp xem phim là yếu tố chủ đạo Mặc dù có một số phim Hollywood được chuyển thể từ các tác phẩm văn học cổ điển, đa số các phim này thất bại nặng nề về mặt nghệ thuật và vì vậy không được mấy ai

đi xem

Ẩm thực :McDonald trở thành trào lưu

Trong suốt 7 thập kỷ hình thành và phát triển, McDonald vẫn luôn được ghi nhận như một sự khởi nguồn cho cuộc cách mạng thực thu về ẩm thực ở nước Mỹ và sau đó là ở khắp thế giới

Cuộc cách mạng ẩm thực được tập đoàn này tiến hành McDonald cũng bị tai tiếng vì

đồ ăn làm trẻ em béo phì, vì chăn nuôi gia súc gia cầm theo phương thức công nghiệp Nhưng thương hiệu này đã làm thay đổi thói quen ẩm thực của con người đến mức khó

có thể hình dung ra thế giới không còn có McDonald nữa

Giáo dục:

Đối với nhiều học giả Hoa Kỳ, giáo dục chính là một trong những lối đi thú vị và hiệu

quả nhất để có thể "chiếm trọn trái tim và lý trí" của công chúng bên ngoài Hay nói

theo cách của Giáo sư Joseph Nye thì nền giáo dục Mỹ chính là một nguồn lực vô cùng

hấp dẫn mà quốc gia này sở hữu Và từ đó, Mỹ có thể đã - đang - và vẫn có thể chinh

Trang 6

phục thế giới từ chính sức mạnh mềm này.

Bên cạnh vai trò vượt trội trong thứ bậc về giáo dục đại học (GD ĐH), Mỹ còn có hệ

thống giáo dục ĐH phức hợp và đa dạng nhất thế giới.Trung Quốc có thể hơn Mỹ về số

lượng sinh viên theo học, nhưng hệ thống GD ĐH vẫn không thể phát triển bằng

Tiểu kết: Đánh giá toàn diện, Mỹ là siêu cường mạnh nhất hiện nay Chính nhờ có

sức mạnh đó mà Mỹ đã là nước đi đầu trong việc thúc đẩy nhiều tiến trình lịch sử, tạo nên những cơ chế cho sự phát triển của toàn cầu hóa.Bởi vì sức mạnh của nước

Mỹ sẽ cho phép “nước Mỹ trở thành động lực, người hưởng lợi và người làm lợi cho quá trình toàn cầu hóa” Trong đó, sức mạnh kinh tế của Mỹ đang là chỗ dựa cho quyền lực chính trị Mỹ trong việc chi phối quá trình toàn cầu hóa và việc giải quyết các vấn đề toàn cầu

3 Sức mạnh thông minh (quyền lực thông minh)

Quyền lực thông minh hay sức mạnh thông minh là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế

mà triết gia người Mỹ Joseph Nye định nghĩa như sau "khả năng kết hợp quyền lực cứng

và quyền lực mềm vào một chiến lược mang lại thắng lợi." Theo Chester A Crocker, Fen Osler Hampson, và Pamela R Aall, quyền lực thông minh "có liên quan tới chiến lược sử dụng ngoại giao, thuyết phục, xây dựng năng lực và điều khiển các sức mạnh và sự ảnh hưởng trong những con đường đạt hiệu quả cao và có tính chính đáng cả về chính trị lẫn

xã hội" – cốt yếu là tận dụng các các sức mạnh quân sự và toàn bộ các kiểu ngoại giao.Sức mạnh thông minh là sự kết hợp của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm.Sức mạnh mềm là khả năng giành được những kết quả mong muốn, bằng sự lôi cuốn hơn là ép buộc hay phải đánh đổi

Thuật ngữ này được đưa ra sau cuộc tấn công của Mỹ vào Iraq năm 2003 như là một phản ứng lại chính sách đối ngoại ngày càng mang xu hướng tân bảo thủ của tổng thống

Mỹ khi này là George W Bush Được coi là một phiên bản thứ hai của chính sách của

Bush nhưng mang tính tự do hơn, các đề xuất của nó coi trọng các tổ chức quốc

Trang 7

tế có vài trò lớn hơn, chống lại chủ nghĩa đơn phương một mình, đối với nước Mỹ.Quyền lực thông minh còn được xem là một lực chọn khác của quyền lực mềm, vì

lạm dụng quyền lực mềm có thể khiến Đảng Dân chủ Hoa Kỳ ngày càng xem là yếu đuối

Ngoại trưởng Hillary Clinton còn tuyên bố thêm: nước này không chỉ sử dụng sức mạnh quân sự mà sẽ theo đuổi cách tiếp cận “sức mạnh thông minh” bằng việc kết hợp sử dụng các loại vũ khí cứng với “sức mạnh mềm” từ sức thuyết phục và hấp dẫn về văn hóa Hay như phu quân của bà Ngoại trưởng-ông Bill Clinton đã từng sử

dụng nó, nước Mỹ ngày nay sẽ dẫn dắt thế giới thông qua sức mạnh của các chuẩn mực giá trị thay vì hình mẫu về sức mạnh

Chưa đầy một năm trước, một ủy ban sức mạnh thông minh của hai đảng đã kết luận rằng hình ảnh và tầm ảnh hưởng của nước Mỹ đã bị sa sút trong nhiều năm gần đây, và rằng nước Mỹ cần phải chuyển từ việc gieo rắc sự sợ hãi ra bên ngoài sang khơi gợi chủ nghĩa lạc quan và hy vọng cho các nước khác

Nước Mỹ có thể trở thành một cường quốc thông minh bằng cách một lần nữa đầu tư

vào hàng hóa công cộng toàn cầu, đó là cung cấp những thứ mà người ta muốn và các chính phủ ở mọi nơi trên thế giới muốn nhưng không thể có được nếu thiếu vắng sự lãnh đạo của nước mạnh nhất thế giới Sự phát triển và y tế cộng đồng cùng

với đối phó với sự biến đổi khí hậu là những ví dụ tốt Bằng việc bổ sung sức mạnh quân

sự và kinh tế Mỹ với việc đầu tư lớn hơn cho sức mạnh mềm, và tập trung vào hàng hóa công cộng toàn cầu, nước Mỹ có thể tái thiết lộ trình cần thiết

II, PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA MỸ ĐẾN TOÀN THẾ GIỚI

Với những sức mạnh mà Mỹ đang có, sự tham gia, đến từng quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới, không ai có thể phủ nhận tầm ảnh hưởng của Mỹ ngày này Đó

là lí do tại sao cả thế giới phải dõi theo nước Mỹ trong những cuộc bầu cử hay bất kì biến động gì Bởi nhất cử nhất động của quốc gia này đều có thể thay đổi chính sách đối ngoại

Trang 8

của các quốc gia khác, đặc biệt là trong kỉ nguyên toàn cầu hóa

Hoa Kỳ có ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự trên cán cân quốc tế mà khiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một đề tài quan tâm lớn nhất trên khắp thế giới

1 Phương tiện truyền thông và văn hóa

Hollywood (bộ phim Mỹ và ngành công nghiệp truyền hình) thống trị hầu hết các thị trường truyền thông thế giới Nó là phương tiện chính mà mọi người trên toàn thế giới thấy được thời trang và lối sống, hải quan, cảnh quan ở Mỹ

Nhiều nước dựa trên chương trình truyền hình của Mỹ để phát sóng lại (chẳng hạn như HBO Châu Á , Châu Âu CNBC, CNN International, American’s Next Top Model –

có nhiều phiên bản theo từng nước ) Nhiều người trong số những nhà phân phối phát sóng chủ yếu là lập trình Mỹ trên kênh truyền hình của họ Năm 2006, một cuộc khảo sát của 20 quốc gia Radio Times tìm thấy bảy show diễn Mỹ trong mười theo dõi nhiều nhất: CSI: Miami , Lost , Desperate Housewives, The Simpsons , CSI: Crime Scene Investigation , không có một Trace và cuộc phiêu lưu của Jimmy Neutron: Boy Genius

Phim Mỹ cũng rất phổ biến trên thế giới, thường thống trị các rạp chiếu phim Điều chỉnh lạm phát, bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại là Cuốn theo chiều gió Thường là một phần của đàm phán trong hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và các nước khác liên quan đến hạn ngạch truyền hình Một trong những trường hợp

là Mexico , đã bãi bỏ hạn ngạch truyền hình sau khi thành lập các Hiệp định Thương mại

Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Mỹ Gần đây Hàn Quốc đã đồng ý giảm hạn ngạch dưới áp lực của Hoa Kỳ như là một phần của một thỏa thuận thương mại tự do

Nhiều nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng rộng lớn chẳng hạn như Elvis Presley và Michael Jackson được công nhận trên toàn thế giới và đã bán được hơn 500 triệu album Album của Michael JacksonThriller , 100 triệu, là album bán chạy nhất mọi thời đại

2 Mỹ kinh doanh và thương hiệu

Trang 9

Trong mười thương hiệu toàn cầu hàng đầu, bảy trụ sở tại Hoa Kỳ Coca-cola nắm giữ vị trí hàng đầu, thường được xem như một biểu tượng của Mỹ hóa Thức ăn nhanh cũng thường được xem như là một biểu tượng sự thống trị thị trường Mỹ Các công ty như Starbucks, McDonald, Burger King, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken và

số những thương hiệu khác có nhiều cửa hàng trên toàn thế giới

Nhiều người trong số các công ty máy tính lớn nhất thế giới cũng có cơ sở ở Mỹ, chẳng hạn như Microsoft , Apple ,Intel , Dell và IBM , và hầu hết các phần mềm mua

trên toàn thế giới được tạo ra bởi các công ty Mỹ có trụ sở => Hoa Kỳ chiếm một vị trí

rất mạnh mẽ trong lĩnh vực phần mềm.

Các thương hiệu thời trang của Mỹ được ưa chuộc trên toàn thế giới như Nike Collection, Hollister, Banana Republic, Abercrombie and Fitch, Levi Strauss & Co , The North Face, Oxxford Clothes …

3 Tổ chức quốc tế

- Mỹ cùng với đồng minh Anh, Pháp giữ 3 trong 5 ghế Thành viên thường trực Liên Hợp Quốc

- NATO ( Liên minh Đại Tây Dương) nối liền các nước trù phú nhất, có ảnh hưởng nhất

ở châu Âu đối với Mỹ vì vậy làm cho Mỹ trở thành người tham dự chủ chốt ngay trong

cả việc nội bộ của châu Âu Hay nói cách khác, Mỹ là anh cả và đang thực thi nhiệm vụ đảm bảo an ninh hoàn toàn miễn phí cho toàn bộ châu Âu

- Những quan hệ chính trị song phương với Nhật đã ràng buộc nền kinh tế và quân sự song phương với Nhật đã ràng buộc nền kinh tế hùng mạnh nhất châu Á này với Mỹ và với một nước Nhật về cơ bản vẫn còn là một nước bảo hộ của Mỹ

- Mỹ cũng tham gia vào các tổ chức đa phương xuyên Thái Bình Dương như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Mỹ cũng là người tham gia chủ chốt trong khu vực này

- Các cơ quan tài chính “Liên quốc gia” là một bộ phận trong hệ thống của Mỹ Quỹ tiền

tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) – đại diện cho lợi ích “toàn cầu” mà khách hàng của các cơ quan ấy được hiểu là thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, những cơ quan ấy

Trang 10

do Mỹ khống chế mạnh mẽ, mà khởi thủy của chúng là sáng kiến của Mỹ, đặc biệt trong Hội nghị Bretton Woods năn 1944

III, TƯ DUY NƯỚC LỚN

Khi quyền lực lớn lên, định nghĩa về lợi ích quốc gia cũng rộng hơn Nói cách khác, khi đã vươn lên thành một lực lượng trên sân khấu chính trị thế giới, Mỹ, Trung Quốc, Nga hay bất kỳ một nước lớn nào khác, một cách rất tự nhiên, đều khao khát trở thành bá quyền Tham vọng đó được thực hiện bằng tínhchủ động và áp đặt lên các vấn

đề của thế giới và khu vực trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa – tư tưởng…

1 Tính chủ động:

- Mỹ thể hiện tư duy nước lớn của mình bằng việc thường đi đầu trong các vấn đề quốc

tế : trong phong trào chống khủng bố, các cuộc chiến tranh Trung Đông, chủ động đề

xuất các kiến nghị ,giải pháp hay can thiệp vào các vấn đề xung đột trên thế giới như Vấn

đề Biển Đông,

- Vị thế chính trị của Mỹ và đồng minh trong các tổ chức quốc tế: đóng góp khoảng

22% ngân sách Liên hiệp quốc và là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (với quyền phủ quyết) Lập trường của họ về các vấn đề quốc tế thường được các quốc gia khác ủng hộ, đặc biệt là Anh Quốc, Canada, New Zealand, Úc, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và Israel Nước Mỹ có thể tích cực và chủ động trong việc can thiệp vào những chủ trương nghị quyết của các tổ chức quốc tế lớn để có thể thực hiện những mục tiêu chính trị của mình

2 Tính áp đặt

- Mỹ muốn phổ biến toàn thế giới nhân quyền và tự do dân chủ kiểu Mỹ Nó đã trở

thành biểu thương hiệu Mỹ - Brand America, Một khái niệm được nhiều chính trị gia và học giả Mỹ ưa dùng Dân Chủ và Nhân Quyền là hai chiêu bài mà nước Mỹ quảng bá rộng rãi nhất và muốn xuất cảng chúng trên khắp thế giới, lẽ dĩ nhiên theo quan niệm về

Trang 11

dân chủ và nhân quyền của Mỹ Nước Mỹ thường tự hào là một thị trấn trên một ngọn đồi (A city on a hill) nhìn xuống tất cả các quốc gia khác ở dưới thấp, hay là một cái đầu tầu phun khói (đen) dẫn đầu kéo cả đoàn toa thế giới đi theo quan niệm về dân chủ

và nhân quyền trên đường ray của mình Nước Mỹ cũng tự cho mình cái quyền làm

“Quan tòa phán xét nhân quyền trên thế giới” [It presumes to be the "Judge of Human

Rights in the World"], vì thế hàng năm Mỹ thường tung ra một bản phúc trình về

tình trạng nhân quyền, trong đó có vấn đề tôn giáo, của các nước khác.Nước Mỹ nổi

tiếng trong việc áp đặt Dân chủ nhân quyền lên các nước trong đó có VN Và họ sẵn sàng cấm vận, ngừng giao thương, gây áp lực trên trường quốc tế đối với các nước mà Mỹ cho rằng không có tự do dân chủ, tín ngưỡng,

=>>>> Tất cả làm nên tư duy bá quyền của Mỹ

B, NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

I ĐÔI NÉT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ TRƯỚC VÀ TRONG CHIẾN TRANH LẠNH

Từ khi ra đời cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Mỹ là nước biệt lập với thế giới, với các mối quan hệ quốc tế.Đến chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mới bắt

đầu hình thành một chiến lược để ứng phó với những đe dọa của chiến tranh, và vượt ra

khỏi chủ nghĩa biệt lập Đến hết chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã thay thế Đế quốc

Anh với tư cách là quốc gia hàng hải, buôn bán và tài chính lớn nhất thế giới, một bá chủ mới của thế giới xuất hiện Từ đây, chiến tranh lạnh hình thành.Trong suốt thời

gian này, Mỹ triển khai thực hiện “chiến lược ngăn chặn” nhằm ngăn chặn Liên Xô và

chủ nghĩa cộng sản.Mỹ ngày càng can dự vào các công việc chủ yếu của thế giới và

cam kết hỗ trợ cho tất cả các nền dân chủ yêu cầu sự giúp đỡ của Mỹ

II NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1 Cơ sở hình thành

Trang 12

1.1 Bối cảnh thế giới:

- Chiến tranh lạnh kết thúc và Liên Xô tan rã đã đánh dấu sự sụp đổ của trật tư Yalta,

đưa đến sự chấm dứt của chiến lược “ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản” mà

Mỹ theo đuổi trong hơn 4 thập kỉ

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự phát triển lực lượng sản xuất đưa loài

người vào một kỉ nguyên mới Hầu hết các quốc gia, trước hết là các nước phát triển đang ở trong cuộc chạy đua mạnh mẽ tiến vào kỉ nguyên mới Mỹ vẫn còn tiềm năng dẫn đầu song không còn độc tôn mà phải tính đến các đối thủ có tính cạnh tranh cao

- Toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong nền kinh tế thế giới và

ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt của đời sống nhân loại Những quan điểm

cổ điển về ưu thế cạnh tranh bị đảo lộn, sự định vị hoạt động kinh tế xã hội không còn

bị phụ thuộc một cách căn bản vào vị trí địa lý và nguồn tài nguyên như trước nữa Những tính toán chiến lược của Mỹ cho đến thế kỷ XXI đều tính đến những nhân tố đó

- Thế giới đa trung tâm đang hình thành ngày càng rõ nét, trong đó không một

cường quốc nào dành ưu thế tuyệt đối như hai siêu cường Mỹ, Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh

- Hòa bình, hợp tác và phát triển dã và đang là xu thế nổi trội trong QHQT sau chiến

tranh lạnh, làm tăng lên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia

1.2 Bối cảnh trong nước:

- Mỹ vẫn phải đối đầu với những thách thức tiềm tàng đối với an ninh quốc gia:

• Quan hệ với Nga và Trung Quốc được cải thiện đáng kể, tuy nhiên không thể không tính đến những khác biệt về chính sách, bất ổn tiềm tàng mà các nước này phải đương đầu

• Nguy cơ vũ khí giết người hàng loạt – hạt nhân, hóa học, sinh học – rơi vào tay những nước bất trị và những kẻ khủng bố

- Nền kinh tế cùng nhiều lĩnh vực chính sách được coi là đối nội trở nên quốc tế hóa

Trang 13

- Mỹ khó có thể nêu cao những giá trị cơ bản của mình trong khi làm ngơ đối với những vi phạm nghiêm trọng những giá trị đó xảy ra ở những nơi bên ngoài biên giới quốc gia của Mỹ: Mỹ không thể tuyên bố ủng hộ dân chủ, tự do và công bằng khi làm ngơ với diệt chủng, đàn áp, tra tấn …

Bối cảnh trong và ngoài nước thay đổi đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh chính sách đối ngoại.

2 Nội dung chính sách đối ngoại Mỹ - Ba mục tiêu lớn nhằm đạt được và giữ vững

vị trí bá quyền

Như đã nói ở trên, sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, trong bối

cảnh quốc tế mới cực kỳ phức tạp, chiến lược “ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng

sản” được điều chỉnh thành chiến lược toàn cầu “cam kết và mở rộng”, với ba mục tiêu chính:

- Phục hưng nền kinh tế Mỹ

- Duy trì, củng cố ưu thế quân sự

- Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài

Ba mục tiêu có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau.Muốn được đảm bảoan

ninh, Mỹ phải duy trì thương mại tự do và các cơ cấu dân chủ Trong thời kỳ phát triển

về kinh tế, Mỹlại càng cần củng cố an ninh và hướng tới tự do Trong Lời nói đầu Chiến

lược an ninh quốc gia Mỹ 1996, Bill Clinton cũng khẳng định: “Đòn bẩy ngoại giao đặc

biệt của chúng ta, cũng như sức mạnh tư tưởng của chúng ta làm cho các nhà ngoại giao giữ vị trí hàng đầu giữa những người ngang sức… Nhưng dù lực lượng quân sự là yếu

tố không thể thay thế được của sức mạnh cường quốc của chúng ta, kể cả khi chiến tranh lạnh đã hết, đất nước ta vẫn phải duy trì các lực lượng quân sự có hiệu quả để ngăn chặn nguy cơ từ nhiều phía và khi cần thiết, chiến đấu và chiến thắng địch.”

Kể từ sau sự kiện 11/9, Chính quyền của Đảng Cộng hòa gấp rút soạn thảo chiến

lược an ninh quốc gia cho thời kỳ mới – thời kỳ chống khủng bố Ba mục tiêu chiến

lược vẫn được giữ vững, tuy nhiên tất cả đều nhằm định hướng mới nổi bật là chống khủng bố.Tất cả sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao… đều nhằm một mục

Trang 14

đích là huy động sức mạnh Mỹ và sức mạnh của thế giới để chống lại chủ nghĩa khủng bố.

Nhìn chung, cả ba mục tiêu xuyên suốt nói trên trong chính sách đối ngoại Hoa Kỳ

đều nhằm hướng tới một mục tiêu lớn là nhằm đảm bảo vị trí lãnh đạo thế giới của

nước này, với xu hướng chỉ đạo chính là an ninh thế giới và quốc phòng gắn bó chặt chẽ với nhau Trong bài phát biểu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại New York City ngày

21/10/1999, Cố vấn an ninh Quốc gia Mỹ về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ Samuel R.Berger khẳng định: “Sức mạnh và sự thịnh vượng của Mỹ là vô địch Chưa bao giờ sự lãnh đạo của chúng ta lại cấp bách và cần thiết đến thế.”

2.1 Phục hưng nền kinh tế

a Nội dung:

Mỹ chủ trương xây dựng nền kinh tế vững mạnh, giành lại vị trí lãnh đạo

trong nền kinh tế thế giới và coi đây là ưu tiên số một của chiến lược toàn cầu của

mình

b Cơ sở, mục đích

Trong báo cáo về kinh tế đọc trước quốc hội Mỹ (17/2/1993), B.Clinton nêu rõ ràng kế hoạch kinh tế của Mỹ có "tầm nhìn vươn xa hơn chu kỳ kinh doanh ngày nay"

nhằm "vươn tới thế kỷ sau" với mục tiêu "về lâu dài sẽ mang lại cho nước Mỹ mức

tăng trưởng kinh tế cao hơn, sản phẩm được tăng cao, nhiều việc làm chất lượng hơn

và một vị trí cạnh tranh kinh tế được cải thiện trên thế giới"

c Sự điều chỉnh qua các đời Tổng thống

Chính quyền Clinton coi trọng kinh tế hơn trong chiến lược toàn cầu của Mỹ

so với tổng thống Bush và có kế hoạch dung hòa nhất định giữa hướng nội và hướng ngoại.

Xây dựng một nền kinh tế phát triển mạnh được như chính quyền Mỹ ngày nay coi

là cơ sở vững chắc cho chiến lược toàn cầu mới của mình

Trang 15

Trong thời gian vận động tranh cử, ông Obama chủ trương tiếp tục thúc đẩy đà

phục hồi kinh tế; cam kết tạo ra thêm hàng triệu việc làm mới; tăng gấp đôi xuất khẩu nhằm hỗ trợ việc làm; giảm một nửa lượng nhập khẩu năng lượng vào năm 2020 bằng cách phát triển năng lượng xanh; giảm thâm hụt ngân sách; tăng thuế đối với thiểu số những người giầu có nhất nhưng giảm thuế thu nhập cho tầng lớp trung lưu và những gia đình có thu nhập thấp; cải cách bộ luật thuế doanh nghiệp để giảm thuế cho những công

ty đưa việc làm từ nước ngoài về Mỹ; khuyến khích tăng sản lượng hàng hóa "Made in America"

2.2 Duy trì, củng cố ưu thế quân sự của Mỹ trên thế giới

a Nội dung

Mỹ chủ trương hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quân sự để làm

công cụ răn đe chiến lược, nhằm khống chế và kiềm chế các nước đồng minh và đối thủ, đối phó với các cuộc xung đột khu vực

Mỹ cho rằng chiến lược dính líu và mở rộng vẫn phải dựa trên xây dựng lực lượng

vũ trang mạnh, đủ sức khống chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh

b Cơ sở, mục đích

Chiến lược quốc phòng của Mỹ nêu ra những quan ngại an ninh dài hạn:

1/ tiềm năng xuất hiện một nước cạnh tranh toàn cầu Từ nay đến 2015, Mỹ

tiếp tục giữ được vị trí siêu cường duy nhất của mình Tuy nhiên, từ sau 2015, Trung Quốc và Nga có tiềm năng thách thức vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, mặc dù tương lai của những nước này cũng chưa chắc chắn;

2/ kịch bản con bài tẩy (wild card scenario) : sự xuất hiện của những thách thức

công nghệ mới, Mỹ mất quyền tiếp cận đối với những phương tiện sống còn, và các chế

độ thù địch thay thế các chế độ thân thiện với Mỹ ở các nước;

3/ quan ngại về sự thay đổi môi trường an ninh nếu Mỹ không can dự vào các

công việc của thế giới và mất vị trí áp đảo về quân sự của mình

Trang 16

Nhà Trắng và Lầu năm góc chủ trương điều chỉnh chiến lược quân sự sao cho phù hợp với tình hình mới, vừa cắt giảm quân sự và chi tiêu quốc phòng, vừa củng cố, tăng cường sức mạnh quân sự Như vậy Mỹ vẫn luôn tìm cách duy trì ưu thế tuyệt đối về quân

sự của mình trên thế giới B.Clinton cho rằng "quân đôi Mỹ vẫn sẽ là lực lượng chiến đấu được huấn luyện tốt nhất, chuẩn bị tốt nhất và được trang bị tốt nhất trên thế giới"

c Sự điều chỉnh qua các đời Tổng thống

Bush nhiều lần kêu gọi thiết lập “trật tự thế giới mới” một cực- Mỹ Trong “thong

điệp lien bang” năm 1991, Bush đã 6 lần tuyên bố “thế kỷ XXI là thế kỷ của nước Mỹ”

Kế tục chính sách của Bush, 27.9.93, Clinton đã công bố chiến lược toàn cầu mới trong diễn văn trước Đại hội đồng LHQ với tên “Chiến lược mở rộng” Chiến lược “mở rộng”

dân chủ kiểu Mỹ tập trung vào 4 điểm: +, Củng cố và mở rộng các nền “dân chủ”, lấy

“dân chủ thị trường” làm nóng cốt” +, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình vs nước XHCN, hậu thuẫn tích cực nền dân chủ ở Đông Âu và Liên Xô cũ +, ngăn chặn và tự do hóa các nhà nước thù địch +, thong qua các hoạt động hòa bình, nhân đạo, giúp cho nền dân chủ và kinh tế thị trường bám rễ vào các khu vực chậm phát triển nhất là châu Phi.Trong thời gian này, hoạt động ngoại giao và hoạt động quân sự đối ngoại của Mỹ tập trung vào 4 hướng: +, củng cố, mở rông hệ thống lien minh quân sự đã có thời chiến tranh lạnh trên hai hướng Đông, tây, lục địa châu Âu và Á +, thúc đẩy hình thành các khu vực mậu dịch tự do như NAFTA ở Bắc Mỹ, FTTA toàn châu Mỹ, TAFTA toàn châu Đại Dương +, chuẩn bị sẵn sang lực lượng quân sự “đa nhiệm” với hệ thống vũ khí hiện đại nhất và có học thuyết quân sự thích hợp để làm nhiệm vụ can thiệp quân sự, phi quân sự

“khác với chiến tranh” trong thời bình ở nước ngoài +, thúc đẩy mở rộng dân chủ và nhân quyền theo kiểu Mỹ

Các nguyên nhân khiến Mỹ không phát huy được sức mạnh của mình:

- Sức mạnh quân sự của Mỹ tuy lớn mạnh nhưng lại được sử dụng quá phân tán và quá tải vào nhiều những hoạt động vũ trang ở nước ngoài trong khi Mỹ vẫn không ngăn chặn được việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và chống lại có hiệu quả

Trang 17

những hoạt động phá hoại, khủng bố và xâm nhập vào các mạng thong tin thương mại, ngân hang, quân sự ngay trong long nước Mỹ

- Tinh thần độc lập tự chủ của nhân dân và các dân tộc rất cao sau chiến tranh lạnh, họ không chấp nhận sự áp đặt của Mỹ.

- Về kinh tế và chính trị, Mỹ không còn đủ mạnh và không còn sự thống nhất nội bộ như sau Chiến tranh TG thứ 2 để thực hiện vai trò sen đầm quốc tế của mình

2.3 Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài

a Nội dung

“Thúc đẩy dân chủ” thực chất là việc Mỹ dựa vào hình thái ý thức và các tiêu chuẩn giá trị của mình, lấy sức mạnh kinh tế, quân sự làm sức ép, vận dụng nhiều thủ đoạn khác nhau gây ảnh hưởng và làm thay đổi cục diện chính trị của nước khác, thiết lập chế độ dân chủ kiểu Mỹ trên toàn thế giới Thông qua đó Mỹ muốn

thiết lập trật tự thế giới mới, thực hiện âm mưu bá quyền của mình

b Mục tiêu, phương tiện thực hiện

Mục tiêu:

Đảm bảo lợi ích kinh tế: thông qua việc khống chế chặt chẽ chính phủ các nước

nhằm giành quyền kiểm soát những nguồn tài nguyên quan trọng

Ngăn chặn sự trỗi dậy của các nước/nhóm nước vốn là mối đe dọa lớn đối với Mỹ: Trung Quốc, Ấn Độ, EU

Dung túng các nước thân cận nhằm lôi kéo đồng minh, đồng thời chống lại các nước đối địch thông qua việc đưa ra tiêu chuẩn kép: mỗi nhóm nước có một loại

tiêu chuẩn riêng để đánh giá mức độ dân chủ

Phương tiện, cách thức:

Tấn công hoặc can thiệp quân sự

Gây sức ép chính trị: Tự coi mình là “luật sư bảo vệ nhân quyền”, hàng năm

Chính phủ Mỹ đều công bố Sách trắng về nhân quyền với những “tiêu chuẩn kép”

Trang 18

nói trên, lấy đó để gây sức ép chính trị với các nước XHCN hoặc một số nước theo chủ nghĩa dân tộc, yêu cầu các nước này phát triển theo chiều hướng Mỹ mong muốn

Ví dụ: Mỹ không che giấu ý đồ và mục tiêu lâu dài của Mỹ chuyển hoá Trung Quốc thành một nước "đi theo mô hình kinh tế thị trường, đa nguyên hoá chính trị và pháp trị" Mặc dù từ năm 1994, Mỹ đã không còn gắn vấn đề dân chủ nhân quyền với việc trao cho Trung Quốc quy chế thương mại bình thường (quy chế tối huệ quốc), Mỹ vẫn theo dõi sát sao hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc.Năm 1999, 2000,Mỹ đều bảo trợ nghị quyết lên

án những vấn đề nhân quyền của Trung Quốc tại Hội nghị hàng năm của Uỷ ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc

Lợi dụng các tổ chức phi chính phủ để ủng hộ phe đối lập, xúi giục người dân

biểu tình, lật đổ chính quyền đương thời ở các nước “đối địch”

Tấn công văn hóa (các phương tiện thông tin truyền thông)

c Sự điều chỉnh qua các đời Tổng thống

Từ Bush (cha) đến G.W Bush: Coi thúc đẩy dân chủ là mục tiêu hàng đầu trong chính sách đối ngoại

• Bush (cha) phát biểu trong Thông điệp Liên bang năm 1990: “Bốn mươi năm qua,

Mỹ và các nước đồng minh luôn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản để bảo đảm cho dân chủ được tồn tại Giờ đây, do một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa bắt đầu sụp đổ, mục tiêu của chúng ta là phải bảo đảm cho dân chủ được phát triển”

• B.Clinton: “Mục tiêu chủ yếu của chiến lược an ninh quốc gia trong thời đại mới

là dùng lực lượng quân sự luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước, giúp nền kinh tế Mỹ khôi phục lại sức sống, thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài phát triển.”

(Theo Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia: Chiến lược tham gia và mở rộng,

1994)

Trang 19

• G.W.Bush: “Thúc đẩy dân chủ trên phạm vi toàn cầu là yêu cầu cấp bách mà an ninh quốc gia Mỹ đặt ra” (Bài phát biểu nhậm chức nhiệm kỳ hai, ngày 20/01/2005)

Sự điều chỉnh của B Obama:

• Trước khi nhậm chức, trả lời phỏng vấn tờ Bưu điện Washington, ông B Obama cho biết sẽ xem xét thúc đẩy dân chủ “thông qua một thấu kính thực sự để mang lại một cuộc sống tốt đẹp cho người dân trên thế giới”

Sau khi nhậm chức: chủ trương thực hiện chính sách mềm dẻo, đề cao “sức

mạnh thông minh”, không lấy danh nghĩa “phổ biến các giá trị dân chủ” để áp

đặt các quốc gia khác

C, Quá trình triển khai CSĐN với các nước lớn

I Mỹ - Nhật Bản:

1 Về An ninh- Quân sự

Với việc ký kết Tuyên bố chung ngày 17/4/1996 và việc thông qua Phương châm chỉ

đạo an ninh mới tháng 9/1997, liên minh Nhật - Mỹ đã được nâng lên một tầm cao mới

của thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh Hai nước Nhật, Mỹ đều coi việc tiếp tục tăng cường

hợp tác an ninh chính trị và kể cả an ninh quốc phòng với nhau trong thế kỷ XXI có

tầm quan trọng đặc biệt đối với an ninh và phát triển kinh tế chung của cả khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Á, đặc biệt là Đông Bắc Á nói riêng chứ không chỉ là phục vụ cho lợi ích của riêng hai nước Phạm vi hoạt động của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản do đó đã được Mỹ ủng hộ theo mong muốn của Nhật là ngày càng

mở rộng hơn Quan hệ an ninh song phương này đã chuyển đổi từ tính chất phòng thủ

truyền thống là chủ yếu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh nay sang chuyển sang thời

kỳ mới - Hậu Chiến tranh lạnh, là tăng cường sự can thiệp vào các vấn đề khu vực

để bảo đảm an ninh quốc gia mỗi bên, bảo đảm cho lợi ích chiến lược của họ, và cũng để nhằm bảo đảm cho an ninh chung của khu vực và cả thế giới Như bình luận

của giới phân tích chính trị thì “Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ” trong bối cảnh mới đã

Ngày đăng: 04/12/2014, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w