1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng

113 1,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chínhkhông thể thay thế được của một số ngành sản xuất như: nông nghiệp, lâm nghiệp, làmộ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chínhkhông thể thay thế được của một số ngành sản xuất như: nông nghiệp, lâm nghiệp, làmột bộ phận không thể tách rời lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia, lànơi trên đó, con người xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc …, là nơi diễn ra cáchoạt động văn hóa, là nơi phân bố các vùng kinh tế, các khu dân cư; là thành quả cáchmạng của cả dân tộc, là cơ sở để phát triển hệ sinh thái, tạo nên môi trường, duy trì sựsống của con người và sinh vật C.Mác đã khái quát vai trò kinh tế của đất đai: "Đất là

mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất"

Sau hơn 25 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên cácmặt kinh tế, xã hội Bên cạnh đó, mặt môi trường cũng được Nhà nước ta ngày mộtquan tâm và chú trọng

Với áp lực gia tăng dân số ngày càng cao và tất cả các mục tiêu đều ưu tiên cho

sự phát triển kinh tế - xã hội để phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp Chính vì thế, nhu cầu chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nôngnghiệp ngày một tăng

Thành phố Đà Nẵng thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm của miền Trung, có vịtrí quan trọng trong quá trình phát triển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.Trong đó, huyện Hòa Vang là huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng(không tính huyện đảo Hoàng Sa), nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố, làhuyện có xu hướng phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị nhanh chóng Hiệnnay, trên địa bàn huyện có 4 khu công nghiệp, một số khu du lịch sinh thái lớn.Trong đó, nổi tiếng nhất là khu du kịch Bà Nà, sân golf Hòa Ninh và 5 khu đô thịmới được hình thành và hoạt động Đồng thời, đang xúc tiến xây dựng các khu đôthị mới khác trên địa bàn Do đó, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, vấn đề ônhiễm môi trường ngày một gia tăng Quá trình này đã và đang gây áp lực mạnh mẽđến việc quản lý và sử dụng đất của huyện

Vậy một vấn đề đặt ra là nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển đổi cơ cấu sửdụng đất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn để tìm

ra nguyên nhân và ảnh hưởng của quá trình này đã và đang tác động như thế nào, mức

độ ra sao … tới quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn trên các mặt kinh tế - xãhội trên địa bàn huyện, để từ đó đề xuất những giải pháp sử dụng đất hợp lý đem lạihiệu quả cao

Trang 2

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm ra nguyên nhân và ảnh hưởng của quátrình chuyển đổi đất đai đã và đang tác động như thế nào tới quá trình phát triển củahuyện Hòa Vang trên các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường Từ đó, đề xuất những giảipháp quản lý, sử dụng đất hợp lý đem lai hiệu quả cao và bền vững

3 Ý nghĩa của đề tài

a) Ý nghĩa khoa học

Đóng góp về mặt lý luận trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cơ cấu sử dụngđất và sử dụng đất hợp lý trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn

b) Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá được thực trạng cơ cấu sử dụng đất của huyện Hòa Vang, thành phố

Đà Nẵng, từ đó tìm ra hướng sử dụng đất hợp lý cho khu vực nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địabàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

+ Tổng quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất đối với quá trình phát triển trong giai đoạn

2005 - 2012

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: đề tài được tiến hành trong phạm vi địa giới hành chính

của huyện Hòa Vang

+ Phạm vi thời gian:

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2012 đến tháng 5/2013

- Số liệu và thông tin thu thập giai đoạn 2005 - 2012

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Những vấn đề chung

1.1.1 Khái niệm về đất và đất đai

Theo Dale và McLaughin (1988), đất là “bề mặt của Trái Đất, vật chất phía dưới,không khí phía trên và tất cả những thứ gắn liền với nền đất” Còn theo StephenHauking (nhà vật lý người Anh), lớp mặt đất của Trái Đất gọi là thổ nhưỡng (soil), đượchình thành là do tác động lẫn nhau của khí quyển, nước, sinh vật, đá mẹ qua thời gianlâu dài Theo Lucreotit (Triết gia La Mã): “Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gìkhông từ lòng mẹ đất mà ra” Nhà kinh tế học người Italia Williams Petty có quan điểm:

“Lao động là cha, đất là mẹ sản sinh ra mọi của cải vật chất của thế giới này” [14]

Theo V.V Đôccutraiep (1846 - 1903): Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi mộtcách tự nhiên dưới tác dụng tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu

và thời gian Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô (cũ) - V.R Villiam (1863 - 1939)thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ranhững sản phẩm của cây trồng [4]

Theo quan điểm của C Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiệncần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơbản trong nông - lâm nghiệp [6]

Theo quan điểm của FAO thì đất được xem như là tổng thể của nhiều yếu tốgồm: khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thực vật, động vật, những biến đổicủa đất do hoạt động con người [11]

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của Trái Đất tươngđối tơi xốp do các loại đất phong hóa ra, có độ phì, trên đó cây cỏ có thể mọc được Đấthình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ [26]

Nếu nhìn nhận đất đai trên trên phương diện từ vạt đất thì đất đai là một phầndiện tích cụ thể của bề mặt Trái Đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinhthái ngay trên và dưới bề mặt đất [18]

Như vậy, tùy theo quan điểm trong từng lĩnh vực về chuyên môn mà đất đai đượccác tác giả nhìn nhận trên các phương diện khác nhau và có nhiều ý nghĩa khác nhau

Tuy nhiên, hiện nay khi nói đến đất người ta thường dùng hai khái niệm là đất(soil) và đất đai (land) Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ Trái Đất gọi là Thổ nhưỡng Thổ

Trang 4

nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển), nước (thủy quyển),sinh vật (sinh quyển) và đá mẹ (thạch quyển) qua thời gian lâu dài Khái niệm đất theonghĩa đất đai (land) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đất như là không gian,cộng đồng lãnh thổ, vị trí địa lý, nguồn vốn, môi trường, tài sản [9] Trong quản lý Nhànước về đất đai người ta thường đề cặp đến đất đai theo khái niệm đất (land).

1.1.2 Phân loại đất (land/soil classification)

Hiện nay trên thế giới tùy theo mục đích phân loại mà có nhiều cách phân loạiđất khác nhau Ở Việt Nam đất thường được phân loại theo hai cách: phân loại đấttheo thổ nhưỡng và phân loại đất theo mục đích sử dụng [9]

a Phân loại đất theo thổ nhưỡng (soil classification)

Phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo Khoa học đất) mục đích nhằm xây dựngbản đồ thổ nhưỡng Trên thế giới có 3 trường phái chủ yếu [9]:

+ Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh

+ Phân loại đất theo định lượng các tầng đất

+ Phân loại đất theo FAO - UNESCO

Ở Việt Nam, năm 1976, Bộ Nông nghiệp đã xây dựng bản đồ đất tỉ lệ1/1.000.000, bảng phân loại đất chia đất của nước ta thành 13 nhóm với 30 loại đấttheo phát sinh Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ở nước ta đã sử dụng hệthống phân loại đất theo định lượng FAO - UNESCO, bảng phân loại đất theo FAO -UNESCO gồm 19 nhóm và 54 loại đất [4]

b Phân loại đất theo mục đích sử dụng (land classification)

Ở Việt Nam, Luật đất đai đầu tiên (1987) quy định đất đai được phân làm 5 loạitheo mục đích sử dụng gồm: đất NN, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng

và đất chưa sử dụng Luật đất đai 1993 quy định đất đai được phân thành 6 loại theomục đích sử dụng gồm: đất NN, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị,đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng [23]

Cách phân loại đất theo Luật đất đai 1987 và Luật đất đai 1993, được vừa theomục đích sử dụng, lại theo địa bàn gây nên có sự chồng chéo Để khắc phục tình trạngnày, Luật đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 quy định căn cứ theo mục đích

sử dụng, đất đai được phân thành 3 nhóm: Nhóm đất NN, nhóm đất phi NN, nhóm đấtchưa sử dụng [24] Loại đất, mục đích sử dụng đất của mỗi thửa đất được xác địnhtheo giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất hoặc theo hiện trạng sử dụng đất [6]

Trang 5

+ Nhóm đất nông nghiệp: Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiêncứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo

vệ, phát triển rừng Nhóm đất NN được phân làm các phân nhóm gồm: đất sản xuất

NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất NN khác [3], [7]

+ Nhóm đất phi NN: Đất phi NN là đất đang được sử dụng không thuộc nhómđất NN Nhóm đất phi NN bao gồm: đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng;đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng

và đất phi NN khác [3], [7] Trong các phân nhóm của nhóm đất NN, phi NN lại đượcchia thành nhiều loại đất khác nhau

+ Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sửdụng Đất chưa sử dụng bao gồm: đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng,núi đá không có rừng cây [3], [7]

Tóm lại, theo mục đích sử dụng đất, ở nước ta đất được chia làm 3 loại: Đất

NN, đất phi NN và đất chưa sử dụng Với tốc độ CNH, ĐTH ngày càng cao như hiệnnay, đất NN luôn có xu hướng chuyển sang đất phi NN với diện tích lớn

* Khái quát về chuyển đổi đất đai

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính chất kinh tếvừa mang tích chất xã hội lớn, phức tạp [19]

Theo quy luật phát triển của xã hội, CNH và ĐTH là xu hướng tất yếu của cácquốc gia đang phát triển trong quá trình HĐH đất nước Chuyển đổi đất NN để xây dựngcác khu công nghiệp hoặc đô thị là một hướng để phát triển kinh tế trong một nước, vàcũng là bước đầu để thực hiện ĐTH vì việc chuyển đổi sẽ tạo ra làn sóng di dân vào đôthị tìm việc làm Chuyển đổi đất NN sang đất phi NN là yếu tố làm phát triển kinh tếnhanh chóng, và còn tạo ra ảnh hưởng đến một số diện tích đất NN lân cận [10]

Ở nước ta hiện nay, chuyển đổi đất đai gồm có hai dạng: chuyển đổi tự nguyện

và chuyển đổi bắt buộc Cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở người sử dụngđất thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất thôngqua chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn quyền sử dụng đất sau đó thực hiện chuyển đổimục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật Chuyển đổi đất đai theo cơ chế này,khi chuyển đất NN sang đất phi NN người sử dụng đất phải xin phép cơ quan quản lýNhà nước có thẩm quyền

Chuyển đổi đất đai bắt buộc với cơ chế Nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuêvào mục đích khác, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất

Trang 6

Chỉ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được thu hồi đất, việc thu hồi đất NN đểchuyển sang đất phi NN phải phù hợp với QHSDĐ đã được xét duyệt Nhà nước cóchính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người mất đất NN để đảm bảosinh kế cho người dân Trong thực tế đất đai được chuyển đổi theo cơ chế bắt buộc làchủ yếu và tác động lớn đến đời sống người dân.

1.1.3 Khái quát chung về cơ cấu sử dụng đất

Trong quá trình sử dụng con người đã tác động vào đất, dẫn tới những biến đổi

mà biến đổi này ngày càng làm cho đất xấu đi và ngày càng suy thoái Việc phân bổ tựnhiên cho các ngành kinh tế, các lĩnh vực sử dụng đất hiện nay ở nước ta còn thiếu sựhài hòa, thiếu sự cân đối hợp lý như: đất có chất lượng tốt cho sản xuất nông nghiệp lạiđưa vào xây dựng các công trình phi nông nghiệp, có những công trình còn bỏ hoang

… gây lãng phí quỹ đất

Cơ cấu sử dụng đất được hiểu là tỷ lệ phần trăm giữa các loại đất (như đất nôngnghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng) với tổng diện tích đất tự nhiên của mộtvùng cụ thể

Việc bố trí đất cho các ngành kinh tế gây ra những mâu thuẫn rất lớn trong bốtrí cơ cấu sử dụng đất Để phát triển kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ hay làmnhà ở cần có diện tích đất để bố trí; trong khi đó, dân số ngày một tăng, nhu cầu về sảnphẩm nông nghiệp ngày một nhiều về cả số lượng và chất lượng Như vây, diện tíchcanh tác nông nghiệp phải tăng trong khi đó diện tích tự nhiên có hạn dẫn đến mâuthuẫn giữa một bên là lợi ích kinh tế, xã hội và một bên là môi trường Vấn đề đặt ra làlàm thế nào để tăng lượng hàng hóa trên đơn vị diện tích, chất lượng hàng hóa đảmbảo các mục tiêu về xã hội và môi trường, trọng tâm trong đó cần phải có cơ cấu sửdụng đất hợp lý

Cơ cấu sử dụng đất hợp lý sẽ tạo ra lượng sản phẩm hàng hóa lớn trên đơn vịdiện tích, chất lượng hàng hóa đảm bảo phù hợp với nhu cầu sử dụng của con người,mặc dù diện tích đất canh tác nông nghiệp thấp nhưng lượng sản phẩm vẫn tăng

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững

1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại,nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai đảm bảo

sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường

Trang 7

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sựgiàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xãhội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý vàhài hoà được ba mặt là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường [12].

1.2.2 Những lý luận cơ bản về phát triển bền vững

+ Bền vững về kinh tế

Phát triển bền vững về kinh tế là việc đảm bảo kết hợp hài hoà giữa mục tiêutăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tếvới việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệđặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với

cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránhđược sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nợ nần lớn cho cácthế hệ mai sau

+ Phát triển bền vững về xã hội

Phát triển bền vững về xã hội là việc phải xây dựng một xã hội có nền kinh tếtăng trưởng nhanh, ổn định, đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội Trong đó,giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện chomọi đối tượng trong xã hội Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là nâng cao chấtlượng cuộc sống, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tìnhtrạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giảm các

tệ nạn xã hội

+ Phát triển bền vững về môi trường

Phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tái tạotrong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng,các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môitrường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xã hội(dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của conngười ) không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Cácnguồn phế thải từ sản xuất và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trườngđược bảo đảm, con người được sống trong môi trường sạch

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiếtkiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn xử lý và kiểm soát

Trang 8

có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ được các vườnquốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinhhọc, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường [12].

1.2.3 Các khía cạnh đa nguyên tắc của việc quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên đất

Quản lý, sử dụng tài nguyên đất hợp lý phải theo một phương pháp tiếp cận đanguyên tắc Về cơ bản hệ thống quản lý này phải xem xét tới ba khía cạnh chính sau:

+ Các khía cạnh lý - sinh: quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất tức là phải duytrì, cải thiện các điều kiện tự nhiên và sinh học đối với sự phát triển của cây trồng và

đa dạng sinh học

+ Các khía cạnh văn hóa - xã hội: quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất là phảithỏa mãn được các nhu cầu của cuộc sống con người ở cấp vùng hoặc cấp quốc giatheo một cách thức phù hợp về văn hóa xã hội

+ Các khía cạnh về kinh tế: quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên đất phải tính đếnmọi chi phí của người sử dụng đất riêng lẻ và của xã hội

Khái niệm về quản lý, sử dụng tài nguyên đất hợp lý có thể áp dụng ở các phạm

vi khác nhau để giải quyết các vấn đề khác nhau Đồng thời, tiếp tục cung cấp hướngdẫn về tiêu chuẩn khoa học và các quy định đối với việc đánh giá sự phát triển bềnvững trong tương lai [25]

1.3 Lý luận về sử dụng đất bền vững

1.3.1 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất

Những người trực tiếp sử dụng đất và những người có liên quan đến việc sửdụng đất có những lợi ích khác nhau về việc sử dụng đất Đất là nguồn tài nguyênđược sử dụng để thoả mãn nhu cầu cho những người có mối quan hệ gắn bó với đất

Có những vấn đề ưu tiên trước mắt và có những vấn đề lâu dài, tuỳ thuộc vào mục tiêucủa từng người sử dụng đất Từ đó, họ có những quyết định sử dụng đất theo hướngmục tiêu của mình

Vấn đề ưu tiên trước mắt của người nông dân là sản xuất lương thực và thunhập Do đó, các quyết định sử dụng đất của người nông dân với những mục tiêu chothời gian gần, còn các lợi ích về lâu dài thường ít được chú trọng và quan tâm

Một cộng đồng lớn hơn - như ở cấp quốc gia - cũng là một đối tượng sử dụngđất theo cách nhìn nhận đất đai được dùng cho: đô thị, điều kiện cơ sở vật chất, côngnghiệp, giải trí Ở phạm vi này, các mục tiêu cơ bản là nâng cao mức sống và đáp

Trang 9

ứng mọi nhu cầu của người dân Các mục tiêu của quốc gia có xu hướng lâu dài, bảo

vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho tương lai Vì vậy, thường tồn tại một sự phân biệt

cơ bản về lợi ích giữa các mục tiêu của người sử dụng đất thực tế và của cộng đồngnơi họ sinh sống Cộng đồng - dù là địa phương, tỉnh hoặc quốc gia - sẽ thường xuyên

cố gắng gây ảnh hưởng lên cách thức sử dụng đất hoặc là bằng việc mở rộng cácchương trình, trợ cấp hoặc là bằng pháp luật

Vậy trong sử dụng đất đai phải tính đến lợi ích đa dạng của mọi tổ chức, cánhân từ lợi ích của người sử dụng đất trực tiếp, lợi ích của khu vực, lợi ích địa phương

và lợi ích quốc gia

Ngoài ra, việc sử dụng đất của người dân và quốc gia này cũng ảnh hưởng tớicác nước lân cận và các nước khác trên toàn thế giới Đó là tình hình ô nhiễm hoặcnhững tác động có hại gây ảnh hưởng từ nước này sang nước khác, hoặc là nơi mà cáchoạt động của một nước hoặc một nhóm các nước trong khu vực gây ảnh hưởng đếncác hệ thống toàn cầu làm tổn hại tới tất cả chúng ta [20]

1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

- Điều kiện đất: chủ yếu là điều kiện địa lý và thổ nhưỡng Sự sai khác giữa đá

mẹ, địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mònmặt đất và mức độ xói mòn dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu Từ đó, ảnhhưởng đến sản xuất và phân bố ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địahình theo chiều thẳng đứng của nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đếnphương hướng sử dụng đất và xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và canh tác bằngmáy móc, cũng ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp.[15]

Đặc điểm của nhân tố điều kiện tự nhiên nói trên là có tính khu vực Do vị tríđịa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nguồn nước, nhiệt độ, ánh sáng vàcác điều kiện tự nhiên khác của đất đai, ở một mức độ tương đối lớn, chúng quyết định

Trang 10

khả năng sử dụng của đất đai Vị trí của đất đai và mức độ thuận lợi, khó khăn, quyếtđịnh công dụng tối ưu và hiệu quả sử dụng đất đai Do vậy, trong quá trình thực tiễnnên sử dụng theo quy luật tự nhiên, phục tùng điều kiện tự nhiên, lợi dụng thế mạnh,tận dụng mặt có lợi để có thể đạt tới sử dụng đất với hiệu quả cao về kinh tế, xã hội vàmôi trường [20].

+ Nhân tố kinh tế - xã hội

Nhân tố xã hội chủ yếu là dân số và lực lượng lao động, nhu cầu của xã hội,thông tin, quản lý, chế độ xã hội, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầuquốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và

bố cục sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giaothông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động,điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoahọc kỹ thuật vào sản xuất

Nhân tố kinh tế - xã hội thường có tác dụng quyết định đối với sử dụng đất đai.Việc xác định phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội

và một mục tiêu kinh tế nhất định Trong một vùng hoặc trong một nước thì điềukiện vật chất tự nhiên của đất đai là cố định, nhưng do điều kiện kinh tế - xã hộikhác nhau, nên việc khai thác và sử dụng đất đai cũng khác nhau

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng có tácdụng khống chế và quản lý đối với sử dụng đất đai khác nhau, phương thức và hiệuquả sử dụng đất cũng không giống nhau Trình độ phát triển xã hội và kinh tế cũnglàm cho trình độ sử dụng đất đai phát triển ngày càng cao

Cần phải xuất phát từ hiệu quả sử dụng đất để xem xét về ảnh hưởng của điềukiện kinh tế đến sử dụng đất Trạng thái sử dụng đất có liên quan tới lợi ích kinh tế củangười sở hữu và kinh doanh đất Chỉ đơn thuần nghĩ đến lợi nhuận trước mắt thì đôikhi sẽ làm cho đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm chí đi ngược lại lợi ích xã hội

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội kết hợp gâyảnh hưởng tổng hợp đến việc sử dụng đất đai Do đó, cần phải dựa vào quy luật tựnhiên và quy luật kinh tế - xã hội, nhằm vào các nhân tố xã hội và nhân tố tự nhiên củaviệc sử dụng đất để nghiên cứu và xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố này Căn cứ vàoyêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽyêu cầu của sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu tổng thể caonhất, làm cho số đất hữu hạn này cho hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao và sửdụng được bền vững [13]

Trang 11

+ Nhân tố không gian.

Đất là nơi sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng đểsản xuất ra sản phẩm Đối với ngành phi sản xuất như đất xây dựng, nó cung cấpkhông gian mà không sản xuất ra sản phẩm cụ thể Trên thực tế, dù cho đất được dùngcho sản xuất hoặc phi sản xuất, nó đều cung cấp khả năng phục vụ về không gian.Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng, đều là những nhu cầu không thể thiếu đốivới ngành sản xuất vật chất và phi sản xuất, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hộiđều cần đến Chính vì vậy, không gian cũng là một trong những nhân tố hạn chế đến

sử dụng đất

Nhân tố không gian của đất đai có đặc tính là không thể thay thế và cũng khôngthể dịch chuyển được Từ đó, việc phân bổ sử dụng đất của con người không thể vượt quaphạm vi giới hạn không gian hiện có Điều này nói lên rằng, theo đà phát triển của dân số

và kinh tế - xã hội tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra

Sự cố định bất biến của tổng diện tích đất đai, không chỉ hạn chế sự mở rộngkhông gian sử dụng đất, mà còn qui định giới hạn thay đổi của cơ cấu dùng đất Dovậy, trong khi tiến hành điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, cần phải chú ý tới yêu cầu của

xã hội đối với loại đất và số lượng đất đai mà sản xuất cần, đồng thời xác định sức sảnxuất và diện tích cần có để đảm bảo sức tải của đất đai [15]

1.3.3 Xu thế phát triển sử dụng đất

+ Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung

Quá trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến sử dụng đất Khi conngười còn sống trong phương thức săn bắn và hái lượm, họ chỉ có thể dựa vào sự banhưởng của tự nhiên, sự thích ứng với tự nhiên để tồn tại, không tồn tại ý thức về sửdụng đất Cho đến thời kỳ du mục, con người sống trong những túp lều lợp bằng cỏ,những vùng đất có nước và có cỏ bắt đầu được sử dụng Đến sau khi xuất hiện ngànhtrồng trọt, nhất là sau khi đã xuất hiện những công cụ sản xuất thô sơ, năng lực sửdụng đất được tăng cường, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, ýnghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Nhưng trình độ sử dụng đất lúc đó còn rấtthấp, phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, vẫn thuộc trạng thái kinh doanh thô, đất khaiphá nhiều nhưng thu thập rất thấp Theo mức tăng trưởng của dân số và sự phát triểncủa kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sửdụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dâncũng ngày càng cao, sự phát triển của các ngành nghề cũng theo xu hướng ngày càngphức tạp và đa dạng, phạm vi sử dụng đất ngày càng gia tăng, từ một vùng có tính cục

Trang 12

bộ phát triển ra nhiều vùng kể cả những vùng đất mà trước kia chưa có khả năng khaithác sử dụng Không chỉ phát triển theo không gian, mà trình độ tập trung cao hơnnhiều Cho dù là đất canh tác hoặc đất phi canh tác cũng đều phát triển theo hướngkinh doanh tập trung, đất ít, hiệu quả cao [20].

Tuy nhiên, quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh caotrong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài, muốn nâng cao sức sản xuất và sứctải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừng nâng mức đầu tư về lao động,vốn liếng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và quản lý Ở những khu vực khác nhau củamột vùng hoặc một quốc gia muốn thực hiện đường lối cơ bản này cũng không thể sửdụng cùng một phương thức trong cùng một thời gian Bởi vì tình hình của mỗi quốcgia một khác, trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật không giống nhau, ngay trong cùngmột quốc gia mà những vùng khác nhau, các điều kiện cũng rất khác nhau [5]

+ Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng đa dạng hoá và chuyên môn hoá

Theo đà phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội, cơ cấu sử dụng đấtcũng chuyển dần sang xu thế phức tạp hoá và chuyên môn hoá, yêu cầu của con người

về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao, chúng sẽ trực tiếp hoặcgián tiếp có yêu cầu cao hơn đối với đất đai Khi con người có mức sống còn thấp,đang còn đấu tranh với cuộc sống, thì việc sử dụng đất thường mới tập trung vào nôngnghiệp, nhất là vấn đề ăn, mặc, ở, nhưng khi cuộc sống đã nâng cao, bước vào giaiđoạn hưởng thụ, trong sử dụng đất còn nghĩ tới nhu cầu vui chơi văn hóa, thể thao vàmôi trường [20]

+ Sử dụng đất đai theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá

Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá sản xuất,một vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm là tiền đề cho nơi khácsản xuất tập trung sản phẩm khác Sự hỗ trợ bổ sung lẫn nhau hình thành sự phân cônghợp tác, sự xã hội hoá sản xuất này cũng là xã hội hoá trong sử dụng đất

Đồng thời, do đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xãhội tồn tại, trên cơ sở chuyên môn hoá của yêu cầu xã hội hoá sản xuất, cần cố gắngthích ứng nhu cầu của xã hội, để thúc đẩy phúc lợi công cộng và tiến bộ xã hội, cho dù

ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân thì những vùng đất đaihướng dụng công cộng như: nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ,biển cả, cầu cảng, hải cảng, danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn động thực vật quýhiếm đại bộ phận đều do Nhà nước quy định chính sách thực thi hoặc tiến hànhcông quản, kinh doanh để phòng ngừa việc tư hữu sẽ tạo nên mâu thuẫn xã hội

Trang 13

Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội hoá sảnxuất, nó được quyết định bởi yêu cầu khách quan của xã hội hoá sản xuất, cho nên xãhội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển, thúcđẩy cao hơn nữa xã hội hóa sản xuất, về cơ bản phải thực hiện xã hội hoá và công hữuhoá sử dụng đất [20].

1.3.4 Sử dụng đất đai bền vững với các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất đai bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tếtrong sử dụng đất đai giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn, có lúc trùng vớinhau và có lúc không trùng nhau

Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất đai của mình luôn đặt ra mục tiêu làm

ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng Nếu thấy việc đó không có lợi họ có thể thayđổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi họ cóthể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nôngnghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đấtcủa mình, kể cả việc bán đất sét cho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xâydựng hoặc sử dụng đất làm khu vui chơi giải trí cho khách du lịch

Trong khi đó, cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối quantâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất đai Trước hết, đó là đảm bảo các mục tiêu kinh

tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực, có đất để mởrộng đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, bảo vệ môi trường

và các khu vui chơi, giải trí

Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâuthuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng [20]

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu xã hội

Sử dụng đất đai trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất đó,

họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt của bất cứ mộtNhà nước nào, nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả mãnnhững nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triểnbền vững là một phương pháp hữu hiệu, nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu làkinh tế, xã hội và môi trường [20] Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vậtchất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu

Trang 14

nhập Ngoài ra, còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tươnglai của họ.

Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ về việc

sử dụng đất đai Đó là việc sử dụng đất đai của thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi íchcủa các thế hệ con cháu mai sau

Tóm lại, mục tiêu xã hội luôn thay đổi và biến động theo từng thời kỳ, điều đódẫn đến sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đáp ứng các nhu cầu mới của xã hội vềnông sản, thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác [20]

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu môi trường

Đối với bất kỳ vùng nào, một quốc gia nào trong sử dụng đất đai gắn với mụctiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêuriêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường Cáctiêu chuẩn và mục tiêu này thường được thành lập dựa trên thuật ngữ hoá học, vì nóliên quan đến sức khoẻ và thế hệ mai sau Việc nhìn nhận "môi trường" không chỉ cónghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học, đất, nước, phong cảnh thiên nhiên

là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết mộtcách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội

Hơn nữa, mục tiêu môi trường ngoài những quan tâm chung mang tính toàncầu, thì mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh của mình mà có những quantâm riêng, song quan trọng hơn đó là lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần [20]

Việc đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai theo quan điểm sinh thái bền vững [2].Những đánh giá tổng quát về môi trường và hiện tượng suy thoái đất có liên quan tớicác điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất [8] Những nghiên cứu chuyên sâu vềvấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam đã phản ánh được nhiều vấn đề về môitrường, nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược, cũng như các giải pháp khắc phục cho

sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền [13]

1.4 Khái quát tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trên Thế giới và Việt Nam

Quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất gắn liền với quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của mỗi quốc gia và nó diễn ra mạnh nhất vào thời điểm quốc gia đó đangtrong giai đoạn nền kinh tế phát triển Những hoạt động công nghiệp, đô thị hóa, xâydựng cơ sở hạ tầng diễn ra mạnh mẽ và dẫn đến yêu cầu chuyển đổi một lượng lớndiện tích đất nông nghiệp sang các mục đích khác nhất là phi nông nghiệp để đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế - xã hội các ngành Trên thế giới khi xem xét quá trình

Trang 15

chuyển dịch cơ cấu đất đai người ta dựa vào 3 thời kỳ: thời kỳ tiền công nghiệp, thời

kỳ công nghiệp, thời kỳ hậu công nghiệp

1.4.1 Khái quát chung

1.4.1.1 Thời kỳ tiền công nghiệp

Là thời kỳ trước thế kỷ XVIII; trong thời kỳ này diễn ra cuộc cách mạng kỹthuật I, còn gọi là cách mạng thủ công nghiệp Các đô thị phát sinh ngay từ trong vănminh nông nghiệp, ở dạng phôi thai còn hòa đồng phần nào với nông thôn, lực lượngchủ yếu mới chỉ có bộ phận thợ thủ công, thương nhân, hành chính, quân đội, đượctách ra lập thành đô thị, bộ phận còn lại vừa hoạt động nông nghiệp vừa hoạt động thủcông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ Hình thức cấu trúc đô thị đơn giản, có thể chỉ làmột lỵ sở, đồn trú mà cái “thành” là yếu tố cơ bản, hoặc là một trạm dịch vụ thươngnghiệp trao đổi hàng thủ công mỹ nghệ, đô thị của các tiểu chủ xí nghiệp thủ côngnghiệp mới hình thành Trong các đô thị này, khu vực ở và sản xuất là biệt lập hoặc kếthợp với đồn trú thành quách Có thể thấy, đây là thời kỳ cơ cấu đất đai ít biến độngnhất, đất đai chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp [22]

1.4.1.2 Thời kỳ công nghiệp

Từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, trong thời kỳ này diễn ra các cuộccách mạng kỹ thuật II, hay còn gọi là cách mạng công nghiệp, cuộc cách mạng này đãkéo theo một sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế lãnh thổ, tạo cho các đô thị hìnhthành gắn với quá trình công nghiệp hóa của mỗi quốc gia như: khai khoáng, luyệnkim, cơ khí, hóa chất, chế biến thực phẩm, Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóatăng nhanh như vũ bão, tạo điều kiện hình thành một đô thị trên lãnh thổ của mỗi quốcgia Phát triển công nghiệp đại cơ khí đòi hỏi tập trung vào một số đô thị hạt nhân lớncủa các vùng lãnh thổ

Quá trình công nghiệp hóa đã thu hút dân cư nông thôn tập trung về các đô thị,một dòng dịch cư lịch sử từ nông thôn vào đô thị đã diễn ra, mạnh nhất là ở Châu Âu

và Châu Mỹ Dân số nông thôn của các khu vực này hạ xuống chỉ còn 10 - 20% tổngdân số; trong khi đó, ở những nước chậm phát triển tỷ lệ này là 70 - 80% Như vậy,thời kỳ này quy mô của các đô thị được tập trung lớn hơn, hoạt động phức tạp hơn vàcấu trúc của đô thị cũng phức tạp hơn và đặc biệt có thể thấy đây là thời kỳ chuyểndịch cơ cấu đất đai từ sản xuất nông nghiệp sang phi nông nghiệp diễn ra mạnh mẽnhất Cùng với sự phát triển của công nghiệp, các đô thị phát triển một cách mạnh mẽhình thành nên những chùm đô thị, những chuỗi đô thị nối liền nhau thành những đôthị khổng lồ, những siêu thị như: Tokyo - Yokohama, New York - N.E Newjersey,

Trang 16

Washington DC - Boston, Đất xây dựng nhà ở của các đô thị này được bố trí ngaybên cạnh các khu công nghiệp [22]

1.4.1.3 Thời kỳ hậu công nghiệp

Tức thời kỳ cách mạng kỹ thuật III, còn gọi là cách mạng khoa học kỹ thuật,kéo dài từ giữa thế kỷ XIX đến nay vẫn còn tiếp diễn Cùng với sự phát triển của khoahọc công nghệ là sự thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thức sinh hoạt ở các đô thị.Đất xây dựng nhà ở với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình phúc lợi côngcộng được cân đối tương đối hoàn thiện cho các khu dân cư Tuy nhiên, tỷ lệ các loạiđất trong khu ở phụ thuộc vào điều kiện và giải pháp quy hoạch xây dựng cụ thể [22]

Các nước phát triển, các hoạt động công nghiệp và các đô thị đã đi vào ổn định

về quy mô; do đó, cơ cấu đất đai không còn biến động mạnh Trong khi đó, tại cácnước đang phát triển quá trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra mạnh mẽ, các hoạt động côngnghiệp đang có xu hướng phát triển và kéo theo quá trình chuyển dịch cơ cấu đất đaitheo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

1.4.2 Tình hình chuyển đổi cơ cấu đất đai của một số nước trên Thế giới

1.4.2.1 Cộng hòa liên bang Đức

Theo Chu Văn Thỉnh [21]: Diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm chủ yếu(chiếm 85% tổng diện tích) Đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, đường bộ, đường sắt và

cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở vàđất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích Liên bang Cũng giống như bất kỳquốc gia công nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và đất giao thông ngàycàng gia tăng đòi hỏi phải chuyển một lượng lớn đất nông nghiệp cho mục đích này

Trong vòng 40 năm trở lại đây, diện tích đất khu vực dân cư tăng lên gần nhưgấp đôi Trong khi đó, dân số chỉ tăng khoảng gần 30% và thậm chí số người có việclàm chỉ tăng khoảng 10% Tại các thành phố trung tâm của nhiều đô thị tập trung, cáckhu dân cư thường chiếm hơn 50% diện tích đất đô thị Kết quả là diện tích đất ở bìnhquân đầu người ở Cộng hòa Liên bang Đức tăng từ 350 m2 năm 1950 lên 500 m2 năm

1997 Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới giữa thập kỷ 80; trong khi

đó, diện tích đất nhà ở chỉ tăng trong hai thập kỷ vừa qua Đặc biệt, như đất thươngmại, dịch vụ, quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ôhóa liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này [21]

Trong những năm gần đây, các khu dân cư mọc lên nhanh chóng khắp mọi nơi

đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp của nước này một cách đáng kể, trung bình mỗi

Trang 17

ngày giảm 133 ha Diện tích đất rừng và đất mặt nước có tăng lên nhưng không thể bùlại cho sự thiếu hụt về “không gian trống” do chuyển đổi đất nông nghiệp [21]

1.4.2.2 Đài Loan

Quá trình phát triển xã hội trước đây cũng giống với giai đoạn phát triển hiệnnay của Việt Nam, tức nông nghiệp là chính Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tếĐài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh, giới công thương đã trở thành nghề chủ lựccủa Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản của đất nước; hơn nữa, nông nghiệp cùng với

sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu [16]

Theo Trương Phan [16] thì từ năm 1971 đến năm 1993 nhân khẩu lâm - ngưnghiệp của Đài Loan có xu hướng giảm dần, đến năm 1993 chỉ chiếm 19,71% tổng sốnhân khẩu lao động (bình quân hàng năm giảm 0,38%), nhưng nhân khẩu ngành nghềchế tạo lại tăng hàng năm (bình quân hàng năm tăng 16,14%) đến năm 1993 chiếm28,37% tổng số nhân khẩu lao động toàn quốc Do đó, có thể thấy nghề chế tạo là thịtrường lao động chủ yếu của Đài Loan

Diện tích phát triển nông nghiệp và ngành nghề chế tạo: diện tích sử dụng đấttrong nông nghiệp từ năm 1971 đến năm 1993 theo xu hướng ổn định và hơi giảm,nhưng nghề nuôi trồng thủy hải sản từ năm 1991 đến nay vẫn tiếp tục tăng Tuy nhiên,tổng diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 26% diện tích đất đai khu vực Đài Loan.Đối với đất đai sử dụng trong ngành nghề chế tạo tăng lên hàng năm, sự phát triểnmạnh mẽ của các xí nghiệp vừa và nhỏ, mức tăng hàng năm là 9,09% nhưng diện tích

sử dụng chỉ chiếm 0,85% tổng diện tích đất đai Do đó, có thể thấy nhu cầu sử dụngđất phát triển của ngành nghề chế tạo tăng nhanh, nhưng diện tích chỉ chiếm phần nhỏtrong diện tích đất đã sử dụng [16]

Qua nghiên cứu cho thấy, nhân khẩu nông nghiệp và diện tích sử dụng đất nôngnghiệp của Đài Loan giảm theo hàng năm, nhưng cùng với việc ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và chính sách thâm canh hóa, chuyên sâu hóa, giá trị sản lượng về tổngsản phẩm quốc nội trong nông nghiệp vẫn tăng ổn định Nhưng sự phát triển của cácngành nghề chế tạo tuy chỉ với nhu cầu sử dụng đất không lớn nhưng phát huy hiệuquả sử dụng đất rất lớn; giá trị sản xuất trên đơn vị nhân khẩu và tổng sản phẩm quốcnội trong nghề chế tạo đều lớn hơn so với nông nghiệp [16]

Từ kinh nghiệm phát triển của Đài Loan có thể thấy phát triển nông nghiệp củanước này tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với sự phát triển kinh tếvẫn dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủ lực

vì nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất, nhưng phát huy hiệu quả kinh tế lớn nhất

Trang 18

Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiên tiến, nângcao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt nhu cầu nhân lực của nông nghiệp,chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sản xuất trong nghề chế tạo,nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việc làm tiến tới nâng cao giá trị

và thu nhập quốc dân trong nước

Từ việc chuyển đổi cơ cấu đất đai của một số nước ta thấy: việc chuyển đổi cơcấu sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là “xu thế” chung củanhiều quốc gia, vấn đề này đã và đang đe dọa quỹ đất nông nghiệp đang ngày một cạnkiệt ở nhiều nước

Quá trình chuyển đổi này đã kéo theo một loạt những vấn đề liên quan đặc biệt

là vấn đề môi trường, mức sống của nông dân để việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đấtnày diễn ra một cách hợp lý đòi hỏi công tác định hướng, quy hoạch sử dụng đất mang tính tầm nhìn xa và có tính “bền vững” thì có thể giảm bớt những hậu quả khônlường có thể xảy ra trong tương lai Nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản làmột ví dụ điển hình nhất đang đe dọa về vấn đề môi trường, sức khỏe và tính mạng củangười dân Nhật nói riêng và người dân trên toàn thế giới nói chung

Việc lựa chọn các ngành nghề để thu hút đầu tư làm sao cho hợp lý là vấn đềquan trọng đối với những nước đang phát triển như chúng ta

Quy hoạch sử dụng đất đai cần được tiến hành đồng bộ, thiết thực, thể hiệnđược chiến lược sử dụng đất, tránh tình trạng sử dụng đất manh mún, dàn trải

Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của một số nước trên thế giới làbài tốt cho chúng ta học hỏi và rút kinh nghiệm để đưa nước ta ngày một phát triểnhơn hướng tới việc sử dụng đất “bền vững”

1.4.3 Tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam

1.4.3.1 Chủ trương và chính sách của Nhà nước

Nước ta là một nước đang trong giai đoạn phát triển, quá trình chuyển đổi cơchế đã và đang diễn ra Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VII đã đề ra chủ trương côngnghiệp hóa - hiện đại hóa nhằm: “Cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ

sở vật chất hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp vớitrình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng anninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” [17]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra đường lối kinh tế củanước ta là: đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng nền kinh tế tự lập, tự chủ, đưa nước

Trang 19

ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xâydựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nộilực, đồng thời tranh thủ nguồn lực nước ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đểphát triển nhanh và có hiệu quả bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triểnhàng hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần nhân dân, thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hộivới tăng cường quốc phòng an ninh [1]

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ về đường lối chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có mức tíchlũy kinh tế ngày càng cao; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầngngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nộisinh về khoa học và công nghệ; giữ vững kinh tế - tài chính vi mô, bảo đảm an ninhlương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường, Từ nay đến năm 2020, ra sứcphấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp [17] Nghị quyết Đại hội

IX còn nêu: trong những năm đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

và hàng xuất khẩu, xây dựng có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, xây dựng có chọnlọc một số cơ sở công nghiệp nặng chủ yếu, mở rộng thương mại, dịch vụ, du lịch, đẩymạnh kinh tế đối ngoại, hình thành một ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển mạnh sựnghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Trong đó, nhấn mạnh 6 vấn đề:

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn;

- Phát triển công nghiệp;

- Xây dựng kết cấu hạ tầng;

- Phát triển nhanh du lịch, dịch vụ;

- Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ;

- Mở rộng và nâng cao kinh tế đối ngoại

Khi hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam trở thành một nướccông nghiệp mới với một nền kinh tế thị trường năng động và hiệu quả, có sự quản lýhiệu lực của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có một xã hội tự khẳng địnhvững chắc bằng nguồn lực phát triển nội sinh, có trình độ tương hợp và liên kết hòanhập về kinh tế và công nghệ, giao lưu rộng về văn hóa, thông tin và phát triển xã hộivới khu vực xung quanh và thế giới Về cơ bản đạt được mục tiêu dân giàu nước

Trang 20

mạnh, xã hội công bằng, văn minh và có thể bước đầu đứng vào hàng ngũ các nướcphát triển.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ diễn ra trong thời gian dài làm việc, việc sửdụng đất đai theo quy luật sẽ diễn ra các quá trình:

- Lấy đất để phát triển cơ sở hạ tầng

- Lấy đất để phát triển đô thị

- Lấy đất để xây dựng các khu công nghiệp

Các quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất thực chất là quá trình chuyển đổi

từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp

Trong chặn đường đầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta vẫnphải đối mặt với những khó khăn gây áp lực đến đất đai, đó là: dân số tiếp tục tăng,công nghiệp hóa diễn ra chậm dẫn đến tình trạng thiếu việc làm do chưa thu hút đượcnhiều lao động vào công nghiệp và dịch vụ nên lao động khu vực nông nghiệp tiếp tụctăng và làm nông nghiệp vẫn là nghề chính của đại đa số lao động Như vây, nhu cầutăng thêm đất nông nghiệp để giải quyết việc làm diễn ra đồng thời với việc giành đất

để phát triển cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, đô thi,

1.4.3.2 Tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam

Qua bảng số liệu 1.1 ta thấy, tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước (tính đếnnăm 2010) là 33.095,7 nghìn ha, trong đó:

Đất nông nghiệp 26.226,4 nghìn ha, chiếm 79,3% tổng diện tích tự nhiên

Đất phi nông nghiệp 3.705,0 nghìn ha, chiếm 11,2% tổng diện tích tự nhiên.Đất chưa sử dụng 3.164,3 nghìn ha, chiếm 9,5% tổng diện tích tự nhiên

Như vậy, nước ta diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sửdụng đất (79,3%), đất phi nông nghiệp còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (11,2%)

Trong giai đoạn 2000 - 2010, đất nông nghiệp tăng 5.286,7 nghìn ha, việc tănglên này chủ yếu do sự tăng lên của diện tích đất lâm nghiệp (tăng 3.791,5 nghìn ha sovới năm 2000) Nhưng đáng lo ngại là sự giảm xuống của đất trồng lúa Theo bảng 1.1

ta thấy, sau 10 năm diện tích đất lúa giảm 147,5 nghìn ha Đó là do quá trình chuyểnđổi sang đất phi nông nghiệp để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế và xã hộicủa cả nước

Trang 21

Cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước thì sự tăng lên của đất phi nôngnghiệp là vấn đề tất yếu Giai đoạn 2000 - 2010, diện tích đất phi nông nghiệp tăng854,7 nghìn ha Trong đó, đáng chú ý là sự tăng lên của đất ở (tăng 240,7 nghìn ha sovới năm 2000); đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (tăng 68,4 nghìn ha so vớinăm 2000); đất có mục đích công cộng (tăng 205,1 nghìn ha so với năm 2000)

Trong sự tăng lên của đất phi nông nghiệp thì vấn đề chúng ta đáng quan tâm

đó là sự tăng lên của đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp mà chủ yếu làđất dành cho các khu công nghiệp, khu chế xuất của nước ta

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam năm 2000 và năm 2010

Qua biểu đồ 1.1 ta thấy, cơ cấu đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp đềutăng lên Đất nông nghiệp năm 2000 là 20.939,7 nghìn ha, chiếm 63,6%; năm 2010 là26.226,4 nghìn ha, chiếm 79,3% Như vây, đất nông nghiệp đến năm 2010 tăng 15,7%

so với năm 2010 Đất phi nông nghiệp năm 2000 là 2.850,3 nghìn ha, chiếm 8,7%;năm 2010 là 3.705,0 nghìn ha, chiếm 11,2%, tăng 2,5% so với năm 2000 Đất chưa sửdụng năm 2000 là 9.134,1 nghìn ha, chiếm 27,7%; năm 2010 là 3.146,3 nghìn ha,chiếm 9,5%, giảm 18,2% so với năm 2000

Trang 22

Bảng 1.1 Tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Đơn vị: nghìn ha

2010

So với năm 2000 Năm

2000

Tăng (+) giảm (-)

2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 19,2 19,3 -0,1

2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp CSK 260,1 191,7 68,42.2.4 Đất có mục đích công cộng CCC 1206,6 1001,5 205,1

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng MNC 1077,5 893,2 184,3

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 2632,7 7699,4 -5066,7

(Nguồn: Tổng cục thống kê) Tình hình sử dụng đất ở: sau ngày giải phóng Thủ đô và chiến thắng Điện Biên

Phủ (1954), xuất hiện nhu cầu lớn về nhà ở ở miền bắc, nhất là ở các thành phố Song

Trang 23

do chiến tranh tiếp diễn, kinh tế đất nước không có điều kiện phát triển, dân số ngàycàng tăng, nhu cầu về nhà ở càng trở nên bức xúc Sau năm 1975, nền kinh tế có pháttriển hơn, hàng lạt các tiểu khu, nhà ở cao tầng ra đời góp phần cải thiện phần nào đó

về nhà ở cho nhân dân

Khi cơ chế bao cấp mất dần nhà ở do nhân dân tự lo hoặc do Nhà nước và nhândân cùng làm thì việc xây dựng nhà ở bùng nổ Người dân tự do cơi nới các khu ở …các khu ở mới phát triển mạnh, các khu đất được chia nhỏ Các làng xóm ven đô bánđất tràn lan để xây nhà ở, đường làng ngõ xóm bị lấn chiếm

Theo Đặng Quang Phán [17] sau 25 năm đổi mới, đời sống nhân dân đã cónhững thay đổi tích cực với thu nhập bình quân đầu người tăng từ mức 423 USD năm

2001 lên 723 USD năm 2007; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm từ 15,47% năm 2006xuống còn 14,75% năm 2007 Tốc độ đô thị hóa tại các đô thị lớn đã không ngừngtăng nhanh, năm 1989 đạt 18,5% và đến năm 2009 đạt 28% Năm 2000, dân số đô thị

cả nước là 18,77 triệu người, đến năm 2009 dân số nước ta là 85,79 triệu người; trong

đó, dân số khu vực đô thị là 25,37 triệu người Tuy nhiên, vấn đề nhà ở của người dân,nhất là tại các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gầnđây đang trở thành gánh nặng của chính sách an sinh xã hội

Trong năm 2008 đã có 51,5 triệu m2 nhà ở được xây mới, trong đó khu vực đôthị có 28,86 triệu m2 Kết quả thống kê đất đai toàn quốc năm 2009 (do bộ Tài nguyên

và Môi trường chủ trì thực hiện) cho thấy, cả nước có 633,9 nghìn ha đất ở, chiếm1,91% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước Trong đó, đất ở tại nông thôn cả nước

có 515,1 nghìn ha, chiếm 81,26% tổng diện tích đất ở Tăng 371 nghìn ha so với năm

2000, đạt bình quân đầu người là 60 m2/người; đất ở tại đô thị có 118,8 nghìn ha,chiếm 18,74% tổng diện tích đất ở, tăng 46,6 nghìn ha so với năm 2000, bình quân đầungười đạt 13.85 m2/người

Theo số liệu báo cáo của 46/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đếnngày 30/9/2008, quỹ đất sử dụng cho hỗ trợ và tái định cư là 14.754,53 ha (trong đó có12.900,59 ha cho 1.468 dự án, công trình do nhà nước thu hồi đất và 1.853,94 ha cho

449 dự án tái định cư do thiên tai) Tuy nhiên, quỹ đất này chỉ mới đáp ứng đượckhoảng 50 - 60% nhu cầu tái định cư của người dân, số còn lại phải tạm cư chờ bố trí táiđịnh cư, nhận thêm phần hỗ trợ để lo chỗ ở mới hoặc chưa được bố trí tái định cư [17]

Tính đến năm 2020, khoảng 3 triệu ha đất sẽ phục vụ cho quá trình công nghiệphóa - hiện đại hóa đất nước, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế côngnghiệp và dịch vụ, văn hóa, xã hội cần khoảng 1.000.000 ha đất để chỉnh trang đô thị,

Trang 24

các khu dân cư hiện có và phát triển các khu dân cư mới, nhu cầu tái định cư cũng nhưphát triển quỹ nhà phục vụ nhu cầu xã hội, giải quyết vấn đề nhà ở cho mọi tầng lớpnhân dân [17].

Tình hình phát triển các khu công nghiệp khu chế xuất: Khu công nghiệp, khu

kinh tế, khu công nghệ cao được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổimới được gắn liền từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) Trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trunglại là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích Theo đó, từ chỗ năm 1991 chỉ có mộtkhu chế xuất (Tân Thuận) được thành lập với 300 ha, diện tích đất có thể cho thuê11.000 ha Khu công nghiệp hiện nay là đầu mối quan trọng trong việc thu hút vốn đầu

tư trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) [27]

Bên cạnh những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế do các khu công nghiệp,khu chế xuất đem lại tạo được nhiều công ăn việc làm cho lao động trong nước Theothời báo kinh tế [28] đến năm 2005 có khoảng 737.500 lao động Việt Nam đang làmviệc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất Tuy nhiên, công tác quy hoạch khucông nghiệp - khu chế xuất còn mang tính cục bộ địa phương, dàn trải … Sau 15 nămthành lập nhiều khu công nghiệp - khu chế xuất chỉ đạt khoảng 44% tổng diện tích đất

có thể giao cho thuê (trong đó: các khu công nghiệp, khu chế xuất đã thành lập và đivào hoạt động đạt 61%; các khu công nghiệp đã thành lập nhưng đang trong thời kỳxây dựng cơ bản chỉ đạt 18,15%) Như vậy, trong khoảng 10 - 15 năm qua có khoảnghơn 8.500 ha đất có khả năng sản xuất tốt bị bỏ hoang Đây là một thực trạng rất lãngphí đất, thực tế cho thấy nhiều nơi đang rất thiếu các khu công nghiệp - khu chế xuất

để hoạt động; trong khi đó, nhiều khu công nghiệp - khu chế xuất đang bị bỏ hoang,đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận hiệu quả sử dụng đất để sử dụng đất được hiệu quả,hợp lý hơn

Trong những thập niên gần đây, khi nhu cầu về đất đai ngày càng lớn trong tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Khai thác quỹ đất để hướng tới sử dụng đất “bềnvững” đang được Nhà nước ta ngày càng được quan tâm hơn Để đạt được điều đó thìviệc bố trí, phân bổ cơ cấu sử dụng đất cho các mục đích khác nhau một cách hợp lý làvấn đề tiên quyết, nhằm đem lại kết quả như mong đợi Đến nay thì vấn đề đánh giáthực trạng cơ cấu sử dụng đất và nghiên cứu sử dụng đất theo hướng “bền vững” cũng

đã có nhiều đề tài nghiên cứu tiến hành trên nhiều tỉnh thành trong cả nước Địa bànthành phố Đà Nẵng nói chung và huyện Hòa Vang nói riêng chưa có đề tài nào nghiêncứu khoa học chuyên sâu vào đánh giá thực trạng cơ cấu sử dụng đất để từ đó đề xuất

Trang 25

sử dụng đất hợp lý, mà chỉ thông qua các chương trình dự án như phủ xanh đất trốngđồi núi trọc, các dự án nước sạch ở nông thôn …

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 26

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu về công tác quản lý và sử dụng đất đai của huyện Hòa Vang, thànhphố Đà Nẵng

- Thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của huyện Hòa Vang, thành

phố Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội và môitrường của địa phương

- Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng đất hợp lý đáp ứng được mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương

2.2 Nội dung nghiên cứu

+ Nghiên cứu khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện HòaVang, thành phố Đà Nẵng

+ Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hòa Vang

+ Phân tích hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòa Vang, biến động cơcấu sử dụng đất huyện Hòa Vang giai đoạn 2005 - 2012 và thực trạng chuyển đổi cơcấu sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2012 trên địa bàn huyện

+ Đánh giá ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội và môi trường của địa phương

+ Đề xuất các giải pháp cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm quản lý, sửdụng đất hợp lý, bền vững

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra, khảo sát

Thu thập số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, thực trạngphát triển kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng đất của huyện Hòa Vang trong giai đoạn

2005 - 2011 … và các tài liệu, số liệu, các loại bản đồ liên quan để thực hiện đề tài

Để đảm bảo nguồn số liệu điều tra được đầy đủ, có tính thống nhất chúng tôi đãtiến hành thu thập tài liệu, số liệu và bản đồ cấp huyện và cấp thành phố, khảo sát tạithực địa của một số cơ sở sản xuất, các trang trại của nông hộ, khu công nghiệp, nhàmáy, xí nghiệp …

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu

Phương pháp thống kê: trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được, tổng hợplại trên máy tính bằng phầm mềm Excel, phân tích sự tương quan giữa các yếu tố về

Trang 27

tình hình sử dụng đất, mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội và các vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất …

2.3.3 Phương pháp chuyên gia

Trong phương pháp này thông qua gặp gỡ, trao đổi ý kiến với các chuyên giatrong lĩnh vực đất đai, lãnh đạo các cơ quan chuyên môn lĩnh vực tài nguyên môitrường, cũng như một số cơ quan khác trên địa phương về các vấn đề liên quan đến đềtài, và cũng biết được quan điểm của địa phương trong quá trình thực hiện công tác này

2.3.4 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp so sánh giữa số liệu thống kê qua các năm để thấy được cơcấu sử dụng đất qua các giai đoạn để đưa ra nhận xét

2.3.5 Phương pháp sử dụng và minh họa bản đồ

Sử dụng các loại bản đồ: bản đồ hiện trạng, bản đồ địa chính và các loại bản đồkhác để xác định các thông số về vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, giao thông cũng nhưcác số liệu điều tra thực tế để chỉnh lý những biến động hiện trạng so với bản đồ

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang

Trang 28

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Từ 01/01/1997 trở về trước, huyện Hoà Vang bao gồm 19 xã Năm 1997 có 5

xã được tách về quận Ngũ Hành Sơn và Liên Chiểu, năm 2005 thêm 3 xã nữa tách vềquận Cẩm Lệ, do vậy huyện chỉ còn 11 xã là: Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Liên, Hoà Sơn,Hoà Nhơn, Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Phú, Hoà Châu, Hoà Tiến và Hoà Phước

Huyện Hòa Vang hiện nay có diện tích là 734,89 km2, bằng khoảng 80% diệntích của thành phố Đà Nẵng (không kể huyện đảo Hoàng Sa)

Dân số năm 2011 là 123.024 người, chiếm khoảng 13% dân số toàn thành phố,mật độ dân số của huyện là 167 người/km2 thấp hơn nhiều so với mật độ dân số toànthành phố (740 người/km2)

Trong số 11 xã của huyện có 4 xã vùng núi (Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Phú vàHoà Liên), 4 xã trung du (Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn) và 3 xãđồng bằng (Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước)

Hình 3.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Hòa Vang

Trang 29

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Là một huyện ngoại thành bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành thành phố

Đà Nẵng, huyện có toạ độ từ 15o55’ đến 16o13’ vĩ độ Bắc và 107o49’ đến 108o13’ kinh

độ Đông

- Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên - Huế;

- Phía Nam giáp hai huyện Điện Bàn, Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam;

- Phía Đông giáp quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu;

- Phía Tây giáp huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam

Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng trên địa bàn huyện tương đốithuận tiện Quốc lộ 1A là đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu Đỏqua các xã Hoà Châu và Hoà Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hoà Khương, HoàPhong, Hoà Nhơn nối Quảng Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam Hải Vân điqua các xã Hoà Liên, Hoà Sơn, Hoà Nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 dothành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã Vị tríđịa lý, điều kiện giao thông thuận lợi là một điều kiện quan trọng để Hoà Vang khaithác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hộitrong ngắn hạn cũng như lâu dài

3.1.1.2 Địa hình, đất đai

Hoà Vang có 3 loại địa hình là: miền núi, trung du và đồng bằng

Vùng đồi núi: phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 57.808,2 ha, bằng 78,66%

tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Bốn xã miền núi bao gồm: Hoà Bắc, Hoà Ninh,Hoà Phú và Hoà Liên, có độ cao khoảng từ 400 - 500 m, cao nhất là đỉnh núi Bà Nà(1.487 m), độ dốc lớn >400, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ý nghĩa bảo vệmôi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biếnchất, đất đỏ vàng phát triển trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit Địa hình đất đaicủa vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và du lịch

Vùng trung du: chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100 m,

xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã: Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn,Hoà Nhơn với diện tích 12.627 ha, chiếm 17,18% diện tích toàn huyện; phần lớn đấtđai bị bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít đất phù sa bồi tụ hàng năm ven khesuối Địa hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, có nhu cầunước ít, chịu được hạn

Trang 30

Vùng đồng bằng: bao gồm ba xã: Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước với tổng diện

tích là 3.053,5 ha, chiếm 4,16% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ cao thấp 2 - 10

m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng Đất phù sa ven sông và đất cát là hai loại đất đặctrưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa màu Tuy nhiên, có yếu tố không thuậnlợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn

Địa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi cho

bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển một nền kinh

tế với thế mạnh về nông - lâm - nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có nhiều khókhăn, thách thức như: hạn hán, lũ lụt … cần phải giải quyết Cần phải có quy hoạch sửdụng đất hợp lý và phải tính đến những tác động tích cực cũng như tiêu cực của quátrình khai thác sử dụng nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng về địa hình, bảo vệ môitrường sinh thái

3.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và

ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 vàmùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng khôngđậm và không kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, vớinhiệt độ trung bình 28 - 30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18 - 23°C.Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%; cao nhất vào các tháng 10, 11,trung bình khoảng 85 - 87%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình khoảng 76 - 77%

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tập trungvào hai tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp Tuy nhiên, có nhữngnăm lượng mưa thấp, như năm 2003 đạt 1.375,1 mm gây thiếu nước cho sản xuất nôngnghiệp và đời sống Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đếntháng 2; gió mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5 đến tháng 7 Huyện thườngxuyên bị chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hàng năm có 1 - 2 cơn bão đi qua, hainăm thường có một cơn bão lớn

Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6,trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình từ

58 đến 122 giờ/tháng

Trang 31

Hệ thống sông ngòi của Hoà Vang bao gồm các sông chính là: sông Cu Đê,sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là: sông Tây Tịnh, QuáGiáng, … và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên Nhìn chung, chất lượng nước các sôngđều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ sông Cẩm Lệ và sông

Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từ tháng 5 đến tháng 6

Về nước ngầm: theo đánh giá sơ bộ, Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn,mực nước ngầm cao Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sảnxuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Tại Đồng Nghệ (xã Hoà Khương) cónguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được đầu tư khai thác

Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiềuthuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như: hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏđối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội

3.1.1.4 Tài nguyên

a Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê năm 2011, tổng diện tích đất huyện Hoà Vang là 73.488,7

ha Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là nhóm đất phù

sa ở khu vực đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa quả và nhóm đất

đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dượcliệu, chăn nuôi đại gia súc

Tài nguyên đất chia theo mục đích sử dụng như sau:

Đất nông nghiệp là 65.316 ha, chiếm 88,9% diện tích tự nhiên, đất phi nôngnghiệp là 7.271 ha chiếm 9,9% và đất chưa sử dụng là 901,7 ha chiếm 1,2%

Diện tích đất đã được sử dụng của huyện chiếm 98,8% cho các mục đích nôngnghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cho các mục đích phi nông nghiệp khác.Hiệu quả sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp tương đối cao Thu nhập thuần/ha đấtnông nghiệp đạt 32 triệu đồng/ha Đối với lâm nghiệp, theo ước tính, chỉ số này chỉvào khoảng 2 triệu đồng/ha rừng sản xuất

b Tài nguyên rừng

Huyện Hoà Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong cácthế mạnh của huyện Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 53.306,1 ha, chiếm 89,3%.Trong đó, đất rừng sản xuất là 29.794,6 ha (42,1% diện tích đất tự nhiên), tập trungchủ yếu ở Hoà Bắc, Hoà Ninh và Hoà Phú; đất rừng phòng hộ là 12.658,7 ha (chiếm tỷ

Trang 32

lệ 17,9% diện tích tự nhiên); đất rừng đặc dụng là 10.852 ha (chiếm 15,3% diện tích tựnhiên) thuộc địa bàn các xã Hoà Ninh và Hoà Bắc Tỷ lệ che phủ rừng năm 2007 đạtkhoảng 75%

Rừng đặc dụng nằm trong địa phận xã Hoà Ninh và Hòa Bắc, thuộc vùng đệmcủa khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, là khu bảo tồn được thành lập với mục đích bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng độ che phủ của rừng,phát huy tác dụng phòng hộ môi trường của rừng Trong vùng rừng đặc dụng có rừngnguyên sinh với hệ sinh thái đa dạng, các tài nguyên động, thực vật phong phú Đặcbiệt, có nhiều loại gỗ quý, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp rất hấp dẫn với khách dulịch như khu vực Bà Nà - Núi Chúa

Rừng và tài nguyên rừng của huyện Hoà Vang có vai trò quan trọng đối với đờisống kinh tế - xã hội của nhân dân trong huyện Ngoài vai trò phòng hộ cho huyện vàthành phố Đà Nẵng, rừng còn là thế mạnh có nhiều tiềm năng trong việc phát triển cácngành kinh tế mũi nhọn như khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ du lịch

c Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản đã được phát hiện ở Hoà Vang chủ yếu là các loạikhoáng sản làm vật liệu xây dựng, bao gồm: đá ốp lát, đá phục vụ xây dựng, đá mỹnghệ, tập trung chủ yếu ở các xã trung du và miền núi Hòa Nhơn, Hòa Sơn, Hòa Ninh

và Hòa Phú Các mỏ cát xây dựng ở dọc sông Cẩm Lệ, Tuý Loan, Quá Giáng Đất sétvới trữ lượng lớn để sản xuất gạch ngói có ở hầu hết các xã đồng bằng và trung du.Ngoài ra, đã phát hiện quặng Volfram ở Nà Hoa (Hoà Ninh), quặng thiếc ở ĐồngNghệ (Hoà Khương) nhưng trữ lượng không lớn

d Tài nguyên nước

Trữ lượng nước ngọt lớn trên các sông Yên, sông Túy Loan, sông Cu Đê lànguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước của thành phố Đà Nẵng và mộtphần cho huyện Hoà Vang

Trữ năng thuỷ điện của các sông trên địa bàn huyện hiện đang được công ty Cổphần thuỷ điện GERUCO Sông Côn khảo sát nghiên cứu Trước mắt công ty này đangtriển khai đầu tư cụm dự án thuỷ điện sông Hương - Luông Đông tại xã Hoà Phú vớitổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn đầu tư khoảng 67 tỷ đồng) và cụm dự ánthuỷ điện sông Nam - sông Bắc tại xã Hoà Bắc với tổng công suất dự kiến 12 MW(tổng vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng)

Trang 33

e Tài nguyên du lịch

Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch đa dạng:

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở khu vực Bà Nà - Núi Chúa, Đồng Nghệ, Ngầm Đôi (HoàPhú), du lịch trên sông (dọc sông Cu Đê), du lịch đồng quê, vườn đồi (thuận lợi chokhách từ thành phố Đà Nẵng đi nghỉ cuối tuần) Nhiều hồ, đầm tự nhiên như: Bàu AnNgãi Tây, Bàu Nghè ở Hoà Sơn có thể cải tạo thành các công viên du lịch mặt nước.Nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi giải trí, phương tiện vậnchuyển được đầu tư xây dựng tốt sẽ thu hút rất nhiều khách du lịch đến và sẽ tạo nênthu nhập rất lớn cho huyện và cả thành phố Đà Nẵng Việc huy động các nguồn vốn củacác thành phần kinh tế cũng như tìm các giải pháp tối ưu để khai thác các tiềm năng dulịch là một trong các nhiệm vụ quan trọng của huyện trong thời gian tới

* Đánh giá chung quá trình sử dụng các điều kiện tự nhiên

+ Những mặt đạt được

Từ những đặc điểm tự nhiên đã trình bày ở trên cho thấy Hoà Vang đã phát huynhững lợi thế về điều kiện tự nhiên để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội trênđịa bàn huyện, thể hiện qua các điểm sau:

- Về vị trí địa lý: có ưu thế bao bọc phía Tây khu nội thị của thành phố Đà Nẵngnên các dịch vụ phục vụ đô thị đã được phát huy, là địa bàn tập trung những cơ sở sảnxuất phục vụ trực tiếp quá trình phát triển của khu vực đô thị như: sản xuất vật liệu xâydựng, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thảm thực vật phong phú nhằm đảm bảomôi trường tự nhiên cho khu vực đô thị

- Về điều kiện đất đai: Hoà Vang đã từng bước phát huy các tiềm năng đất đai

để phát triển nông nghiệp đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản.Ngoài ra, trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện đã thu hút các doanh nghiệpsản xuất và dịch vụ từ thành phố do có điều kiện bố trí đất mặt bằng xây dựng cơ sởsản xuất kinh doanh Đây là địa bàn phù hợp cho việc xây dựng các khu dân cư mới,các công trình công cộng, các dự án khác …

- Điều kiện tài nguyên: huyện đã tận dụng lợi thế về tài nguyên sản xuất vật liệuxây dựng để thu hút các doanh nghiệp sản xuất gạch, sản xuất vật liệu xây dựng

- Phát triển dân số và nguồn nhân lực: dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọnglớn 61,7% tạo ra sức ép về việc làm rất lớn Huyện đã chú ý để khai thác các lợi thế vềđiều kiện tự nhiên, đất đai để phát triển sản xuất như: các xã ở vùng núi và trung du tậptrung phát triển các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp; các xã đồng bằng phát triển nông

Trang 34

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm khai thác tối đa nguồn lao động trên địa bàn Đểtiếp tục thu hút lao động dồi dào từ khu vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực cần được chú trọng hơn.

và thu hút đầu tư còn hạn chế

- Quá trình đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiệnnay Do vậy, nguồn lao động có trình độ khoa học còn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu

- Khai thác tiềm năng thiên nhiên còn nặng về khai thác tài nguyên khoáng sản,chưa tập trung khai thác tài nguyên du lịch

- Thời tiết khắc nhiệt, trong năm thường có vài trận mưa bão xảy ra với cường

độ lớn thời gian dài đã gây hư hại nhiều các công trình hạ tầng kỹ thuật gây ảnh hưởngđến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả thànhphố và của cả nước, huyện Hòa Vang đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế,chính trị, xã hội Nhiều chỉ tiêu hoàn thành và vượt mức kế hoạch do Đảng bộ huyện

đề ra Tuy nhiên, cùng với bước phát triển kinh tế, xã hội là ngày càng gây áp lực lớnđối với việc sử dụng đất đai trong huyện

3.1.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - anninh năm 2012 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện năm

2013 của UBND huyện Hòa Vang, tuy gặp nhiều khó khăn, suy giảm kinh tế chưa códấu hiệu hồi phục, hoạt động sản xuất, kinh doanh của đa số doanh nghiệp bị đình trệ,sức mua hàng hóa giảm Song với quyết tâm của các cấp, ngành, địa phương và nhândân toàn huyện thì hầu hết các chỉ tiêu về kinh tế đều đạt và vượt chỉ tiêu, tiếp tục giữvững mức phát triển ổn định Năm 2012, tổng giá trị sản xuất (giá cố định năm 1994)các ngành ước thực hiện đạt 1.095 tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch huyện, tăng 10% sovới cùng kỳ Trong đó, nông - lâm - thủy sản đạt 281,3 tỷ đồng tăng 4,2% so với cùng

Trang 35

kỳ; công nghiệp, xây dựng đạt 498,3 tỷ đồng tăng 10,2% so với cùng kỳ; thương mại,dịch vụ đạt 315,4 tỷ đồng tăng 15,5% so với cùng kỳ

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt và hợp lý theo hướng giảm tỷ trọngngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Bảng 3.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm

Đơn vị: tỷ đồng

2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tổng giá trị sản xuất

(Giá cố định 94) 742,8 830,4 943,0 1.000,8 1.095,0Nông - Lâm - Thủy sản 280,8 295,3 311,7 270,0 281,3Công nghiệp - Xây dựng 296,4 342,2 398,8 458,1 498,3

(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Hòa Vang)

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Hòa Vang năm 2005 và năm 2011

3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực

a Nông - lâm - ngư nghiệp

Sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp đều có bước phát triển

Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tỷ trọng trồng trọt ngàycàng giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp ngày càng tăng Cơcấu nội bộ các ngành trồng trọt và chăn nuôi chuyển dịch theo hướng nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN NĂM 2011

36,8%

Nông - Lâm - Thủy sản Công nghiệp - Xây dựng Thương mai - Dịch vụ

CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN NĂM 2005

Trang 36

Năm 2012, tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp đạt 281,3 tỷ đồng, đạt110,7% kế hoạch thành phố và 100,5% kế hoạch huyện Sản xuất lúa được mùa toàndiện, năng suất bình quân đạt 60,3 tạ/ha, sản lượng đạt 31.882 tấn Tổng sản lượng quithóc là 35.302 tấn đạt 103,7% so với kế hoạch huyện và 101,9% kế hoạch thành phốgiao Các loại cây trồng lương thực, thực phẩm khác phát triển tốt cho năng suất cao

Về chăn nuôi, do sức mua giảm, giá cả nguyên liệu đầu vào tăng nên chăn nuôihoạt động cầm chừng, duy trì số lượng đàn gia súc, gia cầm (tổng đàn trâu ước đạt1.870 con; bò: 15.200 con; heo: 97.000 con; gia cầm: 870.000 con) Ngành chăn nuôiđang có sự chuyển dịch từ mô hình chăn nuôi truyền thống quy mô nhỏ, hộ gia đìnhsang mô hình phát triển chăn nuôi trang trại, bán công nghiệp và công nghiệp Vấn đề

vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch bệnh đã được chú trọng hơn, côngtác giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo quy mô vừa và nhỏ đã được hình thành

Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 396 ha, sản lượng khoảng 605 tấn, tập trungnuôi cá rô phi, diêu hồng và tôm ở các xã Hòa Liên, Hòa Phong, Hòa Khương Sự pháttriển mạnh của ngành đã đóng góp đáng kể vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộngành nông nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được duy trì thường xuyên song do thờitiết khô hạn nên đã xảy ra 14 vụ, thiệt hại 74,2 ha rừng trồng Các lực lượng tuần traphối hợp tổ chức 04 đợt truy quét khai thác vàng trái phép tại các TK 25, 27, 29 xãHòa Bắc; 48 lần truy quét chốt chặn gỗ, lâm sản tại các khu vực trọng điểm Huyện đãtriển khai công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2012, chủ độngphòng chống lụt bão theo hướng 4 tại chỗ, giảm thiệt hại về người và tài sản Cho đếnnay, đã vận động nhân dân khắc phục nhanh kênh mương, ruộng bị sạt lở, bồi lấp đểkịp thời tổ chức sản xuất vụ Đông Xuân 2012 - 2013 (còn một số diện tích ruộng bịbồi lấp nặng không thể khắc phục được ở Hòa Liên, Hòa Khương ); công trình giaothông, công trình công cộng đang triển khai khắc phục

Nhìn chung, trong những năm qua sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của huyện

có bước phát triển tương đối khá Năng suất lúa và cây trồng tăng cao; chăn nuôi pháttriển mạnh, số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh Nuôi trồng thuỷ sản tăng mạnh

cả về diện tích và chủng loại Kinh tế rừng, kinh tế trang trại bắt đầu phát huy hiệuquả Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được ngành nông - lâm - ngư nghiệpcủa huyện vẫn còn một số hạn chế là: sản xuất theo hướng phục vụ đô thị chưa rõ nét,sản xuất còn manh mún, hiệu quả sản xuất chưa cao; công tác ứng dụng chuyển giaokhoa học kỹ thuật trong sản xuất còn yếu

Trang 37

b Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Năm 2012, tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 498,3 tỷđồng, bằng 93,6% kế hoạch, tăng 10,2% so cùng kỳ Trong đó, công nghiệp khai tháctăng 12,4%, công nghiệp chế biến tăng 14,5% Hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp gặp khó khăn do thắt chặt chi tiêu, hạn chế đầu tư công nên hàng tồnkho nhiều, sản phẩm tiêu thụ chậm tập trung ở các ngành khai thác đất, đá, san nền,xây dựng

Trong năm 2012 có 51 doanh nghiệp và 524 hộ cá thể đăng ký mới, đưa tổng sốdoanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn lên 737 doanh nghiệp; trên 777 cơ sởhoạt động công nghiệp và trên 3.395 cơ sở thương mại, dịch vụ; đã bàn giao 55 doanhnghiệp và 60 hộ cá thể cho quận Cẩm Lệ quản lý

Hòa Vang đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa mạnh, có nhiều khu côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công ty được hình thành và phát triển góp phần tích cựcgiải quyết công ăn việc làm, thay đổi bộ mặt nông thôn thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Kinh tế phát triển với nhịp

độ cao, cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường, văn hoá xã hội phát triển khá, đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, bộ mặt nông thônđổi mới Tuy nhiên, việc quản lý đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm côngnghiệp, khu đô thị chưa chặt chẽ và có nhiều lúng túng Công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp phát triển vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, sản xuất chưa ổnđịnh, công nghệ chưa cao, mức độ chuyên môn hoá còn thấp … Các doanh nghiệp,công ty đầu tư vào địa bàn huyện còn gặp một số khó khăn về: thị trường, chính sách,môi trường kinh doanh

Chính vì vậy, trong giai đoạn tới cần có chính sách, biện pháp đẩy nhanh pháttriển công nghiệp đi đôi với đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Đặcbiệt, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2020 và sử dụng đất hàngnăm theo quy hoạch Quan tâm đến dùng vốn từ quỹ đất để xây dựng công trình Tăngcường công tác quản lý đô thị, quản lý môi trường, chỉ đạo tốt xử lý môi trường ở cáckhu công nghiệp Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của thành phố làm tốt công tácgiải phóng mặt bằng và thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp tậptrung để lựa chọn các dự án có vốn lớn, công nghệ cao, phát triển các khu, cụm côngnghiệp vừa và nhỏ với quy mô, công nghệ thích hợp Khuyến khích phát triển cácdoanh nghiệp, sản xuất các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng xuất khẩu có giá trịkinh tế cao để tạo việc làm cho người lao động và tăng nguồn thu cho ngân sách

Trang 38

sơ đăng ký kinh doanh hộ cá thể chủ yếu trên lĩnh vực xây dựng và thương mại, lũy kếđến nay có 425 doanh nghiệp hoạt động Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 6.887 ngànUSD bằng 104,3% kế hoạch huyện, 114,8% kế hoạch thành phố và tăng 12% so cùng

kỳ Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển rõ nét theo loại hình du lịch sinh thái, đồng quênhư: khu Du lịch Bà Nà - Suối Mơ, suối Hoa, Ngầm Đôi, nước nóng (Hòa Phú), tắmkhoáng nóng Phước Nhơn (Hòa Khương)

Thành lập đoàn thanh tra liên ngành kiểm tra được 199 cơ sở sản xuất kinhdoanh, phát hiện xử phạt hành chính 16 cơ sở với số tiền 6.250.000 đồng, tiêu hủy 671sản phẩm hàng hóa quá hạn sử dụng và hơn 100kg thịt không đảm bảo vệ sinh an toànthực phẩm

Đang triển khai xây dựng đề án phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ huyệnHòa Vang giai đoạn 2011 - 2015, hỗ trợ xây dựng hoàn thành nhãn hiệu lúa giống choHTX 1 Hòa Tiến, bánh tráng Túy Loan - Hòa Phong, mì Thủy Chung - Hòa Nhơn;phát triển mạng lưới chợ trên địa bàn, đưa vào sử dụng chợ Miếu Bông, cải tạo và xâydựng phương án khai thác tầng 2 chợ Túy Loan; lập thủ tục chuẩn bị đầu tư chợ QuanNam 3, chợ Đông Hòa nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán của nhân dân; phối hợp với Sở

Kế hoạch - Đầu tư xây dựng phương án đầu tư nâng cấp cải tạo chợ Lệ Trạch

3.1.2.3 Hiện trạng dân số

Dân số trung bình của huyện năm 2011 là 123.024 người chiếm khoảng 13%dân số toàn thành phố, với 30.156 hộ; trong đó, hộ nông - lâm - ngư nghiệp chiếm39,2% Dân cư tập trung đông đúc ở các xã vùng đồng bằng ven đô với mật độ ven đô

là 1.154 người/km2 và thưa thớt ở các xã miền núi (Hòa Bắc 12 người/km2, Hòa Ninh

47 người/km2, Hoà Phú 50 người/km2) Tốc độ tăng dân số bình quân 1,34%/năm, tỷ lệtăng cơ học bắt đầu xuất hiện trong 4 năm gần đây do quá trình đô thị hóa, hình thànhcác khu đô thị Nam cầu Cẩm Lệ thuộc xã Hòa Châu, Hòa Phước và khu công nghiệpHòa Liên mở rộng Do làm tốt công tác truyền thông về dân số và kế hoạch hóa giađình, tỷ suất sinh thô giảm 17,73‰ năm 2007 xuống còn 11,92 ‰ năm 2011

Trang 39

Bảng 3.2 Diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Hòa Vang năm 2011

số trẻ, đây là thế mạnh để phát triển kinh tế trong tương lai Tuy nhiên, nguồn lực laođộng của huyện còn hạn chế là: chất lượng hay trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, tìnhtrạng thiếu việc trong lao động nông nghiệp còn cao

Bảng 3.3 Dân số và nguồn nhân lực trên địa bàn qua các năm

Trang 40

tuổi lao động Người 64.003 66.050 70.764 73.532 75.926

II Nguồn lao

Bảng 3.4 Thu nhập bình quân/người giai đoạn 2007 - 2011

Thu nhập bình

quân/người

Triệuđồng

(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Hòa Vang)

Sự dịch chuyển cơ cấu hộ gia đình phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế Cơ cấu số hộ chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng số hộ nông nghiệp, tăng

số số hộ phi nông nghiệp Năm 2007, cơ cấu số hộ như sau: nông nghiệp/công nghiệp+ xây dựng/dịch vụ là 58,7%/18,8%/22,5% so với 39,5%/25,2%/35,3% năm 2011 Cơcấu thu nhập có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng thu nhập từ nông -

Ngày đăng: 04/12/2014, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thái Bạt (1995), "Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc", Hội thảo quốc gia Đánh giá quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái vàphát triển bền vững vùng Tây Bắc
Tác giả: Lê Thái Bạt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình (2001), Nghiên cứu và xây dựng qui trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng qui trình côngnghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Tác giả: Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình
Năm: 2001
9. Huỳnh Văn Chương (2010), “Bàn luận về khái niệm đất và quản lý đất đai” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn luận về khái niệm đất và quản lý đất đai
Tác giả: Huỳnh Văn Chương
Năm: 2010
10. Trần Văn Đạt (2010), “Vấn đề đô thị hóa và chuyển đổi đất nông nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đô thị hóa và chuyển đổi đất nông nghiệp
Tác giả: Trần Văn Đạt
Năm: 2010
11. Trần Thị Thu Hà (2002), Bài giảng Đánh giá đất, Trường Đại học Nông Lâm Huế 12. Phan Văn Khải, “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (gọi tắt là chương trình nghị sự 21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Đánh giá đất", Trường Đại học Nông Lâm Huế12. Phan Văn Khải, "“Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Thu Hà
Năm: 2002
13. Lê Văn Khoa (1992), “Ô nhiễm môi trường đất”, Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trờng, Hội Khoa học đất Việt Nam, Hà Nội, 4/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường đất
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 1992
14. Ngô Mậu (2005), Quản lý đất đai và bất động sản đô thị, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đất đai và bất động sản đô thị
Tác giả: Ngô Mậu
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2005
15. Phùng Văn Nghệ (1999), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Dự án 6 - quản lý chương trình, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Phùng Văn Nghệ
Năm: 1999
16. Trương Phan (1996), Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế. Cục công nghiệp - bộ kinh tế Trung Hoa Dân Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế
Tác giả: Trương Phan
Năm: 1996
17. Đặng Quang Phán (2009), Bài tham luận hội thảo thị trường bất động sản Việt Nam. Tổng cục quản lý đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tham luận hội thảo thị trường bất động sản ViệtNam
Tác giả: Đặng Quang Phán
Năm: 2009
18. Đoàn Công Quỳ (2006), Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất, NXB Nông nghiệp 19. Bùi Ngọc Thanh (2009), Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất - vấn đề và giải pháp, Tạp chí Cộng sản (chuyên đề cơ sở) số 26 tháng 2-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất", NXB Nông nghiệp19. Bùi Ngọc Thanh (2009), "Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất - vấn đề vàgiải pháp
Tác giả: Đoàn Công Quỳ (2006), Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất, NXB Nông nghiệp 19. Bùi Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp19. Bùi Ngọc Thanh (2009)
Năm: 2009
20. Chu Văn Thỉnh (1999), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách sử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Báo cáo tổng hợp, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sáchsử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước
Tác giả: Chu Văn Thỉnh
Năm: 1999
21. Chu Văn Thỉnh (1999), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Báo cáo khoa học chuyên đề 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chínhsách và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
Tác giả: Chu Văn Thỉnh
Năm: 1999
22. Trịnh Văn Toàn (2005), Nghiên cứu đánh giá thực trạng đất của các thành phố làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý. Đề tài nghiên cứu cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá thực trạng đất của các thành phốlàm cơ sở cho việc xây dựng chính sách sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý
Tác giả: Trịnh Văn Toàn
Năm: 2005
23. Vụ công tác lập pháp (2001), Những văn bản quản lý và xây dựng đất, NXB Xây dựngTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản quản lý và xây dựng đất
Tác giả: Vụ công tác lập pháp
Nhà XB: NXB XâydựngTiếng Anh
Năm: 2001
24. Klass Jan Beek (1997), Land information and land evaluation for land use planning and sustainable land management. International Insititue for Aerospace Survey and Earth Sciences (ITC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land information and land evaluation for land useplanning and sustainable land management
Tác giả: Klass Jan Beek
Năm: 1997
25. United State Department of Agriculture (1996), Natural Resources Conservation Service. Indictors for Soil Quality Evaluation, pp 5 – 9.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural Resources ConservationService
Tác giả: United State Department of Agriculture
Năm: 1996
27. Tổ chức phát triển kinh tế, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất - những vấn đề đặt ra. http://cuocsongviet.com.vn/index.asp Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất - những vấnđề đặt ra
28. Thời báo kinh tế Việt Nam (2005), http://vietbao.vn/Viec-lam/70-cong-nhan-khu-cong-nghiep-khu-che-xuat-la-lao-dong-nhap-cu/40112889/267 Link
1. Báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương khóa VIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000  -  2010 - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 1.1. Tình hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 22)
Hình 3.1. Bản đồ địa giới hành chính huyện Hòa Vang - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Hình 3.1. Bản đồ địa giới hành chính huyện Hòa Vang (Trang 28)
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm (Trang 35)
Bảng 3.3. Dân số và nguồn nhân lực trên địa bàn qua các năm - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.3. Dân số và nguồn nhân lực trên địa bàn qua các năm (Trang 39)
Bảng 3.4. Thu nhập bình quân/người giai đoạn 2007 - 2011 - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.4. Thu nhập bình quân/người giai đoạn 2007 - 2011 (Trang 40)
Bảng 3.5. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hòa Vang năm 2012 - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.5. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hòa Vang năm 2012 (Trang 53)
Bảng 3.6. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Hòa Vang năm 2012 - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.6. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Hòa Vang năm 2012 (Trang 55)
Bảng 3.7. Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn huyện Hòa Vang giai đoạn 2005 - 2012 - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.7. Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn huyện Hòa Vang giai đoạn 2005 - 2012 (Trang 62)
Bảng 3.8. Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.8. Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất (Trang 64)
Bảng 3.10. Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất (Trong nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005 - 2010) - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.10. Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất (Trong nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005 - 2010) (Trang 71)
Bảng 3.11. Tóm tắt các tác động tích cực và chưa tích cực về kinh tế của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại huyện Hòa Vang - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.11. Tóm tắt các tác động tích cực và chưa tích cực về kinh tế của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại huyện Hòa Vang (Trang 73)
Bảng 3.13. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện Hòa Vang qua một số năm - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.13. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện Hòa Vang qua một số năm (Trang 78)
Bảng 3.14. Tóm tắt tác động tích cực và chưa tích cực về xã hội của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại huyện Hòa Vang - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Bảng 3.14. Tóm tắt tác động tích cực và chưa tích cực về xã hội của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại huyện Hòa Vang (Trang 82)
Hình 3.2. Tình trạng ô nhiễm khói bụi bởi các công ty khai thác đất đá - thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng
Hình 3.2. Tình trạng ô nhiễm khói bụi bởi các công ty khai thác đất đá (Trang 84)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w