Tình hình nghiên cứu Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập dưới đây gọi tắt là quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, giúp chúng ta hiểu được nguồn g
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể khẳng định rằng, mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh” đó là khát vọng của mọi người dân Việt Nam Song, để đạtđược mục tiêu đó đòi hỏi trong xã hội phải luôn có sự đồng thuận, sự thốngnhất cả về nhận thức lẫn hành động Kiên định, khẳng định chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hànhđộng của Đảng và nhân dân ta, là cơ sở lý luận và phương pháp luận để từ đó
đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng củanhân dân và quy luật phát triển của lịch sử Quan điểm về mâu thuẫn của chủnghĩa Mác - Lênin giúp chúng ta nhận thức được nguồn gốc và động lực của sựphát triển, mà điều cốt yếu là nhận thức đúng đắn, phân tích, phản ánh quá trìnhđấu tranh, giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng tùy vào những điều kiện
cụ thể nhất định
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, Do đó, trong côngcuộc đổi mới ở nước ta hiện nay tất yếu gặp nhiều mâu thuẫn trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, Trước những yêu cầu mới của thời đại, nhiệm vụđặt ra cho chúng ta là phải nắm bắt và giải quyết tốt những mâu thuẫn nhằm tạo
động lực cho sự phát triển Bởi những mâu thuẫn đó đang ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển chung của đất nước Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa cácmặt đối lập là quy luật cơ bản và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Việcnhận thức đúng đắn, khoa học về quy luật này là cơ sở quan trọng để lựa chọncác phương pháp giải quyết mâu thuẫn một cách có hiệu quả, tạo nền tảng để đếnnăm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thúc đẩy
sự phát triển của đất nước
Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại mở ra một giai đoạn phát triển mớivới những bước đột phá nhằm chuyển một nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu
Trang 2sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, góp phần tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtcho chủ nghĩa xã hội Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tất yếu nảysinh nhiều mâu thuẫn – mâu thuẫn giữa cung và cầu về nguồn nhân lực; mâuthuẫn giữa nhu cầu phát triển bề vững và bảo vệ môi trường sinh thái; mâu thuẫngiữa năng lực nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ với nhu cầuhiện đại hóa trong các ngành kinh tế Những mâu thuẫn đó cần phải được giảiquyết bởi nó là thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, vớiQuảng Bình nói riêng.
Để sớm bắt kịp nền kinh tế chung của Việt Nam, đòi hỏi Quảng Bình phảichuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Song, hiện nay Quảng Bình vẫnđang là một tỉnh nghèo, kinh tế - xã hội chậm phát triển nên việc đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đang gặp không ít khó khăn, bởi lẽ, trong quá trình pháttriển Quảng Bình vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn cần phải giải quyết kịp thời
Xác định đúng các mâu thuẫn để từ đó đề ra những giải pháp thích hợpnhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có ýnghĩa vô cùng quan trọng, là yêu cầu khách quan của cả nước nói chung vàQuảng Bình nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên chúng tôi chọn đề tài “Quy luật mâu thuẫn và sự vận dụng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay” để viết luận văn thạc sĩ Triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (dưới đây gọi tắt là
quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện
tượng Vì vậy, quy luật mâu thuẫn luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiêncứu ở những góc độ khác nhau và đã có những thành tựu nhất định Có thể kể ramột số công trình nghiên cứu quy luật mâu thuẫn như:
Trang 3“Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”của GS.TS Phạm
Ngọc Quang (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) Tác giả đã xác định mâuthuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội, từ
đó xác định những giải pháp nhằm giải quyết có hiệu qủa chúng để đưa đất nướcphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn
trong công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) đã phân tích tính tất yếu, khách
quan của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Các tác giảnhấn mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt nam là một quá trìnhgiải quyết những mâu thuẫn không ngừng nảy sinh để vượt qua thách thức vàchớp lấy cơ hội
“Mâu thuẫn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Nguyễn Tấn
Hùng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) làm rõ nội dung cơ bản về mâuthuẫn, đồng thời chỉ ra một số mâu thuẫn quan trọng và phương pháp giải quyếtmâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin
Đề tài luận văn thạc sĩ có các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Thái
Sơn (2002) “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế”; Nguyễn Thị Hiền (2008) “Lý luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai đoạn 1930-1945”; Nguyễn Thị Kim Oanh (2008) “Vấn đề giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng miền Nam giai đoạn 1954-1975” Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tác giả đã khái quát và vận dụng quy luậtmâu thuẫn để giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn xã hội
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí Triết học cũng
liên quan đến đề tài: “Phát triển vì con người trong quan niệm của Mác và sự
Trang 4nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay” Đặng Hữu Toàn (Số 1, 2-1997); “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Bùi Văn Dũng (Số 3, 6-1997); “Giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta” Nguyễn Tấn Hùng (Số 5, 10- 1999); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay - một số mâu thuẫn và hướng giải quyết” Lê Ngọc Triết (Số 4, 7-2001); “Để góp phần giải quyết mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta hiện nay” Nguyễn Văn Vinh (Số 4, 4-2002); “Sự kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội” Trần Thành (Số 1, 1-2004); “Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay nhìn từ giác độ mâu thuẫn của quá trình phát triển” Phạm Ngọc Quang (Số 10, 10- 2005); “Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh và
sự vận dụng của Đảng ta” Trần Đắc Hiến (Số 5, 5-2006);…
Những công trình trên đều có giá trị khoa học cả về mặt lý luận lẫn thựctiễn; các tác giả đã nghiên cứu vấn đề ở nhiều phương diện và khía cạnh khácnhau Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào vận dụngquy luật mâu thuẫn nhằm soi sáng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnhQuảng Bình
Trên cở sở kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu nóitrên, khái quát thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quảng Bình, chúng tôi
chọn đề tài “Quy luật mâu thuẫn và sự vận dụng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn: Làm rõ mâu thuẫn trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của tỉnh Quảng Bình từ đó đưa ra các giải pháp để tỉnh QuảngBình bắt kịp với nhịp độ phát triển chung của cả nước, góp phần thực hiện mục
tiêu “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Trang 5Nhiệm vụ của luận văn:
- Phân tích cơ sở lý luận chung về mâu thuẫn;
- Chỉ ra những mâu thuẫn đang gặp phải trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa ở Quảng Bình, trên cơ sở đó đề ra một số kiến nghị và giảipháp phù hợp nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở QuảngBình hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm về mâu
thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin, vận dụng lý luận đểlàm rõ những mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở QuảngBình và đưa ra các giải pháp phù hợp
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn; vận dụng để thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Thực hiện trên cơ sở các nguyên lý, quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn; các quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn là phương pháp biện chứng duy
vật Trong đó sử dụng các phương pháp chủ yếu như logic lịch sử, phân tích tổng hợp, đối chiếu - so sánh và các phương pháp điều tra thực tế
-6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ làm rõ quy luật mâu thuẫn và sự vận dụng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Bình hiện nay, thông qua đó chỉ rõ
và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Quảng Bình Luận văn sẽ làm tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 67 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng, biểu và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn còn có 2 chương, 6 tiết
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH
GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP (QUY LUẬT MÂU THUẪN)
1.1 Vấn đề mâu thuẫn trong triết học trước Mác
1.1.1 Một số quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Phương Đông
Khi bàn về mâu thuẫn và quy luật mâu thuẫn chúng ta không thể không đềcập đến tư tưởng triết học của người Trung Hoa Đây là tư tưởng triết học có vịtrí quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội lúc bấy giờ
Triết học Trung Hoa hình thành và phát triển từ rất sớm Do đặc điểm tự
nhiên phức tạp và xã hội Trung Hoa có nhiều biến động lớn, sự chuyển giao giữahai hình thái xã hội từ nô lệ sang phong kiến (Xuân Thu - Chiến Quốc) và sựphát triển kinh tế kéo theo tầng lớp dân tự do xuất hiện, đặc biệt là sự ra đời củacác thành thị tự do, phồn vinh và những thành quả đạt được trên lĩnh vực khoahọc tự nhiên là nguồn động lực quan trọng cho sự phát triển có tính chất đột biếncủa tư tưởng thời kỳ này Chính trong thời kỳ này hàng loạt các vấn đề xã hội đãđược đặt ra và từ đây đã hình thành nên các trường phái triết học khá phong phú,hoàn chỉnh, mở đầu cho lịch sử tư tưởng Trung Hoa
Một trong những phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết học Trung Hoa
là thuyết Âm Dương Đây là trào lưu tư tưởng triết học giải thích căn nguyên và
cơ cấu của vũ trụ với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tựphát, lấy tự nhiên để giải thích các hiện tượng của tự nhiên, đồng thời cũng làhọc thuyết chủ đạo, nền tảng, lâu đời nhất, huyền bí nhất và cũng được ứng dụngnhiều nhất trong thế giới quan Phương Đông Học thuyết này được các trườngphái triết học kế thừa và phát triển khá rõ nét ở thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Học thuyết Âm Dương cho rằng, mọi vật tồn tại và phát triển được là do
hai khí Âm - Dương vận động mà tạo thành, nó tồn tại vĩnh hằng trong vũ trụ vàtrong vạn vật để cho vạn vật sinh tồn kế tiếp nhau Âm - Dương là hai mặt thống
Trang 8nhất, là cơ sở, điều kiện tồn tại, chuyển hóa lẫn nhau không thể tách rời, nó đượcgắn kết với nhau bằng hình thức cái nọ gắn kết trong cái kia nhưng cũng là haiyếu tố đối lập của cùng một sự vật hiện tượng như: Quân tử - tiểu nhân, mạnh -yếu, nhiều - ít, thông minh - ngu dốt, sáng - tối, thiện - ác, thịnh - suy, nam -nữ… “Dương” là phạm trù đối lập với “Âm” và ngược lại Dù đối lập nhưngchúng không loại trừ nhau một cách tuyệt đối Âm – Dương tồn tại, bao trùmtrong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội Là phát minh đầu tiên của ngườiTrung Hoa khi khám phá vũ trụ, nó vừa vô hình, vừa hữu hình, vừa là năng lực
vô tận của vũ trụ và cũng là nền tảng để nuôi sống vạn vật trên trái đất này Nhưvậy Âm - Dương vừa tương khắc, vừa tương sinh Như nước với lửa, nước dùng
để dập lửa nhưng nước lại phải nhờ lửa để hóa thành hơi, giúp ích cho sự sống
và cho thiên nhiên
Quan niệm về mâu thuẫn trong học thuyết Âm - Dương còn được thể hiệnsâu sắc trong Kinh Dịch, đó là quyển kinh cổ nhất, gồm 64 quẻ, mỗi quẻ đượccấu tạo bởi sáu hào Âm Dương, các hào Âm Dương được dùng để tượng trưngcho hai khí căn bản trong vũ trụ Và đây cũng là một công trình tư tưởng vĩ đạicủa nhân dân Trung Hoa đối với lịch sử văn hóa nhân loại, dù còn ở trình độ sơkhai, chất phác nhưng đã thể hiện được tư tưởng duy vật và biện chứng về tựnhiên, về con người và xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ
Trong Kinh Dịch thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên
nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: “Dịch có thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡngnghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái, bát quái sinh ra vạn vật” Nhưvậy, tác giả của Kinh Dịch đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động.Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dươnglại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lạinảy sinh thiếu dương Cứ như thế, Âm Dương biến hoá liên tục, tạo thành vòngbiến hóa không bao giờ ngừng nghỉ Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩmcủa mình là Kinh Dịch Ở Kinh Dịch, Âm Dương được quan niệm là những mặt,
Trang 9những hiện tượng đối lập tồn tại trong các hiện tượng tự nhiên, xã hội và khẳngđịnh vật nào cũng ôm chứa Âm Dương trong nó.
Theo Kinh Dịch, Âm - Dương là hai nguyên lý mâu thuẫn, có đặc tính
riêng biệt, khác hẳn nhau Âm-Dương là hai mặt đối lập, chúng tồn tại ở hai thếlực khác nhau nhưng không biệt lập mà thống nhất, bổ sung cho nhau Hễ Âmcực thì Dương sinh, Dương cực thì Âm sinh Giữa Âm và Dương không có ranhgiới tuyệt đối Trong mặt này có chứa đựng yếu tố của mặt kia, trong Dương lớn
có Âm nhỏ, trong Âm lớn có Dương nhỏ Giữa Âm và Dương luôn thay đổi vàchuyển hóa cho nhau Nếu Âm tăng thì Dương giảm, Dương tăng thì Âm giảm,
vì vậy mà Âm biến đổi thành Dương và Dương cũng có xu hướng biến đổi thành
Âm Tính chất này là quy luật của vũ trụ quan, nhân sinh quan, là thuyết tươngđối của cuộc sống vạn vật và con người, nó giúp ta khám phá được mặt tốt, mặtxấu khi xem xét một vấn đề nào đó, trên cơ sở đó tự điều chỉnh tư duy lý luận,nhận thức đúng đắn về cuộc sống và tự hoàn thiện mình Chính do sự tác độngqua lại giữa hai thế lực Âm - Dương mà sinh ra mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới, và như vậy, hai mặt đối lập này tồn tại trong tất cả các sự vật hiện tượng từ
tư duy, xã hội và con người
Âm Dương là khí chất, là năng lực để thúc đẩy quá trình hình thành vũ trụ
và vạn vật, mọi việc biến đổi chuyển hóa đều do hai khí này mà ra Nó chính lànguồn năng lượng vô cùng vô tận của vũ trụ và vạn vật Bản chất của Âm Dương
là khí và hình Kinh Dịch cũng cho rằng, chính Âm Dương đã sinh ra vạn vật
trong vũ trụ, khi Âm Dương ở dạng khí thì nó lưu hành khắp vũ trụ và trong vạn vật, khi ở dạng hình thì Âm Dương cô đọng lại dưới dạng hình thể của muôn vật
muôn loài, khi Âm Dương cô đọng lại hết mức thì tạo thành vật chất, khi vậtchất tan loãng ra thì thành Âm Dương, trong bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng
có một thái cực đó là Âm - Dương Vì vậy, quan niệm Âm Dương là quan niệmđặc biệt trong Kinh Dịch, đã thể hiện tư tưởng duy vật và biện chứng về thế giớituy còn ở trình độ sơ khai, phiến diện nhưng phần nào đã lí giải được căn nguyên
Trang 10quy luật phát triển của giới tự nhiên, là cơ sở để giải quyết một số mâu thuẫn vàvận dụng để giải quyết một số vấn đề trong xã hội.
Sự đối lập giữa Âm và Dương phần nào đã thể hiện những mâu thuẫn cơbản trong sự vật, hiện tượng Sự đối lập đó còn được thể hiện ở chỗ: Dươngthăng mà Âm giáng Thăng có nghĩa là đi lên, trưởng thành tốt đẹp, giống nhưkhi ta đốt lửa thì ngọn lửa lúc nào cũng có xu hướng bốc lên cao khỏi mặt đất,điều này giải thích cho sự tạo thành “Trời” Giáng là từ trên đi xuống, là yếu đi
Âm giáng nghĩa là khí âm luôn đi từ trên xuống dưới, như nước thì luôn chảy từtrên cao xuống thấp, tính chất này thể hiện sự hình thành “Đất” Hai khí Âm -Dương gắn kết, hội tụ với nhau như Trời với Đất, tạo ra năng lực nuôi sống conngười và vạn vật
Cùng với thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ Hành cũng là thuyết quan trọngtrong tư tưởng triết học Trung Hoa, sự xuất hiện của thuyết Ngũ Hành đã đánhdấu bước tiến trong tư duy khoa học của người Trung Hoa Ngũ Hành thể hiệnkhả năng biến đổi, tương tác của sự vật, hiện tượng và dùng để giải thích sự sinhtrưởng của vạn vật trong vũ trụ Nó thể hiện thông qua tính năng của năm loạivật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Các yếu tố vật chất đó không ở trạng tháitĩnh mà động, không phải cô lập với nhau mà lại có quan hệ biện chứng vớinhau, cái này chuyển hóa thành cái kia theo chu trình có tính tuần hoàn hay quacác quy luật của ngũ hành
Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ.Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn
nhau cùng phát sinh và phát triển Quan hệ tương sinh của ngũ hành là Thổ sinh
Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ,…đó là chutrình bất diệt
Ngoài quan hệ tương sinh còn có quan hệ tương khắc "Khắc" có nghĩa là
chế ước, ngăn trở, hủy diệt Quá trình ngũ hành tương khắc là Thổ khắc Thủy,
Trang 11Thủy khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ,…đây cũng làchu trình bất diệt.
Dù chưa có cơ sở khoa học của quá trình tương sinh và quá trình tươngkhắc nhưng quan niệm duy vật hồn nhiên này đã tồn tại như một cơ sở đểkhẳng định vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, rằng thế giới vật chất đadạng phong phú không tách rời quá trình tương sinh và tương khắc của ngũhành! Theo tư tưởng của “Ngũ hành”: nếu chỉ có tương sinh mà không cótương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương khắc mà không cótương sinh thì vạn vạt không thể có sự sinh hóa Vì vậy, tương sinh, tương khắc
là hai điều kiện không thể thiếu được để duy trì thăng bằng tương đối của hếtthảy mọi sự vật
Như vậy, thuyết Âm Dương, Ngũ Hành là hai trong nhiều trường pháitriết học Trung Hoa thời Cổ đại bàn về hai mặt đối lập của mâu thuẫn Theo đó,hai mặt đối lập không tách rời mà luôn hòa quyện, xâm nhập lẫn nhau, là khởinguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ và vạn vật trên Trái đất này Thuyết ÂmDương, Ngũ Hành đã giải thích sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng,tuy còn mang tính sơ khai, chất phác, nhưng là một đóng góp lớn lao vào khotàng tri thức triết học, là cơ sở để chống lại các quan niệm duy tâm thần bí khi lýgiải về con người và vạn vật
Lão Tử (còn gọi là Lão Đam, khoảng thế kỷ VI - V T.CN), nhà triết học
lớn của Trung Quốc thời Cổ đại, cũng đã đề cập đến khái niệm Âm Dương Ôngkhông chỉ tìm hiểu quy luật biến hóa của Âm Dương mà còn khẳng định mỗi sựvật đều chứa thuộc tính mâu thuẫn, đó là Âm Dương
Lão Tử được Hêghen đánh giá “là đại biểu tinh thần của thế giới cổ đạiPhương Đông” [25, tr.419] Là người tiếp nhận tư tưởng của Dương Chu, ÂmDương Ngũ hành và phép biện chứng của Kinh Dịch để sáng lập ra trường pháitriết học Đạo gia Trong hệ thống triết học của Lão Tử, học thuyết về “Đạo” cómột vị trí cực kì quan trọng Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong
Trang 12triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người TrungHoa cổ đại Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị, trong đó tư tưởng mâu thuẫnbiện chứng đã đạt đến trình độ sâu sắc và trở thành vấn đề cốt lõi trong phépbiện chứng của ông Toàn bộ những quan niệm về mâu thuẫn được ông trình bàykhá vẹn toàn trong học thuyết về “Đạo”.
Lão Tử cho rằng, khởi nguyên và động lực của vạn vật trong vũ trụ đóchính là do sự chi phối của “Đạo” Đạo không phải là một sự vật hiện hữu cụthể, nhưng nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật, không bao giờ mất đi, nó là cáinguyên sơ tự nhiên, mộc mạc, là bản nguyên, sáng tạo ra vạn vật, vạn vật sinh ratheo trình tự “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật”, “vạnvật đều cõng âm mà ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư” [24, tr.13] Tưtưởng về phép biện chứng của Lão Tử đã chỉ rõ con đường vận động, biến đổicủa vạn vật trong thế giới khách quan thông qua hai quy luật của “Đạo”, là luật
“quân bình” và luật “phản phục” Trong Kinh Dịch, luật “phản phục” đượctượng trưng bằng quẻ Phục Quẻ này gồm năm hào Âm ở trên và một hào Dương
ở dưới Khi khí âm đã phát triển đến cực điểm thì một hào dương xuất hiện ởdưới, nghĩa là khí dương bắt đầu sinh trở lại Do đó mà quẻ có tên là Phục (trở
lại) Luật phản phục dùng để chỉ sự quay trở lại phương hướng cũ sau khi sự vật, hiện tượng đã phát triển đến cực điểm Như vậy, muốn cho một vật nào đó
suy tàn thì trước hết hãy làm cho nó hưng thịnh lên đến điểm tận cùng nó sẽ
chuyển sang mặt đối lập tức là suy tàn Quân bình ở đây là quân bình âm dương , quân bình đề giữ cho vạn vật cân bằng theo lẽ tự nhiên, không có cái gì thái quá
mà cũng không có cái gì bất cập Phần lớn tư tưởng của Lão Tử là lấy đạo quân
bình làm căn bản Luật bình quân và phản phục thể hiện sự mâu thuẫn, phản ánhkhuynh hướng trái ngược trong chính quá trình sinh tồn và phát triển của vũ trụ
Theo Lão Tử, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều luônvận động và biến đổi không ngừng, mỗi sự vật là thể thống nhất giữa hai mặt đốilập, chúng đối lập nhưng lại liên hệ, ràng buộc, là điều kiện tồn tại của nhau,
Trang 13trong cái này đã có cái kia Song, Lão Tử mới chỉ thấy được sự gắn bó, xâmnhập, chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập là chủ yếu, mà chưa thấy đượcmặt đấu tranh của chúng; ông coi đấu tranh là mặt thứ yếu Đây cũng chính làhạn chế trong phép biện chứng của Lão Tử, vì ông không chủ trương giải quyếtmâu thuẫn bằng hình thức đấu tranh, mà nhấn mạnh sự hài hòa, sự thống nhấtgiữa các mặt đối lập; coi trọng tính đồng nhất, coi việc điều hòa mâu thuẫn làcách thức giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Như vậy, tư tưởng biện chứng của Lão Tử đã vẽ nên một bức tranh sinhđộng về hiện thực, phản ánh được phần nào bản chất của thế giới khách quan
Dù trong cách lí giải đã mang yếu tố duy vật và biện chứng nhưng về căn bản nóvẫn mang tính ngây thơ, chất phác Ông chỉ thấy được sự chuyển hóa giữa cácmặt đối lập như là một vòng tuần hoàn, là sự chuyển hóa vòng quanh nhưngkhông có bước nhảy vọt, không thấy được sự phát triển về chất của sự vật Dùvậy nhưng tư tưởng triết học của Lão Tử vẫn là một cống hiến vĩ đại, có ảnhhưởng to lớn đến thế giới quan triết học, nó như cái bóng bao trùm và dẫn dắtquá trình tư tưởng của triết học Trung Hoa Bên cạnh nền triết học Trung Quốc,
Ấn Độ còn có một nền triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú và có vị trí quan trọngtrong lịch sử tư tưởng của Châu Á
Triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về
thế giới, là một trong những cái nôi triết học lâu đời và tương đối đặc biệt củanhân loại Do tính chất khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên, cũng như sự phânbiệt hết sức nghiệt ngã và khắt khe của chế độ chiếm hữu nô lệ mang nặngtính chất gia trưởng của xã hội Ấn Độ cổ đại Vì thế, trong lòng xã hội đã nảysinh những mâu thuẫn giữa các tầng lớp, các giai cấp xã hội với những lợi ích
và những địa vị xã hội đối lập nhau, khiến cho cuộc sống người dân Ấn Độtrở nên vô cùng cực khổ Cũng như những nền triết học khác, triết học Ấn Độcũng đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề, trong đó, mâu thuẫn đã trở thànhvấn đề nổi lên hàng đầu
Trang 14Triết học Ấn Độ đã đề cập đến mâu thuẫn của mọi sự vật, hiện tượng
trong vũ trụ, thừa nhận vạn vật trong vũ trụ là sự thống nhất giữa các mặt đốilập, chúng vừa đứng im vừa vận động, vừa trong trạng thái cân bằng, ổn định,vừa trong trạng thái không cân bằng, không ổn định, vừa bất biến, lại vừa trongtrạng thái biến đổi không ngừng
Trong triết học Ấn Độ, triết học Phật giáo được xem là một trong những
trường phái triết học lớn Triết học Phật giáo thể hiện tính duy vật và biện chứngsâu sắc, cho rằng, ngay trong nhận thức của con người cũng đã sinh ra nhữngmâu thuẫn và đây là yếu tố làm cho con người khổ Trong Phật giáo, con người
và vạn vật vốn là vô ngã Vô ngã là không có cái tôi bất biến, từ đây triết học
Phật giáo đưa ra nguyên lý về mối liên hệ nhất định: Không có cái nào là biệt lậptuyệt đối so với tồn tại khác, tất cả đều hòa đồng nhau, vậy nên không có cái gì
là của ta Vô thường là nói đến sự biến đổi không ngừng của vạn vật, không có
cái gì là đứng im Nhưng do vô minh nên con người đã nhầm lẫn mà cho rằng nó
là của ta và chúng tồn tại vĩnh viễn Vì vậy, con người đã cố giành lấy cho riêngmình Song, đó chính là những thứ mà con người không thể làm được bởi conngười không thể làm trái quy luật khách quan Chính điều này đã đưa con ngườirơi vào mâu thuẫn, thất vọng, rồi đau khổ
Trong Phật giáo, thế giới tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận theoquan niệm về quy luật nhân - quả Quy luật nhân - quả cho rằng, sự tồn tại đadạng và phong phú của thế giới đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luậtnhân quả, một định lý tất định và phổ biến dù đó là vũ trụ hay nhân sinh Nhưvậy, triết học Phật giáo cũng đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồngnhất, vạch ra được những mâu thuẫn nội tại như giữa ý thức và vô thức, niếtbàn và vô minh
Tóm lại, triết học Ấn Độ là một trong những cái nôi vĩ đại của nhân loạithời kì cổ đại Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần, manh nha hìnhthành tư tưởng biện chứng sơ khai Từ nhiều góc độ khác nhau, triết học Ấn Độ
Trang 15đã đề cập đến mâu thuẫn của sự vật hiện tượng trong vũ trụ Tuy nhiên, vai trò động lực của mâu thuẫn đã không được nhận thức một cách đầy đủ và còn có những yếu tố duy tâm.
1.1.2 Một số quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Phương Tây Đại diện tiêu biểu cho triết học phương Tây là triết học Hy Lạp cổ đại.
Có thể nói, triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giaohưởng, bản hợp xướng của triết học phương Tây Ra đời trong xã hội chiếm hữu
nô lệ với những mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ với chủ nô quý
tộc Triết học Hy Lạp cổ đại được đánh giá là hình thức biện chứng đầu tiên của
nền văn minh cổ đại nhưng mang tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai,đồng thời đã bàn về vấn đề mâu thuẫn khá sâu sắc Ở phương Tây cổ đại nghiêncứu vấn đề mâu thuẫn bao quát ở hai lĩnh vực: mâu thuẫn trong hiện thực kháchquan và mâu thuẫn trong tư duy Các nhà triết học thời kì này cũng đã chỉ ra cáckhuynh hướng đối lập nhau trong tự nhiên và trong xã hội
Hêraclit (520 - 460 TCN) sinh ra trong một gia đình quý tộc chủ nô ở
thành phố Ephetdơ Ông sớm trở thành một nhà triết học duy vật thể hiện rõ các
tư tưởng biện chứng chất phác, mộc mạc từ thời cổ Hy Lạp Phép biện chứng củaông được xếp vào vị trí trung tâm, ông đã có những tư tưởng về sự thống nhấtgiữa các mặt đối lập trong tất cả các sự vật hiện tượng
Theo Hêraclit, tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng trong nó những mặt đối lập, chúng tác động qua lại như là những khuynh hướng trái
ngược nhau, song chúng vẫn luôn ràng buộc và thống nhất với nhau - làm tiền đềcho sự tồn tại của nhau Thống nhất là sự đồng nhất của cái đa dạng và là sự hàihòa giữa các mặt đối lập Nếu không có mặt này thì sẽ không có mặt khác Mộtchỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồn tại với các mặt đối lập của nó, như làkhông thể quý sức khỏe khi mà không biết mặt đối lập của nó là bệnh tật, cái ácbao giờ cũng tồn tại với mặt đối lập của nó là cái thiện và chính cái ác sẽ làmcho cái thiện trở nên cao cả hơn…Khi thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các
Trang 16mặt đối lập thì ông cũng cho rằng, vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng
nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, hiện tượng trái ngược nhau.Chính các cuộc đấu tranh đó đã làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi và thay vào
đó là sự vật, hiện tượng mới Điều này làm cho sự vật hiện tượng trong vũ trụluôn thay đổi và phát triển không ngừng
Hêraclit cho rằng, đấu tranh giữa các mặt đối lập là hiện tượng phổ biếntrong vũ trụ, là quy luật phát triển của vũ trụ Không có đấu tranh sẽ không cóbất cứ sự hài hòa nào và ngược lại, khi đấu tranh không còn thì mọi cái cũng
biến mất Đấu tranh của các mặt đối lập chính là sự đối lập trong cái thống nhất, làm phá vỡ sự thống nhất cũ, thiết lập sự thống nhất mới cao hơn, hoàn thiện hơn Từ đây, làm cho các mặt đối lập trong mỗi sự vật không ngừng tự
hoàn thiện, điều chỉnh mình để phù hợp, thống nhất với mặt còn lại, tạo bướctiến cao hơn Ông khẳng định, đấu tranh sẽ tạo ra một trật tự hài hòa về sự thống
nhất Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đó không có sự thống nhất Đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, là khởi nguyên sáng tạo của sự sống và tồn tại Điều đó cho thấy đấu tranh giữa các mặt đối lập là tất yếu, là quy luật tất yếu của vũ trụ.
Ông được mọi người biết đến nhiều bởi học thuyết “Dòng chảy” Ôngcho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại và đồng thời lại khôngtồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, chảy đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọivật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong Dựa vào trải nghiệm của mình, ông
khẳng định rằng: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [4,
tr.49] Với ông, mọi vật đều luôn biến đổi, vận động và phát triển không ngừng,
nó thay đổi thường xuyên và liên tục bởi không có gì tồn tại mà đứng yên tuyệtđối, đứng yên chỉ là tạm thời, tương đối mà thôi Đứng yên và vận động chính là
sự thống nhất của các mặt đối lập, cũng như đấu tranh và hài hòa, chúng tồn tạikhông thể tách rời nhau Chính sự vận động biến đổi liên tục của thực tiễn đãchứng minh “vạn vật không ngừng sinh ra và mất đi, giống như ngọn lửa không
Trang 17ngừng bùng cháy rồi lụi tàn” Với quan điểm này Hêraclit đã nắm được đúngtính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng trên thế giới nhưng nókhông đủ để giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ Muốn nhậnthức được chi tiết ấy thì phải tách riêng từng chi tiết ra khỏi mối liên hệ tự nhiêntheo đặc tính của chúng Điều này được thực hiện khi khoa học tự nhiên thực sựphát triển.
Ngoài học thuyết về “Dòng chảy”, Hêraclit còn được biết đến bởi quanniệm sâu sắc về thuật ngữ “Logos” Đây là thuật ngữ được Hêraclit sử dụng đầutiên với tư cách là một trong các khái niệm cơ bản nói về cái tất yếu, cái có tínhquy luật và nó trở nên phổ biến trong toàn bộ triết học Hy Lạp cổ đại Ông chorằng, thế giới vận động theo trật tự mà ông gọi đó là logos Logos khách quan làtrật tự mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ, logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết vàlời nói của con người Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan VớiHêraclit, logos là nguyên tắc về sự thống nhất mâu thuẫn của mọi sự vật hiệntượng trong vũ trụ Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là nguồn gốc vận động vàphát triển của sự vật hiện tượng Vũ trụ vừa thống nhất vừa đa dạng, trong đó sựchuyển hóa và tác động qua lại giữa các mặt đối lập là tiền đề xuất hiện cái mới
Logos trong triết học của Hêraclit đã đưa ông tới sự khẳng định: lửa là bản nguyên vật chất, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật hiện tượng, đồng thời lửa cũng là nguồn gốc của vận động Toàn bộ thế giới hay
vũ trụ chẳng qua là sản phẩm biến đổi của lửa Lửa chuyển hóa thành sự vật và
sự vật cũng chuyến hóa thành lửa Ông cho rằng, vũ trụ - cái thế giới mà conngười đang sống trong đó thống nhất ở một cái duy nhất là ngọn lửa vĩnh hằngbất diệt Dựa vào quan điểm này mà Hêraclit đã khẳng định được tính vĩnh viễn
và bất diệt của thế giới
Có thể khẳng định rằng, Hêraclit với luận giải sâu sắc về quy luật thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tư tưởng biện chứng của ông đã đặt nềnmóng cho phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Hêraclit trở thành đại biểu của phép
Trang 18biện chứng và đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước phát triển mới.Song, tư tưởng biện chứng của ông vẫn còn một số hạn chế nhất định, đó là ôngchưa thấy được sự thống nhất giữa các sự vật trong mối liên hệ cụ thể, nhữngluận giải mới dừng lại ở phỏng đoán chứ chưa được luận chứng về mặt khoa học.
Nếu như Hêraclit đã xây dựng được học thuyết về “dòng chảy”, xây dựngđược một số phạm trù của phép biện chứng như “logos” để luận bàn về nhữngphép biện chứng thì sau ông phép biện chứng Hy Lạp cổ đại tiếp tục hoàn thiện
và phát triển với nhiều nội dung phong phú, gắn với tên tuổi của các triết gia nổi
tiếng khác Đó là Đêmôcrit (460 – 370 TCN) - đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa
duy vật cổ đại Nổi bật trong triết học duy vật của ông là thuyết nguyên tử
Đêmôcrit cho rằng, tất cả mọi sự vật đều hình thành từ những nguyên tử.Nguyên tử là hạt vật chất bé nhỏ không thể phân chia được nữa, chúng khôngkhác nhau về chất mà khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế Bởi có vô vànhình dạng nên tính đa dạng của nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các
sự vật hiện tượng Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, ông giải thíchvận động của nguyên tử là tự nó vận động, chúng va chạm và di chuyển về mọiphía Dù ông đã không lí giải được nguồn gốc của sự vận động nhưng ông đãgắn vận động với nguyên tử, nó cũng là vô cùng, vô tận như nguyên tử và vậnđộng không tách rời khỏi vật chất
Trong quan niệm về mâu thuẫn, Đêmôcrit cho rằng, vũ trụ được cấu thành
từ hai thực thể đầu tiên là nguyên tử (tồn tại) và chân không (không tồn tại) lànhững bản nguyên đầu tiên và chúng luôn đối lập nhau, trong đó nguyên tử lànhững hạt vật chất cực nhỏ, chúng tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng,
sự vận động đó xảy ra trong chân không, tuân theo quy luật khách quan và theocác hướng phân ly và tích hợp, tạo nên sự đa dạng phong phú trong vũ trụ Linhhồn của con người, theo Đêmôcrit, cũng là một dạng vật chất, được tạo nên từcác nguyên tử đặc biệt, khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn, chúng rời thểxác và tồn tại như những nguyên tử khác Chân không là khoảng không gian
Trang 19trống rỗng Với Đêmôcrit, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó mànguyên tử mới vận động được Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng,chân không thì vô hạn và không có hình dáng.
Ngoài đóng góp của Hêraclit và Đêmôcrit về phép biện chứng, trong triếthọc Hy Lạp cổ đại còn có sự đóng góp nhất định của Arixtôt, Dênôn, Platôn vềvấn đề này
Như vậy, phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại đã cho thấy bứctranh chung về thế giới, trong đó các sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển
và biến đổi không ngừng Phép biện chứng giai đoạn này chỉ là những yếu tố
biện chứng hồn nhiên, tự phát - chưa thành một hệ thống, quy luật, phạm trù, tức
là chưa trở thành một hệ thống lý luận nhận thức Do đó vai trò nhận thức và cảitạo thế giới của nó còn có nhiều hạn chế Dù giải thích thế giới chủ yếu dựa trên
sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh, phỏng đoán trên cơ sở kinhnghiệm trực giác, chưa có căn cứ, minh chứng khoa học, nhưng quan niệm về sựthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) của các đạibiểu triết học Hy lạp thời kì này là tiền đề, là khởi nguyên lịch sử của phép biệnchứng chứng về sau
Vấn đề mâu thuẫn tiếp tục được triết học Tây Âu Phục Hưng quan tâm
nghiên cứu Đây là thời kì tan rã của chế độ xã hội phong kiến, đồng thời là sựxuất hiện của tư bản chủ nghĩa Triết học thời kì này xen lẫn giữa yếu tố duy vật
và yếu tố duy tâm Song, tư tưởng biện chứng của một số đại biểu cũng hết sức
sâu sắc, điển hình như Brunô Brunô ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng biện
chứng của các nhà triết học đi trước, ông tiếp tục phát triển phép biện chứng trênquan điểm của mình Ông đưa ra tư tưởng biện chứng về sự phù hợp giữa cácmặt đối lập trong sự thống nhất vô tận của vũ trụ Theo ông, vũ trụ là vĩnh hằng
và vô tận, nó không sinh ra và cũng không bị hủy diệt Các sự vật, hiện tượngtrong vũ trụ đều có mối liên hệ, luôn vận động và thường xuyên biến đổi Cái
Trang 20này mất đi thì cái khác sẽ ra đời, sự vật không chỉ vận động mà còn chuyển hóalẫn nhau, chuyển hóa giữa các mặt đối lập.
Brunô đã xây dựng học thuyết về sự thống nhất của cực tiểu và cực đại,cái tối thiểu và cái tối đa, giữa cái vô hạn và hữu hạn Đó là những mặt đối lậpnhau nhưng trong một sự vật thì chúng luôn vận động và chuyển hóa lẫnnhau Tư tưởng biện chứng của Brunô đã vượt xa hơn so với các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại bởi triết học của ông đã dựa trên các thành tựu khoa học củathời đại mình
Triết học cổ điển Đức là nền triết học được hình thành nên từ cuối thế kỷ
XVIII - đầu thế kỷ XIX Ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xãhội đặc thù – vừa bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, ý thức hệ của xãhội phong kiến đang mục rỗng, vừa bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng cấp tiếntrong thời kỳ đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã làm cho triết học cổ điểnĐức có những nét riêng Tiếp thu những tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại, cácnhà triết học thời kì này đã hình thành phép biện chứng duy tâm trong việcnghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Nếu phép biện chứng cổđại chủ yếu được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, thì phép biệnchứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống lý luậntương đối hoàn chỉnh và đã trở thành một phương pháp tư duy triết học phổ biến
Dù còn nhiều hạn chế, nhưng “hạt nhân” hợp lý được mang lại từ nền triết nàycũng cho chúng ta khẳng định đây là giai đoạn phát triển rực rỡ trong nền vănminh triết học của Tây Âu
Lênin cho rằng, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đãtạo ra bước quá độ chuyển biến về lập trường từ chủ nghĩa duy vật siêu hìnhsang thế giới quan khoa học duy vật biện chứng Có thể khẳng định, phép biệnchứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách mạng vềphương pháp
Trang 21Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đãxây nên một hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logicbiện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển, mà thành quả lớn nhất trongquá trình tìm tòi đó là phép biện chứng Với cách nhìn tổng quát về phương phápbiện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức đã hệ thống hóa toàn bộ tri thức vàthành tựu mà nhân loại đã đạt được Như vậy, so với các nền triết học trước thìtriết học cổ điển Đức đã đạt tới trình độ khái quát và tư duy trừu tượng cao với
hệ thống kết cấu lí luận chặt chẽ, tư tưởng về mâu thuẫn đã có những bước tiếnđáng kể Đại biểu đặc trưng của triết học cổ điển Đức đó là Cantơ và Hêghen
Cantơ (1724 - 1804) là một trong những nhà triết học vĩ đại của lịch sử tư
duy phương Tây trước Mác Với tư cách là người sáng lập ra triết học cổ điểnĐức, Cantơ có những đóng góp lớn lao cho nền triết học của thế giới
Triết học của ông được chia làm hai thời kì Vào thời kì tiền phê phán,
Cantơ quan niệm cấu trúc của vật chất luôn biến đổi và không ngừng tương tácvới nhau bằng sức hút và lực đẩy Cantơ cho rằng, khởi nguyên của vũ trụ lànhững vật chất hỗn độn Trong thời kì này, ông phát triển tư tưởng về sự tácđộng, xâm nhập đan xen lẫn nhau giữa các mặt đối lập trên cở sở triết học tựnhiên Sang thời kì phê phán, ông đề xướng việc nghiên cứu lại các vấn đề triếthọc đã đặt ra trước đây, và xác định lại một cách phê phán các quan niệm về lítính, khả năng suy diễn và khả năng nhận thức của con người Thời kì này, triếthọc của ông được đánh giá như là phép biện chứng
Trong hệ thống triết học của mình, Cantơ cho rằng, mọi vật trong thế giớichỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và cá biệt Với việc đề xuất cách tiếp cận các vậtphải phù hợp theo xu hướng của chúng ta, Cantơ thừa nhận con người không thể
nhận thức được “vật tự nó” hay “vật tự thân” Theo ông, “vật tự nó” là sự biểu hiện những gì thuộc về hiện tượng mà con người chưa nhận thức được, nó là bản chất đích thực của mọi sự vật tồn tại bên ngoài con người, là chuẩn mực hoàn hảo mà con người không thể đạt tới, nhưng đó là những điều mà con người
Trang 22hằng mong ước, thể hiện khát vọng cao đẹp của trí tuệ con người Ông cho rằng,
lí tính của con người có khát vọng xâm nhập vào vật tự nó để đạt tới tri thứctuyệt đối, điều này đã làm phát sinh những mâu thuẫn - Cantơ gọi đó là cácantinomia; ông xem các antinomia như là những mâu thuẫn không bao giờ giảiquyết được Việc tìm ra và giải quyết các antinomia của Cantơ càng khẳng địnhluận điểm của ông rằng "vật tự nó" là bất khả tri Đó là một nghịch lý kháchquan mà nhận thức con người buộc phải chấp nhận Xưa nay người ta vẫn ngộnhận tưởng rằng mình có thể nhận thức được "vật tự nó", nhưng trên thực tế, conngười đang phải chấp nhận nghịch lý trên
Ông đưa ra 4 antinomia, mỗi antinomia (mâu thuẫn) cơ bản của lí tính
được tạo nên từ hai luận đề đối lập nhau đó là chính đề và phản đề Đây là nhữngmâu thuẫn mà không thể khắc phục được, bởi nó nằm ngay trong bản thân lí tínhcủa con người Dẫn chứng điều này, ông viết: Vũ trụ có khởi đầu hay không cókhởi đầu trong thời gian, có hạn hay vô hạn trong không gian là một trong nhữngantinomia mà Cantơ nêu ra nhưng ông không thể giải quyết được, vì theo ông,không bao giờ có thể xác định được phán đoán nào chân thực hay giả dối Xét vềtoàn bộ thì vũ trụ là vô hạn, nhưng xét về từng sự vật hiện tượng cụ thể thì nó cógiới hạn, thuộc tính có hạn hay vô hạn đều được xét ở cùng một khía cạnh, nhưmột chỉnh thể toàn vẹn Nếu tìm ra cách chứng minh nó là có hạn thì sẽ dẫn đến
sự phi lý và rơi vào kết luận ngược lại, còn nếu giả định nó là vô hạn thì cũng sẽrơi vào sự phi lý không hơn không kém
Như vậy, học thuyết của Cantơ về các antinomia còn nhiều hạn chế Ôngquy những mâu thuẫn vào mâu thuẫn của lí tính (tư tưởng) chứ chưa thấy rằng
đó là những mâu thuẫn của thế giới hiện thực (giới tự nhiên); theo ông, cácantinomia đó cũng chưa hoàn toàn là những mâu thuẫn biện chứng vì giữa cácchính đề và phản đề chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau; khi đề cậpđến mâu thuẫn Cantơ cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích, tổng hợp các mặt đốilập chứ chưa đề xuất các biện pháp giải quyết mâu thuẫn; ông cũng đã sai lầm
Trang 23khi hạn chế số lượng các antinomia, trong khi mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các
sự vật và trong tất cả các lĩnh vực
Mặc dù vậy, Cantơ vẫn là người đầu tiên trong lịch sử triết học đặt ra vấn đề mâu thuẫn trong nhận thức luận và giải quyết vấn đề đó theo tinh thần biện chứng.
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ đã được hoànthiện trong triết học của Hêghen - một đại biểu xuất sắc trong triết học cổ điểnĐức cuối thế kỉ XIX với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản
Hêghen (1770 - 1831) là đại biểu xuất sắc của nền triết học cổ điển Đức,
là nhà triết học duy tâm khách quan nhưng học thuyết về bản chất và tư tưởng về mâu thuẫn của ông hết sức biện chứng Phép biện chứng của ông là tiền đề lý
luận quan trọng của triết học mácxít và cũng là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâmĐức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Nếu ở các nhà biện chứng trước ông tưduy còn mang tính trực quan, siêu hình, cảm tính, chủ yếu dựa vào các phỏng
đoán và chưa có cơ sở khoa học thì đến Hêghen tư duy biện chứng trong triết học đã được nâng lên thành học thuyết hoàn chỉnh Trong hệ thống triết học của
mình, Hêghen cho rằng, những gì hiện thực đều là hợp lý và tất cả những cái hợp
lý thì đều tồn tại Vì vậy, triết học của Hêghen đã ảnh hưởng mạnh đến tư tưởngnước Đức và châu Âu đương thời
Phép biện chứng được Hêghen đã đem lại một quan niệm mới về mâuthuẫn và lần đầu tiên trong lịch sử, Hêghen đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đềxuất cách thức giải quyết mâu thuẫn
Ông trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử, xã hội và tư duy conngười dưới dạng một quá trình, nghĩa là tất cả đều trong sự vận động, biến đổi vàluôn phát triển Nhưng không phải ý thức, tư tưởng phát triển phụ thuộc vào sựphát triển của tự nhiên, xã hội mà tự nhiên, xã hội phát triển phụ thuộc vào sựphát triển của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối là thực thể tinh thần, có trước
tự nhiên và loài người, trải qua một quá trình lịch sử - tự nhận thức về bản thân
Trang 24Ông cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệmtuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đềuđược sinh ra bởi một thực thể tinh thần, ý thức Tinh thần có trước vật chấtnhưng đó không phải là tinh thần, ý thức của từng cá nhân cụ thể mà là một thựcthể, tinh thần bên ngoài con người và ông gọi đó là ý niệm tuyệt đối Tính phongphú đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ýniệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn, là động lực của mọi hiệntượng tự nhiên và xã hội Như vậy, hoạt động tinh thần (con người) sáng tạo rathế giới.
Với ông, cái tuyệt đối không phải là những thứ đã có sẵn mà nó vừa làthực thể vừa là chủ thể hoạt động của chính mình trong quá trình sản sinh ra cáitương đối, cái tương đối cũng chính là kết quả hoạt động của cái tuyệt đối và cáituyệt đối cũng được sinh ra từ chính quá trình hoạt động của mình Tương đối vàtuyệt đối là hai mặt đối lập nhau, chúng mâu thuẫn với nhau
Hêghen khẳng định, sự đồng nhất nào cũng phải bao hàm sự khác biệt vàmâu thuẫn, đồng nhất và khác biệt vừa thống nhất nhưng vừa đối lập nhau, trongmột bản chất chúng lại gắn bó với nhau Sự vật nào thì chứa đựng mâu thuẫn của
sự vật đó, là những mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn tồn tại tức là sự vật tồn tại.Mâu thuẫn đó tạo nên động lực cho sự biến đổi và phát triển của sự vật, vì theoông “mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sứcsống” [24, tr.19] Chính việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn làm cho cái mới
ra đời phủ định sự tồn tại của cái cũ, lỗi thời, lạc hậu song vẫn giữ lại những yếu
tố tích cực, tiến bộ của cái cũ Đây là một trong những động lực thúc đẩy sự pháttriển của xã hội Vì vậy, không nên xem mâu thuẫn là sự kìm hãm đối với các sựvật mà phải xem mâu thuẫn trong sự tác động qua lại, sự lệ thuộc và quy địnhlẫn nhau của các sự vật
Mặc dù là người đã tuyệt đối hóa quá trình logic, đồng nhất các quy luậtcủa tự nhiên và xã hội với quy luật của logic học, giải thích các hiện tượng tự
Trang 25nhiên và xã hội như là các quá trình logic, song Hêghen là người có công lớnnghiên cứu một cách hệ thống, đem lại cho con người một cách hiểu mới về bảnchất của tư duy, về mối quan hệ qua lại và sự vận động của các khái niệm, cácphạm trù là biện chứng hiện thực, khách quan của các sự vật, các quá trình tronggiới tự nhiên và trong xã hội loài người Ông cũng đã đưa logic học phát triểnđến đỉnh cao khoa học và coi đó là học thuyết về sự phát triển toàn diện của mọi
sự vật, hiện tượng trong thế giới theo những quy luật của phép biện chứng Ôngxây dựng các phạm trù của logic học sao cho phản ánh mối liên hệ phổ biến vàtất yếu của tồn tại và cả tư duy trong sự vận động và chuyển hóa lẫn nhau như:Lượng, chất, phủ định, mâu thuẫn, khả năng - hiện thực, nguyên nhân - kết quả,cái chung - cái riêng, quy nạp - diễn dịch…Theo ông, những phạm trù logic lànhững trừu tượng được tách ra từ hiện thực nên chúng có nội dung sinh động,phong phú
Không phải là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng - nhưng bằng tưtưởng và hoạt động của mình, Hêghen đã làm cho phép biện chứng trở nênhoàn thiện hơn và giữ một vị trí quan trọng trong triết học Phương pháp tư duybiện chứng được ông nghiên cứu một cách đầy đủ nhất và có căn cứ vững chắc
là phương pháp chưa từng thấy trong lịch sử triết học trước Mác Đó không chỉ
là tiền đề cho bước phát triển tiếp theo của triết học mà còn đóng vai trò là cơ
sở lý luận, phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phát triển các môn khoahọc khác
Như vậy, triết học của Hêghen đã trở thành điểm nhấn trong lịch sử triếthọc nói chung và triết học cổ điển Đức nói riêng Song, do những hạn chế về cácđiều kiện của lịch sử, về lập trường giai cấp nên quan niệm về mâu thuẫn củaông cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định Hêghen đã có những kếtluận mâu thuẫn, không nhất quán và trái với các nguyên tắc xuất phát của mình.Ông đưa ra chủ trương giải quyết mâu thuẫn bằng con đường điều hòa, thỏa hiệpchứ không phải bằng đấu tranh của các mặt đối lập Dù đã phê phán mạnh mẽ
Trang 26phương pháp siêu hình của tư duy và đối lập nó với phương pháp biện chứng,song do thần thánh hóa tư duy nên những mâu thuẫn mà ông vạch ra chỉ là mâuthuẫn của tư duy chứ không phải là mâu thuẫn của hiện thực Mặt khác, Hêghen
đã đặt ra một giới hạn cho sự phát triển của nhân loại, kể cả cho sự phát triển củatriết học, sau khi tuyên bố rằng học thuyết của mình là sự kết thúc tuyệt đối hoànthiện của tư tưởng triết học
Có thể nói, triết học cổ điển Đức đã phát triển lên một bậc thang mới vềmọi mặt trong lịch sử triết học phương Tây Thành tựu quan trọng nhất của triếthọc cổ điển Đức là xây dựng phép biện chứng với tư cách lý luận phát triển nhậnthức luận và logic - điều mà các nhà biện chứng thời kì trước chưa thể đạt được.Đây cũng là tiền đề cho sự ra đời của phép biện chứng mácxít vào những năm 40của thế kỉ XIX
1.2 Quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về mâu thuẫn
1.2.1 Quan điểm của Mác - Ăngghen về mâu thuẫn
Xuyên suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển từ phép biện chứng
tự phát, thô sơ cổ đại đến phép biện chứng duy tâm của Hêghen trong triết học
cổ điển Đức và đạt đến đỉnh cao của phép biện chứng là phép biện chứng duy vậtmácxít
Có thể khẳng định rằng, triết học Mác ra đời là một bước ngoặt cách
mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại Nó ra đời là một tất yếu của lịch sử, làquá trình phát triển hợp quy luật của triết học và của nhận thức khoa học
Trên cở sở kế thừa có chọn lọc những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng củanhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông, dựa trên những thành tựu mới nhấtcủa khoa học hiện đại và qua khái quát thực tiễn, Mác và Ăngghen đã xây dựnghọc thuyết về mâu thuẫn - học thuyết về sự kết hợp giữa phép biện chứng với thếgiới quan duy vật, đồng thời phát triển học thuyết về mâu thuẫn biện chứng lênmột tầm cao mới
Trang 27Theo Mác, phép biện chứng không chỉ là lí luận thuần túy mà còn là mộtquá trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức và ý chí của con người, đó làquá trình của sự vận động, biến đổi và phát triển của sự vật, hiện tượng do sựđấu tranh của các mặt đối lập Mác cũng cho rằng, biện chứng khách quan là cái
có trước còn biện chứng chủ quan là cái có sau và là cái phản ánh biện chứngkhách quan, đây là điểm khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật của ôngvới phép biện chứng duy tâm của Hêghen
Khi sáng lập ra phép biện chứng duy vật, các nhà kinh điển chủ nghĩaMác đã kế thừa, khai thác và phát triển sáng tạo những “hạt nhân hợp lý” tronglịch sử tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là phép biện chứng duy tâm của Hêghen,vứt bỏ cách giải thích duy tâm, thần bí, siêu hình về các hiện tượng trong tựnhiên và xã hội, qua đó cải tạo toàn bộ di sản về phép biện chứng duy tâm củaHêghen theo tinh thần cách mạng phê phán trên lập trường lý luận mới vềnguyên tắc và thay đổi triệt để lập trường xã hội chính trị, phủ nhận biện chứngtrong sự kế thừa những thành quả của các bậc tiền bối Cuối cùng, Mác vàĂngghen đi đến khẳng định về sự cần thiết phải xây dựng phép biện chứng duyvật, hai ông đã thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thành một họcthuyết - chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mác và Ăngghen nhận xét, dù Hêghen là nhà khoa học thiên tài, có đầu ócbách khoa nhưng trong tư tưởng của Hêghen chứa đựng những mâu thuẫn, bởiông đã đứng trên lập trường của tầng lớp Đức bảo thủ, thỏa hiệp với giai cấp quýtộc phong kiến Một mặt, Hêghen khẳng định sự vận động phát triển khôngngừng của thế giới, mặt khác lại phủ định tư tưởng đó khi cho rằng tư duy nhânloại đạt đến đỉnh cao tuyệt đối trong triết học của ông, chế độ xã hội đạt đến đỉnhcao nhất là nhà nước quân chủ Phổ
Xuất phát từ những vấn đề về nhà nước và pháp quyền, Mác bắt đầu thấytrong đời sống hiện thực, nhà nước đầy rẫy những mâu thuẫn Đó là những mâuthuẫn sâu sắc, mâu thuẫn về quyền lợi xã hội, những nguyện vọng đối lập nhau
Trang 28của các bộ phận xã hội khác nhau Ngày càng hiểu sâu sắc hơn về nguồn gốc củamâu thuẫn giữa nhà nước và pháp luật Mác bắt đầu phê phán triết học phápquyền của Hêghen
Tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” có ýnghĩa triết học to lớn Mác không chỉ phê phán phê phán triết học pháp quyềncủa Hêghen mà còn đề xuất, thiết lập một số luận điểm quan trọng nhằm thúcđẩy việc xây dựng phép biện chứng duy vật trong đó có vấn đề về mâu thuẫn, vềnguồn gốc phát triển của hiện thực
Phê phán quan điểm của Hêghen về nhà nước pháp quyền đó là vấn đềbản chất của các mâu thuẫn và tính chất của việc khắc phục chúng Theo Mác,thực chất của vấn đề là ở chỗ: trong nhà nước quân chủ có những lĩnh vực và thếlực khác nhau, làm thành những mặt đối lập và luôn ở trong tình trạng mâu thuẫn
nhất định với nhau Nếu như Hêghen chủ trương xoa dịu mâu thuẫn, dung hòa mâu thuẫn và kéo chúng lại với nhau trong việc lý giải những mâu thuẫn của hiện thực thì Mác luôn xét mâu thuẫn trong quá trình biến đổi của hiện thực Nếu
Hêghen chủ trương việc logic hóa những mâu thuẫn thực tại của hiện thực vàbiến chúng thành những mâu thuẫn của những khái niệm logic thì C.Mác tậptrung phê phán nhà nước đương thời, vạch ra những mâu thuẫn của chế độ nhànước ấy và đòi hỏi phải xét tất cả các mâu thuẫn gắn với quá trình phát sinh vàphát triển của xã hội Theo Mác, để giải quyết được các mâu thuẫn xã hội thìkhông có con đường nào khác là phải đấu tranh
Mác viết: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tayHêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bàymột cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biệnchứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng
nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lí của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí củanó” [29, tr.35] Như vậy, Mác là người đầu tiên thấy được “hạt nhân hợp lý”
Trang 29trong triết học của Hêghen - tẩy rửa, gọt dũa, bổ sung cái “hạt nhân hợp lý” đó
để sử dụng
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duyvật và phương pháp luận biện chứng, giữa lý luận nhận thức với lôgíc biệnchứng Đây là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp trước
đó Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của sự nghiên cứu tựnhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của
phép biện chứng mácxit đều được khái quát và luận giải trên cơ sở khoa học Phép biện chứng duy vật – do vậy, thực sự là công cụ sắc bén, là chìa khóa giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới để phục vụ chính bản thân con người.
Trong quan niệm về phép biện chứng trong triết học trước Mác có sự táchrời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Chủ nghĩa duy vật giai đoạn nàycòn mang tính chất siêu hình, luôn cho rằng, vật chất, tự nhiên là vĩnh viễn,chúng không do ai sáng tạo ra và cũng không ai tiêu diệt được Điều này là đúng,song các nhà triết học trước Mác lại không hiểu được mối liên hệ phổ biến, về sựthống nhất, phát triển kế tiếp nhau của các sự vật và hiện tượng trong thế giới
Mác và Ăngghen đã phê phán sâu sắc quan điểm siêu hình, quan điểmphủ nhận những mâu thuẫn tồn tại bên trong mỗi sự vật Trong khi các nhà biệnchứng trước Mác cho rằng, mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng có chăng chỉ
là những mâu thuẫn, những mặt đối lập bên ngoài, coi sự vật là một cái gì đóđồng nhất tuyệt đối thì Mác và Ăngghen lại khẳng định, các sự vật, hiện tượng
là một thể thống nhất của những mặt, những thuộc tính, khuynh hướng đối lậpnhau, trong chúng luôn chứa đựng các mâu thuẫn Những mâu thuẫn, theo quanniệm của Mác - Ăngghen tồn tại khách quan, phổ biến trong tự nhiên, trong xãhội và trong tư duy con người Đó cũng là thuộc tính vốn có của các sự vật vàhiện tượng
Quan niệm về mâu thuẫn được Mác thể hiện khá rõ trong bộ “Tư bản”.Đây là một tác phẩm thiên tài mà Mác đã dành hơn 40 năm của cuộc đời để
Trang 30nghiên cứu, suy nghĩ và thể hiện Vấn đề mâu thuẫn mà Mác đề cập ở đây chủyếu là mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, cụ thể là mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ mớivới tính chất xã hội hóa cao thì sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có, bởiquan hệ sản xuất lúc này không còn phù hợp Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tấtyếu dẫn tới việc xã hội sẽ xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thay vào đó quan hệ sảnsuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cholực lượng sản xuất phát triển Điều này sẽ làm diệt vong phương thức sản xuất cũ
và hình thành phương tức sản xuất mới Về mặt xã hội thì đây là mâu thuẫn đốikháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Giai cấp vô sản sẽ là giai cấp đạidiện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn Cuộc đấu tranh giữa hai giaicấp này là động lực quan trọng để xóa bỏ chế độ xã hội cũ - tư bản chủ nghĩa vàhình thành nên chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Dù đối lập nhau vềlợi ích nhưng hai giai cấp này vẫn dung hòa với nhau bằng sự thỏa hiệp Mác đãphân tích các mâu thuẫn nhằm để tìm ra được các mâu thuẫn cơ bản của sự vật,hiện tượng
Nếu trong bộ “Tư bản” Mác chỉ ra phép biện chứng trong lĩnh vực xã hộithì trong hai tác phẩm “Chống Đuyrinh” và “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen
đã trình bày lý luận về phép biện chứng một cách khoa học Ông tập trung minhchứng cho giá trị phổ biến của phép biện chứng duy vật trong lĩnh vực tự nhiênnhư: Toán học, sinh vật học, cơ học, thiên văn học…
Mác và Ănghen cho rằng, trong mỗi sự vật tồn tại mâu thuẫn là tất yếu,mâu thuẫn không chỉ là sự đối lập mà còn bao hàm cả sự thống nhất giữa cácmặt đối lập, các mặt đối lập không tồn tại ngoài nhau mà chúng thâm nhập vàonhau và chuyển hóa lẫn nhau Chứng minh điều này Ănghen viết: “Người ta lạichỉ có thể tính được bản thân đường tròn nếu người ta biểu hiện chu vi của nódưới dạng những đường thẳng Còn trong trường hợp những đường cong tiệmcận thì đường thẳng hoàn toàn lẫn vào đường cong và đường cong hoàn toàn lẫn
Trang 31vào đường thẳng” [30, tr.764] Vậy nên chúng ta không tuyệt đối hóa hai mặt đốilập nhưng cũng không đồng nhất chúng với nhau, vì những mâu thuẫn nội tạibên trong của sự vật là nguồn gốc, động lực thúc đẩy sự phát triển của sự vật,hiện tượng Quan điểm này trái ngược với quan điểm của các nhà siêu hình chỉthừa nhận mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau và rằng mâu thuẫn sẽchỉ làm cho xã hội tan rã và không phát triển được.
Phê phán quan điểm của Đuyrinh về mâu thuẫn, do Đuyrinh gạt bỏ mâuthuẫn khi cho rằng, mâu thuẫn là một phạm trù, nó không tồn tại trong hiện thực
mà chỉ tồn tại trong tư duy mà thôi, nhưng nếu tư duy có mâu thuẫn thì đồngnghĩa mâu thuẫn với vô nghĩa “mâu thuẫn = vô nghĩa” [30, tr.172], Ăngghen đãkhẳng định mâu thuẫn tồn tại khắp nơi trong thế giới Trong vận động, trong sựsống, mâu thuẫn không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta Trong tư duy cómâu thuẫn chẳng qua là sự phản ánh mâu thuẫn của hiện thực mà thôi Ông chorằng: “Bản thân sự vận động là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cáchmáy móc và đơn giản sở dĩ có thể được thực hiện, cũng chỉ là vì một vật trongcùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừakhông ở chỗ đó” [30, tr.172-173]
Trong không gian và trong thời gian, Ăngghen chỉ ra đặc trưng mâu thuẫncủa vô tận Ông cho rằng, mâu thuẫn là vô tận và nó chứa đầy những mâu thuẫn,mâu thuẫn là động lực bên trong để bản thân cái vô tận tồn tại Cái vô tận cũngchỉ là những đại lượng có hạn cộng thành, tính có hạn của thế giới vật chất cũngdẫn đến nhiều mâu thuẫn không kém gì tính vô tận của nó Chính vì vô tận làmột mâu thuẫn, nó diễn ra trong không gian và thời gian, nên xóa bỏ mâu thuẫncũng là chấm dứt vô tận
Trong nhận thức của con người cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn nhưmâu thuẫn giữa năng lực vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tếcủa năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài và bịhạn chế trong năng lực nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối
Trang 32tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó trên thực tế cũng là vô tận nghĩa là mâu thuẫntồn tại và được giải quyết trong sự vận động đi lên của vô tận Ngoài ra, trongnhận thức của con người còn có nhiều mâu thuẫn khác như mâu thuẫn giữakhách quan và chủ quan, giữa chân lý và sai lầm, giữa khách thể và chủ thể…Giải quyết những mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho sự phát triển của nhận thứctrên con đường vươn tới chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối và hiện thực.
Lý luận về mâu thuẫn được thể hiện sâu sắc trong hai tác phẩm “Chống
Đuyrinh” và “Biện chứng của tự nhiên” khi Ăngghen cho rằng, mâu thuẫn tồn tại khách quan ở trong bản thân của sự vật và trong các quá trình, không có sự vật nào tồn tại mà bản thân nó lại không chứa đựng mâu thuẫn Ông đã dẫn
chứng, đồng hóa và dị hóa là hai mặt đối lập tồn tại trong bản thân mỗi sinh vật,đây là hai quá trình đảm bảo cho sinh vật tồn tại và phát triển, nếu đồng hóa làquá trình nạp và bổ sung những chất thiếu trong cơ thể thì dị hóa là quá trìnhngược lại, nó sẽ thải những chất đó ra khỏi cơ thể, ra môi trường khi đã hoànthành nhiệm vụ Thiếu một trong hai quá trình đó thì sinh vật sẽ không thể tồntại được Như vậy, bất kì một sự vật hữu cơ nào cũng vừa là bản thân nó, vừakhông phải là bản thân nó, nó tiêu hóa những chất mà nó nhận được từ ngoài vào
và bài tiết những chất khác ra khỏi nó, một tế bào trong cơ thể của nó chết đithay vào đó là những tế bào khác hình thành Mỗi vật thể hữu cơ bao giờ cũng làbản thân nó nhưng lại không phải là bản thân nó Cuối cùng ông khẳng định:
“Sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái khác Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến”
[30, tr.173-174] Trong xã hội, mâu thuẫn cũng phổ biến, chẳng hạn mâu thuẫngiữa chủ nô và nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chủ nô chỉ tồn tại được khi có
nô lệ lao động vất vả để tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để nuôisống chủ nô Cũng như nô lệ, họ trở thành công cụ lao động biết nói, lao động
Trang 33cực nhọc để nuôi sống giai cấp thống trị mình khi tồn tại giai cấp chủ nô Xã hộichiếm hữu nô lệ tồn tại đồng nghĩa với sự tồn tại song hành giữa chủ nô và nô lệ.Với Ăngghen, thế giới là một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mốiliên hệ, những sự tác động qua lại, trong đó không có cái gì là đứng im, khôngthay đổi, mà tất cả đều trong trạng thái vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi.
Trong tự nhiên, chính vận động đã sản sinh ra mâu thuẫn và cũng sẽ tự giải quyết mâu thuẫn Nhưng trong xã hội – nơi chằng chịt những mối quan hệ đan xen của con người, cần phải nắm bắt quy luật để giải quyết mâu thuẫn chứ không thể thụ động ngồi chờ “tự nó” giải quyết!
Ăngghen cũng đã phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đốikháng Ông cho rằng, không phải mâu thuẫn nào cũng là đối kháng Các mặt đốilập dù bài trừ nhau nhưng đồng thời chúng lại tái sinh ra, cái này nhờ cái kia màtồn tại, sự tái sinh của mặt này sẽ làm hại mặt kia và lấy mặt kia làm phươngthức tồn tại của mình Ông viết: Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếmhữu tư bản chủ nghĩa biểu hiện thành sự đối kháng qua mâu thuẫn giữa giai cấp
tư sản ngày càng giàu lên trên cơ sở bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản vớigiai cấp vô sản ngày càng bị bần cùng trong trong quá trình lao động Để giảiuyết mâu thuẫn đối kháng này cần phải thông qua đấu tranh giai cấp Thắng lợicủa cuộc đấu tranh giai cấp (tất yếu thuộc về giai cấp vô sản) sẽ tạo ra động lựccho sự phát triển của xã hội
Ăngghen cho rằng, để nhận thức được mâu thuẫn, thì phải có tư duy biệnchứng và không thể nào khác được Chừng nào con người xem xét sự vật mộtcách tĩnh lặng và không có sinh khí, trong sự tách rời, cô lập, coi cái nọ tồn tạibên cạnh cái kia, nối tiếp cái kia thì lúc đó chúng ta không thể nhận thức đượcmâu thuẫn Ngược lại, chúng ta xem xét các sự vật trong sự vận động, sự biếnđổi và tác động qua lại lẫn nhau của chúng thì tất yếu chúng ta sẽ nhận thứcđược mâu thuẫn
Trang 34Như vậy, Mác và Ăngghen đã tìm thấy “hạt nhân hợp lý” trong phép biệnchứng duy tâm của Hêghen, đồng thời cũng thấy được cả những hạn chế củaphép biện chứng duy tâm đó, thấy rõ rằng những nguyên lý trong triết học củaHêghen cần phải được cải tạo một cách triệt để Hai ông đã có cách nhìn mới vềquy luật mâu thuẫn Dù mỗi mâu thuẫn có khác nhau về vị trí, tính chất, vai trònhưng chúng đều chứa đựng hai mặt đối lập, ràng buộc, tác động qua lại và đấutranh với nhau trong một thể thống nhất Vậy nên, để giải quyết tốt mâu thuẫnchúng ta phải có những phương pháp khác nhau Phương pháp giải quyết mâuthuẫn được xem là chính xác, đúng đắn nếu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh vàthực tế khách quan Khi mâu thuẫn được giải quyết thì nó sẽ tạo ra động lực cho
sự vận động và phát triển
1.2.2 Quan điểm của Lênin về mâu thuẫn
V.I.Lênin là người kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạnmới Ông đã nghiên cứu, bảo vệ và phát triển tư tưởng biện chứng của Mác vàĂngghen Lê nin khẳng định: Linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phép biệnchứng Vì vậy, phép biện chứng được Lênin nghiên cứu, xem xét một cách cụthể, sâu sắc và ông đã có nhiều đóng góp quan trọng trong phép biện chứng duyvật Lênin đã khái quát thành quả chủ yếu về phép biện chứng duy vật, tức là
học thuyết về sự phát triển, coi đó dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và
không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người,nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng
Theo Lênin, cái chủ quan và cái khách quan có sự khác nhau nhưng là sựkhác nhau có giới hạn Với Lênin, nhiệm vụ quan trọng là phải biết phát hiện ranhững mặt đối lập đang tồn tại trong một thể thống nhất của sự vật Chúng takhông nên xem nhẹ mặt này hay đề cao mặt kia trong quan hệ giữa các mặt đốilập “Bút ký triết học” là một trong những tác phẩm kinh điển tiêu biểu nhất củachủ nghĩa Mác – Lênin Chính trong tác phẩm này Người đã góp phần phát triểnphép biện chứng duy vật lên một tầng nấc sâu sắc hơn, khoa học hơn Về vấn đề
Trang 35mâu thuẫn, Lênin cho rằng: mâu thuẫn chứa đựng trong nó là những mặt đối lập.
Do khuynh hướng phát triển trái ngược nhau nên các mặt đối lập thường xuyêntác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau, khi mâu thuẫn đạt đếnđỉnh điểm của sự chín muồi thì tất yếu mâu thuẫn sẽ được giải quyết và chúng sẽchuyển hóa lẫn nhau Lúc này sự vật, hiện tượng cũ sẽ bị phá vỡ thay vào đó là
sự vật, hiện tượng mới Cứ như thế, mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn kháchình thành, tạo nên một khuynh hướng phát triển cho sự vật, hiện tượng Bêncạnh đó, trong cùng một sự vật các mặt đối lập còn liên hệ, ràng buộc và quyđịnh lẫn nhau, mặt này là tiền đề cho sự tồn tại của mặt kia và ngược lại Chínhnhững mặt đối lập có mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại với nhau mới tạothành mâu thuẫn Như vậy, ở đây đấu tranh là đấu tranh của hai mặt đối lập trongthể thống nhất, còn thống nhất cũng chính là sự thống nhất của hai mặt đối lậpđang đấu tranh với nhau Cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập là điều kiện cho sựtồn tại của mỗi sự vật, là động lực để thúc đẩy sự vật vận động, phát triển khôngngừng Vì vậy, V.I.Lênin coi sự phát triển “là sự thống nhất của các mặt đối lập
Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” [27, tr.379]
Đến đây, Lênin đã so sánh sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lậpvới hai trạng thái đứng im và vận động của sự vật Lênin coi sự đấu tranh giữacác mặt đối lập bài trừ, gạt bỏ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự vận động vàphát triển là tuyệt đối Còn sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự đứng imcủa sự vật là có điều kiện, tạm thời và chỉ là tương đối Thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập đã quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật Như vậy,
“đấu tranh” luôn là một quá trình phức tạp, trong đấu tranh tất yếu sẽ có sựchuyển hóa giữa các mặt đối lập, lúc này mâu thuẫn sẽ được giải quyết, mâuthuẫn mới hình thành sẽ thay thế cho mâu thuẫn cũ Cứ như vật sự vật cũ sẽ bịthay thế bởi sự vật mới, sự vật mới bị phủ định bằng một sự vật mới hơn Quátrình đó diễn ra theo một quy trình từ thấp đến cao, trải qua nhiều giai đoạn khácnhau, song chúng đều có khuynh hướng tiến lên
Trang 36Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi vận động, của tất cả mọi biểu hiệncủa sự sống, chỉ trong chừng mực chứa đựng một mâu thuẫn thì một vật mới cókhả năng vận động Mâu thuẫn là nguyên lý của mọi sự vận động Không nên chỉhiểu vận động là một vật lúc thì ở chỗ này và lúc lại ở chỗ khác, mà phải hiểu làtrong cùng một lúc nó vừa ở chỗ này, lại vừa không ở chỗ này Vận động là bảnthân mâu thuẫn, là mâu thuẫn đang tồn tại Một sự vật chỉ sống chừng nào nóbao hàm trong mình mâu thuẫn.
Lênin đã có sự tổng kết sâu sắc về pháp biện chứng: “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể vừa và thường
là (trở thành) đồng nhất - trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng
cách chuyển hóa lẫn nhau - tại sao lý trí con người không nên xem những mặtđối lập ấy là chết, cứng đờ mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóalẫn nhau”[27, tr.116-117] Ông cho rằng, thừa nhận sự thống nhất của các mặtđối lập đó cũng là sự thừa nhận những khuynh hướng mâu thuẫn nhau, bài trừlẫn nhau, đối lập nhau trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên.Muốn nhận thức đúng sự vận động của các quá trình trong thế giới thì phải nhậnthức chúng với tính cách là sự thống nhất của các mặt đối lập
Như vậy, phép biện chứng duy vật mà Lênin phát triển trong “Bút ký triếthọc” có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, cần vận dụng linh hoạt trong quátrình xây dựng xã hội mới – xã hội cộng sản chủ nghĩa Theo Lênin, hạt nhân củaphép biện chứng là quy luật mâu thuẫn, cho nên trong thực tiễn chúng ta cần tìm
ra những mâu thuẫn trong hiện thực khách quan, phân tích cụ thể những mâuthuẫn đó và tìm biện pháp giải quyết những mâu thuẫn
Trong cách trình bày của mình, Lênin nhấn mạnh đến phép biện chứngnhư học thuyết về sự phát triển Cách trình bày ấy của Lênin mở ra khả năngphân tích các nguyên lý, các quy luật, các cặp phạm trù của phép biện chứngkhông theo những khuôn mẫu định sẵn và máy móc, mà theo bối cảnh, theo đòihỏi của mục đích nghiên cứu, đi sâu vào thực chất phép biện chứng Ông đã đưa
Trang 37những quan điểm đầy đủ, sâu sắc và những luận chứng sắc bén nhằm phát triểnphép biện chứng duy vật lên một tầm cao mới Toàn bộ quan điểm của Lênin vềphép biện chứng duy vật thực sự là vũ khí sắc bén của nhận thức khoa học vàcủa công cuộc cải tạo thế giới.
Có thể nói, sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử, phù hợp vớitiền đề kinh tế - xã hội cũng như các tiền đề về lí luận khoa học tự nhiên, đồngthời tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết họccủa nhân loại
Với đỉnh cao là phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác không chỉ phêphán một cách sâu sắc phương pháp tư duy siêu hình, khắc phục những thiếu sótcủa chủ nghĩa duy vật trước đó, mà còn phát triển phép biện chứng lên một trình
độ cao hơn Trong triết học Mác - Lênin, các quan điểm duy vật biện chứng về
tự nhiên và xã hội, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biệnchứng gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau thành một hệ thống lý luận thống nhất.Những giá trị mà triết học Mác - Lênin để lại cho tới tận ngày hôm nay khôngthể thiếu phương pháp biện chứng Tuy nhiên, tính duy vật biện chứng triệt đểtrong triết học Mác - Lênin không phải là một đặc trưng được hình thành ngay từbuổi đầu ra đời, nó là một quá trình mang tính kế thừa, bổ sung và khắc phụcnhững sai lầm của các quan điểm biện chứng trước đó Phép biện chứng đượcMác, Ăngghen cải tạo trên cơ sở phê phán có kế thừa phép biện chứng duy tâmcủa Hêghen, bổ sung và phát triển nó đã trở thành phương pháp luận chủ đạo, chiphối toàn bộ hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới
Như vậy, triết học Mác - Lênin đã khẳng định, tất cả các sự vật, hiệntượng tồn tại trong hiện thực khách quan đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn, sựhình thành và phát triển mâu thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sựvật, hiện tượng quy định Mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan, không phụthuộc vào bất kì một lực lượng siêu nhiên nào, kể cả ý chí con người Sự tồn tạicủa sự vật gắn liền với nó là một thể thống nhất gồm hai mặt đối lập, chúng vừa
Trang 38thống nhất vừa đấu tranh với nhau Vì vậy, quy luật mâu thuẫn (quy luật thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập) là hạt nhân của phép biện chứng
1.3 Vấn đề phân loại mâu thuẫn và ý nghĩa của nó trong hoạt động thực tiễn
Có thể khẳng định rằng, phép biện chứng là khoa học nghiên cứu nhữngquy luật chung nhất của mọi sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội vàcủa tư duy Vì vậy, nghiên cứu mâu thuẫn của các sự vật và hiện tượng là chìakhóa để chúng ta tìm ra nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Triết học Mác Lênin cho rằng, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa cácmặt đối lập là quy luật cơ bản chỉ ra nguồn gốc và động lực của sự phát triển.Quy luật đó dù ở trong giới tự nhiên, trong xã hội loài người hay trong tư tưởngcon người thì nó đều có tính phổ biến Các mặt đối lập của mâu thuẫn vừa thốngnhất, vừa đấu tranh, do đó chúng không ngừng thúc đẩy sự vận động và biến đổicủa sự vật Sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vô cùng đa dạng vàphong phú nên mâu thuẫn trong hiện thực cũng rất phong phú và đa dạng Mâuthuẫn cũng tồn tại khách quan và phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau thì cấu thành bên trong cũng là nhữngmâu thuẫn khác nhau, vì vậy trong quá trình giải quyết mâu thuẫn phải có nhữnghình thức và biện pháp giải quyết mâu thuẫn khác nhau Bất cứ một sự vật cụ thểnào cũng vậy; sự thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, là bước quá độtương đối, còn đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối Mâu thuẫn là quyluật phổ biến của vũ trụ nên khắc phục được những mâu thuẫn trong sự vật hiệntượng, tức là thúc đẩy được sự vật, hiện tượng đó phát triển hơn một bước Nhậnthức được mâu thuẫn là vấn đề khó nhưng cái khó hơn đó là việc phát hiện, phânloại, phân tích mâu thuẫn, từ đó lựa chọn phương pháp giải quyết mâu thuẫn saocho có hiệu quả nhất mới là điều cốt lõi
Dựa vào hiện thực khách quan người ta có thể phân thành một số loại mâuthuẫn như sau: Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ
Trang 39yếu và mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; mâuthuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng…
Trong sự vận động và phát triển của xã hội, xét về vị trí của mâu thuẫn, cóthể chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; mâuthuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn tất yếu, gắnliền với bản chất của sự vật, hiện tượng Nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tạicủa sự vật, hiện tượng, là cơ sở nảy sinh và quyết định các mâu thuẫn không cơbản khác Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì các mâu thuẫn khác cũng sẽthay đổi Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn về một phương diện nào đó của
sự vật, nó không quyết định sự vận động, phát triển của toàn bộ sự vật, hiệntượng, mâu thuẫn này nảy sinh hay được giải quyết về cơ bản không làm thayđổi về chất của sự vật Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hay nhiều mâuthuẫn khác nhau Cùng một sự vật, hiện tượng, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫnkhông cơ bản tồn tại gắn liền với nhau Mâu thuẫn không cơ bản chịu sự chi phốicủa mâu thuẫn cơ bản
Như vậy, trong nhận thức cần phải xác định đúng mâu thuẫn cơ bản, thì
mới hiểu đúng được bản chất của sự vật Trong thực tiễn xã hội, có xác định
đúng mâu thuẫn cơ bản, thì mới xác định được đường lối chiến lược của cách mạng một cách đúng đắn, khoa học.
Cùng một giai đoạn, một quá trình của sự vật, hiện tượng, mâu thuẫn chủyếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu, nó quyết định đến các mâu thuẫn khác Xácđịnh mâu thuẫn chủ yếu là cơ sở để xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt cầntập trung giải quyết, đồng thời sẽ tạo điều kiện giải quyết những mâu thuẫnkhông chủ yếu (mâu thuẫn thứ yếu) Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn khôngđóng vai trò quyết định đối với quá trình phát triển của sự vật
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau.Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định: Mâu thuẫn cơ bản là loạimâu thuẫn quy định bản chất của chế độ xã hội trong toàn bộ quá trình tồn
Trang 40tại của nó Mâu thuẫn chủ yếu là hình thức biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản,
là những mâu thuẫn nổi bật nhất ở một giai đoạn phát triển nhất định của xãhội Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ góp phần từng bước giải quyết mâuthuẫn cơ bản
Như vậy, xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu hay mâu thuẫn cơ bản trongtừng sự vật, hiện tượng của đời sống xã hội sẽ giúp ta không chỉ nắm được bảnchất của sự vật mà còn giúp ta tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm thúc đẩy sựphát triển của sự vật, hiện tượng
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với sự vật, người ta chia mâuthuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên trongcủa sự vật là mâu thuẫn mà cả hai mặt đối lập đều nằm trong chính bản thân sựvật đó Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.Song, không nên hiểu mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn của toàn bộ sự vật đóvới sự vật khác, mà chỉ là mâu thuẫn giữa một mặt của sự vật đó với một mặtcủa sự vật khác Ranh giới phân biệt mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bênngoài chỉ có tính tương đối Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếpđối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng; mâu thuẫn bên ngoài nếumuốn phát huy vai trò khách quan cho sự vận động của sự vật hiện tượng thì nóphải thông qua mâu thuẫn bên trong
Trong xã hội, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn đối kháng vàmâu thuẫn không đối kháng Mâu thuẫn đối kháng là hình thức mâu thuẫn xuấthiện trong xã hội có giai cấp bóc lột, do đối lập nhau về lợi ích giữa các giai cấp,tập đoàn và các lực lượng không thể khoan dung được, tất yếu dẫn đến các xungđột và chúng đấu tranh gay gắt với nhau Mâu thuẫn không đối kháng là nhữngmâu thuẫn mà giữa các giai cấp, lực lượng không đối địch nhau và về căn bản là
có cùng chung lợi ích Như vậy, dù là loại mâu thuẫn nào đi nữa thì việc giảiquyết mâu thuẫn cũng phải bằng con đường đấu tranh chứ không phải bằng con