Đậu bắp là một loại rau ăn quả, thân thảo, có thời gian sinh trưởng ngắn,chúng được trồng phổ biến tại miền Nam Việt Nam, thích nghi vùng nhiệt đới nóng ẩm, có thể trồng được quanh năm,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC
Mã số: 60 42 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN BÁ LỘC
Huế, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trungthực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng đượccông bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Phạm Thị Mỹ Hương
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS TS.Nguyễn Bá Lộc – Giảng viên trường ĐHSP Huế đã tận tình hướngdẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy, Quý cô tham gia giảng dạy,phòng thí nghiệm khoa Sinh, Phòng Đào tạo sau Đại học trườngĐHSP Huế đã động viên hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quýbáu cho luận văn
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh chị học viên cao họcThực vật K20, trường ĐHSP Huế, bạn bè và người thân trong giađình đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Huế, tháng 09, năm 2013
Tác giảPhạm Thị Mỹ Hương
iii
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC 1
PHẦN I MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu của đề tài 8
3 Đối tượng nghiên cứu và đơn vị phân loại 8
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
PHẦN II NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Đặc điểm thực vật học của đậu bắp 9
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố 9
1.1.2 Yêu cầu về điều kiện sinh trưởng và phát triển 11
1.1.3 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch đậu bắp 11
1.1.4 Giá trị cây đậu bắp 13
1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu bắp ở Việt Nam và thế giới 15
1.2.1 Tình hình sản xuất đậu bắp trên thế giới 15
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu bắp trên thế giới 16
1.2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu bắp ở Việt Nam 20
1.2.4 Tình hình nghiên cứu đậu bắp ở Việt Nam 21
1.3 Vài nét về chất điều hòa sinh trưởng Auxin 23
1.3.1 Khái niệm và phân loại chất điều hòa sinh trưởng 23
1.3.2 Sơ lược về chất điều hòa sinh trưởng Auxin 24
1.4.Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trong nước,trên thế giới, 29
1.4.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trên thế giới 29
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin ở Việt Nam 30
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Hương Vinh, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 31
Trang 51.5.1 Vị trí địa lý 31
1.5.2 Diện tích tự nhiên 31
1.5.3 Đặc điểm địa hình, khí hậu 32
1.5.3.1 Địa hình 32
1.5.3.2 Khí hậu 32
1.5.3.3 Thủy văn 33
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của hai giống đậu bắp 34
2.2.2 Xác định ảnh hưởng của AIA đến hai giống đậu bắp 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin 35
2.3.2 Phương pháp xử lí hạt giống và bố trí thí nghiệm 35
2.4 Quy trình kỹ thuật 36
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
2.6 Phương pháp xử lý dữ liệu 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIỐNG ĐẬU BẮP F1 TN81 VÀ F1 TN85 39
3.1.1 Một số đặc điểm sinh học của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 39
3.1.1.1 Một số đặc điểm về hình thái của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 39 3.1.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 40
3.1.2 Một số đặc điểm về năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 41
3.1.3 Một số đặc điểm về phẩm chất của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 42
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA AIA ĐẾN ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIỐNG ĐẬU BẮP F1 TN81 VÀ F1 TN85 43
Trang 63.2.1 Ảnh hưởng của AIA đến sự sinh trưởng và phát triển của giống đậu bắp
F1 TN81 và F1 TN85 43
3.2.1.1 Ảnh hưởng của AIA đến tỷ lệ nảy mầm của hạt đậu bắp 43
3.2.1.2 Ảnh hưởng của AIA đến chiều cao của cây 45
3.2.1.3 Ảnh hưởng của AIA đến số lá trên cây 47
3.2.1.4 Ảnh hưởng của AIA đến diện tích lá 49
3.2.1.5 Ảnh hưởng của AIA đến thời gian ra hoa và số hoa trên cây 51
3.2.1.6 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng tươi của cây 53
3.2.1.7 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng khô của cây 55
3.2.1.8 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng tươi và khối lượng khô của quả đậu bắp 58
3.2.2 Ảnh hưởng của AIA đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất 59
3.2.2.1 Ảnh hưởng của AIA đến số lượng quả và khối lượng 100 quả 59
3.2.2.2 Ảnh hưởng của AIA đến kích thước quả 62
3.2.2.3 Ảnh hưởng của AIA đến năng suất quả tươi 63
3.2.3 Ảnh hưởng của AIA đến phẩm chất của giống đậu bắp F1TN81 và F1TN85 65
3.2.3.1 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng chất khô của quả 65
3.2.3.2 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng protein của quả 67
3.2.4 Hiệu quả kinh tế 68
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
I.KẾT LUẬN 70
1.1 Các đặc điểm của hai giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 70
1.2 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng AIA 70
II KIẾN NGHỊ 70
PHẦN IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a, b, c, d : Phân nhóm khi xử lý Statistix 9.0
AIA : Acid indo acetic
CT1 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 5ppm
CT2 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 10ppm
CT3 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 15ppm
CV% : Hệ số biến động các chỉ tiêu nghiên cứu
Lsd 0,05 : Độ chênh lệch nhỏ nhất có ý nghĩa khi so sánh ở xác suất 95%
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được 14
Bảng 1.2 Sản lượng, diện tích và năng suất đậu bắp của các nước trên thế giới năm 2008 – 2009 16
Bảng 1.3 Phân loại các chất điều hòa sinh trưởng 24
Bảng 3.1 Một số đặc điểm sinh học và hình thái của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 40
Bảng 3.2 Một số đặc điểm về năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 41
Bảng 3.3 Một số đặc điểm về phẩm chất của giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 42
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của AIA đến tỷ lệ nảy mầm 43
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của AIA đến chiều cao của cây(cm) 45
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của AIA đến số lá trên cây (lá/cây) 47
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của AIA đến diện tích lá trên cây(cm2) 49
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của AIA đến thời gian ra hoa(ngày) 51
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của AIA đến số hoa trên cây(hoa/cây) 52
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng tươi của cây (g/cây) 54
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng khô của cây đậu bắp (g/cây) 56
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng tươi và khối lượng khô của quả đậu bắp (g/cây) 58
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của AIA đến số lượng (quả/cây) 59
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng 100 quả(g) 61
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của AIA đến kích thước quả(cm) 62
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của AIA đến năng suất quả tươi ( kg/m2) 64
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng chất khô của quả (%) 66
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng protein của quả (mg/g khối lượng tươi) 67
Bảng 3.19 Hiệu quả kinh tế của hai giống đậu bắp (đồng/m2) 69
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Phương trình 2.1 Phương trình đường chuẩn Protein 38
Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của AIA đến tỷ lệ nảy mầm 44
Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của AIA đến số hoa trên cây(hoa/cây) 53
Biêu đồ 3.3 Ảnh hưởng của AIA đến số lượng (quả/cây) 60
Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng 100 quả(g) 61
Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng protein của quả 68
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người xưa có câu” Cơm không có rau như đau không có thuốc “ Đúng vậy,rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi conngười Nó đóng vai trò như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéodài tuổi thọ Hơn nữa, nhiều năm qua các nhà khoa học trong nước và trên thế giới
đã nghiên cứu và phát hiện ra những khả năng kì diệu của một số loài rau trongphòng ngừa, chữa bệnh nan y Trong số đó phải kể đến đậu bắp, một trong số cácloại rau ăn quả dễ trồng, và trồng nhiều ở vùng nông thôn
Đậu bắp là một loại rau ăn quả, thân thảo, có thời gian sinh trưởng ngắn,chúng được trồng phổ biến tại miền Nam Việt Nam, thích nghi vùng nhiệt đới nóng
ẩm, có thể trồng được quanh năm, tùy theo vùng chúng ta bố trí mùa vụ thích hợp
để cây sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh Đậu bắp được trồng quanh năm từNam chí Bắc, là loại rau ăn quả dễ chế biến và rất dễ ăn, là thức ăn bổ dưỡng đốivới tất cả mọi lứa tuổi Nông dân ta coi nó là “ thức ăn cực nhanh ”, “ thức ăn đanăng” và rất thông dụng trong các món nướng, món canh chua, món lẩu Đặc biệt,trong các bếp ăn của người nghèo, người ăn chay, người già là món ăn dễ thấy.Nông dân ai cũng trồng nếu ít để ăn, nhiều để bán Nhưng chắc có lẻ, ít ai biết nhiều
về giá trị của loại rau này, có chăng là biết chung chung, một món ăn vừa ngon, lạivừa rẻ [1]
Thừa Thiên Huế -NAA vùng đất nổi tiếng về ẩm thực với sự kết hợp nhuầnnhuyễn các loại rau xanh, nơi có mức tiêu thu rau xanh khá lớn Tuy vậy việc trồngcũng như sử dụng đậu bắp còn nhiều hạn chế trong đó có những yếu tố khách quan
và chủ quan Về khách quan, đây là vùng đất chịu nhiều thiệt thòi về phát triển nôngnghiệp với một nền khí hậu khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều Về chủ quan, do thịhiếu người tiêu dùng chưa xem đậu bắp như một loại rau xanh hàng ngày nên việcsản xuất còn hạn chế Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và cơ sở lí luận chúng tôi chọn
đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của AIA đến giống đậu bắp F1TN 85 và F1TN 81 trồng ở Xã Hương Vinh, Thị Xã Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Huế”
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của AIA đến giốngđậu bắp F1TN 85 và F1TN 81 trồng ở Xã Hương Vinh, Thị Xã Hương Trà, TỉnhThừa Thiên Huế nhằm góp phần bổ sung vào quy trình trồng cây đậu bắp cho năngsuất cao
2.2 Mục tiêu cụ thể
-NAA Xác định đặc điểm sinh học của giống đậu bắp F1TN 85 và F1TN 81.-NAA Xác định ảnh hưởng AIA đến giống đậu bắp F1TN 85 và F1TN 81
3 Đối tượng nghiên cứu và đơn vị phân loại
3.1 Đối tượng nghiên cứu
-NAA Giống đậu bắp F1TN81
-NAA Giống đậu bắp F1TN85
3.2 Đơn vị phân loại
Tên khoa học : Abelmoschus esculentus (L.) Moench
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm thực vật học của đậu bắp
ở Ethiopia và Tây Phi Hibiscus esculentus L , loài này được biết là có nguồn gốc từ
vùng cao nguyên Ethiopia, mặc dù sự bắt nguồn và phát nguyên ở đây là không cótài liệu nào ghi chép cả Người Ai Cập và người Moor trong thế kỷ 12 và 13 sửdụng tên gọi trong tiếng Ả Rập để chỉ loài cây này, chỉ ra rằng nó đến từ phía Đông.Loài thực vật này vì thế có thể đã được đem xuyên qua Hồng Hải bằng con đườngqua eo biển Bab-NAAel-NAAMandeb để tới bán đảo Ả Rập Một trong những ghi chép sớmnhất là của Ibn Jubayr (1145-NAA1217) -NAA một người Moor Tây Ban Nha, người đã tới AiCập vào năm 1216 và miêu tả loài cây này được dân cư địa phương gieo trồng và sửdụng các quả non trong các bữa ăn [43]
Từ bán đảo Ả Rập, loài cây này đã được đưa phổ biến tới các vùng ven ĐịaTrung Hải và về phía đông Việc thiếu từ để chỉ đậu bắp trong các ngôn ngữ cổ ở
Ấn Độ cho thấy rằng nó chỉ xuất hiện ở đây kể từ khi bắt đầu Công Nguyên Nóđược đưa tới châu Mỹ bằng các tàu chuyên chở buôn bán nô lệ xuyên Đại TâyDương vào khoảng những năm thập niên 1650, do đó vào năm 1658 sự hiện diệncủa nó tại Brasil đã được ghi nhận Nó được ghi chép là có tại Surinam năm 1686,
có lẽ được đưa vào đông nam Bắc Mỹ đầu thế kỷ 18 và dần dần được trồng phổbiến tại đây Nó được trồng ở phía bắc Philadelphia vào năm 1748, trong khiThomas Jefferson ghi chép rằng nó chắc chắn có mặt tại Virginia vào năm 1781.Tại miền nam Hoa Kỳ đậu bắp được trồng phổ biến vào khoảng năm 1800 và lầnđầu tiên được nhắc tới với các giống cây trồng khác nhau vào năm 1806 [43]
* Phân bố trên thế giới
Đậu bắp được trồng ở nhiều nơi, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới và một bộ phậncác nước cận nhiệt đới (Arapitsas 2007, Saifullah và Rabbani 2009) và các vùng ôn
Trang 13đới ấm áp trên thế giới Cây trồng này có thể phát triển trên một trang trại lớn hoặcmột khu vườn cây trồng (Rubatzky và Yamaguchi 1997) Theo Charrier năm 1984
loài Abelmoschus trong thế giới bao gồm bảy loài khác nhau như A moschatus, A.
manihot, A esculentus, A.tuberculatus, A ficulneus, A crinitus và A.angulosus Các
loài A moschatus phân phối tại Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Indonesia, Papua New Guinea, Úc, Trung và Tây Châu Phi Các loài A manihot không những trồng phổ
biến ở khu vực Đông Á, mà còn trong tiểu lục địa Ấn Độ và Bắc Úc Một số ít được
tìm thấy ở Mỹ và nhiệt đới Châu Phi (Chevalier 1940) Các loài A tetraphyllus bao
gồm hai hình thức tự nhiên được phân biệt bởi sự thích nghi ở các vùng sinh thái
khác nhau Đầu tiên, var tetraphyllus, đạt mức tăng trưởng thấp độ cao từ 0 đến
400 m ở các vùng với một mùa khô rõ rệt của Indonesia, Philippines, Papua New
Guinea và New Ireland Thứ hai, var punens, mọc ở độ cao từ 400 đến 1600m ở Philippines và Indonesia (Sở Công nghệ sinh học năm 2009) Các loài A esculentus
được trồng như một loại rau ở vùng nhiệt đới và nhất vùng cận nhiệt đới của châuPhi như Ghana, Guinea, Bờ Biển Ngà, Liberia và Nigeria Các loài hoang
dã A tuberculatus, liên quan đến A esculentus, là loài đặc hữu nằm ở độ cao trung bình khu vực đồi núi ở Ấn Độ (IBPGR 1991) Loài A ficulneus được tìm thấy trong
một vùng rộng lớn khu vực trải dài từ châu Phi sang châu Á và Úc Nó xuất hiệntrong khu vực nhiệt đới ở độ cao trung bình với mùa khô kéo dài, tức là vùng samạc Sahel Châu Phi (Theo Niger), Madagascar, Đông Phi, Ấn Độ, Indonesia,
Malaysia và Bắc Úc (Lamont 1999) Hai loài hoang dã A crinitus và
A.angulosus duy nhất chỉ có nguồn gốc ở Châu Á Chúng được phân biệt bởi sự
thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau, A crinitus phát triển ở độ cao trung bình
trong khu vực với mùa khô rõ rệt, là (Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Philippines),
A angulosus phát triển ở độ cao từ 750 và 2000 m ở Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka và
Indonesia (Charrier năm 1984, IBPGR 1991) [35]
* Phân bố ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây đậu bắp được trồng trong khắp cả nước từ vùng đồng bằngcho đến vùng núi để lấy quả làm rau Đặc biệt ở Nam Bộ, nơi có điều kiện tự nhiênphù hợp cho loài cây này phát triển, được trồng phổ biến ở mọi gia đình nông thôn,người miền Bắc ít biết ăn do đậu bắp có chất nhờn [4], [43]
Trang 141.1.2 Yêu cầu về điều kiện sinh trưởng và phát triển
- Nhiệt độ
Cây đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp với nhiệt độ từ 25-NAA 300C, trongkhoảng nhiệt độ này nếu nhiệt độ càng cao thì cây sinh trưởng và phát triển càngnhanh Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây Đậu bắp là câyphản ứng với độ dài ngày, mức độ mẫn cảm này phụ thuộc vào giống [1], [20]
- Nước
Khả năng chịu hạn của đậu bắp tương đối khá, tuy vậy vào mùa khô nên cầntưới nước Sử dụng nguồn nước tưới sạch (nước giếng, nước sông) Tuyệt đốikhông được sử dụng nguồn nước thải bị ô nhiễm, nước thải từ bệnh viện Cầnthường xuyên giữ độ ẩm đất 80 -NAA 85% trong suốt quá trình thu hái quả [39]
- Đất
Chọn loại đất pha cát, đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, pH từ 5,5 -NAA 6,8 Đấtphải bằng phẳng dễ tưới, dễ tiêu nước Đất cày bừa kĩ, làm sạch cỏ trước khi gieo.Lên luống 1,4 – 1,5 m, mặt luống rộng 1,1 – 1,2 m, chiều cao luống từ 20 -NAA 25 cm
- Dinh dưỡng
Nhu cầu dinh dưỡng của cây đậu bắp gồm các nguyên tố đa lượng: N, P, K,
Ca, Mg, S, và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, Mo, Cl Tùy theo từng thời
kì sinh trưởng khác nhau mà đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng khác nhau
1.1.3 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch đậu bắp
* Thời vụ [1], [41]
Trồng quanh năm, có hai vụ chính
-NAA Vụ Xuân: Gieo từ cuối tháng 2 đến tháng 3, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng
9 Nếu gieo muộn, cây sớm ra hoa, nhưng năng suất giảm dần
-NAA Vụ Thu -NAA Đông: Gieo từ cuối tháng 7 đến tháng 8, thu hoạch quả từ tháng 9đến tháng 1, đầu tháng 2
* Mật độ, khoảng cách trồng [20].
-NAA Hàng đơn: Hàng cách hàng 70-NAA80 cm, cây cách cây 40-NAA50 cm, một hốctrồng 2 cây, chiều rộng của mỗi hàng 40-NAA50 cm, chiều cao của liếp 25-NAA30 cm Trungbình số lượng hạt giống cần cho 1000 m2 đất sản xuất khoảng 250 – 300 g
Trang 15-NAA Hàng đôi: Hàng cách hàng 50-NAA60 cm, cây cách cây 40-NAA50 cm, một hốc trồng 2cây, liếp cách liếp 100 cm, chiều rộng của liếp 100 cm, chiều cao của liếp 25-NAA30 cm.Trung bình số lượng hạt giống cần cho 1000 m2 đất sản xuất khoảng 250 – 300 g.
* Phân bón [20].
Trước khi bón lót: Rãi đều thuốc trừ sâu Basudin hạt lên mặt liếp với liều
lượng 30kg/ha
Bón lót: Phân chuồng 15-NAA20 tấn/ha, có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc
phân rác chế biến thay thế cho phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng
Bón thúc lần 1: Sau trồng 7-NAA10 ngày, liều lượng: 15-NAA20 kg Urea/ha Cách
dùng: bón xung quanh, cách gốc 10 cm hoặc pha loãng tưới
Bón thúc lần 2: Sau khi trồng 25 ngày, liều lượng: 50-NAA100 kg NPK/ha.
Cách dùng: rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm
Bón thúc lần 3: Sau bón thúc lần hai 15 ngày, liều lượng: 100-NAA150 kg NPK/
ha Cách dùng: rãi phân giữa hai hàng, cách gốc 20 cm
Bón thúc lần 4: Sau bón thúc lần ba 15 ngày, liều lượng: 50-NAA100 kg NPK/ha.
Cách dùng: Rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm
Ngoài biện pháp bón vào đất có thể phun qua lá bằng các dung dịch dinhdưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng… Có thể phun qua lá các loại phân nhưMulti-NAAK (dùng loại này thì giảm 30-NAA 50% lượng phân kali bón thúc) kết hợp với K-NAA
H hoặc Atonic khoảng 5-NAA 7 ngày/lần sẽ kích thích cây sai quả, năng suất tăng, và chỉđược tiến hành thu hoạch trái sau khi bón phân ít nhất 7-NAA10 ngày
* Chăm sóc [39].
Khi cây có 2-NAA 3 lá thật làm cỏ, xới nông, vun nhẹ vào gốc Khi cây đậu bắpcao được khoảng 20cm thì xới sâu trên mặt liếp, nhặt cỏ và vun đất đấp vào gốc chocây đậu bắp phát triển tốt, hạn chế đỗ ngã Đậu bắp rất cần nước Tuy nhiên, đấtphải không bị ngập úng, vào mùa khô mỗi ngày tưới từ 1-NAA2 lần tuỳ thuộc vào độ giữ
ẩm của đất và thời tiết lúc trồng Trong kỹ thuật hiện nay chúng ta sử dụng màngphủ nông nghiệp để giảm sự mất nước và tưới bằng phương pháp thấm nhằm giảmchi phí tưới tiêu
Trang 16* Phòng trừ sâu bệnh [1], [22].
- Sâu hại:
Sâu đục quả (Maruca testulalis): Phải phòng trừ sớm khi sâu chưa đục vàoquả hoặc mới chớm đục vào quả, sử dụng các thuốc Sherpa 20 EC, Cyperan 2,5 EC,Sumicidin 10 EC
Rệp (Aphis sp.): Phòng trừ bằng thuốc Karate 2,5 EC hoặc Sherpa 20 EC.Ngoài ra chúng ta cũng nên chú trọng phòng trị một số loại sâu hại khác trong quátrình sản xuất
-NAA Bệnh hại:
Bệnh thán thư (Colletotrichum sp.): Phòng trừ bằng các loại thuốc Benlat 70
WP, Score 250 EC, Ridomil M72 WP, Derosal 50 SC
Bệnh gỉ sắt (Ugomyces sp.): Phòng trừ bằng thuốc Anvil 5 SC, Rovral 50
WP, Score 250 EC
* Thu hoạch [1].
Khi trái đã đạt độ lớn về đường kính và chiều dài thì bắt đầu thu hoạch (tức
là chiều dài từ 10 -NAA 15cm, đường kính không quá 2 cm) Do khả năng phát triển củatrái rất nhanh nên tốt nhất là thu hoạch trái 1 lần/ngày Sau khi thu hoạch trái đượckhoảng 5-NAA7 ngày thì tiến hành tỉa lá gốc với mục đích tạo sự thông thoáng tán câynhằm tránh sâu bệnh phát triển
* Bảo quản [1].
Sau khi thu hoạch cần xếp nhẹ nhàng các trái đậu bắp vào giỏ tránh sây sát,
để nơi thoáng mát, dùng lá cây hoặc giấy báo che trên bề mặt giỏ, không để ởnhững nơi có nhiều nắng, gió nhằm hạn chế sự mất nước của trái, sau đó vậnchuyển đến nơi tiêu thụ
1.1.4 Giá trị cây đậu bắp
Đậu bắp có chứa protein, carbohydrate và vitamin C (Lamont 1999,Owolarafe và Shotonde 2004, Gopalan và cs 2007, Arapitsas 2008, Dilruba và cs2009), và đóng một vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống của con người (Kahlon
và cs 2007, Saifullah và Rabbani 2009) Theo số liệu phân tích của Bộ Nông Nghiệp
Mỹ (USDA) thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được tóm tắt ở bảng 1.1 [25]
Trang 17Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được
Thành phần Giá trị dinh dưỡng Tỷ lệ phần trăm của RDA
Nguồn: Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng của USDA
Bên cạnh đó, carbohydrates là chủ yếu có mặt trong chất nhầy của quả đậubắp (Liu và cs 2005, Kumar và cs 2009) Quả non bao gồm chuỗi phân tử với trọnglượng phân tử khoảng 170.000 gồm các đơn vị đường và amino axit Thành phầnchính là galactose (25%)
Trang 18Vỏ quả tươi của đậu bắp là nguồn cung cấp folate Tiêu thụ loại thực phẩm giàufolate, đặc biệt là trong giai đoạn tiền thụ thai sẽ giúp giảm nguy cơ mắc các khuyết tậtống thần kinh cho thai nhi.
Chất nhầy của quả đậu bắp có tính chất dược liệu nó như là một chất làmmềm, nhuận tràng và đờm (Muresan và Popescu, 1993) Chất nhầy và chất xơ trongđậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết bằng cách điều hòa sự hấp thu củachúng từ ruột non [35]
Đậu bắp được cho là rất hữu ích đối với các rối loạn sinh dục -NAA tiết niệu, tinhsào và bệnh lị mãn tính (Nadkarni, 1927) Giá trị chữa bệnh của nó cũng đã đượcbáo cáo trong chữa trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đườngtiêu hóa, và bệnh trĩ (Adams, 1975) [11]
Hơn nữa, quả tươi ăn được có thể được sử dụng để chiết xuất chất béo đểdùng làm brownies (Boelje và Eidman, 1984)
Đậu bắp có thể được chế biến dưới các hình thức khác nhau (Ndunguru vàRajabu 2004) Quả có thể được luộc, chiên hoặc nấu chín (Akintoye et al 2011) [11]
1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu bắp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất đậu bắp trên thế giới [35]
Sản xuất đậu bắp được ước tính ở mức 6 triệu tấn mỗi năm trên thế giới(Burkil 1997) Tổng diện tích trồng đậu bắp đã tăng lên trong những năm qua Trong1991-NAA1992, tổng diện tích trồng đậu bắp là 220.000 ha và sản lượng đạt 1,88 triệu tấn,trong khi năm 2006-NAA2007 tăng đến 396.000 ha và sản lượng đạt 4,07 triệu tấn Tronggiai đoạn 2009-NAA2010 diện tích sản xuất đã đạt 430.000 ha và sản lượng đạt 4,54 triệutấn Ấn Độ là quốc gia lớn sản xuất đậu bắp, đứng đầu trên thế giới chiếm 67,1%tổng sản lượng đậu bắp trên toàn thế giới, tiếp theo Nigeria 15,4% và Sudan 9,3%(Varmudy 2011) Tại Ghana, đó là thực vật thứ tư phổ biến nhất sau cà chua, hạt tiêu,
và trứng vườn (Sinnadurai, 1973 và Lamont Jr, 1999)
Ở Thái Lan đậu bắp là cây trồng phổ biến được trồng tại hầu hết các vùngcủa đất nước Năm 2003, Thái Lan xuất khẩu một số lượng 3664 tấn quả đậu bắptươi và đông lạnh với thu nhập khoảng 8 triệu đô la Mỹ (Green Okara, 2004)
Ở Malaysia xuất khẩu khoảng 4500 tấn / năm (FAO 1998)
Trang 19Nhập khẩu đậu bắp tươi hoặc ướp lạnh sang Mỹ đang phát triển nhanh chóng về
số lượng, trong khi nhập khẩu thêm đậu bắp được chế biến vẫn còn tương đối thấp
Theo số liệu thống kê năm 2008 -NAA 2009 sản lượng, diện tích trồng và năngsuất đậu bắp của các nước trên thế giới được tóm tắt ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Sản lượng, diện tích và năng suất đậu bắp của các nước trên thế giới
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu bắp trên thế giới
-NAA Chutichudet Benjawan, Chutichudet, P và Chanaboon, T (2007) nghiên cứu
“ Ảnh hưởng của hoá chất Paclobutrazol đến tăng trưởng, năng suất và chất lượng
của đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) Har Lium cây trồng ở vùng Đông Bắc Thái Lan “ Thí nghiệm nhằm mục đích tìm kiếm thêm thông tin về ảnh hưởng ở mức độ
khác nhau của hóa chất Paclobutrazol (PBZ) ứng dụng trên tăng trưởng, năng suất vàchất lượng ăn được của quả đậu bắp Bố trí khối ngẫu nhiên với bốn lần lập lại được
sử dụng cho các thí nghiệm Các thí nghiệm bao gồm năm công thức xử lý khác nhautheo thứ tự tăng dần nồng độ PBZ, ví dụ 0 ppm/ha (T 1), 4000 ppm/ha (T 2), 8000 ppm/
ha (T 3), 12.000 ppm/ha (T 4) và 16.000 ppm/ha (T 5) hóa chất PBZ Kết quả cho thấyPBZ có tác động tích cực lên cây đậu bắp thể hiện: chiều cao cây có giảm có thể hạnchế đỗ ngã, diện tích lá giảm, chiều dài quả, khối lượng quả tươi và năng suất quảtươi /ha đều tăng PBZ không có ảnh hưởng đáng kể đến đường kính thân cây vàđường kính quả của cây đậu bắp Tổng số chất rắn hòa tan, hàm lượng chất xơ, axit
Trang 20chuẩn độ, vitamin C và hàm lượng pectin trong vỏ không bị ảnh hưởng bởi sử dụngchất hóa học PBZ Năng suất tăng cao với sự gia tăng tỷ lệ sử dụng PBZ Công thức
có nồng độ xử lý 16000 ppm đạt giá trị cao nhất [28]
-NAA Acta Bot, Croatia ( 2006) nghiên cứu” Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh
trưởng thực vật lên chất lượng của loại xơ libe sợi trong Abelmoschus esculentus (Linn.) Moench” Một chất xơ hữu ích có thể được tách ra từ thân cây
đậu bắp, nó có thể được se thành sợi và được sử dụng làm dây bện Các chất xơ cóthể được quay trên máy, được sử dụng trong một hỗn hợp 85% với 15% đay, thíchhợp cho sản xuất giấy và cactong ( Anonymous US1985) Người ta tiến hành kếthợp sử dụng các nồng độ khác nhau của điều hòa sinh trưởng thực vật (PGRs) NAA
và GA để phun lên lá Chất xơ được sử dụng trong hỗn hợp với đay đã được ghinhận Công trình này làm nổi bật hiệu ứng sử dụng chất điều hòa sinh trưởng nhưgibberelic acid (GA) và acid acetic naphthalene (NAA) về chất lượng của các loại
xơ libe trong A esculentus Chất lượng xơ đạt giá trị tốt nhất khi sử dụng kết hợp
nồng độ GA100 mg/ml + NAA50 mg/ml Nghiên cứu ngâm sợi cho thấy sự gia tăngchiều dài sợi và độ mảnh cũng cao Tỷ lệ Runkel cho sợi xử lý phù hợp cho ngànhcông nghiệp dệt may Xem xét các tiêu chí trên, GA100 + NAA 50 mg/ml mang lạithuận lợi thay đổi để cải thiện chất lượng của sợi Nghiên cứu này rất có ý nghĩatrong việc thúc đẩy khai thác một nguồn chất xơ libe thông thường để sử dụng trongngành công nghiệp dệt may [24]
-NAA Olasantan, FO (1988) nghiên cứu “ Ảnh hưởng của việc loại bỏ lá lên sự
tăng trưởng và năng suất của đậu bắp (Abelmoschus esculentus) ” Việc xác định
các giai đoạn tấn công của sâu hại ở từng giai đoạn phát triển của cây có vai tròquan trọng trong phòng chống và kiểm soát sâu bệnh Các phương pháp bao gồmloại bỏ các lá ở 4 tuần sau khi gieo (WS) là giai đoạn đầu ra lá, 6WAS (ở giai đoạnvừa chớm nở hoa) và 8 WS (ở giai đoạn đậu quả sớm), kiểm soát (không loại bỏ lá),loại bỏ một phần tư (D 25), một nửa (D 50), ba phần tư (D 75) hoặc loại bỏ hoàn toàn(D 100) của tất cả các lá Kết quả việc loại bỏ lên đến một phần tư của mỗi lá khôngảnh hưởng đến năng suất quả đáng kể nhưng năng suất đã giảm đáng kể khoảng 39%
và 86% khi cắt ½, ¾ của mỗi lá và lá hoàn toàn bị rụng Về kinh tế, thiệt hại ước tính26.390 N (175,93 $), 52.780N (351,87$), và 57.876 N (385,84 $) cho mỗi ha, tương
Trang 21ứng với các mức thiệt hại của các chất diệt cỏ Loại bỏ các lá đậu bắp trong giai đoạnđậu quả sớm dẫn đến giảm 82% sản lượng Rụng lá hoàn toàn là ảnh hưởng lớn đếnnăng suất quả Kết quả cho thấy đậu bắp có thể chịu được 25% lá rụng, lá bệnhnhưng vượt quá mức này sẽ bất lợi Do đó trong công tác quản lý, việc loại bỏ lá nênbắt đầu trước hoặc ở giai đoạn đậu quả sớm để có giá trị sản lượng tốt
-NAA Ekwu, LG và Nwokwu, GN, nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách và
ngày trồng lên sinh trưởng và năng suất của cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus) tại Abakaliki trên tạp chí Agric và nông thôn Dev Thử nghiệm được tiến hành hoàn
toàn ngẫu nhiên với 3 khoảng cách cây (50cm x 25cm, 50cm x 50cm và 50cm x75cm) và thời gian trồng (15 tháng 5, 15 tháng 6 và 15 tháng 7) Kết quả cho thấy
sử dụng khoảng cách ngắn nhất (50cm x 25cm) cho số lượng lá cao nhất (30.43 lá /cây), số lượng nhánh (13.98), thời gian sinh trưởng dài nhất 50% số hoa nở (57.28ngày) và quả nặng nhất (0.17kg) Số lượng quả cao nhất, chiều dài và đường kínhcủa quả lớn nhất là ghi nhận ở khoảng cách cây rộng nhất (50cm x 75cm) Ngàygieo sớm nhất (15 tháng 5) cho năng suất cao nhất, số lượng lá cao nhất (31.68 lá/cây), chiều dài của quả (16.09cm) Ngày 15 tháng 7 gieo cho giá trị thấp nhất đốivới tất cả các chỉ tiêu thực vật học ngoại trừ chiều cao cây và thời gian sinh trưởng
-NAA Đã có nghiên cứu xác định năng suất của đậu bắp (Abelmoschus esculentus
(L) Moench) trong việc sử dụng khác nhau các loại thuốc trừ sâu và phân bón tạivùng Oxic Paleustalf Một thí nghiệm thực địa đã được tiến hành để kiểm tra hiệuquả của sự kết hợp ở nồng độ khác nhau của dịch chiết từ cây neem (100%, 75% vànồng độ 50%), cypermethrin (350 ml và 250 ml), phân gia cầm (6000 kg và 8000kg) và phân bón NPK (112 kg và 83 kg) lên sự tăng trưởng, năng suất và sảnlượng của đậu bắp Kết quả cho thấy việc áp dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau
và phân bón có ảnh hưởng đáng kể (P = 0,05) đến hiệu suất của đậu bắp
(Abelmoschus esculentus) Các ứng dụng kết hợp 100% dịch chiết từ cây neem, 350
ml / ha cypermethrin, 8000 kg / ha phân gia cầm và 112 kg / ha phân bón NPK giảm
số lượng sâu bệnh so với đối chứng Sự kết hợp của 50% dịch chiết từ cây neem,
350 ml / ha cypermethrin, 6000 kg / ha phân gia cầm và 112 kg / ha phân bón NPKcho năng suất cao nhất về số lượng và trọng lượng của quả đậu bắp Có thể kết luậnrằng việc áp dụng kết hợp thuốc trừ sâu và phân bón dẫn đến việc số lượng sâu bệnh
Trang 22hại được kiểm soát chặt chẽ, tăng độ phì của đất và nâng cao năng suất của đậu bắptrồng tại vùng Oxic Paleustalf
-NAA Dabiré, Binso và cộng sự ở Tây Phi, nghiên cứu sơ bộ về tỷ lệ côn trùng
gây hại trên đậu bắp Abelmoschus esculentus (L.) Moench ở trung tâm Burkina
Faso, xác định mức độ thiệt hại về năng suất do côn trùng gây hại trên đậu bắp vớiviệc xử lý tăng dần nồng độ deltamethrin Kết quả cho thấy côn trùng phổ biến nhất
gây ra bệnh cây bao gồm 2 loài bọ chét bọ cánh cứng Podagrica sp (Coleoptera và
Chrysomelidae) những loài côn trùng gây ra rụng lá lên đến 80% diện tích của
lá Chúng phá hoại bắt đầu từ 35 đến 45 ngày sau khi đậu bắp ra hoa PhunDeltamethrin ở liều 6,25 -NAA 25 g / ha có hiệu quả kiểm soát số lượng côn trùng gâyhại nhưng không có bằng chứng về ảnh hưởng đáng kể đến năng suất quả Hiệu
quả của deltamethrin chống sự phá hoại của loài Podagrica cũng được báo cáo ở
Nigeria (Anaso và Lale, 2002; Anaso, 2003) [29]
-NAA Singh và Brar nghiên cứu sức đề kháng của 14 giống đậu bắp, báo cáo rằngtrong khi một số giống có khả năng kháng, bên cạnh đó có những giống khác là dễ
bị sâu bệnh [30] Mặc dù các phương thức đề kháng của các giống là không rõ ràng,
nó có thể là do cấu trúc gen Tỷ lệ mắc bệnh bọ cánh cứng thay đổi ở các giai đoạnphát triển của thực vật đối với các giống và mùa vụ Tỷ lệ mắc bệnh rất thấp tronggiai đoạn sinh dưỡng của cây nhưng nhanh chóng tăng lên trong giai đoạn sinhsản Điều này có thể là do sự gia tăng sự phong phú của nguồn thức ăn (nụ hoa, hoa
và quả) đặc biệt có nhiều ở giai đoạn sinh sản của cây so với giai đoạn sinh dưỡng.Điều này phù hợp kết quả báo cáo của Egwuatu và Taylor [35]
-NAA Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy dầu đậu bắp phù hợp để sử dụngnhư một loại nhiên liệu sinh học Ngoài ra, chất nhầy đậu bắp phù hợp cho ứngdụng công nghiệp và y tế (Akinyele & Temikotan 2007) Trong công nghiệp, chấtnhầy trong đậu bắp thường được sử dụng cho sản xuất giấy glace và cũng có sửdụng làm bánh kẹo Trong y tế, đậu bắp ứng dụng như một sự thay thế huyết tươnghoặc máu làm giãn nở thể tích (Savello et al 1980, Markose &Peter năm 1990,Lengsfeld et al 2004, Adetuyi et al 2008, Kumar và et al 2010)
-NAA Theo từ điển dược học Tây y từ năm 1898 đã cho biết quả đậu bắp có tácdụng lợi tiểu
Trang 231.2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu bắp ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta một số vùng trồng nhiều đậu bắp tập trung chủ yếu ởNam Bộ như Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh… diện tích trồng đậu bắp đang được
mở rộng với các giống nỗi trội như: VN1, D9B1, TN75… và các giống nhập từnước ngoài như Jubilee 047, Lionseed của Ấn Độ Đặc biệt là giống đậu bắp Nhậtđang được nhiều hộ chọn trồng vì năng suất cao và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Tại Đồng Tháp, trong bảy năm qua, nông dân trồng giống đậu bắp Nhật ở 3
xã: Tân Hòa, Định Hòa và Vĩnh Thới đều đạt lợi nhuận cao hơn trồng lúa và một sốloại cây rau màu khác Hiện nay mô hình liên kết trồng cây đậu bắp Nhật đang có
xu hướng mở rộng trên địa bàn huyện, cây đậu bắp Nhật sản xuất từ Nhật Bản đượcđưa về trồng từ năm 2006 đến nay, toàn huyện có trên 100 hộ tham gia trồng trêndiện tích 30ha, hiện nay đậu bắp loại I giá 7.000 đồng/kg, đậu bắp loại II giá 4.700đồng/kg Theo ước tính nhu cầu sản xuất đậu bắp Nhật tại Đồng Tháp sẽ tăng thêmkhoảng 70ha vào năm 2014, trong đó huyện Lai Vung mở rộng thêm khoảng 40ha,với số lượng nông dân tham gia mô hình này có thể lên đến vài trăm hộ.[38]
Tỉnh Vĩnh Long, năm 2012, hợp tác xã rau an toàn huyện Bình Tân phát
triển nhiều giống rau có chất lượng và năng suất cao như: hành lá, đậu bắp xanh, cảibắp, dưa leo…Trong đó, đậu bắp xanh là mặt hàng chủ lực, mang lại hiệu quả kinh
tế cao, đã xuất khẩu được 90 tấn các loại rau quả, riêng đậu bắp xanh xuất khẩuđược 70 tấn Năm 2013, dự tính hợp tác xã sẽ sản xuất khoảng 10 ha đậu bắp vớisản lượng trên 3 tấn/ha, trong quý I năm 2013 hợp tác xã đã xuất hơn 60 tấn đậu bắpxanh ra thị trường nước ngoài chủ yếu thị trường Nhật Bản [39]
1.2.4 Tình hình nghiên cứu đậu bắp ở Việt Nam
-NAA Thí nghiệm tại Khoa Y học cổ truyền, Đại Học Y dược Thành phố Hồ ChíMinh đã cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đườnghuyết trên chuột thí nghiệm Các nhà khoa học đã xác định liều từ 10g đến 40g/kgthể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm Liều có tác dụng hạđường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạđường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút Sau
Trang 2490 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứngkhông điều trị Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằnginsulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơgây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường [2], [3], [18].
-NAA Tác giả Lê Thị Hồng Nhan, Trần Hà Quang, Phan Nguyễn Quỳnh Anh (Đạihọc Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Thị Ngọc Liễu (Đại học TônĐức Thắng) thực hiện đề tài nghiên cứu thành phần hóa học cơ bản của đậu bắp
(Abelmoschus esculentus) ở miền Nam Việt Nam, khảo sát quy trình tách pectin và
đánh giá tính chất sản phẩm trích từ đậu bắp Kết quả cho thấy, quả đậu bắp chứavitamin C hàm lượng cao và pectin chỉ có thể thu được từ vỏ với hiệu suất thukhoảng 6-NAA7% Hàm lượng pectin tùy thuộc độ già của đậu bắp Quy trình táchpectin đã được khảo sát và pectin thô sau đó được tinh chế bằng cồn Pectin từ đậubắp có trọng lượng phân tử khoảng 1.65x105 g/mol và có cấu trúc tinh thể cao hơndựa trên phổ XRD so với pectin từ các nguồn thực vật khác Các kết quả này là nềntảng cho các nghiên cứu tiếp theo về tính chất và định hướng ứng dụng của pectinđậu bắp Hơn nữa, đậu bắp trồng tại Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn
về các thành phần khác để có thể được ứng dụng và phát triển như một nguồn cungcấp dược liệu rẻ tiền và thông dụng trong nước [15]
-NAA Nguyễn Thị Nguyên Sinh, Nguyễn Phương Dung nghiên cứu “ Tác dụng
hạ đường huyết của dịch chiết Khổ qua – Đậu bắp trên chuột tăng đường huyết bởiAlloxan” bước đầu đã nhận thấy trên mô hình chuột nhắt trắng tăng đường huyếtbởi Alloxan, cao chiết khổ qua – đậu bắp ở liều 60g/kg/ngày uống trong 21 ngày cótác dụng giảm khoảng 40% glucose huyết có ý nghĩa thống kê (P <0,01) và có hiệuquả hạ đường huyết tương đương với thuốc Daonil liều 0,3mg/kg/ngày Đã xác địnhLD50 đường uống của cao chiết khổ qua – đậu bắp là 120,2 g/kg thể trọng Khi sửdụng dài ngày, cao chiết khổ qua – đậu bắp không ảnh hưởng đến một số chỉ tiêuhuyết học (hồng cầu, hemoglobin, tiểu cầu), ngoại trừ chỉ số bạch cầu (giảm 50%).Thời gian máu chảy giảm khoảng 50%, thời gian máu đông giảm khoảng 20%.Glucose huyết, GOT, GPT, BUN không khác biệt so với lô đối chứng, riêng chỉ sốcreatinin giảm 50% (P<0,01) [16]
Trang 25-NAA Thạc sĩ -NAA bác sĩ Lê Hoàng Sơn, Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Đại học Ydược Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trong đậu bắp có chứa nhiều pectin, chấtnhầy, sắt và canxi Nếu quả còn tươi thì chứa các vitamin A, B1, B2, C và niacin.Hạt của quả chứa chất béo palmitin và stearin Vì vậy, toàn bộ quả đậu bắp chứachất xơ và chất nhầy nên có tác dụng làm dịu, giúp dễ đi tiểu (có ích cho người loéttiêu hóa) và lợi tiểu (có ích cho người tăng huyết áp).
Riêng hạt đậu bắp còn có tác dụng trợ tim, chống co thắt Vì vậy, đậu bắplàm giảm đau đường tiểu trong trường hợp nhiễm trùng tiểu hay sỏi niệu Ngoài ra,toàn bộ trái đậu bắp còn có ích cho người viêm loét dạ dày tá tràng
-NAA Theo lương y Đinh Công Bảy, Hội Dược liệu Thành phố Hồ Chí Minh chobiết những người bị tiểu đường, mỡ trong máu cao nên thường xuyên dùng đậu bắp.Chất xơ trong đậu bắp giúp giảm lượng mỡ trong hệ thống ống tiêu hóa, giúp đườnghấp thu vào máu chậm
-NAA Bộ môn Di truyền chọn giống Nông nghiệp Khoa Nông nghiệp và Sinhhọc ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã có kết quả trong việc chọn tạo giốngđậu bắp mới với ưu thế lai cao, có khả năng kháng sâu đục trái, sâu đục thân, chịuhạn, phèn, có khả năng trồng trên vùng đất mặn và năng suất cao Đây là giốnghướng tới sản xuất sạch, không dùng thuốc sâu để phát triển vùng rau màu ở vànhđai các đô thị
-NAA Phạm Trọng Tín thực hiện đề tài “Cải tạo giống đậu bắp địa phương cao câynăng suất thấp bằng cách lai tạo với giống đậu bắp Nhật lùn thấp cây, năng suất cao”với mong muốn tìm ra giống tốt, dễ trồng, kéo dài thời gian thu hoạch và nâng caonăng suất cũng như chất lượng trái nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, nâng caothu nhập cho người nông dân, thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu Việt Nam
Trang 261.3 Vài nét về chất điều hòa sinh trưởng Auxin
1.3.1 Khái niệm và phân loại chất điều hòa sinh trưởng
Dựa vào nguồn gốc
Dựa vào nguồn gốc xuất hiện người ta phân loại các chất điều hòa sinhtrưởng thành 2 nhóm: Các chất điều hòa sinh trưởng tự nhiên hay Phytohocmon vàcác chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp nhân tạo
Phytohocmon là một nhóm các chất được tổng hợp với một lượng nhỏ trongcác cơ quan bộ phận nhất định của cây và từ đó được vận chuyển đến các cơ quankhác để điều hòa các hoạt động có liên quan đến quá trình sinh trưởng, phát triểncủa cây và bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa các cơ quan và của toàn cây
Các chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp nhân tạo là những chất điều hòa sinhtrưởng được tổng hợp bằng con đường tổng hợp hóa học, có hoạt tính sinh lí tương
tự các Phytohocmon để làm phương tiện điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triểncủa cây trồng nhằm làm tăng phẩm chất và năng xuất nông phẩm [5], [10], [18]
Dựa vào hoạt tính sinh lý [5]
Người ta chia các chất điều hòa sinh trưởng thành hai nhóm có tác dụng đốikháng về hiệu quả sinh lý Đó là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chếsinh trưởng
Các chất kích thích sinh trưởng luôn gây hiệu quả kích thích lên quá trìnhsinh trưởng của cây khi có nồng độ tác dụng hợp lý Các chất kích sinh trưởng trongcây gồm 3 nhóm: Auxin, giberelin và xitokinin
Các chất ức chế sinh trưởng luôn gây ảnh hưởng ức chế lên quá trình sinhtrưởng của cây Chúng bao gồm axit abxixic, etylen, các chất phenol, retardant…Các chất điều hòa sinh trưởng được phân loại ở bảng 1.3
Trang 27Bảng 1.3 Phân loại các chất điều hòa sinh trưởng
Chất điều hòa sinh trưởng tự nhiên Chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp nhân tạoA: Chất kích thích sinh trưởng
Auxin (AIA, PAA )
1.3.2 Sơ lược về chất điều hòa sinh trưởng Auxin
* Lược sử nghiên cứu
Auxin là nhóm chất điều hòa sinh trưởng được phát hiện đầu tiên và là nhómchất có ý nghĩa quan trọng trong các nhóm chất điều hòa sinh trưởng đã đượcnghiên cứu
Năm 1880, Darwin đã phát hiện ra rằng bao lá mầm của cây họ lúa rất nhạycảm với ánh sáng Nếu chiếu sáng một phía thì gây ra quang hướng động, nhưngnếu che tối hoặc bỏ đỉnh ngọn thì hiện tượng này không xảy ra Ông cho rằng : đỉnhngọn bao lá mầm là nơi tiếp nhận kích thích ánh sáng, đã sinh ra một chất nào đấy
có liên quan đến hiện tượng trên [10]
Năm 1919, Paal và sau đó năm 1928 là Went đều làm thí nghiệm cắt đỉnhbao lá mầm và đều đi đến kết luận rằng đỉnh ngọn đã hình thành một chất sinhtrưởng nào đó và gây ra tính hướng động của cây [8]
Năm 1934, Kögl và Haagen Smith đã phân lập AIA từ men bia và
Thimann cũng đã phân lập AIA từ việc nuôi cấy Rhizopus suinus vào năm 1935.
Mãi đến năm1946, Haagen Smith và nhiều người khác cũng đã phân lập được AIAtinh khiết từ nội phôi nhũ của hột bắp Điều này cho thấy rằng AIA đã được tìmthấy ở thực vật bậc cao [17]
Năm 1966, Vliegenthart đưa ra bằng chứng rằng Auxin A và B không phải làsản phẩm của thực vật tự nhiên Tuy nhiên, AIA đã được phân lập trên một sốlượng lớn loài thực vật và xuất hiện mọi nơi trong thực vật bậc cao Thuật ngữ
auxin có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Auxein có nghĩa là “grow” (mọc, sinh trưởng).
Trang 28Kögl, Haagen Smith và Went đã đề nghị sử dụng thuật ngữ này để đánh dấu sự pháthiện một chất đặc biệt có khả năng kích thích sự sinh trưởng cong của diệp tiêu yến
mạch Avena
* Cấu tạo hóa học của Auxin [7]
Auxin là phytohoocmon đầu tiên được phát hiện, trong cây nó chính là axit β– indol axetic( AIA) Qua quá trình nghiên cứu và ứng dụng, con người đã tổng hợpnên nhiều chất mới có bản chất hóa học khác nhau nhưng chúng có hoạt tính tương
tự như auxin và được gọi là auxin tổng hợp Các auxin tổng hợp được sử dụng phổbiến trong sản xuất là IBA, α-NAA NAA, 2,4 D…
* Sinh tổng hợp và vận chuyển AIA trong cây
AIA được tổng hợp ở tất cả các thực vật bậc cao, tảo, nấm Ở thực vật bậccao, AIA chủ yếu được tổng hợp ở đỉnh chồi ngọn và được vận chuyển xuống dướicác bộ phận khác của cây Sự vận chuyển này mang tính chất phân cực rất nghiêmngặt, có nghĩa là auxin chỉ được vận chuyển theo một chiều hướng gốc Chính vìvậy càng xa đỉnh ngọn thì hàm lượng auxin càng giảm dần
Ngoài ra một số bộ phận khác của cây như lá non, quả non, phôi hạt và cảtầng phát sinh cũng tổng hợp auxin nhưng với hàm lượng thấp [18]
Trang 29Auxin được tổng hợp với chất tiền thân là axit amin triptophan và được xúctác bởi hàng loạt các enzim đặc hiệu.
Quá trình tổng hợp AIA tạo ra một lượng AIA cần thiết cho sự sinh trưởngcủa thực vật Nhưng nó chỉ có tác dụng khi được tổng hợp với một lượng vừa đủ.Nếu lượng AIA dư thừa sẽ có tác dụng ngược lại Do đó, để điều chỉnh hàm lượngAIA, ở thực vật còn diễn ra quá trình phân hủy AIA
AIA sau khi tác dụng có thể bị phân hủy làm mất hoạt tính hoặc phân hủy đểgiảm hàm lượng
Sự phân hủy AIA có thể diễn ra nhờ sự xúc tác của enzim hoặc có thể bịquang ôxi hóa làm mất hoạt tính Trong hai con đường trên thì sự phân hủyAIAchủ yếu xảy ra bằng con đường enzim, quá trình này được xúc tác bởi enzim AIA-NAAôxidase Dưới tác dụng của enzim này, AIA bị ôxi hóa và chuyển thành hệ thốngdạng mất hoạt tính là metilen ôxindol [17]
Trong cây, ngoài sự cân bằng giữa quá trình tổng hợp và phân giải AIA còndiễn ra sự biến đổi thuận nghịch dạng tự do và dạng liên kết Đây là một quá trình
có ý nghĩa quan trọng ở trong cây, AIA có thể tồn tại ở hai dạng: dạng tự do vàdạng liên kết AIA tự do là dạng gây ra hoạt tính sinh lí trong cây nhưng lại chiếmmột hàm lượng rất thấp so với dạng liên kết khoảng 5% AIA liên kết là dạng chủyếu nhưng chúng không có hoạt tính sinh lí hoặc hoạt tính sinh lí rất thấp [7], [9]
Tuy vậy, chúng có ý nghĩa lớn trong việc dự trữ AIA, làm giảm hàm lượngAIA, tránh tác dụng của AIA-NAA ôxidase và là dạng vận chuyển auxin trong cây
* Tác dụng sinh lí của Auxin (AIA)
AIA nói riêng cũng như Auxin nói chung có tác dụng điều chỉnh rất nhiềuquá trình sinh trưởng của tế bào, cơ quan và toàn cây
AIA kích thích sự sinh trưởng giãn của tế bào
Sự tác dụng của AIA lên tế bào đã được chứng minh bằng nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học Qua đó người ta nhận thấy AIA có tác dụng kích thích tế bàosinh trưởng giãn theo chiều ngang làm tế bào phình to ra
Hiệu quả đặc trưng của AIA là tác động lên sự giãn của thành tế bào AIAlàm giảm pH trong thành tế bào, hoạt hóa enzim phân hủy các liên kết hydro giữa
Trang 30các sợi xenluloz, làm cho chúng lỏng lẻo tạo điều kiện cho thành tế bào giãn ra dướitác dụng của áp suất thẩm thấu của không bào trung tâm [17].
AIA có tác dụng điều chỉnh tính hướng động của cây
Tính hướng động là những đặc tính vốn có của thực vật Cây có thể hướng vềtác nhân kích thích bên ngoài tạo nên tính hướng của cây, bao gồm hướng sáng,hướng đất, hướng thủy và hướng hóa Tính hướng của thực vật có ý nghĩa quantrong đối với sự sinh trưởng và tồn tại của thực vật Qua nghiên cứu, người ta nhậnthấy AIA có tác dụng mạnh và rõ rệt lên tính hướng quang và hướng đất của cây
Bằng việc sử dụng nguyên tử đánh dấu, đã phát hiện ra sự phân bố của AIAphóng xạ không đều ở hai phía của cơ quan AIA phân bố nhiều hơn ở phần khuấtánh sáng cũng như bộ phận nằm ngang của cây Kết quả là tạo nên sự sinh trưởngkhông đều ở hai phía của cơ quan [8], [9]
Có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích sự phân bố không đều auxin ởhai phía của cơ quan Trong đó người ta cho rằng có hai nguyên nhân chính:
Nguyên nhân thứ nhất là khi bị kích thích thì sự vận chuyển phân cực AIA bị
ức chế; nguyên nhân thứ 2 là có sự tồn tại một điện thế trong các cơ quan đó AIAtrong cây thường bị ion hóa thành AIAvà do đó phân bố về phía điện dương nhiềuhơn [17]
AIA điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn
Ưu thế ngọn là một đặc tính quan trọng của cây Đó là sự sinh trưởng củachồi ngọn hoặc rễ chính sẽ ức chế sự sinh trưởng của chồi bên hoặc rễ phụ Khi có
sự tồn tại của chồi ngọn thì chồi bên bị ức chế Nếu loại trừ chồi ngọn hoặc rễ chínhthì chồi bên hoặc rể phụ thoát khỏi trạng thái ức chế và sinh trưởng
Người ta nêu ra hai quan điểm để giải thích vai trò của AIA đối với hiệntượng ưu thế ngọn là ức chế trực tiếp và ức chế gián tiếp
Theo quan điểm ức chế trực tiếp: AIA được tổng hợp ở chồi ngọn với hàmlượng cao, khi vận chuyển xuống dưới, các chồi bên bị AIA ức chế Khi cắt chồingọn làm hàm lượng AIA giảm xuống và chồi bên được kích thích sinh trưởng
Theo quan điểm ức chế gián tiếp của AIA cho rằng AIA đã kích thích sựtổng hợp một chất ức chế sinh trưởng, chẳng hạn là etylen Và chính chất này đã ứcchế sự sinh trưởng của các chồi bên [9], [12]
Trang 31Hiện tượng ưu thế ngọn được điều chỉnh bằng cân bằng auxin/xitokinin.AIA được tổng hợp ở trên và di chuyển xuống, trong khi đó Xitokinin đượctổng hợp ở rễ và di chuyển lên trên Càng xa chồi ngọn hàm lượng AIA càng giảm
và hàm lượng xitokinin càng tăng nên tỉ lệ đó càng giảm và hiện tượng ưu thế ngọncàng yếu, chồi bên phát triển mạnh hơn
Trong sản xuất người ta thường ứng dụng hiện tượng ưu thế ngọn nhằm đạtđược kết quả tốt nhất
Chẳng hạn, trong việc tạo hình cho cây cảnh, cây ăn quả hay cây côngnghiệp, người ta thường loại bỏ các chồi bên để tạo điều kiện cho chồi chính pháttriển Trong những trường hợp khác người ta lại loại bỏ hiện tượng ưu thế ngọnbằng cách cưa đốn chồi chính để chồi bên và các cành bên mọc ra Việc cưa đốn sẽtạo ra các chồi mới, làm trẻ hóa vườn cây là một trong những biện pháp quan trọngnhằm cải tạo vườn cây ăn quả, cây công nghiệp [17]
AIA kích thích sự ra rễ
Trong sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinhdưỡng thì tác dụng của AIA là rất đặc trưng Có thể xem AIA là hoocmon hìnhthành rễ tác dụng kích thích sự ra rễ của auxin được chứng minh rõ ràng trong nuôicấy mô Nếu môi trường nuôi cấy chỉ có AIA thì mô nuôi cấy chỉ xuất hiện rễ màthôi, để tạo chồi người ta phải bổ sung vào môi trường thêm xitokinin
AIA kích thích sự sinh hình thành, sinh trưởng của quả và tạo quả
không hạt [6], [7]
Trong sự hình thành quả: Tế bào trứng sau khi thụ tinh xong sẽ phát triểnthành phôi và sau đó là hạt Phôi hạt là nguồn tổng hợp auxin nội sinh quan trọng.AIA nội sinh sau khi được tổng hợp từ phôi sẽ khuếch tán vào bầu và kích thích bầuphát triển thành quả Vì vậy, quả chỉ được hình thành sau khi có sự thụ tinh, nếukhông có quá trình này thì không hình thành phôi và hoa sẽ rụng
Thông thường trên một cây, các quả có kích thước, hình dạng rất khác nhau.Điều này là do sự phân bố hàm lượng AIA khác nhau theo các hướng của quả
Như vậy ta thấy rằng chính vai trò của AIA nội sinh được tạo ra từ phôi hạt
là tác nhân làm cho quả sinh trưởng lớn lên Nếu xử lý AIA ngoại sinh cho hoa
Trang 32trước khi thụ phấn, thụ tinh sẽ thay thế được nguồn AIA nội sinh mà không cần cóquá trình thụ phấn, thụ tinh.
AIA xử lý sẽ khuếch tán vào bầu nhụy giống AIA nội sinh và kích thích bầulớn lên thành quả không qua thụ tinh, có nghĩa là quả không có hạt Đó chính là cơ
sở khoa học của những ứng dụng tạo quả không hạt trong nông nghiệp
AIA kìm hãm sự rụng của hoa, lá, quả [8], [10]
Sự rụng của lá, hoa, quả là do sự hình thành tầng rời AIA có tác dụng ức chế
sự hình thành tầng rời vốn được cảm ứng hình thành bởi các chất ức chế sinhtrưởng Do đó mà nó có thể kìm hãm sự rụng của lá, hoa, quả
Ngoài ra AIA còn có tác dụng điều chỉnh sự chín của quả Quá trình chín củaquả có sự kích thích của ethilen, nhưng tác dụng đối kháng thuộc về AIA AIA kìmhãm, làm chậm sự chín của quả
Như vậy, cân bằng AIA /etylen quyết định trạng thái chín của quả Trongtrường hợp muốn quả chậm chín thì có thể xử lý AIA cho quả xanh trên cây hoặcsau khi thu hoạch
1.4.Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trong nước, trên thế giới
1.4.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về AIA đã đưa vàothực tiễn sản xuất nhằm nâng cao năng suất cho các loại cây trồng Nhiều cánh đồngdứa ở Hawai được phun dung dịch NAA nồng độ 25ppm cho 100% cây trổ hoa vàchín sớm hơn 2 -NAA 3 ngày
Năm 1935, Houghtaling, H.B cho rằng: sự lớn lên của quả là do sự phân chia
tế bào và đặt biệt là sự giãn nhanh của tế bào trong bầu Sự phân chia tế bào khônggiống nhau giữa các giống, các loài, chẳng hạn trong mỗi loài cà chua một số tế bào
vẫn tiếp tục phân chia ngay cả lúc quả chín như loài Lycopesicum esculentum Sự
tăng kích thước, thể tích, khối lượng tươi, khối lượng khô và đường kính quả mộtcách nhanh chóng là đặc trưng sinh trưởng của quả và được điều chỉnh bằngphytohormon xuất hiện trong phôi hạt [31]
Năm 1939, Gustafson, F.G đã thí nghiệm hàm lượng Auxin trong bầu, hạt ởmột số giống bưởi, cam, chanh, táo, đậu, cà chua, dưa chuột… thấy rằng: nếu chúng ta
xử lý cho hoa chưa thụ tinh thì Auxin ngoại sinh sẽ khuếch tán vào bầu và kích thích sự
Trang 33lớn lên của bầu thành quả mà không qua quá trình thụ tinh và tạo nên quả không có hạt(quả đơn tính) Sự tăng kích thước của quả gây ra do sự giãn của các tế bào mà trong
đó Auxin đóng vai trò điều chỉnh, nguồn Auxin này sản sinh từ hạt [33]
Năm 1980, Weeb đã nghiên cứu một tác động quan trọng lên lá của các chấtđiều hòa sinh trưởng là làm cho gốc độ của lá mọc với trị số tối ưu đối với lá lúa mìtạo gốc độ gần thẳng đứng, lá khoai tây nghiên 450
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin ở Việt Nam
Việc nghiên cứu và ứng dụng AIA đã được thực hiện ở nhiều trường đại học
và các viện nghiên cứu ở nước ta
Phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tập trungnghiên cứu cơ sở sinh lý của sự tái sinh rễ ở cành giâm để xây dựng một quy trìnhnhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành cho nhiều đối tượng cây trồng, cây
ăn quả khi xử lý với Auxin nồng độ 20-NAA 200ppm đã đem lại kết quả cao [6]
Bộ môn Sinh lý, Hóa sinh thực vật của trường Đại Học Nông nghiệp I đãnghiên cứu thành công chế phẩm tăng sản lượng lúa hiện đang được sử dụng rộng rãitrong sản xuất Chế phẩm này bao gồm NAA kết hợp một số nguyên tố đa lượng và
vi lượng phun cho lúa lúc làm đồng sẽ thúc đẩy trổ đều, hạt mẩy, giảm tỉ lệ hạt lép
Khoa Nông nghiệp Trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu tác động củaAuxin đến giới tính của hoa chôm chôm và cho biết, Auxin ngoại sinh làm tăng sốlượng hoa đực
Hiện nay, công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống hoa Lan cũng như các loạihoa và cây rau ở thành phố Đà Lạt đã đem lại hiệu quả kinh tế cao Để nuôi cấyđỉnh sinh trưởng cây hoa Lan người ta thường sử dụng môi trường nuôi cấy là môitrường MS có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng [10]
Năm 2004, Trần Thế Hanh nghiên cứu ảnh hưởng của α-NAANAA đến giống lạc
L14 trên đất bạc màu Bắc Giang đã cho thấy: α-NAANAA ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng
và tăng năng suất 11,2%
Năm 2008, Hoàng Minh Tấn, Đỗ Quý Hai, Nguyễn Đình Thi bổ sung α-NAANAA ngoại sinh bằng cách xử lý hạt trước khi gieo hoặc phun lên lá ở các thời kỳsinh trưởng đã tăng số quả trên cây so với đối chứng, nồng độ tác động là 10-NAA
Trang 3430ppm Điều này chứng tỏ rằng α-NAANAA có ảnh hưởng đến sự thụ tinh, đậu quả vàquá trình tích lũy vật chất khô của lạc [19].
Năm 2008, Phạm Thị Diệu Hường đã nghiên cứu thăm dò ảnh hưởng củaAIA với nồng độ 50-NAA90ppm đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và tạo quả khônghạt ở cây cà chua Kết quả cho thấy AIA làm tăng tỷ lệ ra hoa quả và làm giảmlượng hạt ở quả từ 35.23-NAA 66.11 %
Năm 2010, Nguyễn Đình Thi đã xử lý GA3, IAA và α-NAANAA cho hạt rau cảimầm trước khi gieo, kết quả cho thấy kết hợp GA3, IAA và α-NAANAA đã tăng tỷ lệnảy mầm và tốc độ nảy mầm, rút ngắn thời gian nảy mầm, tăng chiều cao thân vàchiều dài rễ Nồng độ xử lý thích hợp đối với GA3 là 8 ppm, đối với IAA và α-NAANAA là 12 ppm [21]
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Hương Vinh, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
1.5.1 Vị trí địa lý [23]
Hương Vinh tiếp giáp Thành phố Huế, cách trung tâm thành phố 4 km vềphía Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự phát triển kinh tế của thành phốHuế, có điều kiện tiểu vùng sinh thái đặc trưng vùng duyên hải Bắc Trung Bộ Ranhgiới hành chính của xã được xác định như sau :
+ Phía Bắc giáp xã Hương Phong (Thị xã Hương Trà) và xã Quảng Thành(Huyện Quảng Điền) ranh giới là sông Bồ
+ Phía Nam giáp phường Phú Bình, phường Phú Thuận (thành phố Huế)ranh giới là sông Đào
+ Phía Đông giáp xã Phú Mậu (Huyện Phú Vang) ranh giới là sông Hương.+ Phía Tây giáp xã Hương Toàn (Thị xã Hương Trà) và Phường Hương Sơ(thành phố Huế)
1.5.2 Diện tích tự nhiên [23]
Xã Hương Vinh thuộc Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, có diện tích
tự nhiên là 721 ha (chiếm 1,35 % diện tích tự nhiên trên toàn thị xã)
Địa bàn xã có 08 thôn và 01 đội, trong đó 03 thôn và 01 đội làm nông nghiệpgồm: Triều Sơn Nam, Triều Sơn Đông, Thủy Phú, Đội 12B và 5 thôn đang từngbước đô thị hoá: Thế Lại Thượng, Bao Vinh, Địa Linh, La Khê, Minh Thanh
Trang 351.5.3 Đặc điểm địa hình, khí hậu [23]
1.5.3.1 Địa hình
- Là xã đồng bằng thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế nên Hương Vinh có địa hình
tương đối bằng phẳng, độ dốc <2o, độ cao tuyệt đối trung bình 1,2m Nơi có độ caonhất +1,9m (dọc các con sông), thấp nhất +0,4 m ( vùng Thuỷ Phú ), địa hình của xãchia thành hai vùng:
Vùng cao chạy dọc theo các con sông có độ cao tuyệt đối từ +1,5m đến +1,9m,
là nơi tập trung dân cư sinh sống và các công trình kinh tế, văn hoá xã hội của xã
Vùng thấp chủ yếu là đồng ruộng Khu vực thấp (có độ cao tuyệt đối < 0,5m)thuộc thôn Triều Sơn Nam, Triều Sơn Đông, Thuỷ Phú và phía Nam giáp QuảngThành Vùng này hay bị ngập sâu sau những đợt mưa kéo dài, muốn sản xuất nôngnghiệp cần phải đầu tư bơm tiêu nước
1.5.3.2 Khí hậu
-NAA Hương Vinh có tiểu khí hậu vùng phong phú, nhiệt độ trung bình từ 25 đến25,20C, tổng nhiệt độ từ 8.700 -NAA 9.2000C, tổng giờ nắng trên 1.900giờ/năm Nhiệt độthấp nhất có thể xuống dưới 120C, cao nhất lên tới 410C Tổng lượng mưa, độ ẩm trungbình thấp, thường chịu ảnh hưởng của bão, lụt, hạn hán và gió Tây khô nóng
-NAA Hương Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt:mùa mưa và mùa khô, khí hậu khắc nghiệt, mang những đặc điểm chính như sau:
-NAA Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình 25,20C, nhiệt độ biến đổi theo mùa:-NAA Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 của năm sau, do ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc nên mưa nhiều nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa 20-NAA220C có khixuống dưới 12 0C
-NAA Mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình các tháng mùa khô 30-NAA
320C có khi lên đến 390C Đặc biệt có tháng lên đến 41,30C đồng thời chịu ảnh hưởngcủa gió mùa Tây Nam nên khô và nóng ảnh hưởng rất lớn gieo trồng và chăn nuôi
-NAA Chế độ mưa ẩm: Mùa mưa kéo dài khoảng 4 tháng từ tháng 9 đến tháng 12,lượng mưa trung bình năm khoảng 2600-NAA2800mm Mưa tập trung vào 3 tháng 9-NAA10
và tháng 11 chiếm tới 50% lượng mưa năm Số ngày mưa trong năm lớn trên 115ngày/năm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 10 (762mm) tháng có lượng mưathấp nhất là tháng 3 (34mm)
Trang 36-NAA Độ ẩm trung bình năm 83%, độ ẩm cao nhất là 97% ( tháng 10-NAA11và tháng12) Độ ẩm thấp nhất 45% (tháng 3-NAA4 và tháng 5-NAA6)
-NAA Khu vực Thừa Thiên Huế là vùng thường xuyên hàng năm bão đổ bộ vào,trung bình một năm có 1,87 cơn bão, có năm không có cơn bão nào, nhưng có nămlại liên tiếp 4-NAA5 cơn bão nên thường gây ra lũ lụt ở hạ lưu sông Hương, sông Bồ
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống thí nghiệm
Trong đề tài này chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là hai giống đậu bắp:giống đậu bắp cao sản Nam Bộ F1 TN81 của công ty TNHH Trang Nông cung cấp
và giống đậu bắp lai Ấn Độ F1 TN85 của Công ty TNHH Đại Địa cung cấp
Giống F1TN81: Khả năng sinh trưởng mạnh, kháng bệnh tốt, lá nhỏ, độ
đồng đều cao, dễ chăm sóc Trái dài 15 -NAA 20 cm, đường kính 1,5 – 1,7 cm, trọnglượng trái 16 -NAA17g Màu xanh nhạt (trắng xanh), có vị ngọt, ít chất xơ Thời gian bắtđầu thu hoạch 45 – 50 ngày sau gieo
Giống F1TN85: Khả năng sinh trưởng mạnh, kháng bệnh tốt, lá nhỏ, độ
đồng đều cao, dễ chăm sóc Trái dài 11 -NAA 12 cm, đường kính 1,7 – 1,8 cm Màuxanh đậm, có vị ngọt, ít chất xơ Thời gian bắt đầu thu hoạch 45 ngày sau gieo Rấtđược thị trường ưa chuộng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của hai giống đậu bắp
- Đặc điểm về hình thái
Lá, hoa, quả
- Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển
Xác định khả năng nảy mầm, thời gian sinh trưởng, thời gian ra hoa, tổng sốhoa, tổng số lá trên cây giai đoạn 30 ngày, 45 ngày, chỉ số diện tích lá, chiều cao cây
- Đặc điểm về năng suất
Tổng số quả trên cây, kích thước quả, khối lượng 100 quả
- Đặc điểm về phẩm chất
Hàm lượng chất khô của quả, hàm lượng protein tổng số
2.2.2 Xác định ảnh hưởng của AIA đến hai giống đậu bắp
-NAA Xác định lượng AIA ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển vànăng suất của hai giống đậu bắp
-NAA Xác định nồng độ xử lý AIA thích hợp
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin
Tổng hợp các loại tài liệu, các loại sách báo, tạp chí trong và ngoài nướccũng như các tài liệu, báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài từ đó phân tích,nghiên cứu, so sánh nhằm kế thừa các căn cứ, lý luận có thực tiễn
2.3.2 Phương pháp xử lí hạt giống và bố trí thí nghiệm
- Xử lí hạt giống
Chọn hạt chắc đều, loại bỏ các hạt lép, sâu mọt, hạt nhỏ hay hạt bị thâm đenrồi cho vào các chai đựng dung dịch con đã pha chế trên Ngâm hạt trong khoảngthời gian là 6 tiếng, sau đó vớt hạt ra rửa sạch để ráo nước và gieo hạt theo phươngthức gieo hốc, phun AIA vào lá ở giai đoạn 5 lá, bắt đầu ra hoa
- Bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được tiến hành vào vụ Xuân năm 2012, bố trí theo khối ngẫunhiên hoàn toàn RCB (Randomized complet block) ngoài đồng ruộng với 3 lần lậplại cho 4 công thức, xung quanh có dải bảo vệ áp dụng cho hai giống đậu bắp
Số ô thí nghiệm: 24 ô, mỗi ô lập lại 3 lần
Trồng mỗi hàng cách nhau 70 -NAA 80cm, cây trên hàng cách nhau 40-NAA50cm.Mỗi ô thí nghiệm trồng 30 cây
Diện tích ô thí nghiệm: 8 m2 , toàn bộ diện tích thí nghiệm là 192 m2 (không
BẢO VỆGhi chú: -NAA Giống đậu bắp I: F1TN81; II: F1TN85
-NAA Công thức thí nghiệm a: ĐC(0 ppm); b: CT1(10ppm); c:CT2(15ppm); d: CT3(20ppm)
-NAA Số lần nhắc lại: 1; 2; 3
2.4 Quy trình kỹ thuật
Theo quy trình sản xuất của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 392.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
(1) Tỷ lệ nảy mầm (%)
-NAA Xác định theo phương pháp đếm
-NAA Tỷ lệ nảy mầm (%) = ( Số hạt nảy mầm/ Tổng số hạt gieo ) x 100
(2) Thời gian sinh trưởng (ngày)
Tính từ khi gieo hạt đến khi xuất hiện hoa đầu tiên
(3) Thời gian ra hoa (ngày)
Theo dõi thời gian cây từ khi ra lá đầu tiên đến khi ra hoa đầu tiên
(4) Tổng số hoa trên cây (hoa/cây)
Đếm số hoa trên cây từ khi bắt đầu ra hoa đầu tiên đến khi kết thúc đợt rahoa, cứ 5 ngày đếm 1 lần, vào 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn cách nhau 15 ngày
(5) Diện tích lá (cm 2 )
Theo phương pháp đo chiều dài của lá và chiều rộng của lá, sau đó tính diệntích lá theo công thức
S lá ( cm 2 ) = Dài lá ( cm) x Rộng lá ( cm) x 0.68
Thời gian xác định: 30 ngày và 45 ngày
(6) Tổng số lá trên cây ( lá/cây)
Mỗi ô đếm số lá của 10 cây, sau đó tính số lá trung bình của mỗi cây ở mỗi ô,
số lá trung bình của mỗi công thức Đếm trong 3 giai đoạn 15 ngày, 30 ngày, 45 ngày
(7) Chiều cao cây ( thân chính) (cm)
Chiều cao cây được đo từ gốc (nơi có rễ đầu tiên) đến ngọn bằng thước dài(cm) Theo dõi qua 2 giai đoạn: 30 ngày, 45 ngày Số lượng cây theo dõi 10 cây trênmột ô thí nghiệm Cắm que đánh dấu những cây đã đo để lần sau đo tiếp
(8) Kích thước quả(cm)
Đo bằng thước dây
Đo chiều dài, đường kính nơi to nhất
(9) Khối lượng 100 quả(g)
Xác định bằng cân với cân điện từ có độ chính xác 1mg
(10) Tổng số quả trên cây
Trang 40Xác định bằng cách đếm số quả trên 1 cây, 1 tuần đếm 1 lần trong giai đoạnthu hoạch Cắm que đánh dấu những cây đã đếm để lần sau đếm tiếp.
( 11) Khối lượng chất khô và tươi của cây
Xác định khối lượng khô ( Mkhô) và khối lượng tươi ( Mtươi) của cây ở giaiđoạn 3 lá và 7 lá
Khối lượng tươi ( g/cây): Chọn mỗi ô 10 cây đem rửa sạch đất, dùng giấy
thấm khô hết nước, rồi đem cân khối lượng của từng cây Từ đó tính khối lượngtrung bình mỗi ô, mỗi công thức, mỗi giống
Khối lượng khô (g/cây): Sau khi cân khối lượng tươi xong đem sấy khô ở
nhiệt độ 105oC cho đến khi khối lượng không đổi, tiến hành cân khối lượng từng cây
(12) Năng suất quả tươi
-NAA Năng suất quả tươi ( kg/m2) = ( Khối lượng quả tươi 1 ô/ diện tích ô ) (13) Hiệu quả kinh tế
Số tiền bán được - Tổng chi phí.
( 14) Hàm lượng chất khô của quả
Hàm lượng chất khô của quả được xác định bởi sự chênh lệch khối lượng củamẫu vật tươi trước khi sấy và sau khi sấy ở 1050C đến khối lượng không đổi
X%= Khối lượng khô (g) / Khối lượng tươi (g) x 100
(15) Đánh giá hàm lượng protein tổng số theo phương pháp Bradford [26]
Các bước tiến hành
-NAA Đậu bắp tươi được nghiền mịn trong cối sứ
-NAA Cân 200 mg mẫu, bổ sung 500 µl đệm PBS, trộn đều mẫu và ủ qua đêm ở 40C.-NAA Ly tâm mẫu 15.000 vòng/phút trong 15 phút ở 100C, loại bỏ kết tủa
-NAA Lấy 20 µl dịch nổi bổ sung thêm 1000 µl thuốc nhuộm Bradford, trộn đềurồi đem đo ở bước sóng 595 nm trên máy quang phổ SmartSpec3000 của hãngBiorad Mẫu trắng là đệm Arakawa
-NAA Hàm lượng protein được tính dựa trên đường chuẩn albumin huyết thanh bò(Bovin serum albumin -NAA BioRad) với thang nồng độ từ 0,2 đến 1,4 mg/ml
-NAA Thí nghiệm lặp lại 3 lần