1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum

75 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCLÊ THỊ THU NGA NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA, TỈNH KON TUM CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC MÃ SỐ: 60 42 60 LUẬN VĂN THẠ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LÊ THỊ THU NGA

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA,

TỈNH KON TUM

CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC

MÃ SỐ: 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS VÕ VĂN PHÚ

Huế, năm 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Lê Thị Thu Nga

Trang 3

Khoa học – Đại học Huế, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo đã tham gia giảng dạy; quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Sinh - Trường Đại học Khoa học Huế đã động viên giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn các hộ ngư dân vùng xung quanh sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum đã hỗ trợ trong quá trình thu thập tài liệu, mẫu vật

Xin cảm ơn gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, động viên để hoàn thành luận văn

Huế, tháng 9 năm 2013 Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Nga

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 2

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở CÁC THUỶ VỰC NỘI ĐỊA VIỆT NAM 2

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở KON TUM 6

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI 7

VÙNG NGHIÊN CỨU 7

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 7

2.1.1 Vị trí địa lý 7

2.1.2 Địa hình, địa mạo và thổ nhưỡng 7

2.1.2.1 Địa tầng 7

2.1.2.2 Địa hình, địa mạo 9

2.1.2.3 Thổ nhưỡng 11

2.1.3 Đặc điểm khí hậu 12

2.1.4 Thuỷ văn 14

2.1.5 Tài nguyên sinh vật 15

2.1.5.1 Thảm thực vật 16

2.1.5.2 Khu hệ động vật 16

2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI 17

2.2.1 Dân số 17

2.2.2 Nguồn nhân lực 18

2.2.3 Kinh tế 18

2.2.4 Cơ sở hạ tầng 19

2.2.5 Tiềm năng về du lịch 19

2.2.6 Giáo dục và Y tế 19

2.2.6.1 Giáo dục 19

2.2.6.2 Y tế 20

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN 21

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21

Trang 5

3.4.1.1 Thu mẫu 23

3.4.1.2 Xử lý và bảo quản mẫu cá 23

3.4.1.3 Điều tra, phỏng vấn ngư dân và nhân dân địa phương vùng nghiên cứu 23

3.4.1.4 Thu thập và tập hợp tài liệu 23

3.4.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 23

3.4.2.1.Phương pháp phân tích các số liệu hình thái 23

3.4.2.2 Định loại các loài cá 25

3.4.3 Đánh giá mối quan hệ thành phần loài giữa các khu hệ theo công thức tính hệ số gần gũi của Sorencen (1948) 25

3.4.4 Các phương pháp áp dụng trong xử lý số liệu, sơ đồ, biểu đồ 26

Chương 4 THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 27

4.1 DANH LỤC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 27

4.2 CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 30

4.3 CÁC NHÓM ƯU THẾ 33

4.4 CÁC LOÀI CÁ QUÝ HIẾM 36

4.5 CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ 36

4.6 CÁC LOÀI CÁ LÀM CẢNH 38

4.7 CÁC LOÀI CÁ NHẬP NỘI 39

4.8 ĐẶC TRƯNG ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI 40

Như vậy, tỷ lệ họ/bộ ở sông Đăkbla thấp hơn tỷ lệ họ/bộ của khu hệ cá được so sánh 41

Chương 5 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 42

5.1 ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 42

5.1.1 Nhóm cá phân bố theo lưu vực sông 42

5.1.1.1 Nhóm cá miền núi 43

5.1.1.2 Nhóm cá Đồng bằng trung du 43

5.1.2 Các nhóm cá phân bố theo sinh cảnh 44

5.1.2.1 Nhóm cá sinh thái cá nước chảy 44

5.1.2.2 Nhóm cá sinh thái cá nước ít chảy 45

5.1.2.3 Nhóm cá sinh thái cá ao ruộng 45

5.2 SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ TRÊN SÔNG ĐĂKBLA .46

5.3 TÍNH ĐẶC HỮU TRONG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ SÔNG ĐĂKBLA 49

Chương 6 TÌNH HÌNH KHAI THÁC, NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 50

6.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC 50

6.2 NUÔI TRỒNG 52

6.3 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI 53

6.3.1 Khai thác hợp lý 54

6.3.2 Nuôi thả 54

6.3.3 Bảo vệ nguồn lợi 55

6.3.3.1 Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích kinh tế 55

6.3.3.2 Chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển bền vững 56

6.3.3.3 Phối hợp quản lý liên ngành và thực thi pháp luật 56

Trang 6

2 ĐỀ NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC

Trang 7

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 8

Bảng 2.1 Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình 10

Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở tỉnh Kon Tum 13

Bảng 2.3 Tốc độ gió trung bình và lớn nhất tại trạm đo thành phố Kon Tum 14

Bảng 2.4 Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Kon Tum 15

Bảng 2.5 Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số và tỉ lệ số dân các huyện và 17

thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum năm 2012 17

Bảng 3.1 Địa điểm các vùng thu mẫu ở sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum 21

Bảng 4.1 Danh lục thành phần loài cá ở sông Đăkbla 27

Bảng 4.2 Số lượng các bộ, họ, giống và loài của thành phần loài cá 30

ở sông Đăkbla 30

Bảng 4.3 Tính đa dạng về taxon bậc họ của thành phần loài cá ở sông Đăkbla 34

Bảng 4.4 Các bộ, họ có số loài ưu thế trong thành phần loài cá ở sông Đăkbla 35

Bảng 4.5 Các loài cá quý hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam (2007) 36

Bảng 4.6 Danh lục các loài cá kinh tế ở sông Đăkbla 37

Bảng 4.7 Danh lục các loài cá có thể dùng làm cảnh ở sông Đăkblaơ 39

Bảng 4.8 Danh lục các loài cá nhập nội và nuôi ở sông Đăkbla 39

Bảng 4.9 Tỷ lệ chênh lệch các bậc taxon của một số khu hệ cá trong nước 40

Bảng 5.1 Sự phân bố của cá loài cá kinh tế trên sông Đăkbla 46

Bảng 6.1 Các loại ngư cụ, thời điểm và năng suất bình quân khai thác thủy sản trên sông Đăkbla 50

Trang 9

Hình 3.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu cá trên sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum 22

Hình 3.2 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá (theo W.J Rainboth, 1996) 24

Hình 3.3 Các chỉ số đếm trong phân loại cá 24

Hình 4.1 Biểu đồ số lượng các họ, giống và loài trong thành phần loài cá 31

ở sông Đăkbla 31

Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ (%) số họ của thành phần loài cá ở sông Đăkbla 32

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ (%) số giống của thành phần loài cá ở sông Đăkbla 32

Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ (%) số loài của thành phần loài cá ở sông Đăkbla 33

Hình 4.5 Biểu đồ số lượng các nhóm ưu thế của thành phần loài cá 35

ở sông Đăkbla 35

Hình 4.6 Biểu đồ tỷ lệ % các loài cá kinh tế ở sông Đăkbla 38

Hình 4.7 Biểu đồ so sánh tỷ lệ các taxon thành phần loài ở các khu hệ cá khác nhau 41

Hình 5.1 Biểu đồ số lượng phân vùng của các loài cá sông Đăkbla 42

Hình 5.2 Sơ đồ sự phân bố của cá loài cá kinh tế trên sông Đăkbla 48

Trang 10

MỞ ĐẦU

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, địa hình, nguồn nước nên Tây Nguyên

là nơi hết sức lý tưởng để phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, các địa phương trong vùng vẫn chưa phát huy hết lợi thế này Tây Nguyên có tiềm năng mặt nước hết sức dồi dào Thống kê năm 2007 cho thấy, cả vùng có 56.236 ha mặt nước có khả năng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trong đó Đăk Lăk 7.570 ha, Đăk Nông 932 ha, Lâm Đồng 15.360 ha, Gia Lai 11.400 ha và Kon Tum

là 20.974 ha [5]

Kon Tum là tỉnh thuộc Tây Nguyên, có vị thế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển nghề đánh bắt và nuôi cá nước ngọt Kon Tum còn có hệ thống sông suối dày đặc phân bố khắp toàn tỉnh Trong đó, có sông Đăkbla là dòng sông nổi tiếng vùng Tây Nguyên vì chảy ngược lên hướng Tây Nếu như nhiều dòng sông khác ở Việt Nam bắt nguồn từ Trường Sơn chảy về biển Đông thì sông Đăkbla lại theo hướng Tây Trường Sơn, lẻ loi một mình, trượt dài 100km, từ địa phận huyện Kon Plong ở phía Tây tỉnh Kon Tum về thành phố, rồi lượn vòng sang hướng Tây - Tây Nam hợp với con sông Kroong Pô Kô từ hướng Bắc đổ xuống thành con sông lớn Sê San hùng vĩ

Theo đánh giá của các chuyên gia, nguồn lợi cá ở sông Đăkbla rất phong phú, các điều kiện của môi trường khá thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loài cá khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nguồn lợi cá ở đây chưa được quan tâm đúng mức Đặc biệt, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thành phần loài và sự phân bố cá của hệ thống sông này để từ đó đề xuất biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa

chọn đề tài: "Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở

sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum”.

Trang 11

Chương 1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở CÁC THUỶ VỰC NỘI ĐỊA VIỆT NAM

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cá nội địa được đề cập từ rất sớm Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu thực sự có hệ thống về cá nước ngọt mới bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX và hầu hết là của các tác giả người nước ngoài như:

J Henry (1865), H.E Sauvage (1877, 1878, 1881, 1884, ); G Tirant (1883, 1885, 1929, ); Pellegrin (1906, 1923, 1928, 1932, 1934 ), P Worman (1925), Công trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nước ngọt của Việt Nam là của H.E Sauvage được công bố năm 1981 Đó là tác phẩm "Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu", đã mô tả một số loài cá ở Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước

ta P Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937) có nhiều công trình nghiên cứu về cá

ở các sông suối Miền Bắc Việt Nam trong đó công trình của P Chevey và J Lemasson (1937) "Góp phần nghiên cứu về các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam" đã giới thiệu 17 họ, 98 loài Ở vùng nước ngọt miền Trung, công trình đầu tiên được biết đến là của G Tirant (1929) về khu hệ cá sông Hương - Huế công bố

70 loài trong đó có 5 loài mới Năm 1937, một công trình tổng hợp về cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam của P Chevey và J Lemason: "Góp phần nghiên cứu các loài

cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam" đã giới thiệu 98 loài thuộc 17 họ Công trình này là công trình đầy đủ nhất lúc bấy giờ [3] Các mẫu chuẩn trong thời kỳ này phần lớn lưu trữ tại viện bảo tàng Paris và việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức

độ mô tả, thống kê thành phần loài, còn nghiên cứu về nguồn lợi chưa được thực hiện

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), công tác nghiên cứu cá bị gián đoạn Khi hòa bình lập lại, công tác nghiên cứu cá lại được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành

Thời kỳ (1955 - 1975), công tác điều tra cơ bản sinh vật nước ngọt do các trạm nghiên cứu Thủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục Thủy Sản (nay là

Bộ Nông nghiệp và phát tiển nông thôn), Khoa Sinh học trường Đại học Tổng Hợp

Hà Nội và Trường Đại học Thủy Sản Hải Phòng lúc bấy giờ thực hiện Các cơ quan

Trang 12

nghiên cứu này đã tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc và Khu IV cũ, ở các loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng Các thủy vực sau đây được điều tra kỹ hơn: sông Đà, sông Cầu, sông Chảy, sông Lô, sông Gấm, sông Châu Giang, sông Ninh Cơ, sông Cần Thao, sông Bắc Hưng Hải Các hồ đầm, hồ chứa: Thác Bà, Ba Bể, Hồ Tây, Cấm Sơn, Suối Hai, Đại Lãi, Vân Trục Còn các hồ như ruộng lúa được tiến hành điều tra ít hơn, các vùng xa như Hà Giang, Lai Châu, Móng Cái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,

Các công trình tiêu biểu nghiên cứu khu hệ thời kỳ này ở miền Bắc là của: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958): Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961): Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây; Mai Đình Yên (1962): Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng; Nguyễn Văn Hảo (1964): Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba Bể; Hoàng Duy Hiệp, Nguyễn Duy Hảo (1964): Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Mã; P Bananescu (1967, 1970, 1971): Nghiên cứu phân họ cá Mương (Cultrinae)

Ở miền Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoa học người Việt Nam

và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir (1965); Yamamura (1966), Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972), Y Taki (1975),

Sau năm 1975, nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài cũng như đặc điểm sinh học được triển khai nên đã lấp dần các điểm trắng Các công trình gồm: Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, thống kê 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam, thống kê 157 loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần các loại cá sông Thu Bồn gồm 58 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (225 loài) [3]

Trang 13

Ở miền Trung đã có một số công bố của các tác giả sau: Dương Tuấn (1979): Đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá đầm Châu Trúc (39 loài); Võ Văn Phú (1995): Thành phần cá loài cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài); Vũ Trung Tạng (1999): Thành phần loài cá Đầm Trà Ồ (67 loài) [65]; Nguyễn Thái Tự (1999); Khu

hệ cá Phong Nha (72 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” thống kê có 83 loài [22]; Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng (2003): Cá khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa (78 loài); Võ Văn Phú, Trương Thị Thu

Hà (2003): Cấu trúc thành phần loài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình (169 loài) [39]; Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng (2003): Khu hệ cá ở vùng cửa sông ven biển tỉnh

Hà Tĩnh (131 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Thu Hà (2003),"Đa dạng sinh học về thành phần loài cá hồ thuỷ điện Yaly, Gia Lai - Kon Tum" (98 loài) [10]; Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng (2003), "Khu hệ cá vườn Quốc gia Bạch Mã" (57 loài) [38]; Võ Văn Phú, Phan Đỗ Quốc Hùng (2005), "Đa dạng sinh học thành phần loài cá hệ sinh thái Sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế" (121 loài) [45]; Võ Văn Phú, Hoàng Trọng Tú, Hoàng Đình Trung, Văn Ngọc Cương (2006)," Đa dạng sinh học thành phần loài cá khu bảo tồn thiên nhiên Đăkrông, tỉnh Quảng Trị" với 100 loài [51]; Đinh Minh Quang (2008): Dẫn liệu về thành phần loài cá trên lưu vực sông Hậu thuộc địa phận An Phú – An Giang (68 loài ) [59]; Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Lý Hằng, Lê Hải Thành, Phạm Như Ý (2008), "Đa dạng thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (114 loài) [40]; Võ Văn Phú, Trần Thụy Cẩm Hà (2008): “Đa dạng về thành phần loài cá ở hệ thống sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” với 154 loài [53]; Võ Văn Phú và Nguyễn Duy Thuận (2009),"Nghiên cứu thành phần loài cá ở hệ thống sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế" thống kê được 109 loài [54]; Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh (2010): Nghiên cứu khu hệ cá ở hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam (197 loài) [1]; Võ Văn Phú và cộng sự (2011): Nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường các hệ sinh thái thuỷ sinh đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, những tác động các công trình trên dòng chính sau thực hiện quy hoạch đến điều kiện tự nhiên môi

Trang 14

trường vùng đầm phá và đề xuất biện pháp giảm thiểu (199 loài) [56]; Trần Đại Nghĩa (2011): Nghiên cứu khu hệ cá sông Roòn, tỉnh Quảng Bình (135 loài) [29]; Nguyễn Giang Nam (2011): Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình (101 loài) [30]; Võ Văn Phú, Nguyễn Tuấn (2011): Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở hệ thống sông Hội An, tỉnh Quảng Nam (141 loài) [62]; Võ Văn Phú, Nguyễn Hoàng Diệu Minh (2011): “Điều tra thành phần loài cá ở vùng rừng Cao Muôn và Cà Đam, tỉnh Quảng Ngãi góp phần xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên” [27]; Võ Văn Phú, Lê Văn Quảng, Dương Tuấn Hiệp và Nguyễn Duy Thuận (2011) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá rạn san hô ven bờ đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị” (103 loài) [57]; Nguyễn Hữu Dực, Tống Xuân Tám (2012) "Nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn( 264 loài) [7] Võ Văn Phú và Phạm Thanh Hà (2012) "Cấu trúc thành phần loài cá ở hệ thống sông Hiếu, tỉnh Quảng trị" đã xác định được 170 loài cá của

82 giống nằm trong 52 họ của 16 bộ cá khác nhau [11], [42]

Bước sang thế kỷ thứ XXI, khi nói về phân loại học cá nước ngọt Việt Nam chúng ta không thể không nhắc tới Nguyễn Văn Hảo (2001 và 2005) tác giả, chủ biên công trình “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mô tả các loài nước ngọt điển hình

và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng cửa sông, đầm phá ven biển Theo công bố này, tác giả đã thống kê được 1.027 loài

và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22 bộ Trong đó, tập I (2001) dành cho họ

cá Chép (Cyprinidae) thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) với 11 phân họ, 103 giống,

315 loài và phân loài [12]; tập II (2005) phân loài và mô tả những loài thuộc lớp cá Sụn (Chondrichthyes) và bốn liên bộ cá Xương (Osteichthyes): liên bộ cá Thát lát (Osteoglossomorpha), liên bộ cá Trích (Clupeomorpha), liên bộ cá Cháo (Elopomorpha) và liên bộ cá Chép (Cyprinomorpha) với 331 loài và phân loài thuộc

109 giống, 34 họ, 10 bộ [13]; tập III (2005) gồm 378 loài thuộc 174 giống, 63 họ và

12 bộ nằm trong 3 tổng bộ: Cá dạng mang ếch (Batrachoidomorpha), cá dạng Suốt (Atherinomorpha) và cá dạng Vược (Percomorpha) [12],[14] Đây được xem là bộ sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và chi tiết nhất Việt Nam hiện nay

Trang 15

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở KON TUM

Nghiên cứu về cá nước ngọt ở khu vực Tây Nguyên có các tác giả: Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994): Thành phần loài ở một số sông suối của Tây Nguyên (82) loài; Nguyễn Thị Thu Hè (2003): Thành phần loài cá ở sông suối Tây Nguyên (138 loài) [16]

Ở Kon Tum hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về cá, chỉ có một số công trình nghiên cứu ở một số nơi trên toàn tỉnh Tiêu biểu: Đề tài khoa học cấp tỉnh (Sở KHCN tỉnh Kon Tum, 2003): "Điều tra đa dạng sinh học vùng lòng hồ Yaly phục vụ phát triển bền vững" Kết quả của đề tài đã ghi nhận được các danh lục thành phần loài tảo, động vật nổi, động vật đáy và cá Đề tài đã công bố được 95 loài cá thu được ở vùng lòng hồ Yaly và đã đề xuất được các mô hình nuôi cá lồng, nuôi cá ao đất ven bờ hồ Yaly Đây được xem là một công trình nghiên cứu cá đầu tiên ở tỉnh Kon Tum Là thành viên của đề tài, đồng thời là học viên cao học bảo vệ luận văn về "Thành phần loài cá ở hồ Yaly" do PGS TS Võ Văn Phú hướng dẫn Để tiếp tục có số liệu làm nghiên cứu sinh, Nguyễn Thị Thu Hà (2009) đã thu thập thêm số liệu và công bố thành phần loài cá hồ thủy điện Yaly với 98 loài Ngoài ra, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thành phần loài cá ở các sông, suối của tỉnh Kon Tum để từ đó đề xuất biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi

Trang 16

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1.2 Địa hình, địa mạo và thổ nhưỡng

2.1.2.1 Địa tầng

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum phổ biến các đơn vị địa tầng có tuổi từ cổ đến trẻ Các thành tạo tuổi cổ bao gồm 3 phức hệ biến chất, các thành tạo tuổi trẻ hơn bao gồm 10 hệ tầng Các thành tạo địa tầng về quy mô phân bố cũng như thành phần vật chất rất đa dạng, dựa vào thời gian thành tạo có thể phân chia và mô tả các phân vị địa tầng theo thứ tự như sau [61]

* Hệ tầng A Vương (ε-O 1 av)

Hệ tầng A Vương bao gồm các trầm tích lục nguyên xen các thấu kính hoặc lớp mỏng phun trào mafic, silic, đá phiến đen, cuội kết, đá hoa, chúng bị biến chất không đều ở nhiều mức độ khác nhau Tập hợp các đá của hệ tầng A Vương chủ yếu là đá phiến thạch anh-sericit, đá phiến sét silic xen kẹp nhiều lớp quarzit, đá phiến sét than, lớp mỏng phun trào acit biến đổi, thấu kính đá vôi, đá vôi đolomit, sét vôi Ngoài ra còn có đá phiến sét vôi, vôi sét

* Hệ tầng Cư Brei (D 1 cb)

Hệ tầng Cư Brei lộ ra 2 diện nhỏ ở vùng Cư Brei và ở vùng làng Rẽ Thành phần thạch học gồm cuội kết, cuội sạn cát kết phân lớp dày, thành phần cuội chủ yếu là thạch anh mài tròn tốt, ít granit aplit, granit gneis, đá phiến kết tinh và đá gneis, các hòn cuội đều bị ép dẹt

Trang 17

* Hệ tầng Chư Prông (P 2 -T 1 cp)

Các thành tạo của hệ tầng này phân bố ở phía Nam tỉnh Kon Tum, bao gồm các đá tuf các loại có thành phần andesit porphyrit, andesit đacit, cuội tảng kết tuf, cuội sạn kết tuf, sét kết tuf, tuf dăm và tuf dung nham

* Hệ tầng Mang Yang (T 2 my)

Tại Kon Tum có các thành tạo nguồn núi lửa được xếp vào hệ tầng Mang Yang phân bố rộng ở phía Nam, Tây Nam của tỉnh Các thành tạo trầm tích nguồn núi lửa thành phần felsic, phân bố rộng rãi Đây là những loại đá rất dễ gây trượt lở khi có mưa và lớp phủ thực vật giảm

* Hệ tầng Đăk Rium (K 2 đr)

Các thành tạo hệ tầng Đăk Rium lộ ra ở phía Đông Bắc tỉnh, diện lộ lớn và kéo dài thành dải dọc theo đứt gãy lớn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Các đá có thế nằm đơn nghiêng, mặt cắt tổng hợp Thành phần thạch học chủ yếu là sạn kết chứa cuội màu đỏ, cát kết, bột kết màu đỏ gụ, cát kết thạch anh

* Hệ tầng Túc Trưng (B/N 2 -Q 1 tt)

Phân bố chủ yếu ở phía Nam, Tây Nam và một phần nhỏ ở phía Tây Bắc của tỉnh Ở phía Nam diện phủ của các thành tạo khá lớn và đẳng thước, kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Phân bố trên diện tích các xã Ia Chim, Đoàn Kết, Hoà

Trang 18

Bình Một số diện lộ nhỏ dạng thấu kính, elip phân bố ở xã Đăk Long với diện tích

từ 0,5- 6km2

* Trầm tích hệ Đệ tứ không phân chia (Q)

Trên diện tích toàn tỉnh Kon Tum, các thành tạo hệ Đệ tứ phân bố rộng rãi dọc theo các thung lũng sông lớn, các bậc thềm, các đứt gãy định hướng thung lũng Các thành tạo hệ Đệ tứ phân bố thành 3 khu vực chính: Dải thứ nhất dọc theo đứt gãy lớn đới Pô Kô theo hướng kinh tuyến; dải thứ 2 dọc theo thung lũng và các đứt gãy lớn hướng Tây Bắc- Đông Nam từ Đăk Tô về Đăk Hà; dải thứ 3 phân bố dọc theo sông Đăk Bla và lân cận thung lũng thành phố Kon Tum Ngoài ra, còn phân

bố rải rác dọc theo các sông suối nhỏ như, Đăk Rve, Đăk Ruồng,…thành phần thạch học gồm sỏi, tảng, sạn, cát, sét bở rời [61]

Như vậy, lãnh thổ Kon Tum hầu hết được cấu tạo bởi các phức hệ trầm tích, macma và biến chất tuổi từ Paleozoi đến Kainozoi Các phức hệ trên với thành phần thạch học chủ yếu là cát kết, bội kết, đá phiến thạch anh biotit, phiến thạch anh mica

là những loại đá dễ phong hóa, tiền đề cho trượt lở đất xảy ra.

2.1.2.2 Địa hình, địa mạo

Phần lớn lãnh thổ Kon Tum nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn Nam, địa hình

đa dạng và thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, địa hình bị chia cắt nhiều bởi các thung lũng sâu và mạng lưới sông suối dày đặc Cấu trúc địa hình bao gồm: đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ với nhau rất phức tạp Ở phía Bắc đồi núi cao, độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800-1.200m Ở phía Nam độ cao trung bình từ 500m -550m Theo nguồn gốc hình thái có thể chia thành các dạng địa hình chính sau đây [61]:

- Vùng núi cao: Bao gồm khối núi cao Ngọc Linh ở phía Bắc (đỉnh Ngọc

Linh cao 2598m) và cao nguyên Ba zan cổ ở phía Đông (độ cao trung bình từ 1100m - 1300m) Độ cao bình quân của vùng đạt từ 1200m – 1600m Địa hình vùng núi cao này có diện tích 537,207 ha, chiếm gần 51% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đây là khu vực có bề mặt địa hình rất phức tạp, bề mặt bị chia cắt mạnh tạo nên nhiều núi cao bên cạnh khe vực sâu Địa hình có độ dốc rất lớn, trong đó có khoảng 97% diện tích của vùng có độ dốc trên 250, nhiều nơi có độ dốc trên 400,

Trang 19

phần diện tích tương đối bằng (độ dốc dưới 80) chỉ chiếm 0,8% Phần lớn diện tích

là rừng tự nhiên thuộc loại rừng đặc dụng và rừng phòng hộ Đây là khu vực rất dễ xảy ra trượt lở đất khi có điều kiện thuận lợi như mùa mưa, hoạt động cắt xén sườn,

- Vùng núi thấp: Nằm ở phía Tây Nam khối Ngọc Linh với diện tích khoảng

256.870 ha, chiếm 24% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Độ cao trung bình đạt 800m- 1000m, địa hình có độ dốc trên 250 chiếm khoảng 80% diện tích của vùng, phần diện tích tương đối bằng (độ dốc dưới 80) chỉ chiếm có 6,0% Trên dạng địa hình này độ che phủ của thảm thực vật còn thấp, do tác động chặt phá rừng của con người, hiện chỉ còn lại phổ biến là rừng tre, rừng trồng manh mún, nương rẫy và đất trống đồi trọc Với thảm thực vật đang giảm, khi mùa mưa đến là cơ hội cho trượt lở đất xảy ra

- Vùng thung lũng: Phân bố chủ yếu ở thành phố Kon Tum, huyện Đăk Hà,

huyện Sa Thầy, phía Nam huyện Đăk Tô và phía Đông huyện Ngọc Hồi, thuộc thung lũng các sông Pô Kô, Đăk Bla và Sa Thầy (các nhánh của sông Sê San) Độ cao trung bình đạt 600m - 700m Vùng này có diện tích khoảng 261793 ha, chiếm 25% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Địa hình dốc trên 100 - 250 chiếm khoảng 38% diện tích của vùng, phần diện tích tương đối bằng (độ dốc dưới 80) chiếm khoảng 14% [61]

Bảng 2.1 Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình

STT Độ dốc Đơn vị tính Vùng núi cao Vùng núi thấp Vùng thung lũng Toàn tỉnh

%

42500,8

155206,0

3734014,3

571105,4

2 80 - 150 ha

%

98501,8

184507,2

4321016,5

715106,8

3 150- 250 ha

%

13500,3

161806,3

8150031,1

990309,4

4 > 250 ha

%

52175797,1

20672080,5

9974338,1

82822078,4

%

537207100

256870100

261793100

1055870100

Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013

Trang 20

Do đặc điểm địa hình tỉnh Kon Tum có xu thế tăng cao ở phía Bắc và Đông Bắc, lượn sóng mạnh mẽ thấp dần xuống phía Nam và Tây Nam Hệ thống núi nhấp nhô, đỉnh nhọn và cao nguyên bậc thềm xen kẽ làm cho địa hình phân cách, hiểm trở, đi lại khó khăn, nhiều nơi độ dốc trên 200% tạo thành những thung lũng như: thung lũng Tân Cảnh – Huyện Đăk Tô, thung lũng thành phố Kon Tum, thung lũng thị trấn Sa Thầy, thung lũng thị trấn Kon Rẫy hoặc các hợp thuỷ, khe suối.

Như vậy, tỉnh Kon Tum có nhiều dạng địa hình của vùng núi cao nguyên Trong đó, địa hình núi cao chiếm ưu thế, với độ cao, độ dốc lớn, mức độ chia cắt sâu và chia cắt ngang mạnh đang tiềm ẩn nhiều tai biến môi trường, nhất là trượt lở đất đá theo các tuyến giao thông khi mùa mưa đến

4) Nhóm đất mùn vàng trên núi: với khoảng 437.305 ha, chiếm 45,48%; gồm

5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt có nơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏ trên mácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít

5) Nhóm đất thung lũng: có 3.405 ha, chiếm 0,35%; chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có sản phẩm dốc tụ Ngoài ra đất xói mòn trơ sỏi đá, ao hồ, sông suối 11.053 ha, chiếm 1,15%

Trang 21

Đất đai Kon Tum có tầng dày mỏng không đồng đều, hàm lượng dinh dưỡng của các nhóm đất chính đa phần là trung bình hoặc nghèo, độ chua và độ bazơ thấp Đất có khả năng nông nghiệp chủ yếu là các loại đất xám trên phù sa cổ, đất xám trên đá mắcma axít, đất phù sa được bồi và đất phù sa có tầng loang lổ Ở một số vùng có tầng dày canh tác rất phù hợp với phát triển cây công nghiệp dài ngày (Đăk

Hà, Ngọc Hồi, thành phố Kon Tum)

- Nắng: Tính chất của khí hậu có hai mùa mưa - khô nên số giờ nắng ở Kon Tum khá lớn với tổng số giờ nắng hàng năm vào khoảng trên dưới 2371 giờ, số tháng có nhiệt độ trên 200C và số tháng có trên 200 giờ nắng chiếm đa số, trong đó tháng 2 có giờ nắng cao nhất đạt 274 giờ Ngược lại, trong mùa mưa có những tháng dưới 150 giờ nắng, trong đó tháng 8 có số giờ nắng thấp nhất là 121 giờ và có những ngày chỉ đạt 2-3 giờ nắng ( Bảng 2.2) [5], [61]

- Nhiệt độ, độ ẩm: Chế độ nhiệt khá dồi dào và phong phú, không những quanh năm cao mà còn ổn định Nhiệt độ trung bình năm từ 23,40C, biên độ nhiệt giao động trong năm từ 5,50- 6,00C, tuy nhiên biên độ nhiệt giao động ngày đêm tương đối lớn, trung bình từ 8-90C Do cấu trúc địa hình có sự phân hoá theo độ cao,

do đó nhiệt độ không khí có sự giảm theo độ cao của địa hình, trung bình 0.60C/100m, về mùa khô lên đến 0,7- 0,80C/100m [5], [61]

Độ ẩm lớn, giao động bình quân hàng năm 79,8% Từ tháng VI – X độ ẩm không khí cao (từ 81-83%) và thấp vào các tháng XII đến tháng IV năm sau (từ 73-77,5%)

Trang 22

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt 1788.9mm, tháng VIII có lượng mưa cao nhất là 339.3mm, tháng I có lượng mưa thấp nhất 1,4mm Mỗi năm

có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng IV đến tháng X trong năm, thời tiết nóng ẩm; mùa khô bắt đầu tháng XI trong năm đến đầu tháng IV năm sau, thời tiết hanh khô, độ ẩm không khí hạ thấp [5], [61]

Sự có mặt của dãy Trường Sơn Nam và các đỉnh núi cao của dãy núi này trên địa phận lãnh thổ của tỉnh Kon Tum và vùng phụ cận đã tạo điều kiện thuận lợi đón gió mùa mùa hạ (gió mùa Tây Nam) đem hơi ẩm từ vịnh Bengan vào gây ra lượng mưa lớn suốt 6 tháng liền (từ tháng V đến tháng X) Tuy nhiên, do tác dụng chắn gió mùa mùa đông (chủ yếu là chắn gió mùa Đông Bắc) của dãy Trường Sơn Nam

đã tạo ra cho Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng một thời kỳ khô hạn kéo dài 6 tháng (từ tháng XI đến tháng IV năm sau)

Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở tỉnh Kon Tum

Tháng Ttb (0C) Tmax (0C) Tmin (0C) Giờ nắng (giờ) Lượng mưa (mm)

Trang 23

Về phân bố mưa theo không gian có sự không đều giữa các khu vực trong tỉnh Vùng thung lũng thành phố Kon Tum, thung lũng sông Pô Kô có lượng mưa năm nhỏ nhất, khoảng dưới 1800 mm Từ đây lượng mưa năm tăng dần theo hướng Đông Bắc và hướng Tây Băc, vùng núi cao Ngọc Linh với lượng mưa năm biến động từ 2500 mm đến 2800 mm và vùng nam Sa Thầy - Chư Pah nơi thuận lợi hội

tụ của gió mùa Tây Nam với lượng mưa năm biến động từ 2400 mm đến 2600 mm Trên thực tế, những khu vực có lượng mưa lớn, địa hình dốc cũng là nơi xảy ra trượt lở nhiều hơn, đặc biệt trên các tuyến giao thông do làm bạt ta luy, quá trình khai phá để xây dựng càng góp phần cho trượt lở đất diễn ra mạnh hơn (bảng 2.2)

- Gió bão: Do ảnh hưởng của các hoàn lưu khí quyển nên ở hầu hết các nơi trong tỉnh hướng gió thịnh hành về mùa Đông là gió Bắc và Đông Bắc, về mùa hạ là gió Tây và gió Tây Nam Tốc độ gió trung bình hàng năm không lớn, nhất là ở các nơi không thoáng gió như vùng thung lũng Kon Tum

Kon Tum nằm cách xa biển, có dãy Trường Sơn Nam án ngữ ở phía Đông nên bão thường không trực tiếp đổ bộ vào địa phận lãnh thổ của tỉnh mà chỉ gây ảnh hưởng Trong vòng 30 năm qua đã ghi nhận được 3 trận bão lớn gồm, cơn bão ngày 8/10/1973; cơn bão ngày 4/11/1975 và cơ bão số 9 tháng 11/2009 Bão đã gây ra mưa lớn trên diện rộng và kéo dài từ 3 đến 7 ngày (bảng 2.3)

Bảng 2.3 Tốc độ gió trung bình và lớn nhất tại trạm đo thành phố Kon Tum

Tháng

Vtb 1.8 1.6 1.4 1.1 1.6 0.9 0.8 0.9 0.6 0.9 1.9 2.1 1.8

Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013

Như vậy, lượng mưa ở Kon Tum tập trung trong các tháng IV đến tháng X, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Bắc và phía Bắc của tỉnh là yếu tố quan trọng gây

ra trượt lở đất trên địa bàn nghiên cứu

2.1.4 Thuỷ văn

Trang 24

Với lượng mưa trung bình đạt 1800mm - trên 2000mm/năm nên nguồn nước mặt ở Kon Tum rất lớn Hệ thống sông suối khá dày đặc và phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổ Các sông chính ở Kon Tum chủ yếu là các nhánh thuộc hệ thống sông Sê San với rất nhiều dòng chảy bình quân trên lưu vực lãnh thổ Việt Nam Nhìn chung, dòng chảy hang năm ở Kon Tum phong phú.

Bảng 2.4 Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Kon Tum

Sông

Diện tích

lưu vực(km2)

Chiều dài sông (km)

Mật độ sông(km/km2)

Hệ số uốn khúc

Độ dẻo(%o)

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013

Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm ở Kon Tum rất phong phú Nước ngầm trong thành tạo Bazan đóng vai trò chủ yếu nhất, sau đó là thành tạo Neogên, mực nước ngầm ở khu vực nghiên cứu thường phân bố ở độ sâu từ 10- 25m

Hầu hết các sông đều có chiều dài lớn, đi qua nhiều dạng địa hình dốc, cắt xẻ mạnh, lòng sông hẹp và không ổn định nên nhiều đoạn hiện tượng xói lở bờ sông diễn ra mạnh Do đó, các tuyến giao thông chạy song song với bờ sông hiện tượng sạt lở ta luy âm thường xuyên xảy ra như tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn đi qua huyện Đăk Glei- Ngọc Hồi, hoặc sạt lở bờ sông gây sập cầu trên tuyến quốc lộ 24 đi qua huyện Kon Rẫy,

Với dòng chảy sông suối phân bố không đều, dẫn đến vận tốc dòng chảy không ổn định góp phần thúc đẩy hiện tượng xói lở bờ sông Đặc biệt khu vực miền núi mức độ chia cắt lớn tạo điều kiện thuận lợi cho trượt lở đất xảy ra

2.1.5 Tài nguyên sinh vật

Trang 25

2.1.5.1 Thảm thực vật

Theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi, 6 họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ Trong đó, các họ nhiều nhất là họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột, họ xoan và họ trám Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khác nhau: 600 m trở xuống, 600 - 1.600 m và trên 1.600 m Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua, ở độ cao 1.500 - 1.800 m chủ yếu là thông ba lá, chua, dẻ, re, kháo, chẹc, Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh với những cây dược liệu quý như sâm ngọc linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế Trong những năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khai thác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng Nhưng nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao [61]

2.1.5.2 Khu hệ động vật

Khu hệ động vật ở Kon Tum rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Đáng chú ý nhất là động vật

ăn cỏ như: voi, bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng, Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam Kon Tum (huyện Sa Thầy) Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô; bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy, Đăk

Tô, Konplong đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói

Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn Trong điều kiện rừng bị xâm hại, việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởng đến sự

Trang 26

sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vào xếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thực vật nói riêng, môi trường sinh thái nói chung [61].

Bảng 2.5 Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số và tỉ lệ số dân các huyện và

thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum năm 2012

(km2)

Dân số(người)

Mật độ(người/km2)

Tỉ lệ số dân(%)

Trang 27

Kon Tum là nơi cư trú của nhiều dân tộc (trên 22 dân tộc) Trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (48%) năm 2012, sau đó là các dân tộc như Sê Đăng, Rơ Ngao, Ba Na, Gia Rai, Dẻ và một số dân tộc ít người khác như BRâu, Rơ Mâm chỉ chiếm 0,2% dân số Mỗi dân tộc có một tập quán riêng tiêu biểu cho dân tộc mình nên cũng có sự khác nhau trong cư trú cũng như tập quán sản xuất.

Trong những năm gần đây, việc di dân tự do của một số dân tộc ở vùng núi phía Bắc như: Mường, Tày, Nùng, H’Mông, đã làm cho thành phần dân tộc ở Kon Tum càng ngày càng trở nên phong phú hơn Bên cạnh đó, cũng làm tăng thêm các vấn đề phức tạp của xã hội, nhất là giải quyết công ăn, việc làm và việc quản lý tài nguyên rừng

2.2.2 Nguồn nhân lực

Kon Tum là tỉnh có dân số trẻ, với dân số toàn tỉnh là 432.865 người (năm 2012), trong đó, số người trong độ tuổi lao động có 199.045 người (chiếm 46% dân số), lao động làm việc trong các ngành kinh tế 175.000 người (chiếm 40,2% dân số) Hầu hết nhân dân sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp (lao động nông

- lâm - thuỷ sản chiếm khoảng 78,3%), lao động sản xuất theo mùa vụ nên thường có một khoảng thời gian nhàn rỗi nhưng không kiếm được việc làm để tăng thu nhập cho gia đình Đa số lao động này thường vào rừng khai thác than, củi, khai thác cát, đào đãi vàng sa khoáng,… điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, tài nguyên của địa phương [5]

2.2.3 Kinh tế

Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu,

mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước

Kon Tum có tiềm năng về thuỷ điện vào loại lớn nhất cả nước (2.790 MW) Ngoài các công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Kon Tum còn có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ Hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư đang điều tra, khảo sát các công trình thuỷ điện trên địa bàn Với việc đầu tư các công trình

Trang 28

thuỷ điện hiện nay, trong tương lai, Kon Tum có thể sẽ là một trung tâm điều phối nguồn điện quan trọng của cả nước thông qua đường dây 500 KV.

Bên cạnh đó, Kon Tum có diện tích nông nghiệp và có khả năng nông - lâm nghiệp bình quân vào loại cao so với cả nước, đất đai địa hình sinh thái đa dạng, có khả năng hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp rộng lớn, nhất là cây nguyên liệu giấy…

Phần lớn các dân tộc thiểu số bản địa đều sống bằng nương rẫy và săn bắn Người Ba Na làm ruộng Hoa màu chính là lúa, rồi đến hoa màu phụ là ngô, sắn, khoai, rau cỏ, cà phê, trà và cây ăn trái Lâm sản khá phong phú có thể khai thác được như gỗ lim, trắc hương, sao, gỗ tạp, thêm nữa là mây, tre, nứa, măng và hạt dẻ [61]

2.2.5 Tiềm năng về du lịch

Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Yaly, rừng thông Măng Đen, khu bãi đá thiên nhiên Km 23, thác Đắknung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên… có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng

Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như: Di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô

- Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen… các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái - nhân văn [61]

2.2.6 Giáo dục và Y tế

2.2.6.1 Giáo dục

Do Kon Tum là một tỉnh miền núi việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện, coi trọng nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và đào tạo nhân tài, cả

Trang 29

dạy chữ, dạy nghề và dạy làm người Đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của nhà trường Chuẩn hoá hệ thống, chương trình, điều kiện cơ sở vật chất giáo dục.

Từ năm 2012, trên địa bàn toàn tỉnh Kon Tum có 256 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 14 trường, Trung học cơ sở có 94 trường, Tiểu học có 131 trường, trung học có 10 trường, có 10 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh

đó còn có 108 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Kon Tum cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn

Trang 30

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài cá trong sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum, và tình hình khai thác chúng

3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đã tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập mẫu tại các điểm thu mẫu trên

sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại sông Đăkbla được trình

bày ở hình 3.1

Mẫu thu thập được định loại và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Bộ môn Tài nguyên - Môi trường khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Bảng 3.1 Địa điểm các vùng thu mẫu ở sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum

4 Làng Kon Dơ Dreh, thôn Đắc Hà, xã Đăkblà , TP Kon Tum V4

3.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra, khoả sát, thu thập và phân tích mẫu từ tháng X/2012 đến tháng IX/2013

Trang 31

Hình 3.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu cá trên sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum

Chú thích: 1- 10 Điểm thu mẫu

Trang 32

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

3.4.1.1 Thu mẫu

- Trực tiếp đánh bắt với ngư dân để thu mẫu

- Mua mẫu cá của các ngư dân đánh cá ở các địa điểm nghiên cứu

- Đặt các bình có pha sẵn hoá chất định hình để nhờ các hộ dân khai thác thuỷ sản trên sông thu thập thường xuyên trong thời gian nghiên cứu Thu mẫu cá tại ngư dân một tháng một lần

- Mua và kiểm tra mẫu cá ở các chợ xung quanh vùng nghiên cứu

3.4.1.2 Xử lý và bảo quản mẫu cá

- Mẫu thu được chụp ảnh và xử lý bằng formol ngay khi còn tươi Định hình trong dung dịch formol 10% Bảo quản mẫu trong dung dịch formol 4%

- Đối với các loài cá có kích thước lớn thì tiêm formol 10% vào cơ và ruột

- Ghi nhãn những thông tin: Số thứ tự của mẫu, tên địa phương, địa điểm và thời gian thu mẫu

3.4.1.3 Điều tra, phỏng vấn ngư dân và nhân dân địa phương vùng nghiên cứu

Sử dụng phương pháp RRA (Rapid Rural Appriral), điều tra nhanh nông thôn Điều tra phỏng vấn những thông tin liên quan đến các loài cá vùng nghiên cứu như: tên gọi địa phương, tên phổ thông, kích thước và khối lượng tối đa của cá mà

họ gặp, phương tiện đánh bắt, số lượng cá thể loài nhiều hay ít, sự biến động của các loài cá trước đây và bây giờ, giá trị kinh tế,

3.4.1.4 Thu thập và tập hợp tài liệu

Song song với quá trình thu thập và xử lý mẫu tại thực địa, chúng tôi còn tiến hành thu thập các tài liệu về môi trường và sinh thái Đồng thời tập hợp các số liệu liên quan đến nội dung của đề tài

3.4.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

3.4.2.1.Phương pháp phân tích các số liệu hình thái

Đo kích thước các chỉ số hình thái (mm) và trọng lượng (g) của cá

Đếm một số chỉ tiêu về số lượng tia, gai ở các loại vây chẵn, vây lẻ của cá

Các chỉ số đo: Đo các chỉ số về hình thái (mm) và cân trọng lượng (g) cơ thể cá

Trang 33

Hình 3.2 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá (theo W.J Rainboth, 1996)

Chú thích:

Để khống chế dao động về kích thước giữa các cá thể, chúng tôi dựa vào % các chỉ số theo tỷ lệ sau:

AD/AG; ab/AD; AB/AD; OO/AD; BC/ AD

C. Các chỉ số đếm

Hình 3.3 Các chỉ số đếm trong phân loại cá

Trang 34

1 Vây lưng: D (Dorsal) 4 Vây ngực: P (Pelvic)

2 Vây bụng: V (Ventral) 5 Vây đuôi: C (Caudal)

3 Vây hậu môn: A (Anal)

Các vây đều có tia đơn không phân nhánh và tia phân nhánh (hình 2.3) Tia đơn có hai loại: số tia cứng (ghi số La Mã), tia mềm (ghi bằng số Ả Rập), tia phân nhánh (ghi bằng số Ả Rập) Giữa các tia đơn và tia phân nhánh cách nhau bằng dấu phẩy (,), dao động giữa từng loại tia với nhau ghi bằng gạch nối (-)

+ Các loại vẩy

1 Vẩy đường bên: L.I

2 Vẩy dọc thân: Sq (đối với cá không có đường bên)

3.4.2.2 Định loại các loài cá

- Định loại các loài cá bằng phương pháp so sánh hình thái Theo các khoá phân loại lưỡng phân và mô tả của Vương Dĩ Khang (1963) [20]; Nguyễn Khắc Hường (1991,1993) [18], [19]; Nguyễn Nhật Thi (2000) [77]; Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Tuý Hoa (1972); Y.Taki (1974); Mai Đình Yên (1978, 1992) [71], [72]; Trần Thị Thu Hương và Trương Thủ Khoa (1993) [21]; W.J Rainboth (1996) [78]; Nguyễn Hữu Phụng (1994, 1995) [58]; FAO (1998) [75]; Maurine Kottelat (2001) [76]; Nguyễn Văn Hảo (2001) [12]; Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân (2005) [13], [14]

- Mỗi loài cá được nêu tên khoa học và tên Việt Nam Trình tự các bộ, họ, giống, loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Eschermayer (1998, 2005) [74]

3.4.3 Đánh giá mối quan hệ thành phần loài giữa các khu hệ theo công thức tính hệ số gần gũi của Sorencen (1948)

Công thức: S =

B A

Trang 35

càng khác nhau.

3.4.4 Các phương pháp áp dụng trong xử lý số liệu, sơ đồ, biểu đồ

- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel.

- Xử lý ảnh cá bằng phần mềm Photoshop

- Xử lý bản đồ bằng phần mềm Map - info

Trang 36

4.1 DANH LỤC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA

Qua nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum, đã xác định được 103 loài cá thuộc 69 giống nằm trong 19 họ của 7 bộ cá khác nhau (bảng 4.1) Danh lục thành phần loài cá được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Eschermayer (2005) [74]

Bảng 4.1 Danh lục thành phần loài cá ở sông Đăkbla

nguồn

Giữa nguồn

Cuối nguồn

I BỘ CÁ THÁT LÁT OSTEOGLOSSIFORMES

(1) Họ cá Thát lát Notopteridae

Trang 37

23 Cá Đo G pingi (Tchang, 1929) +

(4) Họ cá Chạch Cobitidae

(5) Họ cá Vây bằng Balitoridae

(6) Họ Cá May Gyrinocheilidae

IV BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES

Ngày đăng: 04/12/2014, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Phương Anh (2010), Nghiên cứu Khu hệ cá ở hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Khu hệ cá ở hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Vũ Thị Phương Anh
Năm: 2010
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách Đỏ Việt Nam, Phần động vật, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
3. Bộ Thuỷ sản (1996), Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Bộ Thủy sản (2007), Một số loài cá nước ngọt thường gặp ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài cá nước ngọt thường gặp ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Thủy sản
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
5. Cục thống kê Kon Tum (2013), Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum năm 2012, Kon Tum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum năm 2012
Tác giả: Cục thống kê Kon Tum
Năm: 2013
6. Nguyễn Hữu Dực (1995), Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam, Tóm tắt Luận án Phó tiến Sĩ Sinh học, Trường đại học sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dực
Năm: 1995
7. Nguyễn Hữu Dực và Tống Xuân Tám (2012), Nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn, Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn
Tác giả: Nguyễn Hữu Dực và Tống Xuân Tám
Năm: 2012
8. Nguyễn Thanh Đăng và Võ Văn Phú (2008), "Đa dạng thành phần loài cá ở hệ thống sông Truồi huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế", Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế, 5(70) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thành phần loài cá ở hệ thống sông Truồi huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thanh Đăng và Võ Văn Phú
Năm: 2008
9. Trần Hồng Đỉnh, Võ Văn Phú (2000), “Thành phần loài khu hệ cá đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Sinh học, 22(3b), tr. 50 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài khu hệ cá đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế”, "Tạp chí Sinh học
Tác giả: Trần Hồng Đỉnh, Võ Văn Phú
Năm: 2000
10. Nguyễn Thị Thu Hà (2009), "Nghiên cứu thành phần loài cá hồ Yaly", Journal of science of hnue, 54(5), tr. 168 -174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài cá hồ Yaly
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2009
11. Phạm Thanh Hà, Võ Văn Phú (2012), "Cấu trúc thành phần loài cá ở hệ thống sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị", Khoa học công nghệ và kinh tế, Sở khoa học và công nghệ Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thành phần loài cá ở hệ thống sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Phạm Thanh Hà, Võ Văn Phú
Năm: 2012
12. Nguyễn Văn Hảo (2001), Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
13. Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 2, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
14. Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Nguyễn Thị Thu Hè (1999), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông suối Tây Nguyên”, Tạp chí Sinh học, 21(4), tr. 26 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông suối Tây Nguyên”, "Tạp chí Sinh học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hè
Năm: 1999
16. Nguyễn Thị Thu Hè (2003), “Dẫn liệu buớc đầu về thành phần loài cá ở một số hồ Tây Nguyên Việt Nam”, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, tr. 98 - 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu buớc đầu về thành phần loài cá ở một số hồ Tây Nguyên Việt Nam”," Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hè
Năm: 2003
17. Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng (2003), “Thành phần các loài cá tại khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa”, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, tr. 131 - 133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần các loài cá tại khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa”, "Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng
Năm: 2003
18. Nguyễn Khắc Hường (1991), Cá biển Việt Nam - cá xương vịnh Bắc Bộ, (tập II, quyển 1), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam - cá xương vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Khắc Hường
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1991
19. Nguyễn Khắc Hường (1993), Cá biển Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Hường
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
20. Vương Dĩ Khang (Nguyễn Bá Mão, dịch) (1963), Ngư loại phân loại học, NXB Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngư loại phân loại học
Tác giả: Vương Dĩ Khang (Nguyễn Bá Mão, dịch)
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1963

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 2.1. Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình (Trang 19)
Bảng 2.2. Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở  tỉnh Kon Tum - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 2.2. Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở tỉnh Kon Tum (Trang 22)
Bảng 2.4. Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Kon Tum - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 2.4. Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Kon Tum (Trang 24)
Bảng 2.5. Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số và tỉ lệ số dân các huyện và - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 2.5. Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số và tỉ lệ số dân các huyện và (Trang 26)
Hình 3.1. Sơ đồ các điểm thu mẫu cá trên sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Hình 3.1. Sơ đồ các điểm thu mẫu cá trên sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum (Trang 31)
Hình 3.2. Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá (theo W.J. Rainboth, 1996) Chú thích: - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Hình 3.2. Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá (theo W.J. Rainboth, 1996) Chú thích: (Trang 33)
Bảng 4.1. Danh lục thành phần loài cá ở sông Đăkbla - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.1. Danh lục thành phần loài cá ở sông Đăkbla (Trang 36)
Bảng 4.2. Số lượng các bộ, họ, giống và loài của thành phần loài cá - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.2. Số lượng các bộ, họ, giống và loài của thành phần loài cá (Trang 39)
Bảng 4.3. Tính đa dạng về taxon bậc họ của thành phần loài cá ở sông Đăkbla - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.3. Tính đa dạng về taxon bậc họ của thành phần loài cá ở sông Đăkbla (Trang 43)
Bảng 4.4. Các bộ, họ có số loài ưu thế trong thành phần loài cá ở sông Đăkbla - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.4. Các bộ, họ có số loài ưu thế trong thành phần loài cá ở sông Đăkbla (Trang 44)
Bảng 4.6.  Danh lục các loài cá kinh tế ở sông Đăkbla - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.6. Danh lục các loài cá kinh tế ở sông Đăkbla (Trang 46)
Bảng 4.7. Danh lục các loài cá có thể dùng làm cảnh ở sông Đăkbla ơ - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.7. Danh lục các loài cá có thể dùng làm cảnh ở sông Đăkbla ơ (Trang 48)
Bảng 4.9. Tỷ lệ chênh lệch các bậc taxon của một số khu hệ cá trong nước - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Bảng 4.9. Tỷ lệ chênh lệch các bậc taxon của một số khu hệ cá trong nước (Trang 49)
Hình 4.7. Biểu đồ so sánh tỷ lệ các taxon thành phần loài ở các khu hệ cá khác nhau - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Hình 4.7. Biểu đồ so sánh tỷ lệ các taxon thành phần loài ở các khu hệ cá khác nhau (Trang 50)
Hình 5.1. Biểu đồ số lượng phân vùng của các loài cá sông Đăkbla - nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum
Hình 5.1. Biểu đồ số lượng phân vùng của các loài cá sông Đăkbla (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w