1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghệ thuật tiểu thuyết “hoàng việt long hưng chí” của ngô giáp đậu

114 490 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 504,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Ngô Giáp Đậu có một vị thế quan trọng trong lịch sử văn học, ông là một trong những đại diện cuối cùng của dòng tiểu thuyết chương hồiViệt Nam.. Theo đó, tiểu thuyết chữ H

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Huế, 2014

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Phong Nam,

người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Khoa Học Huế đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn khuyến khích, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng,nhưng cũng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót trong quá trình nghiên cứu đề tài Kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, 10/2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX có rất nhiều biến động Tất cả những biến động của lịch sử dân tộc giai đoạn này đều được văn học nước nhà phản ánh chân thực và đầy đủ Tiêu biểu phải

kể đến các tác phẩm như: Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt long hưng chí, Việt Lam tiểu sử…

Hoàng Việt long hưng chíthuật lại công cuộc phục hưng của nước Hoàng Việt - một cách gọi khác về triều Nguyễn Bối cảnh lịch sử là cuộc nội chiến giữa anh em nhà Tây Sơn và binh tướng Nguyễn Ánh chủ yếu ở chiến trường miền Trung và Nam Bộ trong khoảng thời gian 30 năm của nửa cuối thế kỷ XVIII.

Văn xuôi chữ Hán giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX chủ yếu là ký và tiểu thuyết chương hồi Tiểu thuyết chương hồi ra đời đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Nó phản ánh những vấn đề lịch sử xã hội rộng lớn với tầm khái quát cao Cùng với Việt Lam tiểu sử, Hoàng Việt long hưng chí là đại diện cuối cùng của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thời trung đại.

Đọc Hoàng Việt long hưng chí ấn tượng lớn nhất của tác phẩmchính

là chỗ tác giả đã rất thành công trong việc đưa các nhân vật lịch sử vào tác phẩm văn học, đặc biệt là nhân vật vua Gia Long Đây là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử Đã từng có nhiều cuộc tranhluận xoay quanh nhân vật này Ngay cả tác phẩm Hoàng Việt long hưng chívà tác giả Ngô

Trang 6

Giáp Đậu cũng từng bị lên án, bởi lẽ đã đề cao vua Gia Long Chính vì thế

mà có rất ít công trình, nhà nghiên cứu đề cập đến tác phẩm này.

Chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Nghệ thuật tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí của Ngô Giáp Đậu”cũng là một cách để nhìn nhận và đánh giá khách quan về những đóng góp cũng như những mặt hạn chế của tác phẩm này.

2 Lịch sử vấn đề

Ngô Giáp Đậu có một vị thế quan trọng trong lịch sử văn học, ông là một trong những đại diện cuối cùng của dòng tiểu thuyết chương hồiViệt Nam Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu về Ngô Giáp Đậu và những tác phẩm của ông Có nhiều lý do chi phối đến tình trạng này Những tác phẩm của ông được dịch rất muộn Phải đến năm 2000, tác phẩm này mới được giới thiệu rộng rãi Chính vì thế mà ít được phổ biến,

ít nhận được sự quan tâm của độc giả cũng như các nhà nghiên cứu Mặt khác theo chúng tôi tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí lại đề cập đến quá trình “long hưng” triều Nguyễn của vua Gia Long Trong một thời gian dài, những vấn đề liên quan đến vua Gia Long và triều Nguyễn thường gây nhiều tranh cãi Đó có lẽ cũng là một điểm khiến tác phẩm này ít được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chívà tác giả Ngô Giáp Đậu là rất ít Đây rõ ràng là một khó khăn lớn đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên,vẫn có một số công trình trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến tác giả Ngô Giáp Đậu và tiểu thuyếtHoàng Việt long hưng chí Đó chính là những gợi mở ban đầu cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Chúng tôi xin được điểm qua một số công trình có liên quan.

Trang 7

Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, (tập 1) có đề cập đến Ngô Giáp Đậu.Trong tập 1 sách Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp viết về tiểu sử của nhà văn này như sau: “Ngô Giáp Đậu (1853-?), hiệu Tam Thanh, biệt hiệu Sự Sự Trai, là nhà văn, nhà giáo và là sử gia đời vua Thành Thái trong lịch sử Việt Nam Ngô Giáp Đậu sinh tại làngTả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh HàĐông cũ; nay thuộchuyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Ông thuộc dòng dõi của Ngô Thì

Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí Năm 1891, ông thi đỗ cử nhân khoa Tân Mão tại trường thi Hà Nam (tức trường Hà Nội và Nam Định hợp thi), được bổ làm hành tẩu, sau chuyển sang ngạch học quan từ chức giáo thụ lên đến chức đốc học Ngô Giáp Đậu mất năm nào không rõ” Nói chung, Trần Văn Giáp chỉ nêu những nét cơ bản về tiểu sử, về sự nghiệp của nhà văn mà không đi sâu vào tác phẩm.

Tác giả Trần Nghĩa có bài viết Sơ bộ tìm hiểu tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam đăng trên tạp chí Hán Nôm, số 1 (18)/1994 Bài viết này đề cập đến thành tựu tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thời trung đại Theo đó, tiểu thuyết chữ Hán không chỉ có Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái mà còn có Hoan Châu ký của một người thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh, Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Đào Hoa Mộng ký do Tiên Phong Liên Đình soạn, Việt Lam tiểu sử của Lê Hoan, Hoàng Việt long hưng chí của Ngô Giáp Đậu Bài viết còn đề cập đến nguồn gốc, nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam.

Ở bài báo trên,Trần Nghĩa có nói đến Hoàng Việt long hưng chí về năm ra đời, nội dung và đôi nét về tác giả Theo nhà nghiên cứu thì:

“Hoàng Việt long hưng chí biên soạn xong vào năm Thành Thái Giáp Thìn

Trang 8

(1904), tác giả Ngô Giáp Đậu (1853 -?), hiệu Tam Thanh, biệt hiệu Sự Sự Trai, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (Hà Tây) đậu Cử nhân năm Thành Thái thứ 3 (1891) làm Đốc học Ngoài Hoàng Việt long hưng chí, ông còn là tác giả một số cuốn giáo trình về sử như Trung học Việt sử toát yếu, về địa lý như Hiện Kim Bắc Kỳ địa dư…Hiện có 1 bản Hoàng Việt long hưng chí tàng trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu A.23 (viết tay)”[39,tr.6] Nhận xét về nội dung tiểu thuyết của Ngô Giáp Đậu, tác giả cho rằng: “Hoàng Việt long hưng chí là một bổ sung và tiếp nối của Hoàng Lê nhất thống chí Ở đây những nét bút mờ nhạt về phía chúa Nguyễn trong Hoàng Lê Nhất thống chí đã được tô đậm hoặc vẽ lại một cách công phu, tỉ mỉ hơn Nhất là quá trình Nguyễn Ánh xoá bỏ nhà Tây Sơn,nhân những lục đục không tự dàn xếp được trong nội bộ triều đình Quang Toản Tiểu thuyết còn bao quát cả mười mấy năm tại vị của Nguyễn Ánh lúc này là Gia Long, nhằm tạo cho câu chuyện “trung hưng” của nhà Nguyễn có một vóc dáng trọn vẹn”[39, tr.13].

Tác giả Chang Hing - Ho có bài viết Bước đầu tìm hiểu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán đăng trên tạp chí Hán Nôm số 3(20)/1994 Trong bài này, tác giả cóđề xuất nên chia tiểu thuyết của Việt Nam ra làm 2 loại: tiểu thuyết truyền thống và tiểu thuyết hiện đại Theo Chang Hing- Ho thì giữa tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán với tiểu thuyết Trung Quốc cùng loại có những đặc điểm chung Tác giả cũng

đã đề cập đến Hoàng Việt long hưng chí, người viết dành một phần bài viết

để mô tả và nhận định về tác phẩm: “Hoàng Việt long hưng chí, gồm 6 quyển 34 hồi Câu chuyện bắt đầu bằng việc nổi dậy của Nguyễn Văn Nhạc vào năm Lê Cảnh Hưng thứ 34 (1773) và kéo dài cho đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) Vấn đề được tập trung trình bày là quá trình hưng thịnh của triều Nguyễn và sự đăng quang của nó Theo lời tựa cuốn sách, tác giả

Trang 9

Ngô Giáp Đậu (1853- ?) đã soạn thảo tác phẩm của mình trong khoảng thời gian từ năm Kỷ Hợi (1899) đến năm Giáp Thân (1904) dưới triều Thành Thái, với nhiệm vụ tự đề ra là bổ sung cho tác phẩm của tổ tiên mình Nếu Hoàng Lê nhất thống chí gắn bó với triều đình nhà Lê, thì Hoàng Việt long hưng chí lại cam kết với triều đình nhà Nguyễn Cả hai tác phẩm đều liên quan đến ít nhiều cùng một thời đại, nhưng cách tiếp cận rõ ràng khác nhau” [29,tr.6].

Từ điển Văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX) của Lại Nguyên Ân và Bùi Trọng Cường là một tập hợp các thông tin về những dữ kiện chủ yếu của nền văn học dân tộc Sách đề cậpđến các tác giả, tác phẩm, thể loại.v.v…cùng một loạt các hiện tượng đáng chú ý khác của tiến trình văn học Việt Nam Trong cuốn từ điển này các nhà nghiên cứu cũng đã có nhận xét về Hoàng Việt long hưng chí: “Tuy dựng tác phẩm theo lối truyện chương hồi, nhưng tác giả thường chỉ kể lại sự kiện lịch sử, ít khi chi tiết hoá truyện kể, ít miêu tả, không thật chú trọng xây dựng nhân vật” [1,tr.139].

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na trong cuốn Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam - Những vấn đề văn xuôi tự sự đã chỉ ra những bất lợi cũng như hạn chế của tác phẩm, chẳng hạn như: “bất lợi thứ hai đối với Ngô Giáp Đậu, là ông không được sống trong không khí hào hùng với những chiến thắng trận hò reo giải phóng - tự do của dân tộc mà tằng tổ ông đã từng tắm mình trong đó Bởi vậy, ở ông chất men chưa đủ độ say khi cầm bút” Về kết cấu chương hồi của cuốn tiểu thuyết này, tác giả có nhận xét: “Với long hưng chí Ngô Giáp Đậu chỉ thực hiện công thức 1 - công thức mở đầu, còn công thức 2 - công thức kết thúc, ông hoàn toàn bỏ đi Vì thế giữa các hồi không có sợi dây liên kết, khiến chúng rời rạc, thiếu hấp

Trang 10

dẫn…”[36,tr.129-133] Tác giả có so sánh với một số tiểu thuyết khác và qua

đó chỉ ra những mặt thành côngcũng như hạn chế của tác phẩm: “So vớiNhất thống chí, về mặt nghệ thuật thì Long hưng chí thua kém nhiều mặt Tuy nhiên, không phải thế mà tác phẩm không có nhiều khả thủ… ” [36,tr.140].

Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ trong bài Giới thiệu tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí đã thực hiện tóm tắt các sự kiện lịch sử, bước đầu xác định các vấn đề tác giả, cốt truyện và nội dung nghệ thuật tác phẩm, đồng thời hướng tới phân tích khái lược đặc điểm các nhân vật Quang Trung, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng…

Trong Nghiên cứu Văn học, số 8/2010, tác giả Vũ Thanh Hà đã có bài viết “Tính nguyên hợp của thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam” Bài viết nêu lên những đặc trưng cơ bản của của văn học Việt Nam trung đại Trong đó tính nguyên hợp (Văn - Sử - Triết bất phân), một dấu hiệu cho thấy quy luật hỗn hợp vốn là một đặc trưng của văn hóa trung đại nói chung, phản ánh tình trạng chưa có sự phân chia rạch ròi giữa các

"ngành", bộ phận trong khoa học xã hội.Trong bài viết, nhà nghiên cứu khi nói về mối quan hệ Văn - Triết và những quan niệm triết học phương Đông trong tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam cũng đã nhắc đến tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí: “Trong tác phẩm Hoàng Việt long hưng chí có nhiều chi tiết kể về sự ly kỳ xảy ra với đối với Thế Tổ của nhà Nguyễn, chuyện nhờ có ba con cá sấu chặn thuyền mà tránh bị quân Tây Sơn phục kích hoặc một bầy rắn đội thuyền giúp Thế Tổ giữa đêm trên biển, cá sấu

hộ vệ trên sông Đăng Giang hay chi tiết Phò mã Trương Văn Đa bao vây đảo Côn Lôn "tất cả đến ba vòng chiến thuyền Bỗng gió mưa nổi lên, giữa ban ngày trời đất tối sầm, sóng triều ầm ầm dâng đổ, thuyền quân Tây Sơn đắm dạt rất nhiều" Ngay cả khi nguy cấp giữa biển khơi, hết nước ngọt dự

Trang 11

trữ mà chỉ cần "ngước nhìn trời thầm khấn,vừa dứt lời thì gió ngừng sóng lặng, rồi một dòng nước trong vọt lên, Thế Tổ nếm thử thấy vị nước ngọt Đều là những chuyện không thể tin nổi Đây chỉ là cách tác giả muốn khẳng định trời đất ngầm giúp Thế Tổ đạt được ngôi báu”.

Có thể thấy, vấn đề tìm hiểu nghiên cứu đến tác giả và tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chítuy được đặt ra, nhưng còn rất sơ sài Những vấn

đề được đề cập đến vẫn chưa đủ để làm rõ những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm cũng như vai trò của tác giả trong văn học dân tộc Trên cơ sở những vấn đề đã được các nhà nghiên cứu nêu trên chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ trong quá trình thực hiện đề tài của mình.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghệ thuật tiểu thuyết, bao gồm nhiều phương diện, từ sự lựa chọn và xử lý đề tài, nghệ thuật xây dựng cốt truyện, khắc họa nhân vật trong tiểu thuyết cho đến các thủ pháp

kể chuyện như kết cấu,ngôn ngữ trần thuật…

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng văn bản tác phẩmHoàng Việt long hưng chícủa Ngô Giáp Đậu (2013),(tái bản), do Ngô Đức Thọ, Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Ngô Đức Thọ chỉnh lý và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội và tư liệu từ một số nguồn khác.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp lịch sử, xã hội: Với những tiểu thuyết trung đại Việt Nam thì yếu tố lịch sử, xã hội là một phần không thể thiếu trong nội dung phản ánh của tác phẩm đó Với phương pháp này, người làm nghiên cứu sẽ

Trang 12

đối chiếu để hiểu rõ hơn về thông điệp cũng như những vấn đề mà tác giả gửi gắm Đồng thời có một cái nhìn mới mẽ về lịch sử.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp phổ biến trong việc nghiên cứu khoa học nói chung Nó cho phép đi sâu vào tác phẩm

để khám phá những vấn đề cụ thể.

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm đặc sắc, nổi bật của tác phẩm.

5 Đóng góp của luận văn

Qua việc tìm hiểu một cách hệ thống về nghệ thuật tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chícủa Ngô Giáp Đậu, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu tiểu thuyết chương hồi - một thể loại văn học đặc biệt của văn học trung đại Việt Nam.

Ngoài ra, dưới góc nhìn lịch sử, thi pháp học, đề tài mong muốn làm

rõ được những sáng tạo của Ngô Giáp Đậu trong việc đưa các nhân vật lịch

sử vào văn học một cách thành công.

Hoànthànhđề tài này, sẽ bổ sung thêm một tài liệu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên các trường, phổ thông, Đại học.

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mởđầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chítrong diện mạo tiểu thuyết chương hồi Việt Nam.

Chương 2 Diện mạo lịch sử dân tộc qua Hoàng Việt long hưng chí.

Trang 13

Chương 3 Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí.

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

TIỂU THUYẾTHOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ

TRONG DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIỆT NAM

1.1 Phác thảo diện mạo tiểu thuyết chương hồi Việt Nam

1.1.1 Về khái niệm tiểu thuyết chương hồi

Theo Từ điển Văn học, tiểu thuyết chương hồi là một“dạng thức tiểu thuyết trường thiên quan trọng trong văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam Tiểu thuyết viết theo dạng này, phân chia tác phẩm thành các hồi khác nhau phát triển từ lối giảng sử thoại bản (kể chuyện lịch sử, thời Tống - Nguyên Giảng sử thoại bản là hình thức kể chuyện (chủ yếu là truyện lịch sử) được những người kể chuyện trong dân gian (thuyết thoại nhân - người kể chuyện, thuyết thư nhân - người kể sách) các đời kể lại, đối với những câu chuyện có dung lượng lớn, họ không kể xong ngay trong một lần nên buộc phải ngắt thành các phần khác nhau, mỗi phần được đặt một tiêu đề để tóm lại nội dung, đó chính là cơ sở hình thành các hồi và tiêu

đề các hồi của tiểu thuyết chương hồi về sau” [30,tr.1732].

1.1.2 Con đường hình thành và phát triển

Tiểu thuyết chương hồi xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh nhất vào khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỉ XIX ở Trung Quốc Trung Quốc là một nước có nền văn hóa phát triển rực rỡ và lâu đời, một trong những thành tựu vĩ đại của văn hóa Trung Quốc là văn học Bên cạnh những thành tựu đạt đến trình độ cổ điển, mỗi thể loại gắn với một triều đại, kiểu như Đường thi, Tống từ, Minh Thanh tiểu thuyết Nhắc tới tiểu thuyết chương hồi thời Minh - Thanh, người ta nghĩ ngay tới những tác phẩm như Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du Ký, Thuỷ Hử, Hồng Lâu Mộng,

Trang 15

Nhận xét về quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết, tác giả Hà Minh Đức cho rằng: “Ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, hành trình của tiểu thuyết có những bước phát triển riêng của nó

Ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện sớm, vào thời Ngụy Tấn (thế kỷ III - IV) dưới dạng “chí nhân”, “chí quái” Sang đời nhà Đường xuất hiện loại tiểu thuyết “truyền kỳ”, đời Tống xuất hiện thêm tiểu thuyết “thoại bản” Sang đến đời Minh, văn học Trung Quốc bước sang giai đoạn phát triển rực rỡ của tiểu thuyết với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Thuỷ hử (Thi Nại Am), Tây

du ký (Ngô Thừa Ân), Kim bình mai (Tiếu Tiên Sinh) Đến đời Thanh, tiểu thuyết Trung Quốc được bổ sung thêm một số tác phẩm khai thác nội dung số phận đời tư và đạo đức, ví dụ như: Chuyện làng Nho (Ngô Kính Tử), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần), ”[21,tr.188].

Ở Việt Nam, mãi đến gần cuối hành trình trung đại thế kỷ XVIII - XIX nhờ những điều kiện nhất định và sự thúc đẩy của lịch sử, thể loại tiểu thuyết chương hồi mới ra đời Truyện ngắn lịch sử chính là cơ sở để tiểu thuyết chương hồi Việt Nam ra đời Giai đoạn đầu (thế kỷ X - XIV), truyện ngắn lịch sử hình thành là nhờ truyền thống tự sự dân gian, tự sự chức năng (hành chính và lễ nghi) và tiếp thu tinh hoa nghệ thuật của nền tiểu thuyết Trung Hoa Tiểu thuyết Việt Nam có quá trình phát triển hàng thế

kỷ Mở đầu là các truyện văn xuôi viết theo kiểu văn ngôn như: Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm (thế kỷ XVIII) Với sự trưởng thành của tư duy nghệ thuật, dần dần xuất hiện các truyện dài, tiểu thuyết theo lối chương hồi.

Nói về nguồn gốc ra đời của tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tác giả Trần Nghĩa trong cuốn Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam cho rằng:

“Nhìn một cách bao quát, tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam ra đời là kết quả

Trang 16

của những hối thúc từ bên trong do sự vận động nội tại của bản thân nền học thuật chữ Hán Việt Nam sinh ra, cộng với những kích thích từ bên ngoài do giao lưu văn học đưa lại Thể hiện rõ nhất là ở các tiểu thuyết chí quái, truyền kỳ và tiểu thuyết xã hội Xét về nguồn gốc nội tại tiểu thuyết chương hồi Việt Nam ra đời trước hết liên quan tới kho tàng thần thoại, truyền thuyết và truyện tích Việt Nam, ”[42,tr.17].

Thế kỉ XVII trở về trước, nhìn chung văn xuôi tự sự thưa vắng trên văn đàn Bước vào thế kỉ XVIII, cùng với các thể loại văn học khác, văn xuôi

tự sự trong đó có tự sự lịch sử phát triển mạnh Lúc này nổi bật lên một hiện tượng: dường như những tác phẩm tự sự sớm nhất của thế kỉ XVIII

mà có tác giả và văn bản còn lưu lại đến ngày nay đều thuộc về công lao của các nhà văn ở Đàng Trong Nếu truyện Song Tinh mở đầu cho truyện Nôm thì Nam triều công nghiệp diễn chí lại khai sinh ra nền tiểu thuyết chương hồi Việt Nam Tác phẩm này do Nguyễn Khoa Chiêm hoàn thành năm 1719, hiện có 4 bản truyền bản đều ở dạng viết tay Tiếp đến, là Hoan Châu kýbiên soạn vào khoảng năm Chính Hoà (1680 - 1705) đời Lê, tác giả

là một người thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh Ra đời cuối thế kỷ XVIII - đầu thế

kỷ XIX Hoàng Lê nhất thống chí giữ vị trí quan trọng trong dòng tiểu thuyết lịch sử chương hồi Việt Nam Cùng thời điểm này là sự xuất hiện của Đào Hoa Mộng ký của Nguyễn Đăng Tuyển.Và hai đại diện cuối cùng của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam làHoàng Việt long hưng chí của Ngô Giáp Đậu được biên soạn từ 1899 và hoàn thành năm 1904 Và Việt Lam xuân thu của tác giả Lê Hoan vào khoảng cuối thế kỷ XIX, được sửa và xuất bản năm 1908.

Với khả năng đặc biệt của mình, văn chương đã tái hiện các sự kiện lịch sử bằng hàng loạt các tác phẩm cụ thể Trong hai loại hình văn học tự

Trang 17

sự được sử dụng chủ yếu trong văn học trung đại lúc đó là chữ Nôm và chữ Hán, thì chữ Nôm về cơ bản không dùng để viết văn Do đó, loại hình tự sự phải dùng bằng chữ Hán Và trong loại hình văn xuôi tự sự chữ Hán, thì cũng không phải các thể ký, truyện ngắn mà quan trọng là tiểu thuyết Chính là tiểu thuyết chương hồi, với quy mô lớn mới có khả năng tái hiện bức tranh lịch sử - xã hội của thời đại Như vậy,Việt Nam tiếp thu thể loại tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa để thể hiện nội dung mới là phản ánh bức tranh xã hội đầy biến động của dân tộc rõ ràng là một nhu cầu tất yếu

và cũng thể hiện quy luật phát triển.

Có thể thấy nội dung của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam là phản ánh toàn bộ diễn biến và vận mệnh của đất nước Nó đề cập đến những vấn đề đấu tranh giai cấp của các tầng lớp, mô tả những cuộc đấu tranh phong kiến, ca ngợi các vị lãnh tụ nhân dân có công lao to lớn trong cuộc đấu tranh gian khổ đó.

Nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi rất phong phú, ngoài những nhân vật trung tâm đại diện tiêu biểu cho đạo đức phong kiến như các minh quân, các quan lại, khanh tướng, những trượng phu, liệt nữ, còn có những nhân vật quần chúng Những gương mặt này đã góp phần tạo nên một số lượng nhân vật đông đảo, giúp cho tiểu thuyết chương hồi trở thành loại tác phẩm văn học có quy mô lớn Các nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi được miêu tả rất đa dạng Nó được hiện lên bằng âm mưu, lời đối thoại hoặc bằng cử chỉ (hành động hình dáng), hay những trạng thái tình cảm, cảm xúc; bằng tiếng cười tiếng khóc mà hiểu ra kẻ chung người nịnh, kẻ khí phách kẻ tiểu nhân, kẻ thị tài tầm thường, bậc anh hùng hào kiệt.

Về nghệ thuật của tiểu thuyết chương hồi có thể thấy, đặc điểm của thể loại này là sự phân chia cốt truyện thành các hồi, quyển, tiết Mỗi hồi

Trang 18

bao giờ cũng có tiêu đề giới thiệu nội dung chính sẽ được trình bày trong

đó Cuối mỗi hồi thường có một bài thơ của chính tác giả hay của người đời sau được tác giả trích dẫn lại để đánh giá, bình luận.Cuối mỗi hồi thường kết thúc bằng câu kiểu như: “Muốn biết sự việc thế nào xin xem hồi sau sẽ rõ” hoặc “hồi sau phân giải” Khi bước sang hồi tiếp theo, vấn đề lại được tóm lược bằng một tiêu đề mới Cách phân chia thành từng hồi và kết thúc theo kiểu lấp lửng có tác dụng quan trọng trong việc gây ra sự chú ý cho người đọc Kết cấu chương hồi khiến cho người đọc luôn luôn hồi hộp, tò

mò phải tiếp tục tìm hiểu các hồi tiếp theo diễn biến như thế nào.

Kết cấu của tiểu thuyết chương hồi được kết cấu theo trình tự thời gian đơn tuyến Dấu hiệu dễ thấy ngay khi mở đầu mỗi hồi hoặc mở đầu các đoạn kể là những cụm từ: “Lại nói ”, “nay lại nói ”, “hồi bấy giờ…”,

“lúc ấy…”, được lặp đi lặp lại như một công thức Tác giả thường đứng ở ngôi thứ ba để giới thiệu dẫn dắt câu chuyện, nhân vật tự suy nghĩ và hành động Sau một khoảng thời gian theo dõi các sự kiện trong một hồi, có nhiều nhân vật mới xuất hiện, nhiều sự kiện mới sảy ra, người trần thuật lo

sợ người đọc không thể theo dõi tiếp nội dung trong các hồi trước đó, nên thường nhắc lại bằng công thức “lại nói…” giúp cho trình tự các sự kiện được liền mạch Chẳng hạn: ở hồi ba kết thúc là tin cấp báo “Hoàng Ngũ Phúc và quân Tây Sơn đang đánh vào Cẩm Phả” [16,tr.43], sang hồi thứ tư tác giả viết: “Lại nói tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc nhận mật chiếu của Trịnh Sâm đem quân tiến đánh Quảng Nam Quân Ngũ Phúc sắp đến đèo Hải Vân” [16,tr.54].

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết chương hồi là ngôn ngữ khoa trương hoành tráng kết hợp với lối diễn đạt giàu hình ảnh hoa mĩ, tượng trưng ước

lệ trong những câu văn đăng đối nhịp nhàng tạo nên một vẻ đẹp riêng biệt cho thể loại.

Trang 19

Thể loại tiểu thuyết lịch sử được coi là một tiểu loại trong thể loại tiểu thuyết chương hồi Đây là những tiểu thuyết lấy đề tài từ trong sử sách

và được viết theo lối kết cấu chương hồi.Thể loại tiểu thuyết chương hồi Việt Nam ra đời kế thừa những tinh hoa của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc nhưng đề tài phản ánh không phong phú như tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Ngay từ đầu, tiểu thuyết chương hồi Việt Nam đã tập trung phản ánh lịch sử dân tộc Điều này thể hiện rõ ngay trên nhan đề của tác phẩm tiểu thuyết chương hồi Việt Nam như: Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí…Nội dung tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thể hiện một thời kỳ lịch sử nhất định với thời gian xác định, những sự kiện nhân vật có thật trên cơ sở đó hư cấu thành một tác phẩm văn chương.

Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam là mô hình thể loại tiếp thu từ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Tuy nhiên, các tác giả chữ Hán Việt Nam chỉ vay mượn hình thức thể loại, những nguyên tắc xây dựng nhân vật, sử dụng văn tự chữ Hán để sáng tác Trong quá trình sáng tác, họ luôn cố gắng chọn lọc những vấn đề có liên quan đến nghệ thuật sáng tạo, nhằm xây dựng một nền tiểu thuyết chương hồi mang đậm đà bản sắc Việt Nam.

1.2 Ngô Giáp Đậu và tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí

1.2.1 Tác giả Ngô Giáp Đậu

Tác giả Ngô Giáp Đậu là một thành viên quan trọng trong Ngô Gia Văn Phái Ngô gia Văn phái (Phái văn nhà họ Ngô) là một nhóm nhà

huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì , Hà Nội ) Các trước tác của các thành viên trong Ngô gia Văn phái, về sau được tập hợp lại thành bộ sách Ngô gia Văn phái đồ sộ Bộ sách do Ngô Thì Trí đề xướng

và khởi công biên soạn tập đầutiên Ngô Thì Điển (con Ngô Thì Nhậm và là cháu Ngô Thì Trí ) thực hiện việc biên tập lại Đây là bộ sách có tính chất

Trang 20

sưu tập nhằm nêu cao truyền thống văn hóa, văn học của họ Ngô Thì, chứ không phải là một hợp tuyển hay một tổng tập của những tác giả cùng một trường phái, một khuynh hướng tư tưởng và sáng tác Chúng ta có thể điểm qua một vài nét về những nhân vật nổi danh trong Văn phái họ Ngô

để qua đó, hiểurõ hơn về tác giả của Ngô Giáp Đậu Đó là những nhà văn:

tiên có tên trong Ngô gia văn phái Tác phẩm chính của ông gồm có Nam trình liên vịnh tập (Tập thơ ngâm nối vần cùng bạn trên hành trình về phía Nam) và Nghi vịnh thi tập (Tập thơ vịnh thú sông Nghi)

Ngô Thì Ức Ông làm quan nhà Hậu Lê , trải đến chức Đốc trấn Lạng Sơn Ngoài ra, ông còn là một danh sĩ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại Việt Nam Tác phẩm chính của ông là: Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án, Khuê ai lục, Ngọ Phong văn tập

Sửu ( 1757 ), ông đỗ Giải nguyên khoa Hoành từ, được bổ chức quan Năm 1784 , ông xin thôi việc Sau này, triều Tây Sơn cho cho người mời ra làm quan, song ông cứ tìm cách thoái thác Tác phẩm chính của ông là: Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo (Bản thảo để lại của ông Văn Túc đỗ khoa Hoành từ, giữ chức Hiến sát).

Ngô Thì Nhậm ( 1746 – 1803 ), tự Hy Doãn, hiệuĐạt Hiên Ông làm quan nhà Hậu Lê và là một danh sĩ nổi danh Ngoài ra, ông còn là người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh xâm lược Tác phẩm chính của ông là: Hàn các anh hoa, Doãn thi văn tập, Yên đài thu vịnh, Hoàng hoa đồ phả, Cúc đường bách vịnh

Hương tiến, làm quan đến chức Thiêm thư Bình chương Tỉnh sự, nhưng

Trang 21

việc quan không phải là việc làm ông quan tâm Tác phẩm chính của ông là: Học Phi thi tập, Học Phi văn tập và Hào mân khoa sứ Ngoài ra, ông chính là người khởi đầu viết bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng Hoàng Lê nhất

làm quan Hộ bộ Hữu thị lang, được phong tước Bính phong hầu Năm 1802 , nhà Tây Sơn bị diệt, Ngô Thì Trí về làm một người dân bình thường ở quê nhà Tác phẩm chính của ông có Sóc Nam hành kính Tuy nhiên, công đáng kể của ông chính là khởi xướng (và khởi công biên soạn tập đầu tiên) việc sưu tập tác phẩm của các tác giả dòng họ Ngô Thì, nhờ vậy mà ngày nay văn học Việt Nam có được bộ sách Ngô gia văn phái đồ sộ.

Giám sinh ở Quốc tử giám, có đi dạy học ở Bắc Giang , và có ở Huế khoảng

10 năm, nhưng không rõ ông có làm quan cho nhà Nguyễn hay không Ông mất năm nào không rõ Tác phẩm của ông chỉ có tập Dưỡng chuyết thi văn (Thơ văn nuôi dưỡng cái chí vụng về) Theo đề xướng của chú là Ngô

hiệu: Thạch Ổ cư sĩ Năm Đinh Mão ( 1807 ), ông thi đỗ tú tài dưới triều Nguyễn Tác phẩm của ông chỉ có Thạch Ổ di chương.

Ngô Thì Du ( 1772 - 1840 ), tự Trưng Phủ, hiệu Văn Bác Dưới triều Nguyễn , ông được bổ làm Đốc học Hải Dương Nhưng chẳng bao lâu sau, ông xin được từ chức, về ở quê nhà Tác phẩm chính của ông là quyển Trưng Phủ công thi văn.

Trang 22

Ngô Thì Hương ( 1774 - 1821 ) còn có tên là Vị, tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai Ông lớn lên trong cảnh gia đình họ Ngô Thì đã sa sút, cha đã qua đời

và anh cả là Ngô Thì Nhậm thì đang gặp chuyện phiền phức Khi Gia Long lên ngôi ( 1802 ), ông ta làm quan triều Nguyễn, và 2 lần được cử đi sứ sang Trung Quốc Tác phẩm chình của ông là:Mai dịch thú dư (Cỗ xe sứ trạm), Thù phụng toàn tập (Toàn tập xướng họa)

Lâm tản nhân Tuy ông chỉ là Giám sinh nhưng sáng tác khá nhiều thơ văn Tác phẩm chính của ông là: Nam du thi tập, Lạng hành ký sự, Quan ngư ký, Khôn trinh ký lục, Dạ trạch phú ký

hiệu: Thanh Xuyên Ông là danh sĩ đời vua Tự Đức , có nhiều thơ văn được chép trong bộ sách Ngô gia văn phái, và ông cũng là người cuối cùng được biên chép trong bộ sách này Ngô Giáp Đậu chính là con trai của Ngô Thời Giai , tác giả sách quyển truyện lịch sử Hoàng Việt long hưng chí.

Tác phẩm của Ngô gia văn phái đã phản ánh được rất nhiều mặt như: tình hình đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, văn học của nước Việt Nam, trải qua các triều đại nhà Hậu Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn (tức nửa cuối thế

kỷ 18 đến một phần của thế kỷ 19) Cùng thời với họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai,

có thể kể đến họ Nguyễn ở Tiên Điền (Hà Tĩnh), họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Hà Tĩnh)… Nhưng có lẽ không một họ nào ở nước Việt có đông đảo người sángtác, trước tác với một quy mô rộng lớn và phong phú như họ Ngô Thì Tuy nhiên, do mức độ tài năng, quan điểm xã hội và nhân sinh của mỗi người nên vị trí, giá trị của từng tác giả, tác phẩm cũng khác nhau.

Quay trở lại với Ngô Giáp Đậu, ông sinh năm 1853 và mất 1929, người làng Tả Thanh Oai nay thuộc xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, Hà

Trang 23

Nội Ông lấy hiệu là Tam Thanh, biệt hiệu là Sự Sự Trai Ngô Giáp Đậu thi

đỗ cử nhân vào năm 1891.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học và quan lại, với những tên tuổi của các bậc cha ông, tiên tổ như Ngô Thì Ức, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí… Ngô Giáp Đậu đi học, thi đỗ làm quan đến Đốc học Ông là cháu năm đời của Ngô Thì Sĩ, cháu bốn đời của Ngô Thì Nhậm, gọi Ngô Thì Chí - tác giả phần chính biên Hoàng Lê nhất thống chí là tằng tổ thúc.Ngô Giáp Đậu là người suốt đời tận tụy với nghề dạy học và biên soạn sách (đa phần là sách sử) Ông cũng góp phần nhuận sắc bản chữ Hán truyện Lĩnh Nam chíchquái- một tác phẩm nổi tiếng của văn học dân tộc Tác phẩm của ông gồm có:

hoàn thành và đề tựa năm 1904): Tác phẩm viết về lịch sử xây dựng vương triều Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng (1524-1613) đến Gia Long (1762-1820).

- Trung học Việt sử toát yếu (viết bằng chữ Hán, 4 quyển, in năm 1911): Tóm lược lịch sử Việt Nam theo lối biên niên.

- Đại Nam quốc túy (soạn năm 1908): tập hợp 1.800 câu thành

Trang 24

Ngô Giáp Đậu soạn nhiều sách giáo khoa về sử để dạy cho sĩ tử đi thi hương ở những khoa mà thực dân Pháp đã bắt phải cải cách Quyển sách được đương thời sử dụng nhiều là Trung học Việt sửtoát yếu- một bộ lịch

sử Việt Nam sơ giản, nội dung ghi chép từ đời Hồng Bàng đến triều Nguyễn.

1.2.2 Tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí

Đối với tác phẩm văn học trung đại, văn bản là vấn đề quan trọng hàng đầu Nghiên cứu tác phẩm chính là nghiên cứu trên văn bản, mà thưởng thức tác phẩm cũng chính là thưởng thức trên văn bản Văn học Việt Nam do nhiều nguyên nhân nên vấn đề văn bản của nhiều tác phẩm văn học rất phức tạp, nhất là với những tác phẩm lớn, có giá trị Đây cũng

là vấn đề thu hútsự chú ý của các nhà nghiên cứu từ trước tới nay.

Khi nói về tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam, người ta thường nghĩ đến một tác phẩm là Hoàng Lê nhất thống chí Nhưng những năm gần đây, với những cố gắng trong việc sưu tầm các thư tịch Hán Nômvà sự mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, đặc biệt là với các nước thuộc cộng đồng văn hiến như Hán Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,… giới nghiên cứu đã phát hiện thấy cùng vớiHoàng Lê nhất thống chí còn có một loạt tác phẩm khác Những tiểu thuyết chữ Hán này chiếm một khoảng không nhỏ trong khu vườn văn học Việt Nam Đó là những bộ tiểu thuyết nhưNam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Lam xuân thu,Hoàng Việt long hưng chí…

Hoàng Việt long hưng chí là tác phẩm giá trị nhất của Ngô Giáp Đậu Ông bắt đầu viết từ mùa đông năm Kỉ Hợi (1889) và hoàn thành vào cuối mùa thu năm Giáp Thìn (1904) Đây là một tiểu thuyết chương hồi, viết

về lịch sử xây dựng vương triều Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Gia Long Tác phẩm gồm 6 quyển, 34 hồi Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của Nguyễn Văn Nhạc vào năm Lê Cảnh Hưng thứ 34 (1773) và kéo dài

Trang 25

cho đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) Vấn đề được tập trung trình bày là quá trình “trung hưng”của triều Nguyễn và sự đăng quang của vua Gia Long Song song với quá trình “trung hưng”triều Nguyễn là diễn biến của phong trào Tây Sơn từ đầu cho đến khi bị sụp đổ.

Hoàng Việt long hưng chí hiện có bản lưu trữ tại thư viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.23 (viết tay) Nguyên văn bằng chữ Hán do Ngô Giáp Đậu soạn và được dịch lại bởi Ngô Đức Thọ, Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Nguyên.

Hoàng Việt long hưng chí, là ghi chép lại quá trình “Long hưng”, dấy nghiệp của bậc đế vương Tuy đặt nhan đề là chí, nhưng tác phẩm được triển khai theo lối tiểu thuyết chương hồi Sách được chia thành sáu quyển: hai quyển đầu mỗi quyển năm hồi, bốn quyển sau mỗi quyển sáu hồi, cộng tất cả lại là ba mươi tư hồi.

Tác phẩm kể lại quá trình hưng vương của hoàng đế Gia Long trong giai đoạn lịch sử gần 50 năm, từ thời Nguyễn Phúc Thuần, khi Nguyễn Ánh mới sinh (1762) đến lúc Nguyễn Ánh nắm quốc chính (1774),giữ tước vương (1806), rồi qua đời (1819) Tác phẩm còn mô tả quá trình thất bại của Tây Sơn do nội bộ bất hoà và sự qua đời đột ngột của Nguyễn Huệ khiến phong trào Tây Sơn không có người cầm lái.

Trang 26

Xét về bối cảnh, Hoàng Việt long hưng chíbao quát chặng đường lịch

sử trên dưới năm mươi năm,từ cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đây là khoảng thời gian lịch sử dân tộc có những trang sử đẹp nhất Đó là sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và triều đình Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, chiến thắng mùa xuân Kỷ Dâu (1789) đánh tan cuộc xâm lăng của quân nhà Thanh Tác phẩm thuật lại công cuộc phục hưng của nước Hoàng Việt - một cách gọi khác về triều Nguyễn Bối cảnh lịch sử là cuộc nội chiến giữa anh em nhà Tây Sơn và binh tướng Nguyễn Ánh chủ yếu ở chiến trường miền Trung và Nam bộ trong khoảng thời gian 30 năm của nửa cuối thế kỷ XVIII Đó là những cuộc giao tranh ác liệt, dai dẳng, đẫm máu, đặc biệt là các trận đánh và vây hãm thành Gia Định, Quy Nhơn, các cuộc thuỷ chiến

và phục kích trên bộ với những địa danh như Côn Lôn - Phú Quốc, Rạch Gầm - Xoài Mút, Mỹ Tho, Bình Định, Diên Khánh, Trấn Ninh, Nhật Lệ… Cuộc chiến hao tổn bao nhiêu nhân tài, vật lực của hai bên Nguyễn Ánh bao phen long đong, nằm gai nếm mật, cầu viện nước ngoài Sau cái chết đột ngột của Nguyễn Huệ, nhà Tây Sơn suy yếu dần Năm 1802, Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi hoàng đế, thiết lập một triều đại mới trong toàn cõi Việt Nam.

Hoàng Việt long hưng chí là tác phẩm đề cập đến những sự kiện và nhân vật lịch sử quan trọng của dân tộc Từ trước tới nay đã có nhiều quan điểm rất khác nhau khi đánh giá về nó: kể cả văn bản tác phẩm, hoàn cảnh

ra đời, cho đến nội dung lịch sử….

Trong cuốn, Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lý luận và lịch sử (Trần Ngọc Vương chủ biên), Nguyễn Đăng Na có những đánh giá:

“Sau khi đạt đến đỉnh cao ở Nhất thống chí, tiểu thuyết chương hồi rơi vào tình trạng bế tắc nhưng còn lại hai đại biểu cuối cùng là Hoàng Việt long

Trang 27

hưng chí và Việt Lam tiểu sử.Hoàng Việt long hưng chí được hoàn thành năm 1904 Noi gương tằng tổ của mình, Ngô Giáp Đậu chọn 40 năm cuối thế kỉ XVIII và 20 năm đầu thế kỉ XIX Đây cũng là thời kì đầy bão táp, nhưngnếu Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du…chủ yếu phản ánh hiện thực xã hội Đàng Ngoài với hai dòng lịch sử ngược chiều nhau, một chiều đi lên tất thắng của phong trào Tây Sơn và một chiều đi xuống không cưỡng nổi của tập đoàn Trịnh - Lê cùng quân Thanh xâm lược, thì Ngô Giáp Đậu chủ yếu viết về xã hội Đàng Trong cũng với hai dòng lịch sử chuyển động ngược chiều nhau: tiến trình hưng vương của Gia Long và sự lụn bại của Tây Sơn Nhưng thực chẳng may cho Ngô Giáp Đậu, bởi chiến công của Tây Sơn quá chói lọi, chói lọi đến nổi, khi mặt trời Quang Trung đã khuất núi mà dư quang vẫn còn choáng ngợp khiến Long hưng chí chẳng gây được mấy ấn tượng cho người đọc”[51,tr.22].

Nguyễn Đăng Nanhận xét tiếp: “Ngô Giáp Đậu không được sống trong không khí hào hùng với những chiến thắng của dân tộc mà tằng tổ ông đã từng tắm mình trong đó Ở ông chất men chưa đủ độ làm say khi cầm bút khi viết bộ tiểu thuyết Hơn nữa lúc ông bắt tay vào viết Long hưng chí, không khí bao trùm toàn đất nước là một nỗi buồn Triều đình bất lực trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, phong trào giải phóng dân tộc do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo lần lược bị dập tắt, non sông đang chìm trong màn đêm nô lệ Vả chăng quá trình dấy nghiệp của Gia Long chủ yếu diễn ra ở Đàng Trong, nơi mà Ngô Giáp Đậu chưa từng đặt chân đến Ngô Giáp Đậu đã tìm hiểu hiện thực qua sách vở để viết truyện Xem Lời Tựa cho Hoàng Việt long hưng chí, ta biết tác giả đã đọc rất nhiều sách Các bộ sách lớn nhưHoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt xuân thu,Việt Nam quốc chí, Thực lục tiền biên, Gia Long thực lục, Danh Thần liệt truyện,

…ông đều đã đọc và nắm rất vững Tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng

Trang 28

chíđược hình thành trên cơ sở tác phẩm văn học có trước như Diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí và cả những tác phẩm sử học như Thực Lục tiền biên, Gia Định thông chí…Vì thế, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy Hoàng Việt long hưng chíphảng phất hơi hướng của Hoàng Lê nhất thống chí và mang đậm dấu vết của Thực Lục tiền biên, Gia Định thông chí, Gia Long thực lục,…Mặc dù vậy, tác phẩm của Ngô Giáp Đậu không phải là một lối truyện “diễn nghĩa” Tiểu thuyết nàytuy viết về quá khứ, dựa vào tư liệu các bộ sử có trước nhưng lại có tính chất khác.Nếu truyện “diễn nghĩa” chủ yếu hình thành từ thoại bản dân gian, trải qua quá trình dân gian hóa, huyền thoại hóa, thì nhân vật, sự kiện trong tác phẩm của Ngô Giáp Đậu vẫn giữ ở dạng thô, dạng nguyên sơ, ít trau chuốt” [36, tr.131]

Đối với kết cấu của thể loại chương hồi, người cầm bút phải tuân thủ công thức mở đầu và kết thúc truyện Với Hoàng Việt long hưng chí, công thức mở đầu được đảm bảo, còn công thức kết thúc hoàn toàn bị loại bỏ Điều này đã khiến cho các hồi trong tiểu thuyết của Ngô Giáp Đậu không có sợi dây liên kết với nhau thật chặt chẽ về mặt hình thức Mặt khác, ta thấy ảnh hưởng củaHoàng Lê nhất thống chíđếnHoàng Việt long hưng chíkhá rõ ràng Trước hết là nhân vật và sự kiện Vì viết về cùng một giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, ở Hoàng Việt long hưng chí có những sự kiện mà Hoàng Lê nhất thống chí đã đề cập trước đó Tác giả Ngô Giáp Đậu chú trọng đến sự kiện mà ít chú ý tới việc xây dựng tính cách nhân vật cho nên tính cách nhân vật bị ảnh hưởng Các sự kiện cứ ngồn ngộn, đầy ắp tác phẩm khiến người đọc có cảm giác rằng, tác giả là một thư kí cần mẫn, ghi chép khá đầy đủ và chi tiết từng bước đi của quá trình “long hưng” Số lượng nhân vật trong Hoàng Việt long hưng chírất nhiều, thậm chí nhiều gấp đôi ở Hoàng Lê nhất thống chí Mỗi nhân vật được tác giả giới thiệu rất kỹ vềnguồn gốc gia đình, quá trình tham gia “long hưng”nhưng ít chú ý

Trang 29

mô tả tính cách, tâm lý Trong tác phẩm, Ngô Giáp Đậu đưa vào nhiều đoạn chú thích hơi dài Do chỗ dùng lối viết thiên về khảo cứu cho nên tác phẩm cũng phần nào làm hạn chế xúc cảm thẩm mĩ ở người đọc.

Về phương diện nội dung, Ngô Giáp Đậu đã bổ sung một phương diện rất quan trọng, điều mà các tác giả khác chưa có điều kiện thể hiện

Đó là quá trình tan rã của phong trào Tây Sơn Thông qua hệ thống nhân vật lịch sử như Quang Trung, Quang Toản, Nguyễn Nhạc, Bùi Đắc Tuyên, Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng,…Ngô Giáp Đậu đã chỉ ra nguyên nhân thất bại của phong trào Tây Sơn và đối lập với điều này là thắng lợi của Thế Tổ Cao Hoàng Đế Ngô Giáp Đậu đã kể lại quá trình hai mươi bảy năm ròng rã gian nan, để dấy nghiệp của vua Gia Long Chính quaHoàng Việt long hưng chí, bức tranh toàn cảnh đất nước những năm cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX đã được dựng lên rõ nét Trước Ngô Giáp Đậu, chưa

có một tác phẩm nào phản ánh một cách đầy đủ quá trình thất bại của phong trào Tây Sơn cũng như quá trình hợp nhất đất nước, dựng nên triều Nguyễn của vua Gia Long Ngô Giáp Đậu đã duy trì được lối viết tiểu thuyết chương hồi vào buổi xế chiều của văn học trung đại Việt Nam Điều này đã khích lệ người cầm bút thuộc các thế hệ sau Tuy ít chú ý đến

Trang 30

việc xây dựng tính cách nhân vật, nhưng Ngô Giáp Đậu cũng đã khá thành công trong một số trường hợp Chẳng hạn, những đoạn kể về Võ Tánh rất sắc sảo, sinh động Đó là những điểm sáng, tạo nên sắc màu cho Hoàng Việt long hưng chí.

Trên Tạp chí Hán Nôm, số 1 (18)/1994 trong bài “Sơ bộ tìm hiểu tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán Việt Nam”, Trần Nghĩa có đưa ra nhận xét về Hoàng Việt long hưng chírất xác đáng.Tác giả cho rằng đó là

“một bổ sung và tiếp nối của Hoàng Lê nhất thống chí Ở đây, những nét bút còn mờ nhạt về phía chúa Nguyễn trong Hoàng Lê nhất thống chí đã được tô đậm hoặc vẽ lại một cách công phu, tỉ mỉ hơn Nhất là quá trình Nguyễn Ánh xóa bỏ nhà Tây Sơn, nhân những lục đục không tự dàn xếp được trong nội bộ triều đình Quang Toản Tiểu thuyết còn bao quát cả mười mấy năm tại vị của Nguyễn Ánh lúc này là Gia Long, nhằm tạo cho câu chuyện “Trung hưng” của nhà Nguyễn có một vóc dáng trọn vẹn”[ 39,tr.13].

Ngô Giáp Đậu khởi thảo tác phẩm này vào năm cuối cùng của thế kỷ XIX Lúc bấy giờ, quan điểm thù địch với nhà Tây Sơn không còn khắt khe như trước Vì vậy, trong Hoàng Việt long hưng chí mới có thể có được một đoạn bình thuật (mượn lời của một triều thần) rất ý nghĩa: “Quang Trung tuy đắc tội với triều ta, nhưng cũng là bậc Chúa anh hùng Cứ xem con người ấy chỉ có gậy gộc mà khởi binh đánh lấy Phú Xuân dễ hơn quân Việp, đích thân ra Thăng Long tiêu diệt Chúa Trịnh, đem quân giết Nguyễn Hữu Chỉnh khiến cho vua Lê sợ phải chạy khỏi kinh thành, phía Bắc đuổi viện binh nhà Thanh,một trận Ngọc Hồi đủ khiến quân Ngô gãy kiếm…, xưng đế

Trang 31

xưng vương chẳng biết sợ ai, vừa có tài võ, vừa có tài văn, quần thần đều

sợ phục”.

Mặc dù, tác phẩm có những mặt hạn chế, thiếu sót nhưng chúng ta không thể phủ nhận giá trị mà nó mang lại Ngô Giáp Đậu đã làm sáng lên góc khuất của lịch sử về vua Gia Long và Triều Nguyễn, đồng thời chỉ ra nguyên nhân sụp đổ của phong trào Tây Sơn Với Hoàng Việt long hưng chíNgô Giáp Đậu đã làm sống lại dòng chảy của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trong giai đoạn xế chiều Từ đó, có thể thấyNgô Giáp Đậu và tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chícó một vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết chương hồi Việt Nam nói riêng Hơn hai thế

kỷ đã trôi qua kể từ những sự kiện được nói đến trong tác phẩm, ngày nay chúng ta có điều kiện để nhận ra rằng, hình như lịch sử là một tổng hợp lực của nhiều chuyển động lắm khi trái ngược nhau, nhưng lịch sử cũng giống như một cỗ xe cứ chuyển động về phía trước Vì thế, cả hào hùng và bi tráng là những yếu tố đan xen khó tách rời Tác giả Ngô Giáp Đậu đã dày công tìm kiếm sử sách liên quan như các tập Đại Nam thực lục(tiền biên và chính biên), Đại Nam liệt truyện…và nhiều tư liệu khác để viết về thời kỳ có nhiều biến động dữ dội để viết nên một tiểu thuyết chương hồi có giá trị.

Tiểu kết

Tiểu thuyết chương hồi là một thể loại thuộc loại hình văn học trung đại Đây là một dạng thức tiểu thuyết trường thiên xuất hiện và phát triển mạnh ở Trung Hoa Tuy chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết nước ngoài nhưng tiểu thuyết chương hồi Việt Nam vẫn mang đậm đà bản sắc dân tộc Các tiểu thuyết gia Việt Nam trong khi tiếp thu mô hình tiểu thuyết từ Trung Quốc vẫn luôn có ý thức kế thừa một cách có chọn lọc để phản ánh những vấn đề lớn lao của lịch sử dân tộc So với các tác phẩm khác, Hoàng Việt long hưng chítuy có những hạn chế nhưng đã phản ánh được những sự

Trang 32

kiện lịch sử quan trọng Nó đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong quá trình phát triển của tiểu thuyết chương hồi Hoàng Việt long hưng chí là kết quả tài năng, tâm huyết của nhà văn Ngô Giáp Đậu Tác phẩm này có nhiều ý nghĩa vì đã góp phần làm phong phú thêm di sản văn học Việt Nam.

Chương 2 DIỆN MẠO LỊCH SỬ DÂN TỘC QUA

HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ

2.1 Hoàng Việt long hưng chí-những dấu ấn lịch sử

2.1.1 Bắc Hà thời Lê Mạt và triều đình Tây Sơn

Trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam, thời kì Lê mạt là khoảng thời gian thu hút được sự chú ý của văn nhân nhiều nhất Tiểu thuyết Hoàng Việt long hưng chí lấy bối cảnh để phản ánh đúng vào thời điểm này Tác phẩm được mở đầu bằng sự kiện Nguyễn Ánh dấy nghiệp trung hưng ở đất Gia Định, thu phục Phú Xuân, Bắc Hà, đánh dẹp vua tôi nhà Tây Sơn rồi xưng đế.

Hồi thứ nhất của tiểu thuyết có tiêu đề là: Định gốc nước các chúa Nguyễn dựng nền/ Rối triều đình bọn gian thần chuốc oán Câu chuyện được bắt đầu với tình hình rối rắm của nhà Lê, rồi chúa Nguyễn mở mang

và xây dựngcơ đồ phía Nam Vào cuối thế kỷ XVIII,nhân lúc chính quyền họ Nguyễn lục đục, đời sống người dân Đàng Trong khốn khổ, mâu thuẫn xã hội hết sức căng thẳng, đó là thời cơ để ba anh em Tây Sơn bắt đầu mưu đại sự.Mâu thuẫn giữa vua Lê và các tập đoàn Trịnh - Nguyễn là những mâu thuẫn nội tại, song triều đình suy yếu, nhà vua quá nhu nhược đớn hèn, không thể giải quyết được Mâu thuẫn này chỉ được khắc phục khianh

em nhà Tây Sơn tập hợp dân chúng khởi nghĩa.

Vương triều nhà Tây Sơn được thành lập trên cơ sở một phong trào đấu tranh của nông dân Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, sức mạnh

Trang 33

quật khởi của khởi nghĩa nông dân được miêu tả như một lực lượng có khả năng giải quyết những ung nhọt trong xã hội Nội bộ triều đình thối nát, quan lại chỉ biết toan tính mưu lợi cho bản thân, nhà chúa suy yếu vì tranh giành quyền lực trong nội cung, kiêu binh nổi loạn khống chế triều đình, nhiễu sách dân lành Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” dẹp yên loạn kiêu binh, củng cố chính quyền nhà Lê rồi trở vào Nam Quá trình phát triển của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Nhạc, sau là Nguyễn Huệ được miêu tả một cách khá chi tiết trong tác phẩm.

Trước tình thế chính quyền chúa Nguyễn có nguy cơ sụp đổ do sức tấn công của quân Tây Sơn, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài liền cất quân vượt sông Gianh tiến đánh Đàng Trong Lúc này, quân Trịnh chiếm Quảng Nam

và quân Nguyễn cũng đang âm mưu chiếm lại những vùng quân Tây Sơn chiếm đóng ở vùng mặt Nam Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã đánh bại quân Trịnh, muốn mượn tay người Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, bèn lặng lẽ đem quân về Nam không báo cho chỉnh biết Tin chính sự ở Bắc Hà báo về hành tại của Thế Tổ ở Mai Giang, Tống Phước Đạm nói: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà, nhưng số nhà Lê chưa chết Thần trộm nghĩ vua Chiêu Thống tất sẽ xin nhà Thanh cho quân cứu viện Nếu quân Thanh kéo qua cửa ải, thì Nguyễn Huệ khó lòng chống đỡ nỗi Nam triều ta hiện nay tuy phải lưu vong nơi đất khách, nhưng ơn trạch nhiều đời đầm thấm, quân dân trong nước vui long quy thuận Nhân dịp này chúa thượng đem quân về, ắt sẽ thu phục được đất Gia Định…”[16,tr.152]

Trước tình thế bât lợi, nghĩa quân Tây Sơn đã khôn khéo tìm cách hoà hoãn với quân Trịnh để dồn sức tiêu diệt quân Nguyễn ở phía Nam

Trang 34

Trong vòng ba tháng nghĩa quân Tây Sơn đã làm tan rã hoàn toàn chính quyền chúa Trịnh từ Thuận Hoá ra đến Thăng Long.Nguyễn Huệ tiến công vào thành Thăng Long, rồi lần lượt thu trọn các địa phương Bắc Hà Cũng trong dịp này Thế Tổ sai Trương Văn Giao làm trấn thủ dinh Phiên Trấn, Nguyễn Văn Đạo trấn thủ dinh Trấn Biên, Nguyễn Đức Thiện trấn thủ dinh Trấn Định, Huỳnh Trấn Thanh trấn thủ dinh Vĩnh Trấn, Mạc Công Bính trấn thủ Hà Tiên Lại sai Nguyễn Văn Thành đóng giữ luỹ Ngư Giác, đề phòng quân Tây Sơn từ phía đường biển đánh vào.

Nguyễn Huệ sau khi đánh tan quân Thanh, để tướng Ngô Văn Sở ở lại trấn thủ Bắc Thành, còn mình dẫn quân về Nam Sau đó nhận sắc phong của nhà Thanh Một thời gian sau, Nguyễn Huệ chết đột Quang Toản lên nối ngôi Nhưng Toản là một người thích chơi bời, việc nước đều do Đắc Tuyên quyết định Đắc Tuyên mặc sức hoành hành, tác oai tác phúc, dân chúng trong ngoài không ai không oán ghét triều đình Trước tình thế đó, Thế Tổ

đã tập hợp binh lực bàn kế sách để đánh tàn quân Tây Sơn, kết quả là đã giành thắng lợi, thống nhất bờ cõi.

Hoàng Việt long hưng chí cũng mô tả một cách chi tiết, đầy đủ về quá trình sụp đổ của vương triều Tây Sơn Nội dung này chiếm một phần rất lớn của tác phẩm Ngô Giáp Đậu giành đến hai mươi bốn hồi (từ hồi thứ năm đến hồi hai mươi bảy) trong tổng số ba mươi tư hồi của tiểu thuyết để

Trang 35

mô tả diện mạo lịch sử Qua đó người đọc có thể nhận thấy rất nhiều tình tiết sự việc vốn không được làm rõ trongHoàng Lê nhất thống chí.Từ nội bộ chúa Nguyễn đến anh em nhà Tây Sơn, hình tượng nghĩa quân Tây Sơn… đều được tác giả khắc hoạ rất rõ nét, rất chân thật.Hoàng Việt long hưng chíđã tái hiện một cách đầy đủ, sinh động một giai đoạn lịch sử phức tạp của dân tộc.

2.1.2 Quá trình hưng nghiệp của triều Nguyễn

Gắn với triều Nguyễn là Nguyễn Ánh - Gia Long, người kế tục sự nghiệp các Chúa Nguyễn tiền bối - người lập nên vương triều nhà Nguyễn - vương triều cuối cùng của nền đế chế phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam.

Sau khi thất thủ ở Long Xuyên, Nguyễn Ánh chèo thuyền nhỏ đến đậu ở bến sông Khoa Giang chờ đêm tối sẽ vượt biển khơi lánh quân Tây Sơn Lúc

ấy, có ba con cá Sấu bơi đến chặn ngang trước mũi nên thôi Nguyễn Ánh đành thu thập tàn quân ở Long Xuyên rồi sau đó về Sa Đéc Khi phát tang Định Vương xong, Nguyễn Ánh được Đỗ Thanh Nhơn và các tướng tôn làm Đại Nguyên súy nắm giữ quốc chính “bấy giờ là ngày tháng giêng năm Mậu Tuất, niên hiệu Lê Cảnh Hưng năm thứ 39” Khi Nguyễn Ánh lên nắm chính quyền, Lê Chữ phụng dâng kim sách và quốc bảo tiên triều, rồi dẫn đầu các tướng làm lễ dâng tôn thụy cho Định vương, tôn Hưng tổ là Hiếu Khang Vương Công cuộc hưng nghiệp của Nguyễn Ánh gắn với các cuộc chiến với quân Tây sơn.

Nguyễn Ánh sai các quân đắp thành đất ở bờ tây sông Bến Nghé kéo dài đến Cảng Thông, sai chặt gỗ Lim đóng cọc giữa lòng cảng, sắp sẵn chiến

Trang 36

thuyền để chống lại quân Tây Sơn.Ít lâu sau, Nguyễn Ánh duyệt định bản đồ các dinh ở Gia Định, phân chia địa giới của dinh Trấn Biên và dinh Long Hồ

để tiện liên lạc với nhau, rồi bãi bỏ lệ biệt nạp khố trường.

Đỗ Thanh Nhơn họp các quan dâng lời khuyên Nguyễn Ánh lên ngôi vua “Bấy giờ Thế Tổ mới mười chín tuổi, nghĩ mối thù của Nam triều chưa báo nên khiêm nhường không chịu nhận lời.Bọn Đỗ Thanh Nhơn hai ba lần khuyên mời, Thế Tổ mới chịu lấy ngày Quý Mão tháng giêng năm Canh Tí (2/1780) làm lễ nối vương vị ở Sài Gòn”.[16,tr.90].

Giữa lúc nước Xiêm có cuộc dấy loạn ở thành Cổ Lạc, thì Nguyễn Ánh đang sửa soạn đem quân đi đánh Nguyễn Nhạc, đã sai Tống Phước Thiêm chỉ huy dàn trận thủy quân ở sông Thất Kỳ nhưng thất bại Nghe tin Nguyễn Ánh cấp tốc đưa binh tiếp ứng, đến sông Tam Kỳ gặp thủy quân Tây Sơn: “Thế Tổ mình mặc áo chiến, đầu đội nón trận, đứng đầu mũi thuyền, tay cầm súng chim chỉ huy các tướng vừa đánh vừa lui.”[16,tr.99].

Nguyễn Ánh sai đắp lũy ở Giồng Lũy để chống cự với quân Tây Sơn Ban đầu, “Thế Tổ đích thân chỉ huy binh thuyền nghênh chiến”, khiến quân Tây Sơn rút lui Nhưng lúc này quân Nguyễn lại gặp quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy ập đến nên phải tháo chạy Thoát trận, Nguyễn Ánh nghĩ đến việc nhờ quân Xiêm viện trợ.

Nguyễn Ánh ra đảo Phú Quốc ngày đêm lo toan tập họp binh tướng

để mưu đồ khôi phục Khôi phục được Gia Định nhưng quân cô thế yếu, Nguyễn Ánh lo buồn: “Quân Tây Sơn năm nay tuy thua ta nhưng mùa xuân sang năm tất lại kéo vào đánh nữa Ta nghĩ kế sách không gì bằng phải liên kết với Xiêm La để giờ họ giúp sức”[16, tr.108].

Năm 1783, quân Tây Sơn tiến vào Sài Gòn, lần thứ tư thất thủ Gia Định, Nguyễn Ánh chạy đến Ba Giồng, rồi đến Lật Giang, khi bị quân Trương Tiến Thuận đuổi đánh lại phải nhảy thuyền ra đảo Côn Lôn, ra Phú

Trang 37

Quốc rồi đến đảo Thổ Chu Qua nhiều lần xin viện binh từ quân Xiêm đều không thành Trận chiến với quân Tây Sơn gặp nhiều gian khổ nhưng được các tương sĩ, cận thần hỗ trợ hết lòng.

Nguyễn Huệ tiến quân vào Thăng Long, thu tóm các địa phận Bắc Hà, nhưng lúc này nội bộ Tây Sơn đã bắt đầu có dấu hiệu lục đục, điều này tạo thuận lợi cho Nguyễn Ánh khôi phục lại vị thế Hoàng Việt long hưng chí dành nhiều đoạn nói về thắng lợi của chúa Nguyễn giai đoạn này:“Cai cơ Nguyễn Văn Mẫn, Đỗ Văn Hựu đốc thúc chiến thuyền tiến lên giao chiến với thuyền địch, chưa đến vài lần sáp đánh đã chém đầu Đô Đốc Nguyễn Hùng Hựu của quân Tây Sơn, đoạt được cờ Tư lệnh ba quân của Hựu” [16,tr.160]; “Thuỷ quân hai bên giao chiến ở Bãi Hổ Quân Tây Sơn rối loạn tan rã, Tham phải cho binh thuyền lui về cố thủ ở Hà Bắc”[16,tr.161].“Thế

Tổ đích thân đốc thúc chiến thuyền tiến đánh Nguyễn Chuẩn chết tại trận Trần Tú cùng thuộc hạ phải đầu hàng ”.[16,tr.162]…

Nguyễn Ánh trên lãnh địa của mình đã hết sức cố gắng tăng cường binh lực Một loạt chính sách được ban hành: đặt quan điền, huấn chuyên cho việc làm ruộng,thi hành phép ngự binh ư nông, trai tráng khi cần thì trở thành lính chiến, hết trận là về làm ruộng, định lệ khuyến nông đặt đồn điền.

Sau khi trở về Sài Gòn, Nguyễn Ánh bàn kế sách cùng các bề tôi, tướng sĩ để đánh quân Tây Sơn, cùng lúc này Hoàng tử Cảnh đi Tây Dương

đã trở về Ông đặc biệt quan tâm tới phong thưởng và đãi ngộ tướng sĩ trận vong hoặc có công lao Nguyễn Ánh đặt quan hệ tốt với các nước láng giềng, nhất là binh sĩ Xiêm nhằm tăng cường thanh thế.

Từ 1792, Nguyễn Ánh bắt đầu mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo chiến thuật “tằm ăn lá dâu” và theo từng mùa gió nồm “gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về”, khi phát quân thì quân lính đủ mặt, khi về thì tản ra đông

Trang 38

ruộng Sau khi Quang Trung mất, Nguyễn Ánh càng ráo riết thực thi chiến thuật trên Khi chiếm được Quy Nhơn, đổi thành Bình Định, Nguyễn Ánh bắt đầu giành được thế áp đảo khiến Nguyễn Quang Toản non yếu, nội bộ lục đục không sao chống nổi Năm 1802, Nguyễn Quang Toản mất, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Gia Long năm thứ nhất Mãi đến 1806, Gia Long chính thức làm lễ xưng đế ở điện Thái Hoà: “Khi ấy là tháng Ba mùa xuân năm Bính Dần, niên hiệu Gia Long thứ năm, tương đương với năm Gia Khánh thứ 11 nhà Thanh” [16,tr.400] Vua cùng các đình thần bàn việc tôn huy hiệu cho các tiên vương: “Kính trọng bề trên yêu quý người thân, đạo hiếu nhờ thế mới lớn; đền đáp công lao tôn sùng đức cả, việc lễ bởi vậy mới hậu Trẫm nhận mệnh giữa lúc nguy nan, thế mà đột nhiên vực dậy được thực chỉ nhờ trời, nhờ tổ tông có lòng thương yêu giúp đỡ trẫm mới

có thể tái tạo lại xã tắc, khôi phục bờ cõi như ngày nay Tưởng nhớ đến các tiên vương đã tích đức góp nhân cần cù trong hai trăm năm để nay trẫm được hưởng quả phúc, vậy mà việc lễ miếu chưa làm cho thêm long trọng, nói đến lòng hiếu sao đã gọi là xứng đáng”[16,tr.401].

Gia Long cho tổ chức lại các đơn vị hành chính từ trung ương xuống các làng xã Cả nước chia làm 23 trấn, 4 doanh Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn, ở quãng giữa là các trấn độc lập: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận; đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam doanh Cai quản Bắc thành và Gia Định thành có Tổng trấn và Phó tổng trấn Mỗi trấn có lưu trấn hay trấn thủ, cai bạ và ký lục Trấn chia ra phủ, huyện, châu có Tri phủ, Tri huyện, Tri châu đứng đầu Đây là lần đầu tiên trên một lãnh thổ thống nhất, các tổ chức hành chính được sắp đặt quy chính như vậy Nhà nước

Trang 39

cũng tiến hành điều tra kê cứu địa chí các địa phương, ghi chép lại địa hình sông núi, cầu quán, chợ búa, phong tục, thổ sản Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long cho biên soạn và ban hành bộ Nhất thống địa dư chí gồm 10 quyển Năm Ất Hợi (1815) bộ Quốc triều hình luậtgồm 22 quyển với 398 điều luật đã được ban hành Tất cả những sự kiện lịch sử này đều được Ngô Giáp Đậu làm rõ ở hồi ba mươi.

Về đối ngoại, Gia Long một mặt tranh thủ sự ủng hộ và giữ lễ thần phục nhà Thanh, mặt khác tạo quan hệ đàn anh đối với Chân Lạp và Ai Lao Tác giả viết:“Thế Tổ chuẩn cho đổi tên nước là Cao Miên, đúc cho quốc ấn, lại sai Ngô Nhân Tĩnh và Trần Công Đàn mang sắc ấn sang thành La Bích phong cho Nặc Chăn làm quốc vương”[16,tr.427].

Khi quân Xiêm chiếm thành La Bích, Nặc Ong chạy sang Tân Châu đầu hàng ta: “Thế Tổ hạ chiếu cho Nhơn cấp tiền hậu đãi, cho ở lại khách quán, tiếp như bậc tiên vương”.[16,tr.428]; “Nặc Chăn nước Cao Miên muốn dựa vào ta để xin viện binh nhưng ta đã kết giao hảo với Xiêm, giờ nên xử trí thế nào để đưa Chăn trở về nước nhà mà không gây hiềm khích với Xiêm”[16, 438].

Đối với các nước Phương Tây từ chỗ dựa vào lực lượng của họ để thắng lợi giờ chuyển sang lạnh nhạt.

Hoàng Việt long hưng chí cũng thể hiện những sự kiện cuối đời của vua Gia Long Khi việc ở Thanh Hoa đã ổn, Gia Long triệu Lê Văn Duyệt về Kinh Duyệt về triều gặp lúc vua không khoẻ, Gia Long cho triệu Phạm Đăng Hưng tới, sai thảo di chiếu, sai Lê Văn Duyệt kiêm trông coi năm doanh quân Thần sách Và rồi “vua băng hà ở điện Trung Hoà”[16,tr.463].

Triều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng

đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn

Trang 40

bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa Đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ Đó còn là việc kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó.

2.2 Chân dung nhân vật lịch sử trong Hoàng Việt long hưng chí

Hoàng Việt long hưng chí của Ngô GiápĐậu là một cuốn tiểu thuyết lịch sử phản ánh hiện thực có thật trong lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, chúng ta không đồng nhất bức tranh hiện thực này với chính hiện thực ngoài đời Mẫu hình nhân vật lịch

sử được xây dựng từ những con người có thật, những nhân vật của lịch sử lúc bấy giờ, nhưng khi bước vào văn học, nhân vật ấy lại mang một diện mạo riêng Đúng như M.Gorki nói: “Hiện thực cuộc sống là chất quặng thô, người nghệ sỹ phải sàng lọc sáng tạo, tôi luyện chất quặng thô đó thành chất thép sáng ngời Chất thép đó chính là các nhân vật văn học” Để có được những hình tượng văn học độc đáo như tác phẩm Hoàng Việt long hưng chí, nhà văn Ngô Giáp Đậu cũng phải trải qua một quá trình tôi luyện khá công phu.

Trong tác phẩm Hoàng Việt long hưng chí, khi xây dựng các nhân vật, nhà văn Ngô Giáp Đậu luôn cố gắng sao cho nhân vật lịch sử khi bước vào văn học thì nó phải mang một diện mạo riêng - diện mạo của một hình

Ngày đăng: 04/12/2014, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1996), "Loại hình học tác giả văn học và vấn đề phương pháp luận nghiên cứu", Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình học tác giả văn học và vấn đề phương pháp luận nghiên cứu
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1996
2. Lại Nguyên Ân (1997), "Các thể tài chức năng trong văn học trung đại Việt Nam", Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể tài chức năng trong văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1997
5. Nhan Bảo (1998), "Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam", Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam
Tác giả: Nhan Bảo
Năm: 1998
8.Nguyễn Huệ Chi (2002), "Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối liên hệ khu vực", Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối liên hệ khu vực
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2002
9.Nguyễn Huệ Chi (2003), "Mấy đặc trưng loại biệt của nền văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX", Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc trưng loại biệt của nền văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2003
10. Nguyễn Phương Chi (1980), “Tiểu thuyết “Trùng Quang tâm sử” nghĩ về đề tài lịch sử chống Trung Quốc xâm lược qua một số sáng tác hiện nay”, Tạp chí Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết “Trùng Quang tâm sử” nghĩ về đề tài lịch sử chống Trung Quốc xâm lược qua một số sáng tác hiện nay
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 1980
12. Nguyễn Đình Chú (2002), "Hiện tượng Văn – Sử - Triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại", Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng Văn – Sử - Triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 2002
14. Trương Đăng Dung (1994), "Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lucacs", Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lucacs
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1994
3.Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học (tái bản),Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (1995), Từ điển văn học Việt Nam – Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
6. A.Brebion (1935), Từ điển thư mục tác giả, tác phẩm tổng quát, cổ điển và hiện đại về Đông Dương thuộc Pháp (Trung tâm dịch thuật dịch), Nxb Thế giới, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Cư , Đỗ Đức Hùng (2006), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Khoa Chiêm (1998),Nam triều công nghiệp diễn chí, Nxb Văn học, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
15. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
16. Ngô Giáp Đậu (2013), Hoàng Việt long hưng chí (tái bản), Nxb Hồng Bàng, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w