- Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp sẽ thực hiện để đạt được những mục tiêu và nội dung trên: Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, bao gồm: thu thập các tài liệu khoahọc, tài li
Trang 1
PHAN THIÊN ĐỊNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Mã số: 60 34 82
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS THÁI THANH HÀ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả
theodõi, đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay ” là công trình nghiên
cứu độc lập, do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS
TS Thái Thanh Hà Các số liệu minh họa trong Luận văn là trung thực,
có trích dẫn cụ thể Những kết quả tổng kết được từ Luận văn chưađược sử dụng hay công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Người thực hiện
Phan Thiên Định
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và đầy trách
nhiệm, hiệu quả của PGS TS Thái Thanh Hà, Phó Trưởng Ban đào tạo,
Học viện Hành chính trong suốt quá trình luận văn được thực hiện Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới quí thầy cô Học viện Hành chính, cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, lãnh đạo và công chức Sở Kế hoạch và Đầu tư Thừa Thiên Huế, xin cảm ơn tập thể lớp cao học chuyên ngành hành chính công 16D, cảm ơn gia đình và bạn
bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình Cao học chuyên ngành Quản lý Hành chính công.
Người thực hiện
Phan Thiên Định
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Những đóng góp mới của luận văn 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
8 Kết cấu của luận văn 7
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA VÀ THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 8
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 8
1.1.1 Các khái niệm về kế hoạch hóa KT-XH 8
1.1.1.1 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo nội dung 9
1.1.1.2 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo thời gian 13
1.1.1.3 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo cấp độ quản lý 16
1.1.2 Các khái niệm về TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 16
1.1.2.1 Theo dõi thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 16
1.1.2.2 Đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 18
1.1.2.3 Mục tiêu, chỉ tiêu và chỉ số TDĐG trong kế hoạch phát triển KT-XH 19 1.2 VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CỦA CÔNG TÁC THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 25
Trang 51.3 QUY TRÌNH LẬP, THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ
HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI 27
1.3.1 Quy trình lập kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia và cấp tỉnh 27
1.3.2 Quy trình TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 30
1.3.2.1 Quy trình theo dõi và đánh giá truyền thống 30
1.3.2.2 Quy trình theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả 31
Chương 2 THỰC TRẠNG THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 36
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ- KINH TẾ; TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CÔNG TÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 36
2.1.1 Vị trí địa lý- kinh tế 36
2.1.2 Tổ chức bộ máy và công tác kế hoạch phát triển KT-XH 39
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TDĐG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 43
2.2.1 Chế tài cho công tác kế hoạch và TDĐG kế hoạch 47
2.2.2 Tính khoa học của bản kế hoạch phát triển KT-XH 50
2.2.3 Chất lượng nguồn thông tin 53
2.2.3.1 Các loại nguồn thông tin 53
2.2.3.2 Tần suất thu thập thông tin 58
2.2.3.3 Mức độ tin cậy của nguồn thông tin 60
2.2.3.4 Mức độ đầy đủ của hệ thống chỉ số/chỉ tiêu KT-XH trong việc phản ánh đúng tình hình KT-XH 61
2.2.4 Nhân lực cho công tác TDĐG 61
2.2.4.1 Số lượng và tổ chức bộ máy 61
2.2.4.2 Năng lực thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá của cán bộ TDĐG 63
2.2.5 Cơ chế lưu trữ và chia sẻ thông tin 64
2.2.6 Hạ tầng kỹ thuật (phần cứng) phục vụ công tác TDĐG 69
2.2.7 Phần mềm quản lý dữ liệu và xử lý số liệu chuyên biệt cho TDĐG 71
2.2.8 Kinh phí cho hoạt động khảo sát, điều tra 72
Trang 6TDĐG kế hoạch phát triển KT-XH 75
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 90
3.1 Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác kế hoạch phát triển KT-XH 90
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế 91
3.2.1 Nhóm giải pháp chung (vĩ mô): 93
3.2.1.1 Đổi mới phương pháp lập kế hoạch và phương pháp TDĐG 93
3.2.1.2 Nâng cao chất lượng nguồn thông tin phục vụ TDĐG 95
3.2.1.3 Thể chế hóa công tác kế hoạch hóa phát triển KT-XH nói chung, công tác TDĐG nói riêng 97
3.2.2 Nhóm giải pháp trực tiếp: 97
3.2.2.1 Hoàn thiện bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác TDĐG 97
3.2.2.2 Xây dựng cơ chế lưu trữ và chia sẻ thông tin 99
3.2.2.3 Tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật và kinh phí hoạt động 100
3.2.2.4 Tin học hóa quy trình TDĐG 101
3.2.2.5 Tôn trọng tính trung thực, khách quan 102
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
1 Phiếu khảo sát thu thập số liệu sơ cấp 108
2 Cơ sở dữ liệu khảo sát được mã hóa trên phần mềm SPSS 113
3 Các bảng thống kê mô tả 114
Trang 7BCH TW Ban chấp hành trung ương
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
HĐND Hội đồng nhân dân
KT-XH Kinh tế - xã hội
NGO Tổ chức phi chính phủ (Non-governmental organization)
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance) SLGP Ban QLDA Tăng cường năng lực địa phương trong xây dựng và thực
hiện kế hoạch phát triển KT-XH SCSM Ban QLDA Tăng cường năng lực theo dõi và đánh giá lập kế hoạch
KT-XH tỉnh Thừa Thiên Huế TDĐG Theo dõi và đánh giá
UBND Ủy ban nhân dân
UNICEF Quỹ Khẩn cấp Nhi đồng Quốc tế Liên Hiệp Quốc (United Nations
International Children's Emergency Fund) Nay là Quỹ nhi đồng liênhiệp quốc (United Nations Children's Fund)
WAN Mạng máy tính diện rộng (Wide Area Networks – WAN)
Trang 8Bảng 1 1 Ví dụ về mối liên hệ giữa mục tiêu, chỉ tiêu và chỉ số 24
Bảng 1 2 Mẫu tổ chức thu thập dữ liệu phục vụ theo dõi và đánh giá 33
Bảng 2 1 Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2010 đến năm 2013 38
Bảng 2 2 Thông tin về người được phỏng vấn 45
Bảng 2 3 Thông tin người được phỏng vấn theo nhóm đơn vị công tác 46
Bảng 2 4 Kết quả khảo sát về tính khoa học, dễ TDĐG của bản kế hoạch KT-XH 51
Bảng 2 5 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo chất lượng của nguồn thông tin cho công tác TDĐG 54
Bảng 2 6 Nguồn thông tin phục vụ công tác TDĐG thông thường 55
Bảng 2 7 Nguồn thông tin phục vụ TDĐG đột xuất 57
Bảng 2 8 Tần suất thu thập, xử lý và công bố thông tin theo quy định 59
Bảng 2 9 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo năng lực thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá thông tin của cán bộ TDĐG 63
Bảng 2 10 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo cơ chế lưu trữ và chia sẻ thông tin cho TDĐG 65
Bảng 2 11 Kết quả khảo sát về phương pháp lưu trữ thông tin 66
Bảng 2 12 Kết quả khảo sát về cơ chế chia sẻ thông tin phục vụ TDĐG 68
Bảng 2 13 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo hạ tầng kỹ thuật (phần cứng) cho TDĐG 69
Bảng 2 14 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo phần mềm quản lý dữ liệu và xử lý số liệu cho TDĐG 71
Bảng 2 15 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo kinh phí cho hoạt động khảo sát, điều tra trong công tác TDĐG 72
Bảng 2 16 Kết quả khảo sát về sự đảm bảo trung thực, khách quan trong công tác TDĐG 73
Bảng 2 17 Kiểm định tính phân phối chuẩn của số liệu Tests of Normality 76
Bảng 2 18 Độ tin cậy của các biến số trong phân tích định lượng 77
Trang 9độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả công tác TDĐG kế hoạchphát triển KT-XH 81
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1 1 Vị trí của công tác TDĐG trong quy trình kế hoạch 26
Trang 10xã hội làm cho Việt Nam đã và đang trở thành một điểm đến hấp dẫn, được các nhàđầu tư quốc tế quan tâm Trong kết quả đó, không thể không nhắc đến vai trò quantrọng của công tác kế hoạch hóa nói chung, công tác TDĐG thực hiện kế hoạch pháttriển KT-XH nói riêng.
Tuy nhiên, những khó khăn về kinh tế trong các năm gần đây đã làm bộc lộnhững điểm bất cập trong quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô Sự phục hồi, lấy lại đàtăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chậm hơn nhiều so với các nước trong khu vực.Khoảng cách tuyệt đối về phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nước trong khuvực ngày một cách xa Theo Thống kê của Quỹ Tiền tệ quốc tế, giai đoạn 2011-
2012, các nước ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lanđều tăng trưởng cao hơn giai đoạn 2008-2010, trong khi tốc độ tăng trưởng của ViệtNam suy giảm trong cả hai giai đoạn này Tăng trưởng của nước ta đã bắt đầu xuthế giảm nhanh và liên tục từ cuối 2007 và đến năm 2012 đã nằm ở mức thấp nhất
kể từ năm 2000 Có nhiều nguyên nhân cho tồn tại này, song một trong nhữngnguyên nhân sâu xa được các chuyên gia kinh tế đầu ngành đưa ra tại Hội nghị Báocáo đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội2011-2015, vừa diễn ra vào tháng 9 năm 2013 vừa qua, đó là căn bệnh thành tích
Sự kém hiệu quả trong việc áp dụng các gói giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô đãkhiến các nhà khoa học, các nhà quản lý nghĩ đến một điều: sự trung thực của cáccon số thực trạng Nhiều ý kiến của các chuyên gia kinh tế tại hội nghị này khởi đầucho một sự nghi ngờ có cơ sở về những số liệu phát triển KT-XH mà bao năm quachúng ta đã tin tưởng gần như tuyệt đối để điều hành, quản lý nền kinh tế
Trang 11Với mục tiêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại, Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn:tiếp tục đường lối đổi mới một cách nhất quán; thay đổi phương thức quản lý, điềuhành kinh tế vĩ mô; thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; chuyển đổi mô hình tăngtrưởng, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát huy và sử dụng hiệuquả nhất mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển nhanh và bền vững Theo
đó, công tác kế hoạch hóa phát triển KT-XH cần phải có sự thay đổi căn bản, toàndiện về mọi mặt Trong đó, vai trò công tác TDĐG cần phải được xem xét lại, nhưmột công cụ đặc biệt quan trọng để cung cấp dữ liệu cho việc hoạch định, triển khai,điều chỉnh các chính sách quản lý KT-XH của quốc gia
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét dưới góc độ kinh tế học, một xã hội có ba nhiệm vụ cơ bản phải hoànthành Đó là: phải quyết định sẽ sản xuất những loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ gì
?; sản xuất bao nhiêu, ở đâu và theo phương thức nào?; và, phân phối như thế nàocác sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã sản xuất cho các đối tượng hưởng thụ Mỗi chế
độ xã hội khác nhau sẽ có những phương cách khác nhau để giải quyết các vấn đềtrên Tuy mỗi chế độ xã hội, mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ khác nhau, có sự nhậnthức khác nhau về tầm quan trọng của công tác kế hoạch hóa, song hầu hết đều xem
kế hoạch hóa là một trong những công cụ, phương thức điều hành quan trọng đểgiải quyết ba nhiệm vụ cơ bản trên của mình
Hệ thống kế hoạch hoá trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chếkinh tế thị trường ở Việt Nam đang từng bước được đổi mới, trở thành công cụ đắclực điều tiết vĩ mô nền kinh tế Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hộinhập sâu vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi công tác kế hoạch cần phải đi trước mộtbước, vừa có tầm nhìn dài hạn, vừa phải linh hoạt theo hàng năm để huy động tối đamọi nguồn lực cho sự phát triển; việc triển khai thực hiện kế hoạch phải triệt để,thống nhất; việc TDĐG phải đảm bảo phản ánh kịp thời, đúng bản chất kết quả triểnkhai kế hoạch
Trang 12Tuy nhiên, đến nay, theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn và các tổ chứcquốc tế, công tác kế hoạch hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại như: thiếu
cơ sở thực tế, ôm đồm và nặng về thành tích khi lập kế hoạch; quy trình và phươngpháp kế hoạch chưa hợp lý; nhiều chỉ tiêu quan trọng và phức tạp không có nhữngphương pháp tính một cách rõ ràng và thống nhất Cũng chính từ các tồn tại này, côngtác TDĐG các kế hoạch đề ra hiện được coi là còn quá yếu; hầu như việc TDĐG việchiện chỉ mang tính hình thức, chưa có tác động nhiều đến việc điều hành thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và lập kế hoạch cho các giai đoạn sau Công tác
kế hoạch của Tỉnh Thừa Thiên Huế không nằm ngoài tình trạng này
Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kế hoạch thông qua việc tập trung
đi sâu vào làm rõ thực trạng, tồn tại trong công tác TDĐG việc thực hiện kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội; qua đó, đưa ra những giải pháp về đổi mới công tác TDĐGtrên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Qua xem xét danh mục các đề tài luận văn thạc sỹ đã thực hiện tại Học việnHành chính các năm trước đây cũng như tìm kiếm từ các nguồn thông tin khác trênmạng internet, tôi nhận thấy chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào liên quantrực tiếp đến đề tài đang nghiên cứu Vì vậy luận văn này đã lựa chọn chủ đề nghiêncứu nói trên Tuy nhiên, tính học thuật của luận văn được đặt lên trên hết khi sosánh với một số dự án nâng cao năng lực do các tổ chức quốc tế đang triển khai tạimột số địa phương, ngành trong phạm vi toàn quốc như:
Dự án “Tăng cường năng lực theo dõi và đánh giá dự án Việt Nam Ôxtrâylia-Giai đoạn II” (VAMESP II) do Ôxtrâylia tài trợ triển khai tại Bộ Kếhoạch và Đầu tư giai đoạn từ năm 2004-2007
Dự án “Tăng cường năng lực chính quyền địa phương trong việc xây dựng
và triển khai kế hoạch và ngân sách phát triển kinh tế-xã hội và quản lý các nguồnlực công” (SLGP) do UNDP và một số tổ chức tài trợ triển khai tại Hà Nội và 4tỉnh: Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Quảng Nam và Trà Vinh trong giai đoạn từ tháng4/2005-4/2009
Trang 13- Dự án “Tăng cường năng lực địa phương trong công tác theo dõi việc thựchiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội” (SCSM) do Chương trình phát triển LHQ(UNDP) và Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) tại Việt Nam tài trợ thực hiện tại tỉnhThừa Thiên Huế trong giai đoạn 12/2007-10/2009.
- Dự án “Tăng cường cải cách lập kế hoạch ở cấp trung ương và cấp địaphương” (SPR) do Chính phủ Vương quốc Bỉ viện trợ không hoàn lại, triển khai tại
Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong giai đoạn từ tháng 11/2008-11/2012
Phần lớn các đề tài luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ đã được công
bố chủ yếu tập trung vào vấn đề đổi mới công tác kế hoạch hóa nói chung Trong
đó, trọng tâm của vấn đề thường được các tác giả đề cập là quy trình, phương pháp
và định hướng trong công tác lập kế hoạch Với một góc nhìn khác, luận văn nàyđược xây dựng trên cơ sở quan điểm: để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác kế hoạch hóa thì trước hết cần phải đổi mới công tác TDĐG việc thực hiện
kế hoạch; theo hướng, làm cho công tác này phản ảnh đúng thực chất kết quả triểnkhai các kế hoạch Qua đó, chỉ rõ nguyên nhân không đạt được kết quả là do chấtlượng lập kế hoạch kém hay do tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch không hiệuquả Từ đó, từng bước hoàn thiện các khâu của quy trình kế hoạch Đây cũng lànhiệm vụ mà đề tài luận văn này cần tập trung nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Mục đích của đề tài là trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, nghiên cứu thựctrạng, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác theo dõi và đánh giá thực hiện kếhoạch phát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế; góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả, hiệu lực công tác kế hoạch hóa phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục đích trên, luận án văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống lại các vấn đề lý luận liên quan đến công tác kế hoạch hóa
phát triển KT-XH và công tác lập, TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Trang 14Thứ hai, khảo sát thực trạng công tác lập, TDĐG thực hiện kế hoạch phát
triển KT-XH tại một số địa phương và ngành trên địa bàn Thừa Thiên Huế Từ đóphân tích, đánh giá, rút ra những vấn đề chung nhất của thực trạng công tác lập,TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Thứ ba, phân tích, đề xuất giải pháp để giải quyết nâng cao chất lượng, hiệu
quả, hiệu lực TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tập trung vào các vấn đề:
Một là, công tác thu thập, phân tích, xử lý hệ thống thông tin phục vụ cho
công tác lập, theo dõi và đánh giá kế hoạch phát triển KT-XH địa phương
Hai là, nhu cầu phân tích cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác lập, theo dõi
và đánh giá kế hoạch phát triển KT-XH địa phương của hệ thống các cơ quanchính quyền
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được triển khai nghiên cứu trọng phạm vi không gian toàn tỉnh ThừaThiên Huế với trọng tâm là các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan trực tiếp đếncông tác xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH; TDĐG thực hiện kế hoạch; thốngkê; lãnh đạo, điều hành triển khai thực hiện kế hoạch và triển khai thực hiện kếhoạch KT-XH
Thời gian nghiên cứu: trong khoảng từ năm 2006 đến năm 2010 (tương ứngvới kỳ kế hoạch 5 năm 2006-2010) và từ năm 2011 đến năm 2013
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận
Nghiên cứu về lý luận và thực trạng công tác TDĐG thực hiện kế hoạch pháttriển KT-XH trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là nghiên cứu mối quan hệ từ quátrình lập kế hoạch cho đến quá trình TDĐG kế hoạch phát triển KT-XH trên cơ sởphương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm, đường lối của Đảng
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp sẽ thực hiện để đạt được những mục tiêu và nội dung trên:
Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, bao gồm: thu thập các tài liệu khoahọc, tài liệu về thực tế triển khai công tác TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-
XH trong nước và trên thế giới, nhằm hệ thống lại các vấn đề lý luận liên quan đếncông tác kế hoạch hóa phát triển KT-XH nói chung và công tác lập, TDĐG thựchiện kế hoạch phát triển KT-XH nói riêng
Sử dụng phương pháp phương pháp nghiên cứu có sự tham gia và phươngpháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi để khảo sát thực trạng công tác lập, TDĐGthực hiện kế hoạch phát triển KT-XH tại một số địa phương và ngành trên địa bànThừa Thiên Huế Qua đó, phân tích, đánh giá nhằm rút ra những vấn đề chung nhấtcủa thực trạng công tác lập, TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội tạitỉnh Thừa Thiên Huế
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để đề xuất phươnghướng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực TDĐG thực hiện kế hoạchphát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở lý thuyết khoa học và thựctrạng tình hình TDĐG trên địa bàn tỉnh
Sử dụng phương pháp chuyên gia để phản biện, củng cố cơ sở lý luận, hoànchỉnh giải pháp đã đưa ra
6 Những đóng góp mới của luận văn
Đưa ra lý luận và giải pháp toàn diện nhằm triển khai một cách có hiệu quảcông tác TDĐG kế hoạch KT-XH trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần hoàn thiện lý luận về vai trò của công tác TDĐG kế hoạch pháttriển KT-XH trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
5 năm và hàng năm trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Qua đó, đưa ra nhữngphương hướng, giải pháp có tính khả thi để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quảcông tác kế hoạch phát triển KT-XH trong kỳ kế hoạch 2011-2015 và các kỳ kếhoạch tiếp theo trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 168 Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.Ngoài ra còn có bảng danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, tài liệu tham khảo
và phụ lục kèm theo Kết cấu cụ thể như sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu
Chương I Lý luận cơ bản về kế hoạch hóa và TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Chương II Thực trạng TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương III Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay
Phần 3: Kết luận
Trang 17PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA VÀ THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1 Các khái niệm về kế hoạch hóa KT-XH
Kế hoạch là một trong những chức năng cơ bản của quy trình quản lý Nó thểhiện ý đồ của chủ thể về sự phát triển trong tương lai của đối tượng quản lý và cácgiải pháp để thực hiện
Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Từ điển VIETTEX phát hành năm 2011định nghĩa:
“Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể vềcách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thờigian nhất định, với mục tiêu nhất định”
“Kế hoạch hóa là làm cho phát triển một cách có kế hoạch”
[17], tr 624
PGS TS Ngô Doãn Vịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển Bộ Kếhoạch và Đầu tư cho rằng: “ nói đến kế hoạch hóa tức là nói đến lập kế hoạch vàbiến kế hoạch thành thực tế cuộc sống đối với một công việc cụ thể hay đối với một
hệ thống nhất định” [18]
Hiện nay, kế hoạch hóa phát triển KT-XH đang được hiểu phổ biến như là mộttrong những phương thức quản lý KT-XH của nhà nước theo mục tiêu; nó thể hiệnnhững mục tiêu, chỉ tiêu, kết quả phát triển KT-XH phải đạt được trong một khoảngthời gian nhất định của quốc gia, địa phương, vùng lãnh thổ hay ngành kinh tế vànhững giải pháp, chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đó một cách hiệu quả nhất
“Kế hoạch hóa không chỉ là lập kế hoạch mà còn là quá trình tổ chức, thựchiện và theo dõi, đánh giá kết quả Lập kế hoạch là lựa chọn một trong nhữngphương án hoạt động cho tương lai của toàn bộ hay từng bộ phận của nền kinh tế
Trang 18Còn tổ chức theo dõi và thực hiện được thể hiện bằng hệ thống các chính sách ápdụng trong từng thời kỳ kế hoạch xem như là cam kết của Chính phủ đối với hệthống kinh tế” [11], tr.30
1.1.1.1 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo nội dung
Quá trình kế hoạch hóa là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau của các bộ phận cấu thành bao gồm các chiến lược phát triển, quy hoạchphát triển, kế hoạch phát triển và các chương trình, dự án phát triển
* Chiến lược phát triển
“Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là hệ thống các phân tích, đánh giá
và lựa chọn về quan điểm mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển các lĩnhvực chủ yếu của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản, trong đó bao gồm cácchính sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế xã hội nhằm thực hiệnmục tiêu đặt ra trong một khoảng thời gian dài” [11], tr.61-62
Thông thường thời gian của chiến lược trong khoảng 10 năm Một sốchiến lược có thời gian mở rộng đến 20, 25 năm; khoảng thời gian sau 10 nămđược gọi là “tầm nhìn” Các quan điểm, định hướng, chính sách cho phần “tầmnhìn” mang tính chất định tính nhiều hơn, mềm hơn so với phần chiến lược.Nội dung của phần “tầm nhìn” tạo ra định hướng, sự chuyển tiếp cho phần
“chiến lược”
Xây dựng và quản lý KT-XH bằng chiến lược phát triển giúp cho các nhàlãnh đạo định hướng cho sự phát triển của đất nước cũng như xác định các kếtquả quan trọng phải đạt được qua những mốc thời gian nhất định Quản lý KT-
XH bằng chiến lược giúp các nhà quản lý ý thức và tận dụng được các cơ hội
có trong tương lai vào mục tiêu phát triển, giảm thiểu được rủi ro do các biếnđộng không lường trước của các điều kiện môi trường
Chức năng chủ yếu của chiến lược là định hướng cho sự phát triển củađất nước trong một thời gian dài, nên chiến lược mang nặng tính chất định tính(quan điểm phát triển, định hướng phát triển, chính sách cho sự phát triển )
Trang 19Tuy nhiên, để mang tính khả thi, chiến lược cũng phải mang tính chất địnhlượng trên một số vấn đề liên quan đến các tính toán, dự báo để đưa ra luận cứcho quan điểm, định hướng và chính sách phát triển.
Một bản chiến lược phải nêu lên được các vấn đề sau:
Một là: thực trạng Thực trạng thực chất là trả lời cho câu hỏi: chúng tađang ở đâu ? Thực trạng không phải chỉ xét ở trạng thái tĩnh vào thời điểm lậpchiến lược, mà phải được nhìn nhận trong xu thế trạng thái động của suốt mộtthời gian dài tương đương với thời gian chiến lược sẽ được xây dựng
Hai là: quan điểm phát triển Quan điểm phát triển là những tư tưởng chủđạo thể hiện tính định hướng của chiến lược Các quan điểm chủ đạo này là cơ
sở để hoạch định các chính sách nhằm tập trung nguồn lực vào các mục tiêutrọng yếu, tạo ra động lực xuyên suốt cho quá trình thực hiện chiến lược
Ba là: mục tiêu phát triển Mục tiêu của chiến lược là mục tiêu tổng quát,tập trung vào phát triển KT-XH đất nước Nó không đơn thuần là các chỉ số đầu
ra, đầu vào của các hoạt động KT-XH, mà xa hơn, chính là sự tác động của cácchỉ số đó đến đời sống KT-XH Mục tiêu này chính là những biến đổi tích cực,quan trọng trong đời sống KT-XH cần đạt được qua một thời kỳ thực hiệnchiến lược Mục tiêu thông thường có cả tính chất định lượng cũng như địnhtính; nhưng những mục tiêu định lượng cũng chính là nhằm đích đến cuối cùngđạt được những thay đổi tích cực trong định tính Mục tiêu của chiến lược luôngắn với từng nhiệm vụ, hệ thống giải pháp, và các chỉ số kết quả đầu ra, đầuvào nhất định
Bốn là: hệ thống các chính sách và giải pháp; bao gồm tất cả những cơchế, chính sách, giải pháp tổng quan để vận hành hệ thống KT-XH cũng nhưkhai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển một cách đồng bộ vào việcthực hiện các mục tiêu phát triển của chiến lược
* Quy hoạch phát triển
Quy hoạch là sự cụ thể hóa chiến lược cả về mục tiêu và giải pháp trongthực tiễn phát triển KT-XH
Trang 20“Quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lược về thời gian vàkhông gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ độnghướng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững” [11], tr.65.
Quy hoạch còn là chiếc cầu nối giữa chiến lược và kế hoạch Nó là
“khung” để đảm bảo cho các kế hoạch được chi tiết hóa trong một tổng thể đãđược định hình trước, nó làm cho kế hoạch đảm bảo tính năng động nhưngkhông chệch hướng mục tiêu chiến lược đã đề ra
Quy hoạch phát triển bao gồm: quy hoạch tổng thể KT-XH, quy hoạchngành và quy hoạch vùng lãnh thổ
Quy hoạch tổng thể KT-XH, về bản chất, xét cho cùng, vẫn mang tínhđịnh hướng Tuy nhiên, “khâu quan trọng nhất của quy hoạch là luận chứng vềtính tất yếu, hợp lý cho sự phát triển và tổ chức không gian KT-XH dài hạn dựatrên sự bố trí hợp lý bền vững kết cấu hạ tầng vật chất- kỹ thuật phù hợp vớinhững điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái” [11], tr.66
Quy hoạch tổng thể KT-XH là cơ sở để xây dựng các quy hoạch ngành,quy hoạch vùng lãnh thổ Lúc này các cơ cấu phát triển ngành, địa phương, vùnglãnh thổ sẽ được thể hiện rõ hơn; các nguồn lực cho sự phát triển ngành, địaphương, vùng lãnh thổ cũng được hoạch định một cách cụ thể hơn, sát hơn vớithực tế nhưng vẫn đảm bảo cân đối trong một tổng thể phát triển KT-XH nóichung; làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển
* Kế hoạch phát triển
“Kế hoạch phát triển là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tếquốc dân, nó là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triểnkinh tế xã hội theo từng thời kỳ bằng hệ thống các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biệnpháp định hướng phát triển và hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời
kỳ kế hoạch” [11], tr 68
Kế hoạch phát triển thường được xác định trong khoảng thời gian hàng năm,
5 năm hoặc 10 năm Kế hoạch 10 năm thường chính là chiến lược Có thể nói, tínhphân đoạn chính là đặc trưng của kế hoạch
Trang 21Tính định lượng cao là sự khác biệt của kế hoạch phát triển so với chiến lượcphát triển Do được xác định là công cụ điều hành KT-XH trong một thời gian ngắnhơn so với chiến lược nên kế hoạch phát triển cũng được xây dựng một cách chitiết, cụ thể và ổn định hơn Tất nhiên, vì thế, tính uyển chuyển, tính mở của kếhoạch phát triển cũng thấp hơn so với chiến lược phát triển Nếu như chiến lượcphát triển vạch ra những định hướng để phát triển, thì mục tiêu của kế hoạch là đạtđược những kết quả cụ thể để hướng đến mục tiêu đã đặt ra trong chiến lược Trongmột số lĩnh vực, kế hoạch phát triển cũng chính là chỉ tiêu pháp lệnh mà các chủ thểthực hiện cần đạt tới trong kỳ kế hoạch.
Hệ thống kế hoạch phát triển KT-XH bao gồm nhiều kế hoạch chi tiết như:
kế hoạch phát triển vùng kinh tế, kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch chuyển dịch cơcấu kinh tế, kế hoạch phát triển KT-XH từng địa phương Nó cũng bao gồm cảnhững cân đối về vốn ngân sách, vốn đầu tư, thanh toán quốc tế
Một trong những nội dung hết sức quan trọng trong kế hoạch phát triển
KT-XH là hệ thống các chỉ tiêu Đây là thước đo kết quả của những nhiệm vụ phải thựchiện trong kỳ kế hoạch Hệ thống chỉ tiêu này được xây dựng trên tiêu chí phạm vitính toán (chỉ tiêu kế hoạch của quốc gia, chỉ tiêu kế hoạch của địa phương, chỉ tiêu
kế hoạch của từng ngành, lĩnh vực ); tiêu chí nội dung (chỉ tiêu phát triển kinh tế,chỉ tiêu phát triển xã hội, chỉ tiêu lồng ghép giữa phát triển kinh tế với phát triển xãhội và ngược lại); tiêu chí quản lý (chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ tiêu hướng dẫn, chỉ tiêu
dự báo); tiêu chí phạm vi đơn vị đo lường (chỉ tiêu hiện vật, chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêutuyệt đối, chỉ tiêu tương đối)
Trang 22xúc nhất định của xã hội Chương trình quốc gia thường được nhất quán trong suốtthời kỳ chiến lược, xuyên qua nhiều kỳ kế hoạch khác nhau, được thực hiện trênmột phạm vi rộng địa phương, lĩnh vực và được giao cụ thể cho một đơn vị nhấtđịnh chủ trì tổ chức thực hiện Các chương trình quốc gia, dự án luôn gắn liền vớicác nguồn lực đầu tư cụ thể, được cân đối chung trong tổng thể nguồn lực KT-XHquốc gia
Dự án phát triển KT-XH là sự triển khai kế hoạch, chương trình phát triển
Dự án phát triển luôn gắn liền với nguồn lực đầu tư và nhằm để thực hiện đầu tưmột công trình hoặc nhóm công trình nhất định theo mục tiêu đã đặt ra ban đầu, khixác định sự cần thiết phải đầu tư và quyết định đầu tư
1.1.1.2 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo thời gian
Mỗi quốc gia có sự phân chia kế hoạch theo các khoảng thời gian khácnhau Việt Nam cũng như các nước phát triển khác sử dụng hai mức kế hoạch: kếhoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn hàng năm Trong đó, kế hoạch trung hạnđược xác định khoảng thời gian là 5 năm, kế hoạch ngắn hạn được xác định là kếhoạch hàng năm
* Kế hoạch 5 năm
Kế hoạch 5 năm vừa là sự cụ thể hoá các chiến lược phát triển KT-XH vàquy hoạch phát triển vừa là công cụ định hướng cho các kế hoạch hàng năm; là cầunối giữa chiến lược phát triển, quy hoạch phát triển với các kế hoạch hàng năm Kếhoạch 5 năm là công cụ chuyển các mục tiêu mang tính định tính cao trong chiếnlược, quy hoạch thành các công việc cụ thể, mang nặng tính định lượng phải thựchiện trong kế hoạch hàng năm
Kế hoạch 5 năm có thời gian triển khai phù hợp với nhiệm kỳ chính trị, chu
kỳ hạch toán kinh tế quốc gia nên thuận lợi cho việc tổ chức, điều hành của cáccấp chính quyền Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định:
“xây dựng kế hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoáphát triển”
Trang 23Nội dung chủ yếu của kế hoạch 5 năm bao gồm:
Một là, xác định nhiệm vụ tổng quát, các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu phát triểnkinh tế –xã hội như: mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huyđộng tiết kiệm, các chỉ tiêu về phúc lợi xã hội trong thời hạn 5 năm
Hai là, xác định các vấn đề quan trọng, bức xúc, trọng yếu cần phải tập trunggiải quyết để hoạch định các chương trình và lĩnh vực phát triển phục vụ cho sựphát triển KT-XH
Ba là, xây dựng các giải pháp tổ chức thực hiện; các giải pháp lớn về cân đối
vĩ mô chủ yếu (như cân đối vốn đầu tư, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế,sức mua toàn xã hội; xác định các khả năng và quan hệ về nguồn vốn đầu tư trong
và ngoài nước; xác định các quan hệ cung cầu một số hàng hoá vật tư chủ yếu); xâydựng các giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách kinh tế, hiệu lực, hiệuquả của bộ máy quản lý nhà nước
Hệ thống chỉ tiêu và các giải pháp của kế hoạch 5 năm phù hợp là cơ sở quantrọng cho xây dựng và đảm bảo tính khả thi của kế hoạch hàng năm
Theo Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển KT-XH [11], tr.76-77:
Trên thế giới, người ta xây dựng kế hoạch 5 năm theo một trong hai phươngpháp: giai đoạn cố định (phương pháp truyền thống) hoặc “cuốn chiếu”
Phương pháp truyền thống đã được áp dụng trong hệ thống kinh tế Xã hộiChủ nghĩa Hiện nay, Việt Nam vẫn còn áp dụng phương pháp này dưới những hìnhthức khác nhau Đặc trưng của phương pháp này là khoảng thời gian của thời kỳ 5năm được xác định một cách cố định (ví dụ: kế hoạch 5 năm 2006-2010, 2011-2015); chỉ tiêu kế hoạch được xây dựng một lần cho cả thời kỳ 5 năm, bình quânhàng năm hoặc tính cho năm cuối của kỳ kế hoạch Phương pháp này phù hợp với
mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế ổn định, ít biến động Tuynhiên, phương pháp này có nhiều hạn chế trong việc điều tiết các quan hệ thịtrường, khắc phục các khuyết tật của thị trường, định hướng thị trường theo mụctiêu của xã hội Do chỉ tiêu, giải pháp kế hoạch xây dựng một lần cho cả thời kỳ 5
Trang 24năm nên sẽ bị lạc hậu, thiếu linh động, kém hiệu quả trước các biến động của thịtrường, sự thay đổi môi trường kinh tế trong nước và quốc tế
Phương pháp “cuốn chiếu” đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đặcbiệt là tại Pháp, Nhật Bản, Đức, Úc Phương pháp này được áp dụng rộng rãi gắnliền với quá trình phát triển kinh tế thị trường Theo phương pháp này, thời kỳ kếhoạch 5 năm không cố định mà được thay đổi theo kiểu cuốn chiếu sau mỗi năm kếhoạch, khi một năm thực hiện kế hoạch qua đi thì một năm kế hoạch mới lại đượcđưa vào khuôn khổ trung hạn (ví dụ như kế hoạch 2006-2010 rồi đến kế hoạch2007-2011 ); các chỉ tiêu kế hoạch được tính theo những mục tiêu tổng thể, baogồm kế hoạch chính thức cho một năm hiện hành, kế hoạch dự tính cho năm tiếptheo và dự báo cho kế hoạch ba năm còn lại Sau năm đầu tiên của kỳ kế hoạch, trên
cơ sở kết quả thực hiện kế hoạch, căn cứ tình hình kinh kế- xã hội mới phát sinh, cơquan lập kế hoạch lại xây dựng kế hoạch 5 năm thời kỳ cuốn chiếu mới với các nộidung: xây dựng kế hoạch chính thức cho năm tiếp theo (năm đầu của thời kỳ mới),điều chỉnh những dự báo kế hoạch của 4 năm tiếp theo trong kỳ kế hoạch mới.Phương pháp này đảm bảo cho kế hoạch 5 năm luôn thích nghi với tình hình mớinhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu xuyên suốt giữa các kỳ kế hoạch do giữa 5 năm
kế hoạch kế tiếp nhau luôn có 4 năm trùng nhau
* Kế hoạch hàng năm
Kế hoạch hàng năm thực chất là một phần của kế hoạch 5 năm Kế hoạch 5năm là công cụ định hướng, kế hoạch hàng năm là công cụ thực hiện Kế hoạchhàng năm là sự cụ thể hóa kế hoạch 5 năm Kế hoạch hàng năm là công cụ phục vụcho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương trongcác hoạt động KT-XH Nội dung kế hoạch hàng năm được xây dựng trên cơ sở cácmục tiêu, chỉ tiêu định hướng trong kế hoạch 5 năm, kết quả thực hiện kế hoạchnăm trước đó, khả năng ngân sách và tình hình KT-XH dự kiến phát sinh trong kỳ
kế hoạch Kế hoạch hàng năm còn là công cụ điều chỉnh kế hoạch 5 năm có tính đếnđặc điểm của từng năm; đồng thời, còn là công cụ bổ sung, chi tiết hóa những vấn
đề chưa được nêu rõ trong kế hoạch 5 năm
Trang 25Hệ thống kế hoạch hàng năm bao gồm các loại: kế hoạch định hướng pháttriển KT-XH; kế hoạch ngân sách; kế hoạch cung ứng tiền tệ; kế hoạch xuất nhậpkhẩu và quản lý cán cân thanh toán quốc tế; kế hoạch vay và trả nợ nước ngoài.[11], tr.78.
1.1.1.3 Hệ thống kế hoạch hóa kinh tế - xã hội phân theo cấp độ quản lý
* Kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia
Nội dung kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia được xây dựng trên cơ sởnội dung chiến lược phát triển KT-XH, quy hoạch phát triển KT-XH vùng lãnh thổ,quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các chương trình phát triển dài hạn củaquốc gia Kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia thể hiện các mục tiêu tổng quát,nhiệm vụ cụ thể, cân đối nguồn lực, chương trình, dự án đầu tư và các giải phápphát triển KT-XH theo những mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triểnKT-XH trong một thời gian nhất định
* Kế hoạch phát triển ngành
Kế hoạch phát triển ngành được các ngành xây dựng trên cơ sở chiến lược,
kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia, tiềm năng phát triển của ngành nhằm tối
đa hóa hiệu quả các nguồn lực phát triển của ngành vào thực hiện thành công cácmục tiêu, chỉ tiêu đã vạch ra trong chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH
* Kế hoạch phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ
Kế hoạch phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ có thể là kế hoạch phát triển KT-XHcủa cộng đồng (thôn, bản ), địa phương (tỉnh, huyện, xã), cũng có thể là phát triển củavùng kinh tế lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa giới hành chính của một địa phương
1.1.2 Các khái niệm về TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
1.1.2.1 Theo dõi thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Khái niệm “theo dõi” được định nghĩa trong nhiều tài liệu về quản lý:
- Theo dõi là “Một chức năng quản lý liên tục, chủ yếu nhằm cung cấp chocác cán bộ quản lý chương trình và đối tác chính những thông tin phản hồi thường
Trang 26xuyên và những chỉ dẫn sớm về thực hiện các kết quả dự kiến có tiến triển haykhông tiến triển” [19], tr.22
- Theo dõi là “Một quá trình thu thập dữ liệu một cách có hệ thống về nhữngchỉ số cụ thể liên quan đến một hoạt động phát triển đang được thực hiện, để nhữngngười quản lý và các đối tượng liên quan có được thông tin về tiến độ thực hiện cácmục tiêu đề ra và sử dụng nguồn vốn đã được phân bổ” [2], tr.11
Cụ thể hóa khái niệm này trong công tác kế hoạch hóa phát triển KT-XH,
“Sổ tay theo dõi và đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH địa phương dựatrên kết quả” định nghĩa:
“Theo dõi là quá trình thu thập có hệ thống các dữ liệu về những chỉ số nhấtđịnh để cung cấp thông tin cho những nhà quản lý và các bên có liên quan nhậnthức rõ về một chính sách/chương trình/kế hoạch và về tiến độ thực hiện các mụctiêu đề ra, tiến độ sử dụng vốn đã được phân bổ
Theo dõi và một quá trình liên tục cập nhật thông tin của các chủ thể thực thi
kế hoạch, và có thể nói là quá trình tự ghi chép nội bộ Hoạt động này nhằm hìnhthành cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục tiêu phân tích và đánh giá kế hoạch” [1], tr.5
Theo đó, theo dõi được thực hiện ngay khi kế hoạch phát triển KT-XH bắtđầu được triển khai; là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trìnhthực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Theo dõi cung cấp một cách chân thực, kịp thời tình hình thực hiện các chỉtiêu đã được đề ra trong bản kế hoạch, nhằm cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá,quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Thông tin có được qua theo dõi chỉ cung cấp sự thay đổi tình hình, số liệu sovới kế hoạch đã đề ra chứ không không chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại haykết quả đạt được, điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch.Báo cáo theo dõi chỉ mang tính mô tả
Có hai nội dung phải quan tâm trong theo dõi kế hoạch phát triển KT-XH là:
Trang 27Một là, theo dõi theo quá trình (theo dõi mức độ tuân thủ): là hoạt động theodõi tập trung vào việc xác định tiến độ triển khai các hạng mục công việc, mức độđạt được của các chỉ tiêu đã được xác định trong kế hoạch phát triển KT-XH
Hai là, theo dõi theo tác động: là hoạt động theo dõi gắn liền tiến độ triểnkhai kế hoạch, mức độ đạt được của các chỉ tiêu với đo lường mức độ tác động đếnmục tiêu đã đề ra trong kế hoạch phát triển KT-XH
1.1.2.2 Đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Đánh giá là một quá trình tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống một dự
án, một chương trình, hay một chính sách, một kế hoạch phát triển đang được thựchiện hoặc đã kết thúc, bao gồm đánh giá từ việc lập kế hoạch, thiết kế chương tình,
dự án đến quá trình thực hiện và kết quả của kế hoạch, chương trình, dự án haychính sách [2], tr.11
Đánh giá là quá trình phân tích, nhận xét, tìm rõ các căn nguyên có hệ thống
về một kế hoạch/chương trình/chính sách đang được triển khai hoặc đã thực hiệnxong Mục đích là để làm rõ tính thích hợp của các mục tiêu đề ra, việc hoàn thànhmục tiêu, hiệu quả hoạt động, tính hữu hiệu, tác động và tính bền vững Nhữngthông tin thu thập được phải là cơ sở để rút kinh nghiệm khi xây dựng các kế hoạch,chương trình hoặc chính sách tiếp theo [1], tr.5
Theo đó, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH là việc tổnghợp, phân tích một cách có hệ thống thông tin từ quá trình theo dõi để xác định tínhphù hợp, mức độ đạt được, hiệu suất sử dụng nguồn lực, hiệu quả của việc triển khai
kế hoạch phát triển KT-XH Đánh giá cung cấp cho cơ quan quản lý những thông tin,bài học quan trọng nhằm điều hành, điều chỉnh kế hoạch phát triển KT-XH
Đánh giá không dừng lại ở việc xem xét mức độ, nguyên nhân đạt được củacác mục tiêu kế hoạch mà còn xem xét sự phù hợp của bản kế hoạch Đánh giá đitrước theo dõi một bước, nếu như theo dõi chỉ bắt đầu khi kế hoạch đã được triển khaithì đánh giá được thực hiện ngay trong quá trình xây dựng dự thảo kế hoạch pháttriển KT-XH Đánh giá đi xa hơn theo dõi một bước, thông qua phản ánh về nhữngvấn đề đã và đang xảy ra, nó giúp cơ quan quản lý rút ra bài học, định hướng cho
Trang 28tương lai; nó không những đưa ra giá trị của thực tại, mà còn đưa ra những lựa chọntương lai về chỉ tiêu, mục tiêu và những ưu tiên cho tiến trình phát triển KT-XH.
Khác với theo dõi, chỉ được thực hiện như là một hoạt động quản lý nội bộbởi các cơ quan trong hệ thống quản lý kế hoạch, đánh giá có thể được thực hiệntrong phạm vi hẹp bởi những người trong hệ thống quản lý kế hoạch hoặc cũng cóthể được thực hiện trong phạm vi rộng bởi một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức khác
Thực tế hiện nay, có hai phương pháp đánh giá đang được triển khai: đánhgiá theo phương pháp truyền thống và đánh giá dựa vào kết quả
Phương pháp đánh giá truyền thống tập trung vào quá trình thực hiện, gắnliền coi trọng nội dung theo dõi mức độ tuân thủ, nhằm xác định tiến độ, cách thứctriển khai và mức độ hoàn thành kế hoạch Phương pháp đánh giá truyền thống quantâm nhiều đến các chỉ tiêu đầu vào, đầu ra, ít quan tâm đến các chỉ tiêu kết quả;trách nhiệm theo dõi và đánh giá chỉ được triển khai trong nội bộ các cơ quan nhànước, không mở rộng ra khu vực bên ngoài nhà nước Phương pháp này không giúpcho cơ quan quản lý nhận thức được mức độ thành công hay thất bại của kế hoạchvới ý nghĩa là kết quả, tác động cuối cùng đến KT-XH Phương pháp này cũngkhông chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng những nhân tố, chương trình, chính sách đãtác động đến kết quả triển khai kế hoạch KT-XH Kế hoạch phát triển KT-XH của
cả nước ta đang chủ yếu áp dụng phương pháp theo dõi này
Phương pháp đánh giá dựa vào kết quả yêu cầu phải thực hiện đầy đủ cả 2nội dung theo dõi (theo dõi mức độ thuân thủ và theo dõi tác động) Ngoài việcđánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp này còn đánh giácác kết quả và tác động của chương trình, chính sách đã triển khai trong quá trìnhthực hiện kế hoạch đến KT-XH, người dân Phương pháp này tập trung nhiều đếnviệc xem xét các chỉ tiêu kết quả và tác động; trách nhiệm TDĐG không chỉ gói gọntrong khu vực các cơ quan nhà nước mà còn được mở rộng ra các khu vực khác.Phương pháp này cũng phân định một cách rõ ràng sự tác động của từng chươngtrình, chính sách đết kết quả đạt được của kế hoạch, từ đó cho phép cơ quan quản lýkịp thời xây dựng, hoàn thiện các chương trình, chính sách, đảm bảo phục vụ tốtcho quản lý, điều hành KT-XH
Trang 291.1.2.3 Mục tiêu, chỉ tiêu và chỉ số TDĐG trong kế hoạch phát triển KT-XH
* Mục tiêu
Mục tiêu là cái đích mà địa phương/ngành đề ra và phấn đấu đạt được trongmột giai đoạn nhất định với những nguồn lực sẵn có, hoặc dự kiến huy động được.Mục tiêu, cùng với giải pháp, là thành tố cơ bản của tất cả các chiến lược, kế hoạchphát triển và là đối tượng chính của công tác theo dõi và đánh giá [3], tr.11
Mục tiêu trong kế hoạch phát triển KT-XH là một phát biểu định tính vềhướng đích mà kế hoạch nhằm đạt tới Cấu trúc chính của một mục tiêu thôngthường sẽ bao gồm một động từ chỉ hướng hành động và một danh từ hoặc đoạnvăn mô tả đối tượng tác động
Phát biểu mục tiêu trong bản kế hoạch phát triển KT-XH có hết sức quantrọng Nó định hướng các chương trình, chính sách phát triển, cách thức sử dụngcác nguồn lực để đạt được các mục tiêu Do đó, mục tiêu cần được xây dựng trên cơ
sở các nguyên tắc sau:
Một là, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của người dân;
Hai là, phù hợp với thực trạng và khả năng có hạn của nguồn lực để đảm bảotính khả thi;
Ba là, không nên đề ra quá nhiều mục tiêu trong một kỳ kế hoạch, cần xácđịnh mục tiêu trọng tâm để tập trung thực hiện;
Bốn là, thể hiện một cách rõ ràng, chuẩn xác, dễ hiểu; sắp xếp theo thứ tự ưutiên, phù hợp với thực tế tình hình địa phương Tránh tình trạng phát biểu chungchung, ôm đồm, lẫn lộn giữa mục tiêu với chỉ tiêu, giữa mục tiêu với các hoạt độngđầu vào, đầu ra
Để thuận lợi cho việc triển khai thực hiện, mục tiêu của kế hoạch phát triểnKT-XH phải được trình bày theo nhiều cấp độ, giữa các cấp độ có sự liên hệ chặtchẽ với nhau, bao gồm: mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng), mục tiêu chính(mục tiêu trung gian) và mục tiêu cụ thể (mục tiêu trực tiếp) Trong đó:
Trang 30Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng): phản ánh những tác động, cải thiệncăn bản trong xã hội, liên quan đến đời sống người dân và phát triển bền vững quốcgia; liên quan đến nhiều lĩnh vực; đặt ra cho một thời gian dài, phải thực hiện quanhiều hoặc rất nhiều kỳ kế hoạch Để thực hiện được các mục tiêu này cần phải có
sự phối hợp của rất nhiều yếu tố, đạt được những chỉ tiêu trong kế hoạch chí mới làhoàn thành các nhiệm vụ chính của mục tiêu Ví dụ: “Bảo vệ tài nguyên môi trường
Mục tiêu cụ thể (mục tiêu trực tiếp): phản ánh những sản phẩm, hàng hóa,dịch vụ (hành chính) được hình thành từ các chính sách, chương trình quản lý Ví
dụ mục tiêu “Tăng diện tích che phủ rừng và chất lượng rừng” là một trong nhữngmục tiêu cụ thể để thực hiện mục tiêu trung gian “Bảo vệ tài nguyên môi trường vàphát triển bền vững”, hướng đến mục tiêu cuối cùng “Quản lý khai thác và sử dụnghợp lý, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên”
Một bản kế hoạch phát triển KT-XH có thể có một hoặc nhiều mục tiêutổng quát Mỗi mục tiêu tổng quát có ít nhất 2 mục tiêu chính Mỗi mục tiêu chínhđược thể hiện bằng nhiều mục tiêu cụ thể Cách thiết kế này sẽ làm cho các mụctiêu cụ thể không đi chệch định hướng kế hoạch Bằng việc thực hiện tốt các mụctiêu cụ thể, các mục tiêu chính cũng sẽ được hoàn thành, đảm bảo cho việc thựchiện thành công các mục tiêu tổng quát, đó cũng chính là thực hiện thành công kếhoạch đã đề ra
Trong kế hoạch ngắn hạn, mục tiêu cần phải đạt được trong kỳ kế hoạch làmục tiêu chính, mục tiêu cụ thể Mục tiêu tổng quát không nhất thiết phải thực hiệnđược trong kỳ kế hoạch ngắn hạn, nhưng nó là định hướng cần phải đạt cho kỳ kếhoạch trung hạn, dài hạn
Trang 31Việc xác định các cấp mục tiêu còn có ý nghĩa trong việc phân công xâydựng và gắn kết kế hoạch giữa các cấp trong kế hoạch phát triển ngành và kế hoạchphát triển KT-XH địa phương Trong đó, mục tiêu trong kế hoạch của cấp trên làđịnh hướng cho kế hoạch của cấp dưới; các chương trình, dự án trong kế hoạch củacấp dưới là sự cụ thể hóa các chương trình, dự án trong kế hoạch của cấp trên Tuynhiên, kế hoạch của cấp dưới không phải chỉ đơn thuần là sự triển khai thực hiện kếhoạch của cấp trên, mà nó còn bao gồm nhiều nội dung kế hoạch khác thuộc tráchnhiệm đã được phân cấp quản lý Trong mối quan hệ này, kế hoạch cấp trên tậptrung vào thực hiện các mục tiêu vĩ mô, chiến lược, kế hoạch cấp dưới tập trungthực hiện các mục tiêu cụ thể nhằm đảm bảo tính định hướng ở cấp trên và khaithác một cách hiệu quả năng động ở cấp dưới, tránh ôm đồm, chồng chéo.
* Chỉ số
So với các khái niệm về mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ số là một khái niệm mới đượcnhắc đến nhiều trong các năm từ 2007 đến nay, gắn liền với phương pháp lập kếhoạch chiến lược phát triển kinh tế địa phương
Theo Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), “chỉ số” (indicator)được hiểu là “biến số định tính hoặc định lượng cho phép kiểm chứng những thayđổi được tạo ra bởi một can thiệp hỗ trợ phát triển so với dự kiến trước đó”[19] ,tr.17
Bộ Kế hoạch và Đầu tư định nghĩa: “Chỉ số là một thước đo để đo lường cáctiến bộ đạt được Các chỉ số có tác dụng khi so sánh với mục tiêu đề ra hay nói mộtcách khác các chỉ số phục vụ cho việc đánh giá việc thực hiện một mục tiêu nào đó”[4], tr.42
Theo đó:
Các chỉ số đưa ra phải gắn kết được với mục tiêu đề ra; mỗi mục tiêu cần ứngvới ít nhất một chỉ số đầu vào, đầu ra và một chỉ số kết quả Đồng thời các chỉ sốđầu vào, đầu ra, kết quả và tác động phải được gắn kết với nhau để tạo thành mộtchuỗi logic các kết quả
Trang 32Một chỉ số tốt là: phải đo được các tiến bộ một cách trực tiếp và rõ ràng; phảiphù hợp, tức là đo được các nhân tố phản ánh mục tiêu; các chỉ số này có thể thayđổi tùy thuộc vào ngành và lĩnh vực khác nhau bị tác động bởi những thay đổi củacác chính sách, chương trình và tổ chức; có thể theo dõi được nguồn gốc, có sẵn vàviệc triển khai không quá tốn kém.
Các chỉ số đề ra phải thỏa mãn các tiêu chí sau: chính xác và không chungchung; đo đếm được hoặc ít nhất cũng quan sát được với chi phí phải chăng; phùhợp với mục tiêu; có mốc thời gian cụ thể
Theo các định nghĩa trên, chỉ số là tên một công cụ đo lường hay một thước
đo mức độ đạt được của chỉ tiêu/mục tiêu; bản thân nó không bao gồm con số địnhlượng, không thể hiện hành động, không mang tính định hướng Do đó, khi phátbiểu chỉ số không đưa vào các con số như chỉ tiêu, cũng không dùng các động từ chỉhành động định hướng như trong mục tiêu Trong khi giá trị của chỉ tiêu được cốđịnh từ đầu, ngay khi quyết định phê duyệt kế hoạch, thì chỉ số không mang giá trị
tự thân (như “tỷ lệ hộ nghèo”, “Tổng số hộ nghèo”) Nó chỉ có giá trị khi có sựthống kê, đo lường và giá trị này thường xuyên biến đổi qua các kỳ kế hoạch Tuyvậy, kết quả đo lường của các chỉ số này là điều kiện cần thiết để người ta xác địnhđược mức độ đạt được của mục tiêu hoặc chỉ tiêu Một mục tiêu hoặc chỉ tiêu có thểđược đo lường bằng một hoặc nhiều chỉ số khác nhau, tùy theo các quy tắc, phươngpháp tính toán và yêu cầu của nhà quản lý
Trang 33tên chỉ tiêu, con số định lượng, không gian phản ánh, đối tượng phản ánh, thờigian đo lường
Trong một số trường hợp cụ thể, mọi người có thể hiểu mặc định về khônggian, đối tượng phản ánh và thời gian đo lường thì chỉ tiêu không nhất thiết phảihàm chứa các thông tin này
Ví dụ: trong chỉ tiêu “Mật độ thuê bao internet đến năm 2010 đạt 12,6 thuêbao/100 dân” trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, nội dung chỉ tiêu là: “mật độ thuêbao internet”; con số định lượng là: “12,6 thuê bao/100 dân”; không gian phản ánhđược hiểu mặc định là toàn quốc, đối tượng phản ánh được hiểu mặc định là toàn bộngười dân trong nước, thời gian đo lường là năm 2010
Chỉ tiêu có thể được phản ánh bằng cách thể hiện sự thay đổi so với kỳ gốchoặc kỳ kế hoạch nhưng cũng có thể được thể hiện bằng một giá trị tuyệt đối cầnphải đạt được tại một thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch
Để thuận tiện cho công tác TDĐG thực hiện bản kế hoạch, các chỉ tiêu đượcxây dựng tương ứng theo các cấp mục tiêu; số lượng chỉ tiêu đưa ra không nên quánhiều, quá chi tiết Nên sử dụng các chỉ tiêu mang tính lồng ghép (là chỉ tiêu gắnnhiều biến số với nhau) để đo lường tác động tổng hợp
Bảng 1 1 Ví dụ về mối liên hệ giữa mục tiêu, chỉ tiêu và chỉ số
Trang 34Chỉ số phục vụ cho TDĐG kế hoạch phát triển kinh tế- xã được chia làm 4loại: chỉ số đầu vào, chỉ số đầu ra, chỉ số kết quả và chỉ số ảnh hưởng (hay còn gọi
là chỉ số tác động) Mỗi loại chỉ số có một vai trò khác nhau Cụ thể:
Chỉ số đầu vào: thể hiện tất cả các nguồn lực đầu tư để nhằm đạt được cácmục tiêu đề ra trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch, bao gồm: nguồn lực về tàichính, con người, vật tư, công nghệ và thông tin
Chỉ số đầu ra: thể hiện những thay đổi về kỹ năng, năng lực hay các sảnphẩm hàng hóa, dịch vụ được tạo ra từ việc huy động và sử dụng các nguồn lực đầuvào
Chỉ số kết quả: Thể hiện trực tiếp hiệu quả, thực trạng, tiến trình đạt đượccủa các chỉ tiêu đề ra, phản ánh sản phẩm trực tiếp sau khi có các đầu ra Đây là loạichỉ số quan trọng nhất trong hệ thống TDĐG vì chúng thể hiện trực tiếp hiệu quảtiến trình thực hiện mục tiêu đề ra Chỉ số kết quả không giống chỉ số đầu ra, bởi vìchỉ số đầu ra nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát của cơ quan cung cấp chúng, trongkhi chỉ số kết quả phản ánh hiệu quả cuối cùng của chỉ số đầu ra này Ví dụ: sốlượng bệnh viện được xây mới là chỉ số đầu ra, số lượng người dân được khámchữa bệnh là chỉ số kết quả
Chỉ số ảnh hưởng/tác động: phản ánh tính hiệu quả, đo lường tác động tăngphúc lợi xã hội nói chung do ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong thời gian dài vàtrên diện rộng
Dưới một góc độ khác, người ta phân chỉ số thành 2 loại: chỉ số trung gian(chỉ số đầu vào, chỉ số đầu ra) và chỉ số cuối cùng (chỉ số kết quả, chỉ số tác động)
Có thể có rất nhiều các chỉ số phục vụ cho quá trình TDĐG một mục tiêu.Tuy nhiên, cần phải lựa chọn được những chỉ số nào có thể thể hiện rõ ràng và hiệuquả nhất tiến trình thực hiện kế hoạch, mục tiêu
Trang 351.2 VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CỦACÔNG TÁC THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾHOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1 Vai trò của kế hoạch phát triển KT-XH
Cùng với hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế, các công cụ đòn bẩykinh tế, lực lượng kinh tế của nhà nước, hệ thống kế hoạch là một trong nhữngnhóm công cụ quản lý nhà nước quan trọng về KT-XH Sự tồn tại của kế hoạch hoáxuất phát từ vai trò tất yếu của nhà nước trong quản lý nền KT-XH Khi nào cònnhà nước, kế hoạch hóa vẫn tồn tại với tư cách là một công cụ quản lý không thểthiếu trong tiến trình quản lý nói chung đã được khoa học thừa nhận: xác định mụctiêu, tổ chức, kiểm tra, điều chỉnh, hạch toán Sự quan trọng đó không những chỉ thểhiện trong thời kỳ đất nước ta đang áp dụng mô hình kế hoạch hóa tập trung, màcòn hết sức cần thiết trong giai đoạn chúng ta vận hành nền kinh tế theo cơ chế thịtrường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa hiện nay Nền kinh tế thị trường cho dùhoàn hảo đến đâu, vẫn không thể thiếu được sự điều tiết, quản lý của nhà nước với ýnghĩa để hạn chế những mặt thất bại vốn có của cơ chế thị trường
Kế hoạch phát triển KT-XH là công cụ huy động, phân bổ nguồn lực khanhiếm vào việc thực hiện các mục tiêu ưu tiên của quốc gia và sử dụng một cách hiệuquả, tiết kiệm cho những nhu cầu dài hạn của đất nước
Thông qua kế hoạch phát triển KT-XH, nhà nước công bố các mục tiêu pháttriển, thể hiện sự cam kết về đáp ứng về ý chí, nguyện vọng trong phát triển KT-
XH Qua đó, tạo ra sự minh bạch, công bằng, tạo ra những cơ hội để huy động sựủng hộ, chung tay, góp sức của toàn dân vào mục tiêu tiến bộ xã hội, đời sống ấm
no, hạnh phúc cho mọi người Đây cũng là công cụ, điều kiện cần thiết để kêu gọi,thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài quốc gia vào phát triển đất nước
1.1.2 Vai trò của TDĐG trong việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
Vị trí của công tác TDĐG trong quy trình kế hoạch kế hoạch hóa KT-XH củanước ta được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 36Hình 1 1 Vị trí của công tác TDĐG trong quy trình kế hoạch
Việc theo dõi các kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH một cách liêntục có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các cấp quản lý Nó cung cấp các thông tinliên tục, kịp thời về tình hình thay đổi, tiến triển của các chỉ số, chỉ tiêu đã được đề
ra trong kế hoạch Qua đó, giúp cho các cấp quản lý phát hiện ra các thay đổi ngoài
ý muốn để có giải pháp điều chỉnh kế hoạch, giải pháp thực hiện một cách kịp thời
Đánh giá việc thực hiện kế hoạch KT-XH nhằm mục đích xác định mức độphù hợp, hiệu quả, tác động và khả năng có thể đạt được mục tiêu của bản kế hoạch
đó Qua đó, giúp các cấp quản lý rút ra được các bài học nhằm phục vụ cho quá trìnhquyết định các kế hoạch, chính sách phát triển KT-XH trong giai đoạn tiếp theo
Theo dõi và đánh giá kế hoạch phát triển KT-XH có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Theo dõi đưa ra các thông tin về tiến độ thực hiện, mức độ đạt được cácchỉ số, chỉ tiêu và kết quả của kế hoạch KT-XH tại thời điểm bất kỳ Đánh giá cungcấp các nguyên nhân tại sao đạt được hoặc không đạt được kết quả đó
TDĐG có vai trò quan trọng trong thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH Nógiúp cơ quan quản lý trả lời câu hỏi: Chúng ta có đi đúng hướng không ? hoặc làmthế nào để biết chúng ta đang đi đến đích ?; hiểu rõ mức độ đạt được của các chỉ
Tổ chức thực hiện kế hoạch
Theo dõi
và đánh giá
Lập kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch
Tổng kết, báo cáo kết quả triển khai kế hoạch
Trang 37tiêu đã đề ra trong kế hoạch phát triển KT-XH; nhận thức kịp thời tình hình của địaphương để có thể điều chỉnh các mục tiêu phát triển, sử dụng các nguồn lực sát vớithực tiễn, nâng cao hiệu quả đầu tư Nó cũng giúp cho các cơ quan quản lý đưa racác giải pháp xử lý các rủi ro thị trường, rủi ro chính sách, khắc phục những thất bạicủa thị trường trong thời gian triển khai thực hiện kế hoạch.
Không TDĐG một cách nghiêm túc, kế hoạch phát triển KT-XH sẽ khôngđảm đương được vai trò quan trọng của mình với tư cách là một trong những công
cụ quản lý kinh tế hữu hiệu của nhà nước
1.3 QUY TRÌNH LẬP, THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾHOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
1.3.1 Quy trình lập kế hoạch phát triển KT-XH cấp quốc gia và cấp tỉnh
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quá trình xây dựng kế hoạch được thiết
kế theo xu hướng kế hoạch của địa phương là một phần của kế hoạch trung ương, bịchi phối bởi những mong muốn chủ quan của các cấp lãnh đạo; do đó, thiếu kháchquan và mang tính áp đặt Quy trình xây dựng kế hoạch hiện nay được thiết kế trên
cơ sở tôn trọng tính độc lập của kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương, kếhoạch của ngành Kế hoạch của địa phương do địa phương xây dựng và để thựchiện tại địa phương
Đến nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định chung vềquy trình lập kế hoạch phát triển KT-XH ở cấp quốc gia và cấp tỉnh Tập hợp từ cácvăn bản pháp lý cá biệt, hướng dẫn lập kế hoạch của Chính phủ, Bộ, ngành qua cácnăm, có thể tóm lược quy trình cơ bản về lập kế hoạch cấp quốc gia và cấp tỉnhđang được áp dụng hiện nay như sau:
Bước 1: Ở tầm vĩ mô, căn cứ vào chiến lược, kế hoạch 5 năm có phân chiatheo từng năm và dự báo tình hình của năm kế hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xâydựng khung định hướng phát triển KT-XH của quốc gia, trong đó xác định các vấn
đề cơ bản: tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành, tốc độ tăng trưởng kinh tế củangành, mục tiêu về phát triển các lĩnh vực xã hội và môi trường; xác định các cân
Trang 38đối lớn như: vốn đầu tư, ngân sách, cân đối thanh toán quốc tế, cân đối xuất - nhậpkhẩu, cân đối vật tư, hàng hoá v.v và hệ thống các giải pháp thực hiện.
Bước 2: Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị phổ biến khung định hướng
và các thông tin cần thiết khác làm định hướng cho các bộ, ngành, địa phương xâydựng kế hoạch phát triển KT-XH của mình
Bước 3: các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH
theo định hướng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tình hình thực tiễn địa phươngmình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, phân tích, lựa chọn các phương án tối
ưu để hoàn thành kế hoạch toàn diện, báo cáo Chính phủ trình Quốc Hội
Bước 4: Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham mưu cho Chính phủ xây dựng và banhành kế hoạch điều hành thực hiện mục tiêu của kế hoạch năm, trong đó xác lập: cơchế điều hành, phân công, phân cấp điều hành, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện
Trong khuôn khổ đó, quy trình xây dựng kế hoạch hàng năm cấp tỉnh đượcthực hiện theo các bước sau:
Bước 1: chuẩn bị cho quá trình lập kế hoạch hàng năm (tháng 5 đến tháng 6):
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh banhành Chỉ thị về việc lập kế hoạch hàng năm Đồng thời, căn cứ theo nhiệm vụ đượcphân công, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Sở quản lý ngành, Phòng Tài chính – Kếhoạch cấp huyện chủ động thu thập thông tin để đánh giá sơ bộ tình hình thực hiện
6 tháng đầu năm, ước thực hiện cả năm và tiến độ thực hiện kế hoạch 5 năm củatỉnh, ngành và huyện mình
Sau khi có khung định hướng kế hoạch theo Chỉ thị của Thủ tướng Chínhphủ về lập kế hoạch hàng năm Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính cụ thể hóahướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để cấp huyện và các ngànhđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm nay/ 5 năm, xây dựng kế hoạch năm sau
Căn cứ hướng dẫn của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, các Sở chuyênngành hướng dẫn các phòng ban trực thuộc Sở, các đơn vị sự nghiệp do Sở quản lý
và các phòng ban quản lý ngành cấp huyện triển khai đánh giá và xây dựng kếhoạch; Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện hướng dẫn các phòng ban quản lý
Trang 39ngành cấp huyện, các đơn vị sự nghiệp do huyện quản lý và UBND các xã triểnkhai đánh giá và xây dựng kế hoạch.
Bước 2: dự thảo kế hoạch phát triển ngành hàng năm (tháng 6 hàng năm):
các phòng ban trực thuộc Sở, các đơn vị sự nghiệp do Sở quản lý; các phòng banquản lý chuyên môn cấp huyện; các đơn vị trực thuộc ngành xây dựng kế hoạch củađơn vị mình theo hướng dẫn của Sở quản lý ngành
Kế hoạch của các phòng ban quản lý chuyên môn cấp huyện và của các đơn
vị sự nghiệp do Sở quản lý được gửi lên phòng ban trực thuộc Sở để thẩm định vàtổng hợp vào kế hoạch phát triển hàng năm của Sở
Bước 3: Hội nghị lập kế hoạch phát triển ngành hàng năm (đầu tháng 7 hàng
năm): Sở quản lý ngành chủ trì nhằm thống nhất về kế hoạch phát triển ngành giữa
Sở quản lý ngành với lãnh đạo các phòng quản lý ngành cấp huyện Kết quả của hộinghị này sẽ là cơ sở cung cấp thông tin đầu vào để dự thảo kế hoạch phát triển KT-
XH hàng năm của tỉnh
Bước 4: Hoàn chỉnh kế hoạch phát triển ngành (giữa tháng 7 hàng năm):
trên cơ sở kết quả ở bước 3, Sở quản lý ngành hoàn thiện Dự thảo kế hoạch pháttriển ngành gửi cho Bộ chủ quản và gửi cho Sở Kế hoạch và Đầu tư làm cơ sở tổnghợp vào Dự thảo kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm của tỉnh
Bước 5: Hội nghị lập kế hoạch phát triển KT-XH tỉnh và trình kế hoạch phát
triển KT-XH tỉnh (cuối tháng 7 hàng năm): UBND tỉnh chủ trì Hội nghị để lấy ýhoàn thiện Dự thảo kế hoạch phát triển KT-XH tỉnh của các Sở ngành cấp tỉnh, lãnhđạo UBND các huyện và các bên liên quan khác, gửi Bộ KHĐT theo quy định
Từ tháng 8 đến tháng 12, Sở Kế hoạch và Đầu tư cập nhật, chỉnh sửa nộidung Kế hoạch phát triển KT-XH, tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thôngqua tại kỳ họp cuối năm để làm cơ sở triển khai thực hiện
1.3.2 Quy trình TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
1.3.2.1 Quy trình theo dõi và đánh giá truyền thống
Cho đến nay, nước ta vẫn chưa chính thức có quy định riêng, đồng bộ, toàndiện về quy trình theo dõi và đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH Các
Trang 40năm qua, mức độ đạt được của các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu được theo dõi qua sốliệu thu thập của hệ thống cơ quan Thống kê các cấp Các số liệu này là cơ sở đểcác cơ quan Nhà nước đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch phát triển KT-XH
Quy trình TDĐG thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH hiện nay đang triểnkhai theo hướng theo dõi và đánh giá tiến trình thực hiện với các đặc điểm chung làtập trung vào việc theo dõi và đánh giá xem bản kế hoạch phát triển KT-XH đã thựchiện như thế nào ?; đơn vị nào chịu trách nhiệm
Cách thức TDĐG này thực chất không giúp cho các nhà quản lý nắm đượcmức độ và khả năng thành công hay thất bại của kế hoạch đó Họ cũng không đủthông tin để khẳng định rằng kết quả cuối cùng đạt được trên thực tế đời sống KT-
XH có phải là sản phẩm của việc thực hiện bản kế hoạch KT-XH mà họ đã đề ra,hay do một nguyên nhân nào khác
Phương pháp TDĐG truyền thống hiện nay là đánh giá sau khi sự việc đãxảy ra Do đó, có độ trễ rất lớn, không đảm bảo tính kịp thời cho hoạt động quản lý,điều hành Đây là điểm khác biệt với phương pháp TDĐG dựa trên kết quả sẽ trìnhbày tại mục 1.3.2.2 sau đây
1.3.2.2 Quy trình theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả
Bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đòi hỏi việc xây dựng
và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội phải có những thay đổi chophù hợp, theo hướng tiếp cận phương pháp lập kế hoạch khoa học, hiện đại để nângcao trách nhiệm và tính minh bạch Ngày 30 tháng 5 năm 2007, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư ban hành Quyết định số 555/2007/QĐ-BKH về việc ban hành khung theo dõi vàđánh giá dựa trên kết quả tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5năm (2006 - 2010) Đây là khởi đầu cho sự thay đổi dần phương pháp lập và TDĐG
kế hoạch truyền thống sang phương pháp lập, TDĐG kế hoạch hiện đại hơn- phươngpháp lập, TDĐG kế hoạch dựa trên kết quả Phương pháp TDĐG mới này cũng đãđược Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo dùng để đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch 5năm 2006 – 2010 và theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2011 – 2015 (Chỉ thị 751/CT-TTg, ngày 03 tháng 06 năm 2009 của Thủ