Việc nghiên cứu và sử dụng một cách chuẩn xác hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng trong tiếng Anh và tiếng Việt đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp cho các nhà chuyên
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU LỆ
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRƯƠNG THỊ NHÀN
Huế, 2014
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Lệ
Trang 3Phòng nghiên cứu đối ngoại – sau đại học cùng tất cả các quý thầy cô giáo bộ môn đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo – TS Trương Thị Nhàn
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, tổ Tâm lý – Anh văn, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Do khả năng còn hạn chế của bản thân, mặc dù đã có cố gắng rất nhiều trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô giáo và các đồng nghiệp để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn
Trân trọng biết ơn!
Tác giả luận vănNguyễn Thị Thu Lệ
Trang 4Trang
- Trang phụ bìa
- Lời cam đoan
- Lời cảm ơn
- Mục lục
- Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do ch n ọ đề à 1 t i 2 L ch s nghiên c u v n ị ử ứ ấ đề 2
3 M c ích nghiên c u ụ đ ứ 3
4 Đố ượ i t ng v ph m vi nghiên c u à ạ ứ 4
5 Ph ươ ng pháp nghiên c u ứ 4
6 Ý ngh a khoa h c v th c ti n c a ĩ ọ à ự ễ ủ đề à 5 t i 7 B c c lu n v n ố ụ ậ ă 6
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 T V NG VÀ CÁC Ừ Ự ĐƠ N V T V NG Ị Ừ Ự 7
1.1.1 Từ vựng 7
1.1.2 Các đơn vị từ vựng 9
1.2 THU T NG Ậ Ữ 18
1.2.1 Khái niệm thuật ngữ 18
1.2.2 Cấu tạo thuật ngữ 20
1.2.3 Đặc trưng của thuật ngữ 20
1.2.4 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới 24
1.2.5 Những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam 25
1.3 THU T NG TOÁN H C THÔNG D NG Ậ Ữ Ọ Ụ 28
CHƯƠNG 2 32
ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG 32
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 32
2.1 ĐẶ Đ Ể C I M C A THU T NG TOÁN H C THÔNG D NG TI NG ANH Ủ Ậ Ữ Ọ Ụ Ế 32 2.1.1 Về cấu tạo 32
Trang 52.2.1 Về cấu tạo 50
2.2.2 Về ngữ nghĩa 55
CHƯƠNG 3 61
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG 61
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 61
3.1 NH NG I M T Ữ Đ Ể ƯƠ NG ĐỒ NG 62
3.1.1 Về cấu tạo 62
3.1.2 Về ngữ nghĩa 67
3.2 NH NG I M KHÁC BI T Ữ Đ Ể Ệ 67
3.2.1 Về cấu tạo 67
3.2.2 Về ngữ nghĩa 73
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 6Số hiệu
2.1 Tiền tố trong thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh 342.2 Hậu tố trong thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh 352.3 Song tố trong thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh 35
2.6 Phân loại thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh theo trường nghĩa 452.7 Phân loại thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh theo kiểu nghĩa 492.8 Bán phụ tố trong thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Việt 50
2.10 Phân loại thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Việt theo trường nghĩa 55
3.1 Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo cấu tạo 703.2 Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo trường nghĩa 723.3 Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo kiểu nghĩa 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp hóa sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Trong bối cảnh ấy, mọi quốc gia dều rất cần những công dân có năng lực, năng động, sáng tạo và đặc biệt có khả năng thu nhận và xử lý kịp thời, hiệu quả những thông tin cần thiết trong học tập, trong công việc và trong cuộc sống đáp ứng yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển của thời đại
Ở Việt Nam, sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục Chính vì vậy, trước những yêu cầu đó, đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải có những chiến lược phát triển mới, có nhiều giải pháp đổi mới mạnh mẽ, toàn diện hơn và điều đó cần phải được bắt đầu từ việc biên soạn giáo trình, từ điển phù hợp nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất
Việc nghiên cứu và sử dụng một cách chuẩn xác hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng trong tiếng Anh và tiếng Việt đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp cho các nhà chuyên môn, những người học, những người nghiên cứu và ứng dụng lĩnh vực này vào thực tiễn nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm đem lại lợi ích không chỉ cho riêng bản thân mà còn phục vụ một cách hữu ích cho sự phát triển chung của đất nước
Hiện nay, ở các trường Đại học và Cao đẳng đang có nhu cầu dạy học ngoại ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ Toán học thông dụng nói
Trang 8riêng Thuật ngữ Toán học thông dụng có tầm quan trọng rất lớn trong chương trình đào tạo Nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt sẽ góp phần đóng góp rất ý nghĩa cho việc dạy học cũng như biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Toán học.
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ nói chung và hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức rộng lớn và phức tạp Cùng với các vấn đề liên quan đến sự hình thành thuật ngữ, các phương thức tiếp nhận thuật ngữ thông qua sự vay mượn và chuyển dịch, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ và thuật ngữ Toán học được xuất bản ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy những công trình đi sâu nghiên cứu đối chiếu về đặc điểm của hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình
về ngôn ngữ học đối chiếu nói chung và về nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ nói
riêng như: Bùi Mạnh Hùng, (2009), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb Giáo dục [23]; Trần Hữu Mạnh, (2007), Ngôn ngữ học đối chiếu cú pháp tiếng Anh –
tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [32]; PGS.TS Trần Văn Phước, Tập
đề cương bài giảng Đối chiếu cấu trúc cú pháp tiếng Anh – tiếng Việt, Trường
Đại học Ngoại ngữ Huế [39]; Lê Quang Thiêm, (2004), Nghiên cứu đối chiếu
các ngôn ngữ, Nxb ĐHQG Hà Nội [44]; Ngô Thúc Lanh – Đoàn Quỳnh –
Nguyễn Đình Trí, (2001), Từ điển Toán học thông dụng, Nxb Giáo dục [27]; Trịnh Đình Hải, (2008), Nghiên cứu hệ thống thuật ngữ công nghệ thông tin
trong tiếng Anh và vấn đề chuyển dịch sang tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa
Trang 9học, Trường Đại học khoa học Huế [18]; Phạm Thị Hồng Hạnh, (2012), Đối
chiếu hệ thống thuật ngữ Âm nhạc trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn thạc
sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [19]; Nghiêm Thị Thu Hoài, (2012), Đối chiếu hệ thống thuật ngữ thể thao trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [20]; Vương Cẩm Hồng, (2008), Đối sánh hệ thống thuật ngữ tài chính ngân hàng trong tiếng
Anh và tiếng Việt hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa
học Huế [22]; Nguyễn Đình Trương Nguyễn, (2013), Đối chiếu thuật ngữ y
học trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học
khoa học Huế [34]; Nguyễn Thị Kim Oanh, (2012), Đặc điểm của thuật ngữ
ngoại giao trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt, Luận văn thạc
sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [37]; Trần Thị Thu Vân, (2007),
Đối sánh hệ thống thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [49].
Tất cả những nghiên cứu trên đều là cơ sở để giúp chúng tôi triển khai
đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu đối chiếu để làm sáng tỏ những đặc điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thông thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó rút ra nhận xét để có những đề xuất nhằm giúp cho việc dạy và học thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời sẽ
có ích cho việc biên soạn giáo trình chuyên ngành này trong các trường Đại học và Cao đẳng
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những điểm tương đồng và khác biệt của thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt trên các mặt cấu tạo và ngữ nghĩa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt qua các từ điển: Ngô Thúc
Lanh – Đoàn Quỳnh – Nguyễn Đình Trí, 2001, Từ điển Toán học thông
dụng, Nxb Giáo dục [27]; Phan Đức Chính, Lê Minh Khanh, Nguyễn Tấn
Lập, Lê Đình Thịnh, Nguyễn Công Thúy, Nguyễn Bác Văn (1976), Từ điển
Toán học Anh – Việt, Nxb KH và KT (khoảng 17 000 từ) [9] và có tham
khảo một số từ điển khác
Ngoài những nguồn tư liệu đã được đề cập trên, chúng tôi cũng có tham khảo một số trang web có liên quan đến hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được một cách có hiệu quả mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã vận dụng các kiến thức và phương pháp của ngôn ngữ học hiện đại, sử dụng các phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học, các thủ pháp đối chiếu
và một số phương pháp bổ trợ khác để xác định các lĩnh vực đối chiếu, miêu
tả các lĩnh vực đó và so sánh, đối chiếu
- Phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ học: Phương pháp này
được áp dụng để xác định diện đối chiếu và so sánh đối chiếu Trong đó chúng tôi sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại và hệ thống hóa để thống
kê, tính toán các số liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở đó để
so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 11- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Phương pháp này được áp dụng
để phục vụ cho việc so sánh đối chiếu Để miêu tả từng ngôn ngữ cụ thể, chúng tôi sử dụng các thủ pháp miêu tả
- Thủ pháp miêu tả cấu tạo từ: Giúp nhanh chóng xác định được yếu tố
cũng như quy luật, các phương thức cấu tạo các thuật ngữ Đây là phương pháp giúp chúng tôi phân tích và miêu tả đặc điểm cấu tạo cơ bản của hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng trong tiếng Anh để đối chiếu với tiếng Việt
- Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp: Thủ pháp này được áp dụng để
phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ Từ đó, tìm ra các nguyên tắc tạo thành thuật ngữ Toán học thông dụng, các mô hình cấu tạo của chúng và các quy luật cấu tạo nên những thuật ngữ này
- Thủ pháp trường nghĩa: Áp dụng lí thuyết trường vào việc nghiên cứu
nghĩa, là biểu hiện của xu hướng của ngôn ngữ học hiện đại nhằm xác định hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như:
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng
để hỗ trợ cho công việc phân chia các phạm vi ngữ nghĩa (trường nghĩa) của
hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thuật
ngữ nói chung và thuật ngữ Toán học thông dụng nói riêng
- Về mặt thực tiễn: Góp phần nghiên cứu, giảng dạy, đối chiếu thuật
ngữ Toán học thông dụng Anh – Việt và phục vụ cho công tác giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành
Trang 12Chúng tôi hy vọng luận văn này sẽ giúp ích thiết thực cho việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Toán học, biên soạn giáo trình chuyên ngành này trong các trường Cao đẳng và Đại học và có thể xem như là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho những người quan tâm đến lĩnh vực Toán học.
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Trình bày những vấn đề lý thuyết về thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Chương 2: Đặc điểm của thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Như trên đã đề cập, có thể nhận thấy, thuật ngữ khoa học là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được trong ngôn ngữ khoa học nói riêng và và ngôn ngữ nói chung Thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng cùng với
sự phát triển của khoa học khác nhau trong xã hội loài người và chúng thu hút không ít sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên toàn thế giới
1.1 TỪ VỰNG VÀ CÁC ĐƠN VỊ TỪ VỰNG
1.1.1 Từ vựng
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm từ vựng
Theo Đỗ Hữu Châu, tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là từ vựng
của ngôn ngữ Vì có nhiều tiêu chí tập hợp khác nhau cho nên có những kiểu từ vựng khác nhau Ở đây khái niệm từ vựng được dùng với nghĩa rộng nhất: tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ, không phân biệt tiêu chuẩn tập hợp [8, tr.9]
Theo Nguyễn Thiện Giáp, "từ vựng là chất liệu cần thiết để cấu tạo
ngôn ngữ." [17, tr.15]
Bất cứ ngôn ngữ nào cũng gồm ba mặt được phân giới rành mạch lẫn nhau, đó là thành phần cấu tạo âm thanh, các phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp Các phương tiện từ vựng được hệ thống hoá trước hết trong các từ điển và được gọi là các thành phần cấu tạo từ điển Cách phân giới các phương tiện ngôn ngữ theo các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp bắt nguồn từ ngôn ngữ học truyền thống cổ điển và thực chất đã dựa vào hai cơ
sở sau đây: tính chất của thành phần cấu tạo các đơn vị và kiểu loại nội dung
ý nghĩa của các yếu tố trong ngôn ngữ Cơ sở thứ nhất phân biệt các phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp với tính cách là những thực thể
Trang 14độc lập của ngôn ngữ (có hình thức và nội dung) với các âm thanh không có
ý nghĩa độc lập Cơ sở thứ hai phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của các yếu tố trong ngôn ngữ Trong kết cấu ngôn ngữ, ngữ âm và từ vựng chiếm vị trí ngoại biên: từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa, còn ngữ âm thuộc vào ngoại biên về chất liệu Ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm Nếu từ vựng trực tiếp gọi tên thực tế, ngữ âm trực tiếp được lĩnh hội bởi giác quan (tai), thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp Vì ngữ pháp không có tính chất cụ thể cho nên mối liên hệ của ngữ pháp với thực tế chỉ được thực hiện thông qua từ vựng Ngữ pháp cũng không trực tiếp lĩnh hội được mà phải thông qua ngữ âm
Sự phân chia ngôn ngữ thành ba địa hạt từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm còn dựa vào phẩm chất của các quá trình trừu tượng hoá Trong ngôn ngữ, trừu tượng hoá có mặt ở mọi hiện tượng ngôn ngữ, không có nó thì ngôn ngữ không thể là ngôn ngữ Nhưng vai trò và tính chất của trừu tượng hoá ở các địa hạt khác nhau của kết cấu ngôn ngữ là khác nhau Trừu tượng hoá từ vựng thể hiện ở chỗ: từ - đơn vị cụ thể nhất của ngôn ngữ - không trực tiếp tương quan với sự vật mà từ đó gọi tên mà tương quan với cả một loạt sự vật Trừu tượng hoá ngữ pháp không đụng chạm đến các sự vật và các khái niệm riêng biệt Trừu tượng hoá ngữ âm thể hiện ở chỗ, từ một số âm vị có thể là những đơn vị có nghĩa khác nhau trong ngôn ngữ, v.v Chính sự khác nhau về chất của trừu tượng hoá từ vựng với trừu tượng hoá ngữ pháp và trừu tượng hoá ngữ âm đã quy định những kiểu đơn vị khác nhau cho mỗi địa hạt
Nếu chiết tự, vựng là một yếu tố gốc Hán, có nghĩa là “sưu tập, tập hợp”, do đó, từ vựng sẽ là “sưu tập, tập hợp các từ của ngôn ngữ” Trong thực
tế, nội dung của khái niệm này rộng hơn Nó không chỉ bao gồm các từ mà còn bao gồm cả các ngữ, tức là những cụm từ sẵn có, tương đương với từ,
Trang 15chẳng hạn các thành ngữ tiếng Việt như: nước đổ lá khoai, mẹ tròn con
vuông, xanh vỏ đỏ lòng, Tuy nhiên, trong các đơn vị từ vựng, từ là đơn vị
cơ bản Ngữ không phải là đơn vị từ vựng cơ bản vì nó do các từ cấu tạo nên, muốn có các ngữ, trước hết phải có các từ
Theo quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp, từ vựng được phân chia thành các từ và ngữ định danh Ngữ định danh lại được phân chia thành các kiểu loại nhỏ hơn là ngữ định danh hợp kết và ngữ định danh hòa kết
1.1.2.1 Từ
Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó
Trang 16thì không thể hình dung được một ngôn ngữ Chính các từ đã biến đổi và kết hợp ở trong câu theo quy luật ngữ pháp của ngôn ngữ Mặc dù từ luôn luôn
ám ảnh tư tưởng chúng ta như một đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, nhưng khái niệm này rất khó định nghĩa Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ); có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ); có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ), có từ lại chỉ biểu hiện những quan hệ trong ngôn ngữ mà thôi (các hư từ); có từ có kết cấu nội bộ, có từ không có kết cấu nội bộ, có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi, v.v… Vì vậy, không có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Nói chung, không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc,
có thể chấp nhận định nghĩa từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ,
độc lập về ý nghĩa và hình thức.
Trong tiếng Việt những tiếng như: ba, bốn, đây, đó, ta, tôi, nhà, cày,
đi, cười, đẹp, tốt , và, với, tuy, nhưng, ối, ái, à, ư, nhỉ, nhé đều được mọi
người nhất trí coi là từ Lí do là:
- Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị khác một cách dễ dàng
Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm của tiếng Việt hện đại
Trang 17Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành.
- Chúng đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại Có những đơn vị vừa có chức năng định danh, lại vừa có chức năng
dẫn xuất, vừa có chức năng biểu niệm, như: nhà, cây, đi, cười, đẹp, tốt
Có những đơn vị chỉ có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu niệm mà
không có chức năng định danh như: và, với, tuy, nhưng, sẽ, đang Lại có
những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại chứ không
có chức năng định danh như: à, ôi, ối, ái Những đơn vị như: tôi, nó, đấy,
đó, nọ, kia tự thân không biểu thị khái niệm, cũng không dẫn xuất, định
danh cái gì cả, nhưng chúng vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ trong những hoàn cảnh nhất định Như vậy, ý nghĩa của những đơn vị (những tiếng) đang xét rất đa dạng; nhưng trong bất cứ trường hợp nào ta cũng thấy sự gắn
bó không tách rời nhau giữa mặt hình thức vật chất với mặt nội dung ý nghĩa
- Cuối cùng, các đơn vị như vừa nêu trên đều tham gia cấu tạo câu nói Tuỳ theo tính chất ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức
năng ngữ pháp khác nhau ở trong câu Những đơn vị như: bàn, nhà, đi, đẹp,
tốt có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Những đơn vị như: những, các, vẫn, đều, mãi, rồi luôn luôn đi kèm theo những đơn vị biểu thị sự vật, hành
động, tính chất; bổ sung thêm ý nghĩa cho những đơn vị đó Những đơn vị
như: của, để, vì, bởi, nên, và, với, mà, thì làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu Còn những đơn vị như: à, hả, ái, ối, ôi, ơi
thì đem lại cho câu nói tính tình thái nào đó
Những đặc trưng của cả mặt phương tiện vật chất lẫn mặt chức năng, ý nghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị
Trang 18thực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là trở thành từ của tiếng Việt.
So với từ của các ngôn ngữ Ấn – Âu thì từ của tiếng Việt có những đặc điểm sau:
- Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Trong các ngôn ngữ Ấn –
Âu, từ có thể đơn tiết, có thể đa tiết Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được
những âm vô nghĩa Ví dụ: đẹp là một từ có nghĩa; nhưng nếu phân tích ra
thành /đ/, /e/, /p/ thì đó chỉ là những âm hoàn toàn không có nghĩa Như vậy,
từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Đây là một đặc điểm khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn – Âu – những ngôn ngữ mà từ có thể gồm nhiều hình vị
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và
giăng, nhăn và dăn), biến thể từ vựng – ngữ nghĩa (ví dụ: các ý nghĩa khác
nhau của từ ăn, v.v ) nhưng không có biến thể hình thái học Dù đứng trong
câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức Đây là điều khác hẳn các ngôn ngữ Ấn – Âu: ở các ngôn ngữ này, từ có thể tồn tại dưới nhiều từ hình khác nhau
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hoá So sánh:
đẹp : khái niệm đẹp nói chung
cái đẹp : đẹp với tính cách một sự vật
người đẹp : đẹp với tính cách một tính chất
đẹp ra : đẹp với tính cách một quá trình
Trang 19Ở các ngôn ngữ biến hình, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng những bộ phận khác nhau của từ Nhờ có các dạng của từ mà ý nghĩa của từ bao giờ cũng cụ thể xét về mặt ngữ pháp.
Đến đây, có thể định nghĩa từ của tiếng Việt như sau:
Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền [17, tr.69]
1.1.2.2 Ngữ định danh
Một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự tiến hoá của loài người là sự mở rộng bất thường của thế giới khái niệm Sự phát triển này có quan hệ chằng chéo, phức tạp với ự tăng trưởng vũ bão về số lượng và sự đa dạng của tư tưởng mà con người có thể truyền đạt được Bằng ngôn ngữ, con người thông báo không những chỉ cảm xúc, tri thức, mà cả một số lượng vô hạn các trạng thái, quan hệ, đối tượng và sự kiện bên trong cũng như bên ngoài con người Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở những từ đã có Những đơn vị như thế được gọi là ngữ
Ngữ là cụm từ sẵn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ:
+ Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ,
+ Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng có thể
là cơ sở để cấu tạo các từ mới,
+ Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực
tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người
Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ
Trang 20- Tính cố định
Tính cố định của một kết hợp một yếu tố nào đó với các yếu tố khác được
đo bằng khả năng mà yếu tố đó có thể dự đoán sự xuất hiện đồng thời của các yếu tố còn lại của kết hợp (trong trật tự nhất định với yếu tố được dự đoán)
Tính cố định của một kết hợp có thể tính theo bất cứ yếu tố nào của nó Nhưng trên thực tế, muốn miêu tả một kết hợp, để tiện lợi, người ta lấy tính
cố định lớn nhất, tức là tính cố định được tính theo yếu tố có khả năng dự đoán lớn nhất sự xuất hiện đồng thời của các yếu tố còn lại
Tính cố định của kết hợp có thể thay đổi từ 1 đến 0 Tính cố định bằng 1 (tức là 100%), nếu yếu tố dự đoán không được gặp ở ngoài kết hợp đó Thí dụ:
Dưa hấu (đối với hấu), dai nhách (đối với nhách) của tiếng Việt.
Tính cố định của kết hợp bằng 0, nếu các yếu tố không được gặp trong kết
hợp đó, chẳng hạn các kết hợp vô lí: tóc và đi, cùng nhưng, hột líp, lá sàn, v.v
Bởi vì đại lượng tính cố định có thể có mọi giá trị từ 1 đến 0, cho nên nếu dùng từ chặt chẽ không thể gọi các kết hợp một cách đơn giản là “cố định” hoặc “không cố định” Mọi kết hợp đều có tính cố định đến mức nào
đó Điều đó phù hợp với thực tế khách quan của lời nói, ở đó không có sư đối lập giữa kết hợp tuyệt đối cố định và kết hợp tuyệt đối không cố định, mà chỉ
có những kết hợp khác nhau về mức cố định
Nhưng bởi vì trong thực tế và trên lí thuyết, người ta thường chú ý đến những kết hợp có tính cố định cao, cho nên, để ngắn gọn, có thể gọi một cách ước lệ những kết hợp như thế là có tính cố định, còn những kết hợp còn lại là không cố định Cái ngưỡng của tính cố định được lựa chọn một cách võ đoán, xuất phát từ mục đích thực tế
Trang 21Tính cố định của kết hợp, tức là khả năng dự đoán lớn nhất của một yếu
tố của kết hợp đối với các yếu tố còn lại, được tính trên cơ sở điều tra thống
kê các văn bản (tiến hành quan sát những trường hợp xuất hiện của yếu tố đã cho trong văn bản và vạch ra tất cả những yếu tố còn lại của kết hợp xuất hiện trong bao nhiêu trường hợp ấy Nhờ đó, người ta có thể tính xác suất dự đoán) Nhưng hiện nay người ta chưa thực hiện đầy đủ công việc điều tra cần thiết đối với các văn bản Có lẽ không thể làm được công việc đó nếu không dùng máy tính điện tử
Dầu sao chăng nữa, hiện nay vẫn có thể dùng khái niệm tính cố định sau khi tạm thời quy định áng chừng xác suất căn cứ vào những cảm giác chủ quan hoặc căn cứ vào sự điều tra một số tài liệu không lớn lắm
Đối với tiếng Việt, các nhà nghiên cứu thường quan niệm một tổ hợp được coi là có tính cố định khi:
+ Có trật tự ngược cú pháp tiếng Việt: Thí dụ: văn học, hải quân, công
nghiệp, bệnh viện, cao điểm,
+ Có chứa đựng những thành tố không hoạt động độc lập Thí dụ: quốc
gia, chợ búa, dai nhách, khách khứa, hổn hển, lưa thưa,
- Tính thành ngữ
Theo cách hiểu thông thường, một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý nghĩa của những bộ phận tạo thành Vì các khái niệm nghĩa và ý nghĩa chưa được làm
sáng tỏ cho nên có thể sử dụng yếu tố tương đương khi dịch để định nghĩa
tính thành ngữ
Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một
từ khi dịch toàn bộ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố mà yếu
Trang 22tố đó chỉ tương đương với từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong trật tự nhất định) Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác.
Trong định nghĩa trên, có ba nhân tố cần chú ý:
+ Trong tổ hợp thành ngữ tính phải có ít nhất một từ có khả năng dịch duy nhất, tức là khả năng dịch chỉ có thể có được khi tồn tại đồng thời một hoặc một số từ nào đó Thí dụ:
Mẹ tròn con vuông có nghĩa là người đàn bà ở cữ và con đều bình yên
mạnh khoẻ Vuông và tròn chỉ có nghĩa là bình yên, mạnh khoẻ khi kết hợp với các từ mẹ và con.
Kỉ luật sắt là kỉ luật nghiêm khắc Từ sắt chỉ có nghĩa là nghiêm khắc
khi kết hợp với kỉ luật.
+ Trong tổ hợp thành ngữ tính, từ có cách dịch duy nhất chỉ có được cách dịch đó khi nó xuất hiện đồng thời với tất cả những yếu tố còn lại Điều kiện này là cần thiết để tách tổ hợp thành ngữ tính ra khỏi những đơn vị
phức tạp hơn mà tổ hợp đó là một thành phần Thí dụ: Phải thực hiện kỉ luật
sắt không phải là tổ hợp thành ngữ tính bởi vì từ sắt có cách dịch duy nhất
ngay cả khi vắng mặt các từ phải thực hiện Chỉ kỉ luật sắt mới là tổ hợp thành ngữ tính vì sắt có cách dịch duy nhất khi xuất hiện kỉ luật Tương tự,
từ như trong như nước đổ lá khoai, như nước đổ đầu vịt không nằm trong tổ
hợp thành ngữ tính
+ Từ có cách dịch duy nhất nằm trong tổ hợp thành ngữ tính phải được gặp ở ngoài tổ hợp đó, và khi ấy nó có cách dịch khác Điều kiện này cho
Trang 23phép phân biệt tổ hợp thành ngữ tính với những tổ hợp không có tính thành ngữ nhưng lại có tính cố định rất cao.
Trong tiếng Việt, cụm từ cò lửa có tính thành ngữ vì lửa trong kết hợp với cò, chỉ một loại cò có lông màu đỏ Trong những cách dùng khác,
lửa lại có những ý nghĩa khác: bếp đỏ lửa, lửa lòng Những tổ hợp như bồ hóng, bù nhìn, ái quốc, nông nghiệp, tuy có tính cố định nhưng không có
tính thành ngữ
Theo quan niệm đã trình bày, tính cố định và tính thành ngữ là những thuộc tính hoàn toàn độc lập Tổ hợp có thể có tính cố định mà không có tính thành ngữ, hoặc ngược lại
Dựa vào hai thuộc tính này, tùy theo đặc điểm của từng ngôn ngữ cụ thể mà người ta chia ra các kiểu ngữ khác nhau trong các ngôn ngữ Chẳng
hạn, ở tiếng Việt, người ta phân biệt các loại ngữ như: thành ngữ, quán ngữ,
máy hơi nước, v.v [17, tr.70]
Ngữ định danh được phân chia làm hai loại: ngữ định danh hợp kết và ngữ định danh hòa kết
- Ngữ định danh hợp kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng có thể phân tích thành những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo thành
Trang 24- Ngữ định danh hòa kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành Nói cách khác, ý nghĩa của các bộ phận tạo thành ngữ định danh hòa kết mất tính độc lập, hòa lẫn với nhau để cùng biểu thị một khái niệm.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi thống nhất theo quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp và đề xuất gọi tên các thuật ngữ có cấu tạo là từ tức là có một yếu tố mang nghĩa (một hình vị) là những thuật ngữ đơn, còn các thuật ngữ có cấu tạo là ngữ định danh tức là có từ hai từ trở lên là những thuật ngữ phức
1.2 THUẬT NGỮ
1.2.1 Khái niệm thuật ngữ
Mặc dù vấn đề “thuật ngữ” đã được quan tâm từ rất lâu, nhưng phải tới
thế kỷ XX, thuật ngữ học mới thực sự khẳng định như một ngành khoa học Việc nghiên cứu thuật ngữ xuất phát từ hai vấn đề nền tảng sau: thứ nhất là do kết quả quan sát quá trình hình thành lý thuyết nhằm đáp ứng sự ra đời của một bộ phận từ ngữ đặc biệt trong ngôn ngữ chuyên dụng; thứ hai là do trên thực tế, trong giao tiếp, nhóm từ ngữ đặc biệt này được coi như những từ có ứng dụng độc lập
Tuy nhiên, thuật ngữ của mỗi ngành khoa học lại tạo dựng cho mình các cơ sở xây dựng những hệ thống thuật ngữ khác nhau, vì thế chúng có đặc thù riêng Chẳng hạn, trong sinh học và y học, thuật ngữ mang tính nước đôi (những đồ vật, hiện tượng cần được miêu tả bằng thuật ngữ được gọi tên bằng các từ La Tinh tương ứng với các thuật ngữ bằng ngôn ngữ văn học) Ngược lại trong hoá học, thuật ngữ mang tính quốc tế, được xây dựng trên cơ sở tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp Thuật ngữ toán học và vật lý học, xét về mặt
từ nguyên, có phần mang tính ngẫu nhiên Chúng phụ thuộc vào hình ảnh mà
Trang 25người tạo ra chúng đưa vào thuật ngữ và được xây dựng bằng vốn từ vựng có nguồn gốc từ thực tiễn các ngôn ngữ khác nhau Vì thế, để có cách nhìn xác đáng hơn về thuật ngữ, cần đặt thuật ngữ trong một bức tranh toàn cảnh nói chung và hệ thống từ vựng của ngôn ngữ nói riêng.
Trên thực tế, thuật ngữ ra đời và được sử dụng trước khi người ta tìm cách định nghĩa chúng Để hình dung rõ hơn về thuật ngữ khoa học, trước hết hãy đến với quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Âu - Mỹ, các quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển sớm, nhanh và mạnh, mảnh đất tốt cho sự phát triển của ngôn ngữ khoa học, điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của thuật ngữ khoa học
Theo Nguyễn Thiện Giáp, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con
người Ví dụ như các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân, v.v trong toán học; tư bản, tích luỹ, giá trị thặng dư, v.v trong kinh tế học; bộ tộc, bộ lạc,
huyết thống, v.v trong sử học; âm vị, âm tiết, hình vị, v.v trong ngôn ngữ
học, v.v Hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng [17, tr.270]
Từ quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi xác định có hai loại thuật ngữ là thuật ngữ đơn và thuật ngữ phức
Trang 261.2.2 Cấu tạo thuật ngữ
1.2.2.1 Thuật ngữ đơn
Thuật ngữ đơn là những thuật ngữ được cấu tạo bởi một từ độc lập, tức
là chỉ có một yếu tố mang nghĩa
1.2.2.2 Thuật ngữ phức
Thuật ngữ phức hay còn gọi là ngữ định danh - là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế Nó bao gồm
những cụm từ thường được gọi là từ ghép như: xe đạp, máy tiện, cá vàng, cà
chua, áo dài, v.v và những cụm từ thường được gọi là ngữ cố định như: đường đồng mức, phương nằm ngang, máy hơi nước, v.v [17, tr.70]
Trên cơ sở đó, có các loại thuật ngữ phức khác nhau như:
- Thuật ngữ phức hợp kết
- Thuật ngữ phức hòa kết
1.2.3 Đặc trưng của thuật ngữ
Cho đến nay, tuy còn có những điều cần tranh luận, nhưng có thể thống nhất về những đặc điểm chung cơ bản của thuật ngữ, đó là: tính khoa học, tính dân tộc, tính đại chúng và tính quốc tế
1.2.3.1 Tính khoa học
Tính khoa học của thuật ngữ thể hiện ở tính chính xác, tính đơn nghĩa
và tính hệ thống
a Về tính chính xác của thuật ngữ, nhà ngôn ngữ học người Nga,
A.A.Reformatski, có nhận định: “ Các khái niệm biểu thị trong các từ ngữ
thông thường chỉ là các khái niệm thông thường, còn các khái niệm được biểu thị trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một chuyên ngành khoa học nào đó”[18, tr.25] Khoa học ngày nay càng phát triển sâu hơn và
Trang 27rộng hơn, thuật ngữ phải là yếu tố cấu thành của một lý thuyết nhất định và có nắm được lý thuyết này thì mới hiểu chính xác được thuật ngữ Có lẽ vì lý do này mà thuật ngữ trong các từ điển hiện có đều được định nghĩa chứ không giải thích như từ, ngữ thông thường khác Để giúp người đọc hiểu và có một khái niệm chính xác về bất kỳ về một đối tượng khoa học nào, thuật ngữ có nhiệm vụ gọi tên, định nghĩa chính xác về khái niệm đó, để không gây lầm lẫn Một yêu cầu cần có để đáp ứng đuợc tính chính xác của thuật ngữ là tính đơn nghĩa của nó.
b Thuật ngữ cần phải đơn nghĩa, vì khác với các từ ngữ thông thường
(có thể có nhiều hơn một nghĩa, hay đa nghĩa), thuật ngữ nên là những từ, cụm từ cố định (ngữ định danh) đơn nghĩa, tức là có một nghĩa duy nhất Thuật ngữ luôn luôn hướng tới tiêu chí đơn nghĩa, tức là một thuật ngữ không nên miêu tả cùng một lúc nhiều hơn một khái niệm Hơn thế nữa, các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất rằng không nên có hơn một thuật ngữ cho một
khái niệm khoa học Theo tác giả Nguyễn Văn Tu: “Thuật ngữ là những cụm
từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó,.v.v Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ
có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tuỳ từng ngành)” [47, tr.114]
c Tính hệ thống của thuật ngữ được thể hiện trên cơ sở: có hai yếu tố
xác định một thuật ngữ, đó là trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng chỉ ra mối quan hệ của thuật ngữ với các từ ngữ khác trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ Trường khái niệm chỉ ra mối quan hệ giữa một thuật ngữ với các thuật ngữ khác trong cùng một chuyên ngành khoa học, tức
là mỗi thuật ngữ không còn là thuật ngữ nếu không thuộc về một hệ thống
Trang 28thuật ngữ của một chuyên ngành nhất định vì không có chuyên ngành khoa học nào tồn tại lại chỉ với một khái niệm duy nhất.
“Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ” [36, tr.64]
1.2.3.2 Tính dân tộc
Mỗi dân tộc hãy tận dụng vốn từ của ngôn ngữ mình để diễn đạt các khái niệm khoa học, chẳng hạn, chúng ta phải hết sức tận dụng vốn từ quý báu và phong phú của tiếngViệt trong việc đặt và dịch thuật ngữ, tránh lạm dụng các thuật ngữ nước ngoài, bảo đảm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả Lưu Vân Lăng cho rằng:
“Thuật ngữ, dù là thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó thuật ngữ phải có tính chất dân tộc và phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc” [28, tr.58].
1.2.3.3 Tính đại chúng
Bảo đảm tính chất ngôn ngữ dân tộc của thuật ngữ là góp phần xây dựng tính đại chúng của thuật ngữ Khoa học kỹ thuật không thể tách rời
quần chúng, tách rời người sử dụng, nhất là trong thời đại mà “nền kinh tế
tri thức” đang được tiếp nhận trên phạm vi toàn cầu Khoa học công nghệ
phải thực sự xâm nhập sâu rộng vào quần chúng, muốn vậy thì thuật ngữ không thể là lớp từ cao siêu, xa lạ hoàn toàn với quần chúng, chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn, nhất là các ngành kinh tế, chính trị, tin học, viễn thông, mà phải dễ dùng đối với đông đảo quần chúng Có nghĩa là thuật
Trang 29ngữ phải được hình thành từ ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ đọc, dễ viết.
1.2.3.4 Tính quốc tế
Bên cạnh tính dân tộc thì thuật ngữ phải có tính quốc tế Điều này thoạt nghe tưởng như mâu thuẫn nhưng thực ra lại rất logic Bởi vì, vốn từ vựng riêng của từng ngôn ngữ mang sắc thái của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, nhưng khoa học thì là tài sản tri thức chung cho toàn nhân loại Các khái niệm vật lý, toán học, hoá học, là của chung toàn cầu chứ không thể nào các khái
niệm vật lý ở Việt Nam lại khác ở Nga, ở Mĩ, “Nếu chú ý tới mặt nội dung
của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc tế là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ” [16, tr.275] Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thuật ngữ cần thiết
phải bảo đảm tính quốc tế trước hết là về mặt nội dung vì thuật ngữ biểu thị những khái niệm khoa học chung Tuy nhiên, khi xét về tính quốc tế của thuật ngữ, người ta hay chú ý tới biểu hiện hình thức của nó Thuật ngữ có thể được dùng chung ở một loạt các quốc gia do được cấu tạo từ một gốc từ chung của nhiều ngôn ngữ, ví dụ:
Tiếng Anh telephone cathode antenne
Như vậy, tính quốc tế đòi hỏi một thuật ngữ phải có nội dung và hình thức biểu đạt gần gũi không phải chỉ với một cộng đồng ngôn ngữ mà với các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau và tính quốc tế là nét rất đặc trưng cho thuật ngữ nói riêng và từ ngữ khoa học nói chung
Trang 301.2.4 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới
Nói về thuật ngữ học, không thể không nhắc tới các nhà thuật ngữ học
Xô Viết với những công trình quý báu về thuật ngữ của họ Các nhà ngôn ngữ học Xô Viết trong các nghiên cứu của mình đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng, khái niệm và đã tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học Chẳng hạn:
L.A.Kaptnatze đã nhấn mạnh về vai trò đặc biệt của thuật ngữ: “ Thuật
ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó, giống như định nghĩa về nó Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa được gán cho nó”[18, tr.15].
A.X.Gerd là một trong những nhà ngôn ngữ học Xô Viết của thập niên 60-70, thế kỷ XX, cũng có định nghĩa tương đối đầy đủ về thuật ngữ như
sau: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa
và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc một lĩnh vực tri thức cụ thể” [18, tr.15]
Không thể không nói tới các nhà thuật ngữ học Âu- Mỹ vẫn thường được nhắc tới như: E Wuster (Đức), J.C Boulanger (Anh), W.E Flood, R W.Brown (Mỹ) Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ Tác giả J.C.Sager (Mỹ) đã đưa ra tiêu chuẩn chung của thuật ngữ như sau:
- Thuật ngữ phải được định hình một cách có hệ thống, chú trọng tới các đặc tính về hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng
- Thuật ngữ phải tuân theo các quy ước chung về hình vị, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ tạo thành chúng
Trang 31- Khi một thuật ngữ đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, thì nó không thể bị thay đổi nếu như không có những lý do bắt buộc và sự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế nó sẽ đảm đương hoàn toàn vị trí của nó và được nhanh chóng chấp nhận.
- Nếu một thuật ngữ mới chỉ truyền đạt phần nào đó ý nghĩa của thuật đang dùng thì sẽ gây ra lầm lẫn, và trong trường hợp đó cần sử dụng tới khái niệm đồng nghĩa, như vậy mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới
Có thể thấy kết luận rằng, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã xây dựng nên một bức tranh rõ nét, tỉ mỉ về thuật ngữ trong đó thể hiện đầy đủ những nội dung cơ bản của khái niệm này, gồm các điểm sau:
- Thứ nhất là, định nghĩa thuật ngữ với việc phân tích khái niệm và bản chất ngôn ngữ của lớp từ ngữ đặc biệt này
- Thứ hai là, nêu rõ chức năng cơ bản của thuật ngữ trong hoạt động ngôn ngữ của chúng
- Thứ ba là, khẳng định các đặc điểm cốt yếu của thuật ngữ để thực hiện tốt các chức năng
- Thứ tư là, xác định các tiêu chuẩn cần có của thuật ngữ, hay nói cách khác là tiêu chí chung cho lớp từ ngữ đặc biệt này
1.2.5 Những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam
Việc nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 30-
40 của thế kỷ XX Phải kể đến là cuốn Danh từ khoa học của Hoàng Xuân
Hãn, xuất bản năm 1942 Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử và xã hội, vấn đề thuật ngữ thực sự trở thành mối quan tâm lớn của các nhà khoa học Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX ( Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, 28-29/12/1964; hội nghị trưng cầu ý kiến về vấn đề dùng thuật
Trang 32ngữ khoa học tháng 5/1965 ) Một Hội đồng Thuật ngữ - Từ điển khoa học do
GS Nguyễn khánh Toàn là Chủ tịch đã ra đời Vào tháng 6/1966, Viện Khoa học Xã hội nhân văn (tiền thân của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam) đã
công bố áp dụng tạm thời bản “Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài
(gốc Ấn -Âu) ra tiếng Việt” Rất nhiều nhà ngữ học Việt Nam đã đi sâu vào
nghiên cứu bản chất của thuật ngữ như: Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,
Có thể trích dẫn ra đây một vài định nghĩa tiêu biểu về thật ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam Các tác giả Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý trong khi định nghĩa thuật ngữ đã khoanh vùng cho các khái niệm mà lớp từ vựng này phục vụ:
“Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ ” [29, tr.114].
Rõ ràng, cụ thể hơn định nghĩa trên và có chỉ ra cả một số đặc điểm của thuật ngữ là định nghĩa của tác giả Nguyễn Văn Tu:
“Thuật ngữ là những từ và cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó, v.v Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế ( tuỳ từng ngành)”[46,
tr.114] Trong định nghĩa này tác giả Nguyễn Văn Tu đã có quan điểm gần như thống nhất với các nhà ngôn ngữ học Âu - Mỹ về bản chất và đặc điểm của thuật ngữ Ông đã khẳng định “thuật ngữ là từ và cụm từ cố định” có chức năng định danh, có đặc điểm đơn nghĩa Ngoài ra ông còn nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, dù vào thời điểm đó, ông cho rằng nó chỉ tuỳ vào từng ngành, nhưng cho tới nay, khi sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm
Trang 33cho việc giao tiếp quốc tế dễ dàng, thì tính quốc tế đã trở thành một đặc tính không thể thiếu được của hầu hết mọi thuật ngữ.
Nhà nghiên cứu Đái Xuân Ninh cũng đưa ra quan niệm như sau về
thuật ngữ: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm
của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa
là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ” [36, tr.64] Quan niệm này nêu bật tính chính
xác, tính hệ thống, phạm vi hành chức của thuật ngữ
Như vậy có thể hiểu thuật ngữ là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học chuyên môn
- Ví dụ: Trong sinh vật học ta có: họ, loài, giống, bộ, lớp, ngành, đột
biến, di truyền, tính trội, tính lặn, biến dị, phân bào, đơn bào, đa bào, miễn dịch, kháng thể, kháng nguyên,
Trong ngôn ngữ học ta có: âm vị, hình vị, từ vị, cú vị, nghĩa vị, ngữ
pháp vị, âm tố, âm vực, nguyên âm, phụ âm, bán nguyên âm, âm tiết, âm đệm,
âm chính, âm cuối, âm đoạn, âm vực,
Mỗi môn khoa học, kĩ thuật đều có một hệ thống thuật ngữ của mình Tuy nhiên, đó không phải là những từ vựng biệt lập mà chúng là những bộ phận riêng trong từ vựng của một ngôn ngữ thống nhất
Thuật ngữ luôn luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành đó Trong các khoa học còn có danh pháp (danh từ khoa học) của từng ngành Danh pháp và thuật ngữ không phải là một Danh pháp chỉ là toàn bộ tên gọi cụ thể của các đối tượng
Trang 34được dùng trong từng ngành khoa học mà thôi Chẳng hạn, nếu ta có một danh
sách về tên các loài thực vật ở Việt Nam: xoan, muồng, bằng lăng, lát hoa, lát
vân, lim, sến, táu, dổi, dẻ, xoan đào, thì đó là danh pháp thực vật Việt Nam.
So với từ ngữ thông thường thì thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn Trong thuật ngữ không bao giờ biểu thị những sắc thái phụ như thái độ đánh giá của người nói, xấu nghĩa hay đẹp nghĩa, khen hay chê, kính trọng hay xem thường, Từ ngữ bình thường cũng biểu thị khái niệm nhưng đó là “khái niệm đời thường” chứ không hẳn là “khái niệm khoa học”, có tính nghiêm ngặt của nó
- Ví dụ: NƯỚC – “hợp chất của ô-xi và hi-đrô” khác với NƯỚC trong
nước mắt, nước dãi, nước bọt, nước tiểu, mỡ nước, nước phở, nước xốt, nước mắm, nước mưa, nước ao
1.3 THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG
Khi trình bày về khái niệm thuật ngữ Toán học thông dụng, các tác giả
Ngô Thúc Lanh - Đoàn Quỳnh - Nguyễn Đình Trí đã giải thích: "Cuốn từ
điển Toán học thông dụng này nhằm mục đích định nghĩa và giải thích các thuật ngữ Toán học thông dụng trong Toán học phổ thông và Toán học đại học (hai, ba, năm đầu không kể các chuyên đề)" [27, tr.3].
Từ đó, chúng tôi xác định thuật ngữ Toán học thông dụng là những từ, những ngữ định danh để gọi tên các khái niệm… thuộc về lĩnh vực Toán học phổ thông và Toán học đại học (hai, ba năm đầu không kể các chuyên đề)
Đối với thuật ngữ tiếng Việt, chúng tôi dựa vào cách xác định thuật ngữ Toán học thông dụng của Ngô Thúc Lanh – Đoàn Quỳnh – Nguyễn Đình Trí Các tiêu chí để chúng tôi lựa chọn phân tích và so sánh đối chiếu là những
Trang 35thuật ngữ Toán học thông dụng cốt lõi, được in bằng chữ in hoa đậm trong từ điển này.
Đối với thuật ngữ tiếng Anh, chúng tôi dựa vào từ điển Anh – Việt (khoảng 17 000 từ) của nhà xuất bản KH và KT (1976) để trên cơ sở đó lựa chọn các thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh tương đương với các thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Việt
Trang 36Các đơn vị của từ vựng là từ và ngữ định danh.
So với các ngôn ngữ Ấn - Âu thì từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Trong các ngôn ngữ Ấn - Âu, từ có thể đơn tiết, có thể đa tiết Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một
âm tiết, một khối viết liền
Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế
Thuật ngữ
Khái niệm thuật ngữ được hiểu là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người
Cấu tạo thuật ngữ bao gồm từ và ngữ định danh
Trên cơ sở của những định nghĩa đã được nêu trong chương 1 về thuật ngữ có cấu tạo là từ và thuật ngữ có cấu tạo là ngữ định danh, chúng tôi đề xuất gọi tên các thuật ngữ có cấu tạo là từ là những thuật ngữ đơn và các thuật ngữ có cấu tạo là ngữ định danh là những thuật ngữ phức
Trang 37Các đặc trưng của thuật ngữ được thể hiện là tính khoa học, tính dân tộc, tính đại chúng và tính quốc tế.
Chúng tôi điểm qua một số quan niệm về thuật ngữ trên thế giới và những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam
Cuối cùng, chúng tôi đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ Toán học thông dụng.Những vấn đề đã được nghiên cứu ở chương 1 sẽ là cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu những đặc điểm của thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt trong chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Như đã trình bày ở trên, thuật ngữ có nhiều bình diện khác nhau Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt trên hai bình diện là cấu tạo và ngữ nghĩa
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG TIẾNG ANH
2.1.1 Về cấu tạo
2.1.1.1 Các đơn vị cấu tạo
Từ chưa phải là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ Nếu phân tích
từ thành những bộ phận nhỏ hơn ta thu được các từ tố Từ tố là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ
Căn cứ vào ý nghĩa người ta chia các từ tố thành hai loại: chính tố và phụ tố.
a Chính tố:
Chính tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa của chính tố thì cụ thể có liên hệ lôgic với đối tượng và hoàn toàn độc lập (tự nghĩa)
b Phụ tố:
Phụ tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp
Ý nghĩa của phụ tố thì trừu tượng, có liên hệ lôgic với ngữ pháp và không độc lập (trợ nghĩa), nó chỉ được rõ ràng khi nằm trong kết cấu của từ
Ví dụ:
Trong từ “addition” - “phép cộng” của tiếng Anh, “add-“ là chính tố, biểu thị khái niệm “cộng” còn “–ition” là phụ tố Bản thân “–ition” không
Trang 39tồn tại độc lập với ý nghĩa nào cả Khi kết hợp với các chính tố khác, nó bổ
sung cho chính tố ý nghĩa ngữ pháp là danh từ “phép, việc, sự”.
Có nhiều loại phụ tố khác nhau Phụ tố cấu tạo từ biểu thị ý nghĩa từ
vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp Phụ tố -ition của tiếng Anh đã dẫn ở
trên là thuộc loại phụ tố cấu tạo từ mang ý nghĩa từ vựng bổ sung Căn cứ vào
vị trí đối với chính tố, có thể chia phụ tố cấu tạo từ thành:
- Tiền tố là phụ tố đặt trước chính tố.
Ví dụ:
+ Tiền tố “anti-“ trong từ “antiparallel” - “đối song”, “antisample” -
“phản ví dụ”, “antisymmetric” - “phản xứng / phản đối xứng”, “antithesis”
- “phản đề”
+ Tiền tố “bi-“ trong các từ “bijection” - “song ánh”, “binomial” -
“nhị thức”, “bisector” - “song vectơ” …
- Trung tố là phụ tố nằm chen vào giữa chính tố.
- Liên tố là phụ tố đặc biệt, có chức năng liên kết các chính tố trong từ phức.
Tuy nhiên, trong phạm vi ngữ liệu của đề tài, chúng tôi không tìm thấy những thuật ngữ có chứa thành phần trung tố hoặc liên tố
Trang 40Các tiền tố phổ biến trong thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh là: