1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế

58 708 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu như tất cả những loài bò sát đều ítnhiều có công dụng làm dược liệu, đặc biệt là các loài như: rắn, rùa, đồi mồi, kỳ đà,tắc kè, ba ba… Theo một số tài liệu đông y, thịt rắn có vị ngọ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt 3

Danh mục các bảng, sơ đồ 4

Danh mục các hình 5

MỞ ĐẦU 6

1 Tầm quan trọng của bò sát nói chung 6

2 Lý do chọn đề tài 9

3 Mục đích nghiên cứu 11

Chương1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 12

1.1 Lịch sử nghiên cứu về khai thác và sử dụng các loài bò sát trên thế giới 12

1.2 Lịch sử nghiên cứu về khai thác và sử dụng các loài bò sát ở Việt Nam 13

Chương 2 THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Thời gian nghiên cứu 16

2.2 Địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng tại tỉnh TT Huế 18

3.1.1 Thành phần các loài bò sát đang bị khai thác và sử dụng 18

3.1.2 Mức độ quý hiếm của các loài bò sát bị khai thác và sử dụng 21

3.2 Mục đích sử dụng của các loài bò sát bị khai thác tại tỉnh Thừa Thiên Huế 22

3.2.1 Sử dụng trong ngâm rượu 25

3.2.1.1 Thành phần loài được sử dụng 25

3.2.1.2 Quy trình chế biến 30

3.2.1.3 Sử dụng sau chế biến 32

3.2.2 Dùng làm thực phẩm 34

Trang 2

3.2.2.1 Thành phần loài được sử dụng 34

3.2.2.2 Quy trình chế biến 35

3.2.2.3 Sử dụng sau chế biến 38

3.2.3 Dùng trong mỹ nghệ 39

3.2.4 Sử dụng trong gây nuôi 40

3.2.4.1 Tình hình gây nuôi các loài bò sát ở tỉnh Thừa Thiên Huế 40

3.2.4.2 Những khó khăn và hạn chế trong gây nuôi 43

3.3 Tình hình săn bắt, buôn bán và giá cả các loài bò sát tại các điểm nóng ở tỉnh TT Huế 43

3.3.1 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác ở các điểm nóng 43

3.3.2 Tình hình săn bắt và buôn bán các loài bò sát tại các điểm nóng ở tỉnh Thừa Thiên Huế 51

KẾT LUẬN 57

1 Kết luận 57

2 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC P1

Trang 3

IUCN Danh lục đỏ thế giới

LC Cân nhắc đưa vào danh lục đỏ

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Trang Bảng 3.1: Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng tại tỉnh

Thừa Thiên Huế 17

Bảng 3.2: Mức độ quý hiếm của các loài bò sát 20

Bảng 3.3: Mục đích sử dụng các loài bò sát 22

Bảng 3.4: Thành phần loài bò sát sử dụng vào mục đích ngâm rượu 24

Bảng 3.5: Thành phần loài sử dụng làm thực phẩm 31

Bảng 3.6: Thành phần loài được gây nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế 37

Bảng 3.7: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác ở các điểm nóng 40

Bảng 3.8: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Phú Lộc 42

Bảng 3.9 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Nam Đông 43

Bảng 3.10 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác tại huyện A Lưới 44

Bảng 3.11 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Hương Trà 45

Bảng 3.12 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát đang bị khai thác tại huyện Phong Điền 46

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mạng lưới buôn bán các loài bò sát bất hợp pháp ở tỉnh Thừa Thiên Huế 52

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Ảnh 3.1: Rượu rắn tại huyện Hương Trà 26

Ảnh 3.2: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Quảng Điền 26

Ảnh 3.3: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Phú Vang 27

Ảnh 3.4: Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Phú Lộc 27

Ảnh 3.5: Rượu rắn tại thị xã Hương Thủy 27

Ảnh 3.6: Rượu rắn được ngâm bán tại TP Huế 30

Ảnh 3.7: Rượu rắn được ngâm bán tại TP Huế 30

Ảnh 3.8: Món thịt rồng đất bóp tại nhà hàng ở TP Huế 33

Ảnh 3.9: Sản phẩm từ các loài bò sát 36

Ảnh 3.10: Các loài bò sát bị buôn bán tại huyện Phú Lộc 49

Ảnh 3.11: Các loài bò sát bị buôn bán tại chợ A Lưới 50

Ảnh 3.12: Các loài bò sát bị buôn bán huyện Nam Đông 51

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tầm quan trọng của bò sát nói chung

Trong môi trường sống tự nhiên, bò sát là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn

vì chúng vừa là sinh vật tiêu thụ thức ăn vừa là sinh vật bị tiêu thụ Như vậy trongquần xã, bò sát vừa là kẻ thù, vừa là con mồi của nhiều động vật khác Trong lịch sửtiến hóa, các loài bò sát đã hình thành những thích nghi sinh thái để tự vệ và tấn cônggóp phần giữ cân bằng trong hệ sinh thái

Bò sát tiêu diệt những loài có lợi và cả những loài có hại Là động vật ăn thịt,nhiều loài bò sát tiêu diệt số lượng lớn côn trùng, chuột phá hoại nông nghiệp Nếu

vì lý do nào đó số lượng các loài bò sát giảm xuống quá mức giới hạn, thì số lượngđàn chuột, côn trùng tại địa phương sẽ tăng lên nhanh chóng, gây những tổn thấtnghiêm trọng cho cây trồng Bò sát làm hại cây trồng, vật nuôi và những động thựcvật hữu ích Kỳ đà ăn cá, rắn nước ăn ếch nhái là những động vật tiêu diệt côn trùng.Nhiều loài bò sát (thằn lằn, rắn, rùa) mang ve bét trên thân có thể truyền một số bệnhdịch nguy hiểm Nhưng nghiêm trọng hơn là các loài rắn độc gây tử vong cho hàngnghìn người [19]

Vai trò chủ yếu của bò sát là dùng làm dược liệu Người Việt Nam cũng đã có

truyền thống sử dụng động vật từ lâu đời Trong bộ “Nam dược thần hiệu”, Tuệ Tĩnh

đã liệt kê tất cả 213 loại trong đó có các loài bò sát [29] Hải Thượng Lãn Ông cũngliệt kê các loài động vật dùng làm thuốc Hầu như tất cả những loài bò sát đều ítnhiều có công dụng làm dược liệu, đặc biệt là các loài như: rắn, rùa, đồi mồi, kỳ đà,tắc kè, ba ba…

Theo một số tài liệu đông y, thịt rắn có vị ngọt, mặn, tính ôn, được coi là vịthuốc bổ chữa bệnh xương khớp, bệnh thần kinh đau nhức Tây y không chú trọngdùng thịt rắn như thực phẩm chức năng mà nghiên cứu, chiết xuất và sử dụng nhiềuchế phẩm dược lý từ nọc rắn (huyết thanh kháng nọc rắn, thuốc gây tê, giảm đaunhức, chống viêm, chống đông máu, trị bệnh tim mạch, hô hấp, thần kinh, huyếthọc ) Riêng mật rắn có vị ngọt, cay, không đắng như các loại mật khác, có tác dụng

giảm ho, đau lưng, chống viêm Theo “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, mật

trăn (nhiêm xà đởm) có vị ngọt đắng, tính hàn, hơi độc, nên được dùng chữa đau

Trang 7

mắt, đau bụng, bệnh phong cùi, máu tích cục và đau họng Hải Thượng Lãn Ôngcũng đã sử dụng mật rắn để trị rắn cắn Ở Trung Quốc, mật trăn được dùng để trị trĩ,

đỏ mắt Người ta phơi khô mật, mỗi lần dùng 1,5-2g bột ngâm vào rượu hoặc chưngcách thủy để uống [6]

Ngoài ra còn có các chế phẩm dược liệu khác từ rắn như rượu rắn và mỡ rắn.Rượu rắn là loại rượu truyền thống có nhiều ở các nước châu Á Trong nhân dânthường dùng các loại rắn phối hợp thành bộ để ngâm rượu Bộ ba rắn gọi là tam xàtửu gồm 3 loài: hổ mang, cạp nong, rắn ráo Bộ ngũ xà gồm 5 loài: hổ mang, cạpnong, rắn ráo, hổ trâu, rắn sọc dưa Mỡ rắn cũng được nhân dân ta sử dụng từ lâu,thường dùng để chữa bỏng Ở Trung Quốc, mỡ rắn lục xanh dùng trị bỏng và mảnhđạn đâm vào thịt Đáng chú ý hơn là việc dùng nọc rắn chữa bệnh như động kinh,hen, hủi, ung thư [6]

Không chỉ rắn, mà nhiều loài bò sát khác như: tắc kè, kỳ đà, đồi mồi, rùa, thằnlằn, ba ba, cũng có giá trị dược liệu quý Tắc kè có tác dụng bồi bổ cơ thể, tăngcường sinh lực, chữa suy nhược nhất là suy nhược thần kinh và được sử dụng chủyếu dưới dạng rượu Trong những năm gần đây, tắc kè trở thành hàng hóa buôn bán

và xuất khẩu có giá trị cao (50-70 nghìn đồng/con) nên chúng bị khai thác rất nhiều

và đang ở mức độ cạn kiệt ngoài thiên nhiên Ở Myanmar, máu và thịt rùa biển(cretta) dùng chữa bệnh trĩ Yếm rùa nấu cao (cao quy bản) chữa bệnh còi xương củatrẻ em Mật kỳ đà, thịt thằn lằn dùng chữa hen suyễn Thạch sùng chữa đau xươngkhớp, trúng phong, trị cam lị, rắn rết cắn Nhân dân Trung Quốc dùng thạch sùngdưới hình thức phơi hay sấy khô tán bột để uống nhằm mục đích chữa mụn nhọt,thần kinh suy nhược, bệnh về dạ dày và ruột, kém ăn, bán thân bất toại, viêm khớpmãn tính, nhức đầu kinh niên mà không rõ nguyên nhân [4], [19]

Nhiều di tích khảo cổ đã chứng minh từ xa xưa con người đã biết dùng cácphương tiện và hình thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại

để săn bắt các loài động vật ở nhiều vùng sinh thái khác nhau dùng làm thức ăn vàcác mục đích khác

Với truyền thống khai thác, sử dụng các sản phẩm tự nhiên của các nước Đông

Á, bò sát được xem như là một loại thực phẩm quan trọng trong suốt chiều dài lịch

Trang 8

sử phát triển của con người Chúng cũng được xem là một phần thức ăn quan trọngtrong đời sống của nhiều gia đình và cộng đồng Các sản phẩm từ bò sát cũng đóngmột vai trò quan trọng trong thu nhập của họ Chính vì vậy, ngoài vai trò sinh thái và

y học, bò sát còn có vai trò kinh tế to lớn đối với con người Chúng thường đượcdùng làm thực phẩm cho con người Các loài rùa, ba ba cho thịt, trứng Các loài rắn,

kỳ đà, cá sấu… cho dược liệu, mỹ nghệ…

Nhân dân các nước phương tây thích dùng trứng và thịt rùa trong khẩu phần ăn

Ở phương đông, các loài rùa, rắn và thằn lằn được dùng làm thức ăn Nhật Bản nhậprắn biển từ philippines để làm thực phẩm Nhân dân đảo Hải Nam (Trung Quốc) làmlạp xưởng bằng thịt rắn biển Indonesia dùng phổ biến thịt rắn da cóc Ở miền Bắcnước ta, nhân dân thích dùng thịt ba ba, rùa và một số loài rắn Ở miền Nam thịt cácloài rùa (rùa cạn, rùa nước,…) được ưa chuộng hơn cả Đặc biệt, vích, đồi mồi làthực phẩm có giá trị [15], [19]

Thịt rắn được nhiều nước trên thế giới dùng làm thực phẩm từ lâu đời Ở châu

Mỹ (bang Florida của Hoa Kỳ và cả ở Nam Mỹ), thịt rắn rung chuông đã được đónghộp bán ra thị trường Tại Nhật Bản và Philippines, người ta rất chuộng thịt rắn biển

và có cả một nghành ngư nghiệp chuyên bắt rắn biển

Tại nhiều địa phương ở Việt Nam, rắn được săn bắt để ăn thịt Người ta chorằng thịt rắn ăn mát, có vị thơm ngon đặc biệt, lại có tác dụng tăng cường thể lực vàtrị bệnh Nhiều món ăn được chế biến từ rắn Đơn giản nhất là món chả thịt rắn (thịtrắn lóc xương, băm viên bọc lá lốt, nướng chín hay rán vàng), món miến rắn, mónthịt rắn bung củ chuối hoặc dọc mùng Những món ăn từ rắn được xem là nhữngmón đặc sản, có giá trị dinh dưỡng cao [6]

Ngoài ra, thịt rồng đất cũng được xem là một món ăn đặc sản được người ViệtNam ưa chuộng, có thể chữa được rất nhiều bệnh liên quan đến yếu sinh lý, thận yếu,sức khoẻ sút giảm, stress do lao lực Đặc biệt phù hợp với các lứa tuổi đang lớn cầncanxi Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì các doanh nhân,thương gia, những nhà trí thức làm việc trí não lại càng chú trọng đến vấn đề sứckhoẻ, tăng độ dẻo dai thể lực, bền bỉ để có thể làm việc Rồng đất lại càng được sănlùng ráo riết Một đĩa rồng đất nướng chấm muối ớt lựa chọn của bất kỳ người sành

Trang 9

ăn nào. Ngoài ra, người ta còn dùng thịt rồng đất hầm thuốc bắc để bồi bổ sức khỏecho người mới ốm dậy.

Sản phẩm công nghiệp phổ thông của bò sát là da thuộc Trong khoảng vài chụcnăm nay, người ta mới khai thác nguồn lợi này Da cá sấu, kỳ đà và các loại rắn lớndùng để đóng va li, ví, giày dép, thắt lưng,… quý nhất vẫn là da cá sấu Đầu thế kỷ

19 hàng năm có tới 500 nghìn tấm da cá sấu trên thị trường quốc tế Hiện nay, sốlượng cá sấu đã giảm sút rõ rệt, nên con người đã nghĩ đến việc gây giống loài bò sátnày Ví dụ trại cá sấu ở Loirt (Mỹ) nuôi 12 nghìn con cá sấu và sản xuất 3 nghìn tấm

da mỗi năm [19] Da trăn, rắn cũng được sử dụng để làm thắt lưng và túi xách. Thậtkhông may, điều này đã đe dọa nhiều loài rắn lớn và trăn. Một số quốc gia đã cópháp luật để ngăn chặn việc nhập khẩu các mặt hàng như vậy

2 Lý do chọn đề tài

Với những vai trò quan trọng của bò sát kể trên đã dẫn đến việc khai thác và sửdụng các loài động vật này ngày càng gia tăng như hiện nay Do đó đã ảnh hưởngmột cách nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên động vật, đặc biệt là động vật rừng Hiện nay nhiều người và nhiều nơi ở nước ta khai thác, gây nuôi nhiều loài độngvật hoang dã cho các mục đích lấy thịt, chữa bệnh, làm cảnh Việc buôn bán độngvật hoang dã cũng diễn ra thường xuyên đã làm nguồn tài nguyên động vật bị suygiảm nghiêm trọng Hậu quả là dẫn đến mất cân bằng về sinh thái mà con người làchủ thể bị thiệt thòi nhiều nhất

Những năm gần đây, việc điều tra, khảo sát tình hình khai thác và sử dụng cácloài bò sát đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có được một sự đánh giá đầy đủ vàchính xác Mặt khác, tình hình khai thác và sử dụng ở mỗi thời điểm khác nhau làkhông giống nhau

Với mong muốn nắm rõ tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát trên địabàn tỉnh Thừa Thiên Huế (TT Huế) để góp phần vào việc khai thác, bảo tồn một cách

bền vững và có hiệu quả loài vật này nên chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh Thừa Thiên Huế” cho luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ chuyên ngành động vật học

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

- Nắm được tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh TT Huế hiện nay

- Lập được danh sách các loài bò sát đang được khai thác và sử dụng

- Có cơ sở đưa ra các khuyến cáo góp phần bảo tồn và phát triển động vật hoang dãnói chung và bò sát nói riêng

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu về khai thác và sử dụng các loài bò sát trên thế giới

Về điều tra khảo sát việc sử dụng bò sát với các mục đích khác nhau có cuộcđiều tra khảo sát về công nghệ làm rượu rắn tại các thành phố du lịch lớn ở ViệtNam được Ruchira Somaweera & Nilusha Somaweera thực hiện Kết quả có 916chai rượu rắn với 1924 con rắn thuộc hơn 20 loài đã được ghi nhận từ 127 điểm cóbán rượu rắn [37]

Về buôn bán động vật hoang dã, gần đây một bài viết trên tờ Science cho rằngViệt Nam là một trong những nước hàng đầu tiêu thụ, xuất khẩu động vật hoang dã

và được xem là nơi thu mua động vật hoang dã từ Lào, Campuchia và Myanmar đểbán sang Trung Quốc Trong vòng 10 năm, chính quyền đã tịch thu hơn 180 nghìnđộng vật buôn bán bất hợp pháp và con số này chỉ chiếm từ 5-10% số động vật buônbán hàng năm

Từ thế kỷ 17 đã có một thị trường thương mại ổn định buôn bán rùa xanh từvùng biển Caribe đến châu Âu để làm món súp rùa Năm 2008 việc khai thác rùa ởCaribe được kiểm soát theo thỏa thuận quốc tế Trong những năm 1970, buôn bánrùa ở Địa Trung Hải phát triển mạnh, chúng được vận chuyển sang các nước Bắc Âu

để làm vật nuôi. Điều này đã gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng các quần thể rùa trong

tự nhiên Vì vậy hoạt động này đã bị cấm theo luật pháp châu Âu

Loài bò sát được xem là một thành phần kinh tế quan trọng của buôn bán vậtnuôi trên toàn thế giới. Trong số khoảng 6 nghìn loài bò sát trên toàn thế giới, cókhoảng 600 loài bị giao dịch thương mại [35]

Mỹ là một nước chính trong thị trường buôn bán bò sát toàn cầu về cả nhậpkhẩu và xuất khẩu Ở đây các loài bò sát được xem như là thú cưng Một vài nămtrước, ngành thương mại này xuất khẩu 2,5 triệu con mỗi năm Mỹ cũng xuất khẩukhoảng 10 triệu động vật mỗi năm, hầu hết trong số chúng là các loài bò sát [35].Tình hình ở châu Á đặc biệt nghiêm trọng, có thể gọi là cuộc khủng hoảng rùachâu Á. Cả rùa nước ngọt và rùa biển được xuất khẩu sang Trung Quốc Năm 1999,ước tính khoảng 8 nghìn tấn thịt rùa đã được nhập khẩu vào Trung Quốc. Điều này

đã làm phá hủy rất nhiều quần thể

Trang 12

Từ khi mở rộng việc sử dụng da rắn làm các mặt hàng xuất khẩu, ở nhiều nướcnhiệt đới châu Mỹ (Colombia, Mehico, Brazin), châu Phi và châu Á, trữ lượng rắnnhất là rắn lớn giảm sút nghiêm trọng Chỉ tính riêng Ấn Độ, năm 1932 xuất khẩu tới2,5 triệu tấm da bò sát [35].

Theo báo cáo của WWF (World Wildlife Fund – quỹ bảo tồn động vật hoang dãthế giới), Việt Nam là nước thứ 23 cam kết thực hiện công ước quốc tế về mua báncác loài động vật và thực vật đang bị đe doạ (Convention on International Trade inEndangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES)

Trong công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp(CITES) ký tại Washington tháng 3 năm 1973 đã nêu rõ những nguyên tắc cơ bảnbao gồm:

- Phụ lục I bao gồm những loài bị đe doạ tuyệt diệt do hoặc có thể do buôn bán.Việc buôn mẫu vật của những loài này phải tuân theo những quy chế nghiêmngặt để không tiếp tục đe doạ sự tồn tại của chúng và chỉ có thể thực hiện đượctrong những trường hợp ngoại lệ

- Phụ lục II bao gồm tất cả những loài mặc dù hiện tại chưa bị đe doạ tuyệt diệtnhưng có thể dẫn đến đó nếu việc buôn bán những mẫu vật của những loài đókhông tuân theo những quy chế nghiêm ngặt

- Phụ lục III bao gồm tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luậtpháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sựhợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán [1]

Có 185 loài bò sát trong phụ lục I, II, III trong đó phụ lục I có 61 loài, phụ lục II

có 86 loài, phụ lục III có 32 loài Tuy trong công ước CITES đã nêu rõ danh mụcnhững loài động vật nguy cấp, cấm và hạn chế khai thác vì mục đích thương mạinhưng các hoạt động khai thác này vẫn diễn ra Cụ thể trong phạm vi đề tài đã điềutra được có 5 loài trong phụ lục II và 1 loài trong phụ lục I CITES[1]

1.2 Lịch sử nghiên cứu về khai thác và sử dụng các loài bò sát ở Việt Nam

Việt Nam được biết đến như là một nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao vàmang tính đặc hữu Do tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm quanh năm nên

Trang 13

vật biến nhiệt như bò sát Việc nghiên cứu về bò sát ở Việt Nam đã được tiến hành ởnhiều khu vực khác nhau trên cả nước từ những thập kỷ trước Tuy nhiên, tình hìnhnghiên cứu việc khai thác và sử dụng các loài bò sát ở Việt Nam trong thời gian quachưa nhiều.

Nhân dân ta đã có truyền thống sử dụng động vật từ rất lâu Ngành khảo cổ đãghi nhận từ thời tiền sử đã có khắc hình động vật trên các khối đá tự nhiên Trên mặttrống đồng Đông sơn cách đây hơn 2000 năm có khắc hình chim bay, hình bò có u, Tuệ Tĩnh cũng đã liệt kê 32 loài côn trùng, 8 loài “Có vẩy”, 35 loài cá, 6 loài có mai,

13 loài “có vỏ”, 39 loài chim, 36 loài thú rừng, được nhân dân ta sử dụng [29]

Võ Văn Chi (1998) đã nêu lên danh lục các loài động vật dùng làm thuốc.trong đó Bộ Rùa (Testudinata) có 10 loài, Bộ Có vẩy (Squamata) có 11 loài, Phân

bộ Rắn (Serpentes) có 24 loài và Bộ Cá sấu (Crocodylia) có 2 loài [5] Võ văn Chi

và Nguyễn Đức Minh cũng giới thiệu về cách làm thuốc và chế biến dược liệu từ

rắn trong tác phẩm “Rắn độc lợi và hại” [4]

Trong tác phẩm “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Phần các vị thuốc

nguồn gốc động vật), Đỗ Tất Lợi cũng nhắc đến các bài thuốc quý được điều chế từ

bò sát chủ yếu như: cao quy bản, thạch sùng, miết giáp (ba ba), kỳ đà, đồi mồi, rắn,

… [15]

Việc gây nuôi các loài bò sát đặc biệt là rắn đã được tiến hành từ những năm 80của thế kỷ trước Cơ sở nuôi quy mô bán công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam là trạinuôi rắn Vĩnh Sơn thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) Ở

miền Nam có trại nuôi rắn Đồng Tâm ở tỉnh Tiền Giang Về nuôi rắn hổ mang (Naja naja) có các kết quả của Trần Kiên và Lê Nguyên Ngật (1991, 1992) công bố về đặc

điểm sinh thái và sinh trưởng nuôi trong lồng tại Hà Nội [12] Trần Kiên và Phương

Anh (1993) công bố kết quả nghiên cứu sự sinh sản của rắn ráo trưởng thành (Ptyas korros) tại Đà Nẵng [13] Gần đây có kết quả nghiên cứu nuôi Rồng đất (Physignathus cocincinus) của Ngô Đắc Chứng và CS ở Thừa Thiên Huế và Bến Tre

và nuôi Rắn lục xanh (Viridovipera stejnegeri) ở tỉnh Tiền Giang [9] Trong dân

gian, đã có nhiều nơi nuôi các loài bò sát thương phẩm như trăn, cá sấu, ba ba, nhôngcát, thằn lằn bóng, Nhưng hệ thống lại thành quy trình để phổ biến rộng rãi thì chỉ

Trang 14

có bộ sách “Chương trình 100 nghề cho nông dân” do Nguyễn Lân Hùng làm chủ

nhiệm trong đó có quy trình nuôi nhiều loài bò sát khác nhau [16]

Về điều tra khảo sát việc sử dụng bò sát với các mục đích khác nhau, năm

2012 có cuộc điều tra khảo sát của Hoàng thị Nghiệp và Trương Lê Huy Hoàng ởtrường đại học Đồng Tháp Điều tra được có 17 loài bị buôn bán và gây nuôi ởhuyện Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp [17]

Ngoài những việc nghiên cứu gây nuôi, nhà nước cũng ra Nghị định nhằmquản lý việc khai thác và gây nuôi cho hợp lý Nghị định 32 của Chính Phủ về quản

lý động vật, thực vật rừng, nguy cấp, quý, hiếm ký vào ngày 30 tháng 3 năm 2006.Trong Nghị định nói rõ các động vật nguy cấp, quý, hiếm gồm 2 nhóm:

- Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Gồmnhững loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc cógiá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy

cơ  tuyệt chủng cao

- Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Gồm nhữngloài động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh

tế, số luợng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có thể gây nguy cơ tuyệt chủng Trong Nghị định cũng nêu rõ danh mục gồm 88 loài động vật rừng trong nhóm

IB và IIB Tuy nhiên, trong khi điều tra khảo sát vẫn phát hiện việc buôn bán tráiphép các loài có tên trong danh mục trên Cụ thể điều tra được 10 loài gồm 3 loàitrong nhóm IB và 7 loài trong nhóm IIB [3]

Mặc dù hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành trên nhiều khu vực khácnhau trong cả nước nhưng so với tiềm năng đa dạng sinh học ở Việt Nam là chưađầy đủ Đặc biệt trong vấn đề nghiên cứu, điều tra các loài bò sát được sử dụngphục vụ đời sống như làm dược liệu, mỹ nghệ, thực phẩm… Trong khi tình hìnhkhai thác và sử dụng bò sát đang ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến

sự đa dạng sinh học Việt Nam

Trang 15

Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian nghiên cứu

Từ đầu tháng 12/2012 đến cuối tháng 12/2012: Nghiên cứu tài liệu, lập phiếuđiều tra, tuyến điều tra

Từ cuối tháng 12/2012 đến tháng 6/2013: Đi điều tra thực tế theo các tuyến đãđược lập

Từ 15/6/2013 đến 15/07/2013: Tổng hợp, xử lý và bổ sung số liệu chuẩn bị viếtluận văn

Từ đầu tháng 8/2013 đến cuối tháng 9/2013: Thảo luận kết quả viết và hoànchỉnh luận văn

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại tỉnh Thừa Thiên Huế gồm: thành phố Huế, thị xãHương Thủy, và 7 huyện: Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền, Phú Lộc, PhúVang, Nam Đông, A Lưới

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Điều tra và phỏng vấn: điều tra bằng phiếu với các nội dung liên quan đến tình

hình khai thác, mục đích sử dụng, phương thức tiêu thụ, giá cả và chế biến,… trêncác đối tượng là người khai thác, người sử dụng,… (có phiếu điều tra kèm theo)

Phiếu điều tra

Mẫu

Địa điểm

Mục đích sử dụng

Nguồn gốc Các

h chế biến

Giá thành trước khi chế biến

Giá thành sau khi chế biến

Gâynuôi

Đánhbắt

Phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp qua nhiều đối tượng khác nhau theo các nộidung trên

Trang 16

Khảo sát thực tế: đi thực tế tại các điểm có khai thác và sử dụng các loài bò sátnhư: thợ săn, người dân địa phương, thương lái, nhà hàng, các cơ sở gây nuôi… đểquan sát và ghi nhận các nội dung liên quan.

- Khảo sát các địa điểm sau:

+ Thành Phố Huế: 18 điểm điều tra

+ Thị xã Hương Thủy: 7 điểm điều tra

+ Huyện Phú Vang: 6 điểm điều tra

+ Huyện Phú Lộc: 9 điểm điều tra

+ Huyện Hương Trà: 16 điểm điều tra

+ Huyện Quảng Điền: 1 điểm điều tra

+ Huyện A Lưới: 9 điểm điều tra

+ Huyện Nam Đông: 8 điểm điều tra

+ Huyện Phong Điền :10 điểm điều tra

Định loại: định loại tại chỗ bằng các tài liệu tra cứu nhanh, định loại qua ảnhchụp, qua phỏng vấn, qua mẫu vật gián tiếp, phúc tra và đối chiếu với mẫu có sẵn.Định loại dựa vào tài liệu của các tác giả: Đào Văn Tiến (1981, 1982) [26], [27],[28]; Nguyễn Văn Sáng và CS (2005) [22]; [23] Phạm Nhật và CS (2004) [18] BùiĐăng Phong và CS (2011) [11]; Nguyen Van Sang et al., (2009) [36]; Taylor (1963)[38]; Cox M.J et al, (1998) [32]

Nghiên cứu lý thuyết và thu thập thông tin: tham khảo các loại sách báo, tạp chítrong và ngoài nước cũng như các tài liệu, báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài

Xử lý số liệu: thống kê số liệu trên phiếu điều tra, lập bảng thống kê chi tiết về

thành phần loài, mức độ quý hiếm, giá cả thương mại của các loài bò sát bị khai thác

và sử dụng

Trang 17

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng tại tỉnh TT Huế.

3.1.1 Thành phần các loài bò sát đang bị khai thác và sử dụng

Khi thực hiện điều tra trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế gồm thị xã HươngThủy, thành phố Huế và 7 huyện: Phong Điền, Hương Trà, Quảng Điền, A Lưới,Nam Đông, Phú Vang, Phú Lộc Trong thời gian thực hiện từ đầu tháng 12/2012 đếntháng 06/2013, đã điều tra được 84 điểm có khai thác và sử dụng các loài bò sát.Bước đầu thu thập được 25 loài thuộc 3 bộ, 14 họ của Lớp Bò sát đang bị khai thác

và sử dụng với nhiều hình thức Trong đó có 18 loài thuộc Bộ Có vảy (Squamata)(chiếm 72 % trong tổng số loài), 6 loài thuộc Bộ Rùa (Testudinata) (chiếm 24 %trong tổng số loài), 1 loài thuộc Bộ Cá sấu (Crocodylia) (chiếm 4 % trong tổng sốloài) (Bảng 3.1)

1 Rắn ráo thường Rắn lồng Ptyas korros (Schlegel, 1837)

2 Rắn ráo trâu Rắn hổ trâu Ptyas mucosa

Trang 18

11 Rắn hổ mang nam Hổ đất Naja kaouthia (Lesson, 1831)

12 Rắn hổ mang bắc Hổ mang Naja atra (Cantor, 1842)

Trang 19

II Bộ Rùa Testudinata

22 Rùa đầu to Rùa mỏ keo Platysternon megacephalum

Họ Rắn nước chiếm nhiều nhất với 7 loài (chiếm 28% trong tổng số loài) Trong

đó chủ yếu là rắn ráo thường (Ptyas korros) và rắn sọc dưa (Coelognathus radiatus)

bị khai thác nhiều nhất Chúng thường được dùng để ngâm rượu và làm thực phẩm làchính Họ Rắn hổ có 5 loài (chiếm 20% trong tổng số loài), trong đó bị khai thác

nhiều nhất là rắn cạp nong (Bungarus fasciatus) Loài này chủ yếu khai thác để

ngâm rượu Họ Rùa đầm có 2 loài (chiếm 8% tổng số loài) Các họ còn lại mỗi họchỉ có 1 loài Các loài bò sát được săn bắt với nhiều mục đích khác nhau trong đó

Trang 20

chủ yếu là buôn bán, làm thực phẩm, ngâm rượu, làm thuốc, một số nơi thì nuôi làmcảnh.

3.1.2 Mức độ quý hiếm của các loài bò sát bị khai thác và sử dụng

Trong 25 loài bị khai thác và sử dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế có loài có 16 loàicần được bảo tồn (chiếm 64% tổng số loài) Trong đó có 14 loài trong Sách đỏ ViệtNam (2007) cụ thể có 4 loài ở mức xếp hạng Rất nguy cấp (CR), 7 loài Nguy cấp(EN) và 3 loài sắp Nguy cấp (VU) Theo Danh lục đỏ thế giới IUCN (2012): có 1loài Rất nguy cấp (CR), 2 loài Nguy cấp (EN), 1 loài Sắp nguy cấp (VU) 1 loài Sắp

bị đe dọa (NT), 3 loài cân nhắc đưa vào Danh lục đỏ (LC) Theo Nghị Định32/2006/NĐ - CP có 7 loài nằm trong nhóm IIB (hạn chế khai thác và sử dụng) 3loài nằm trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác và sử dụng) Trong công ước CITES(2006) có 6 loài Điều này cho thấy việc khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnhThừa Thiên Huế đang diễn ra phức tạp, chưa được kiểm soát chặt chẽ theo đúng quyđịnh (Bảng 3.2)

Bảng 3.2: Mức độ quý hiếm của các loài bò sát.

1 Rắn ráo thường Ptyas korros (Schlegel, 1837) EN

2 Rắn ráo trâu Ptyas mucosa

Trang 21

13 Rùa hộp ba vạch Cuora trifasciata ( Bell, 1825) CR EN IB

14 Rùa đầu to Platysternon megacephalum

IB – Nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại; IIB – Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại; CITES – Công ước CITES (2006): I – Các loài chưa có nguy

cơ tuyệt chủng nhưng việc buôn bán chúng cần được kiểm soát để tránh nguy cơ tuyệt chủng; II – Các loài được pháp buôn bán nhưng được kiểm soát.

3.2 Mục đích sử dụng của các loài bò sát bị khai thác tại tỉnh TT Huế

Như đã trình bày ở trên, số lượng các loài bò sát bị khai thác và sử dụng có tới

25 loài trong 84 điểm điều tra Tuy nhiên, chúng lại được sử dụng với nhiều mụcđích khác nhau Sử dụng làm thực phẩm có ở 31 điểm (chiếm 36,90% trong tổng sốđiểm điều tra), sử dụng trong buôn bán có ở 9 điểm (chiếm 10,71% trong tổng số

Trang 22

điểm điều tra), sử dụng để ngâm rượu có ở 34 điểm (chiếm 40,48% trong tổng sốđiểm điều tra), gây nuôi có ở 8 điểm (chiếm 9,52% trong tống số điểm điều tra) và

mỹ nghệ 2 điểm (chiếm 2,38% trong tống số điểm điều tra) (Bảng 3.3)

Trang 23

mang nam (Lesson, 1831)

Trang 24

3.2.1 Sử dụng trong ngâm rượu

3.2.1.1 Thành phần loài bị sử dụng

Trong 84 điểm điều tra có 34 điểm sử dụng bò sát để ngâm rượu Hầu hết cácloài bò sát đều có thể sử dụng để ngâm rượu, trong đó chủ yếu là các loài rắn Với 25loài điều tra được thì có 21 loài được sử dụng để ngâm rượu chiếm (84% tổng sốloài), trong đó có tới 15 loài rắn (chiếm 71,42 %), 2 loài rùa, 1 loài ba ba và 3 loàithuộc Phân bộ Thằn lằn (Bảng 3.4)

Bảng 3.4 Thành phần loài bò sát sử dụng vào mục đích ngâm rượu.

1 Rắn ráo thường Ptyas korros(Schlegel, 1837) 3 (*) 4 6 5 2 10 8 2 1 34

3 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827) 1 3 2 1 4 4 30 1 45

4 Rắn vòi Rhynchophis boulengeri (Mocquard, 1897) 1 10 11

5 Rắn hổ mây hamtơn Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) 1 1

6 Rắn nước chính thức Xenochrophis flavipunctatus

8 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) 7 9 3 2 5 11 12 11 14 73

Trang 25

(Cantor, 1836)

11 Rắn hổ mang nam Naja kaouthia(Lesson, 1831) 3 4 6 2 15

12 Rắn hổ mang bắc Naja atra(Cantor, 1842) 1 1 2 5 25 34

13 Rắn lục mép Trimeresurus albolabris(Gray, 1842) 1 2 12 15

15 Đẻn cạp nong Hydrophis fasciatus atriceps

17 Rồng đất Physingathus cocincinus(Cuvier, 1829) 1 3 14 5 4 27

20 Rùa hộp ba vạch Cuora trifasciata ( Bell, 1825) 1 1 2

21 Ba ba trơn Pelodiscus sinensis (Wiegmann, 1835) 13 14 27

Ghi chú: PL – Phú Lộc; PV – Phú Vang; NĐ – Nam Đông; AL – A Lưới; PĐ – Phong Điền; HT – Hương Trà; TXHT – thị xã Hương Thủy; TP Huế - Thành phố Huế; QĐ – Quảng Điền; (*): Số cá thế bắt gặp khi điều tra.

Về số lượng các thể bắt gặp: điều tra 34 điểm sử dụng bò sát để ngâm rượu bắtgặp 550 cá thể được sử dụng ngâm rượu Trong đó phải kể đến những loài bắt gặp sốlượng cá thể nhiều nhất là tắc kè 196 cá thể, rắn ráo 34 cá thể, rắn sọc dưa 45 cá thể,rắn cạp nong 73 cá thể, hổ chúa 28 cá thể, hổ mang 34 cá thể, các loài chỉ bắt gặp 1

cá thể là rắn hổ mây hamton, rắn cườm và rùa cổ sọc

Về số loài sử dụng: phần lớn tại các địa phương thường khai thác những loài cósẵn Điều tra được 21 loài bị sử dụng ngâm rượu thì ở thành phố Huế chiếm nhiềunhất có tới 13 loài (chiếm 61,9% tổng số loài dùng ngâm rượu), 5 điểm điều tra với

125 cá thể đang bị sử dụng ngâm rượu Giải thích cho sự đa dạng về thành phần loàinày là do TP Huế là trung tâm tiêu thụ từ các huyện đổ về

Trang 26

Điều tra 8 điểm có sử dụng bò sát ngâm rượu tại Hương Trà bắt gặp 79 cá thểthuộc 12 loài (chiếm 57,14% tổng số loài dùng ngâm rượu) Chủ yếu là ở xã BìnhĐiền là nơi diền ra hoạt động

buôn bán các loại rượu rắn về

Trang 27

Tại Phú Vang điều tra 5 điểm bắt gặp 33 cá thể thuộc 9 loài (chiếm 42,86% tổng

số loài dùng ngâm rượu) Phần lớn ở đây người dân săn bắt tại địa phương, ngâmrượu sử dụng trong gia đình, một số được người thân tặng từ các nơi khác

Tại Phú Lộc điều tra 3 điểm bắt gặp 24 cá thể thuộc 9 loài (chiếm 42,86% tổng

số loài dùng ngâm rượu)

Tại A Lưới điều tra 2 điểm bắt gặp 10 cá

thể thuộc 8 loài (chiếm 38,09% tổng số loài

dùng ngâm rượu)

Tại Phong Điền điều 9 bắt gặp 20 cá thể

thuộc 9 loài (chiếm 42,86% tổng số loài dùng

ngâm rượu)

Tại thị xã Hương Thủy điều tra 5 điểm bắt

gặp 192 cá thể thuộc 9 loài (chiếm 42,86%

tổng số loài dùng ngâm rượu) Ở đây đa số

người dân đi làm từ Lào mang về ngâm rượu

và sử dụng trong gia đình, một số lấy hàng từ A Lưới về ngâm để bán

Ảnh 3.5 : Rượu rắn tại thị xã Hương Thủy

Ảnh 3.4 Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Phú Lộc

Ảnh 3.3 Rượu ngâm các loài bò

sát tại huyện Phú Vang

Ảnh 3.2 : Rượu ngâm các loài bò sát tại huyện Quảng Điền

Trang 28

Về tần số bắt gặp: trong 34 điểm điều tra sử dụng bò sát để ngâm rượu, tần sốbắt gặp nhiều nhất phải kể đến là rắn ráo thường bắt gặp ở 32 điểm điều tra (chiếm94,12 %) và có mặt ở tất cả các khu vực điều tra Kế đến là rắn sọc dưa bắt gặp 27trên 34 điểm điều tra (chiếm 79,41%) và có mặt 8 trong 9 khu vực điều tra (chiếm88,88%) Rắn cạp nong có mặt ở 30 điểm (chiếm 88,24%), rắn hổ chúa có mặt ở 19điểm (chiếm 55,88%), cả hai loài này điều có mặt ở tất cả các khu vực được điều tra(xem bảng 3.3 và 3.4) Sở dĩ ba loài rắn cặp nong, rắn ráo thường và rắn hổ chúa cómặt ở tất cả các điểm điều tra sử dụng để ngâm rượu là vì sự kết hợp của bộ ba rắnnày khi ngâm rượu (tam xà tửu), theo dân gian sẽ trị được nhiều bệnh và bổ dưỡngnên được nhiều người dân lựa chọn.

3.2.1.2 Quy trình chế biến

Được xem là bổ dưỡng cho cơ thể và tăng cường sinh lực, nên việc sử dụng cácloài bò sát dưới dạng ngâm rượu được nhiều người dân Á Đông lựa chọn Đặc biệt làrượu rắn được sử dụng nhiều và phổ biến nhất Tuy nhiên, việc sơ chế và quy trìnhchế biến không phải ai cũng biết và chế biến đúng cách, thậm chí mỗi nơi lại chếbiến theo một cách khác nhau Qua điều tra phỏng vấn các điểm có ngâm rượu rắn

và các loài bò sát, nhận thấy rằng:

Đối với các loài rắn: rắn khi săn bắt được, hoặc mua lại, tránh để rắn bị thương.Đầu tiên chuẩn bị rượu để rửa rắn Bằng cách cho rắn vào bình, rượu phải ngập rắn,đậy kín nắp Ngâm rượu có nồng độ từ 300 – 450 Công đoạn này chủ yếu là làm chếtrắn và để rắn tiết hết chất độc Ngâm 2 đến 4 ngày tùy loài, thường thì rắn hổ chúa

và rắn cạp nong là ngâm lâu nhất vì 2 loài này khá độc Sau đó bỏ rượu đi hoặc dùng

để xoa bóp bên ngoài cơ thể Tiếp theo lấy ra rửa sạch lại cũng bằng rượu Dùngrượu 450 trở lên để ngâm rắn, có thể thêm kỷ tử, nhân sâm Thường thì ngâm thành

bộ ba (tam xà tửu) gồm: hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo hoặc bộ năm con (ngũ xà)gồm bộ ba rắn trên và thêm vào một rắn cạp nia và một rắn ráo trâu hoặc sọc dưa.Cuối cùng chôn dưới đất, cách mặt đất khoảng 20 - 30cm, trong vòng 3 tháng 10ngày để giữ nhiệt độ ổn định làm gia tăng phản ứng este hóa giữa rượu và acid amintrong rắn

Trang 29

Thời gian ngâm đến khi sử dụng được thường khoảng 3 tháng Ban đầu mùirượu sẽ rất tanh nhưng ngâm càng lâu càng ít tanh và có mùi thơm Màu sắc rượucũng thay đổi qua thời gian, ban đầu thì rượu có màu vàng đậm, ngâm càng lâu màucàng nhạt dần và hơi xanh.Trong quá trình ngâm cứ 4-6 tháng thì phải châm thêmrượu.

Đối với các loài bò sát khác như rồng đất, kỳ đà, rùa thì cũng ngâm tương tựnhư rắn chỉ khác là không cần phải ngâm qua cho tiết chất độc mà ngâm trực tiếp.Riêng với tắc kè thì phải còn nguyên đuôi Có thể ngâm thêm với một số vị thuốcnhư: hoắc dâm dương, nhân sâm, phục linh…

3.2.1.3 Sử dụng sau chế biến.

Rượu rắn sau khi ngâm khoảng 100 ngày thì có thể dùng được Đối với các loài

bò sát khác như kỳ đà, rồng đất thì phải 6 tháng trở lên mới dùng được Phần lớnngười dân tại địa phương ngâm để sử dụng trong gia đình, một số quán ngâm để báncho khách hàng Thường thì các quán nhậu mua lại từ thợ săn với giá từ 50 nghìnđến 1,2 triệu đồng một con tùy loài Một con rắn hổ mang nặng 1,2kg có giá từ 1 đến1,2 triệu đồng Thấp nhất là rắn ráo, một con chỉ khoảng từ 50 - 80 nghìn đồng Cạpnong là loài được sử dụng để ngâm rượu nhiều nhất, mỗi con có giá từ 100 - 400nghìn đồng tùy vào trọng lượng Một bình rượu rắn dung tích khoảng 2 lít đượcngâm bởi một con rắn hổ mang có trọng lượng từ 0,8 -1kg và một số vị thuốc bắtnhư kỷ tử, trần bì… có giá bán trên 2 triệu đồng Như vậy có thể thấy chủ quán thuđược một món lợi nhuận khá lớn từ việc ngâm và bán rượu rắn, điều này đã làm choviệc săn lùng khai thác rắn ráo riết hơn Đó là những bình rượu nguyên chất đã đượckhách hàng đặt từ trước và rất ít khi chưng ra trên tủ bán Còn những bình đượcchưng ra bán ở trên tủ hàng chỉ có giá từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng trong đó lại có đủ cả

bộ ba rắn ngâm rượu (hổ mang, cạp nong và rắn ráo) Vì những bình này đã bị chủquán bán nhiều lần với giá từ 120 – 200 nghìn đồng/1lít qua nhiều lượt rượu rắn.Đến lúc trong bình chỉ còn lại xác rắn thì mới châm thêm rượu và khằn kín lại đểbán Một số khác thì ngâm chỉ để bán lẻ với giá: tam xà tửu giá 60 nghìn đồng/1 lít,ngũ xà 80 nghìn đồng/1 lít (Ảnh 3.6)

Ngày đăng: 04/12/2014, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.1 Thành phần các loài bò sát bị khai thác và sử dụng (Trang 17)
Bảng 3.2: Mức độ quý hiếm của các loài bò sát. - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.2 Mức độ quý hiếm của các loài bò sát (Trang 20)
Bảng 3.3: Mục đích sử dụng các loài bò sát. - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.3 Mục đích sử dụng các loài bò sát (Trang 22)
Bảng 3.4 Thành phần loài bò sát sử dụng vào mục đích ngâm rượu. - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.4 Thành phần loài bò sát sử dụng vào mục đích ngâm rượu (Trang 24)
Bảng 3.5: Thành phần loài sử dụng làm thực phẩm - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.5 Thành phần loài sử dụng làm thực phẩm (Trang 31)
Bảng 3.6: Thành phần loài được gây nuôi tại thỉnh Thừa Thiên Huế - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.6 Thành phần loài được gây nuôi tại thỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 37)
Bảng 3.7:  Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.7 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát (Trang 40)
Bảng 3.8: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.8 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát (Trang 42)
Bảng 3.9: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.9 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát (Trang 43)
Bảng 3.10: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.10 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát (Trang 44)
Bảng 3.11: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.11 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò (Trang 45)
Bảng 3.12: Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.12 Thành phần loài, giá cả buôn bán và mức độ tiêu thụ của các loài bò sát (Trang 46)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mạng lưới buôn bán các loài bò sát - điều tra tình hình khai thác và sử dụng các loài bò sát ở tỉnh thừa thiên huế
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mạng lưới buôn bán các loài bò sát (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w