1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển kinh tế biển nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo vùng ven biển thừa thiên – huế

49 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 391 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của ngành sản xuất đối với nền kinh tế quốc dân - Các ngành sản xuất giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.. Để phát triển

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

18 năm qua để từ năm 1986, sau khi nước ta chuyển đổi nền kinh

tế từ quan niêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện nềnkinh tế mở cửa đất nước ta đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong nền kinh tế.Đời sống nhân dân được cải thiện, cơ sở hạ tầng phát triển, phúc lợi chongười dân ngày càng tăng Các ngành sản xuất tiến bộ không ngừngtrong cả trình độ sản xuất cũng như giá trị sản xuất Nhưng vẫn khôngthể phủ nhận một điều rằng trình độ sản xuất của chúng ta vẫn thuộctrình độ lạc hậu trên thế giới và chúng ta vẫn phải tiếp tục học hỏi cũngnhư tự hoàn thiện bộ máy sản xuất cuả mình để phù hợp với trình độ trênthế giới

Các ngành kinh tế biển đóng góp một phần không nhỏ cho của cải

xã hội, đặc biệt là ngành khai thác thuỷ sản, cảng biển Tuy nhiên thực

tế cho thấy rằng dân cư sống ven biển, phụ thuộc vào biển lại khó khăncần nhiều sự giúp đỡ từ phía Chính Phủ để tự cải thiện mức sống chomình, giải thoát mình khỏi nghèo đói Đó một trong những mâu thuẫnchúng ta phải giải quyết trong quá trình đổi mới đất nước

Xuất phát từ thực tế đó cùng với sự động viên và hướng dẫn của

TS Nguyễn Tiến Dũng và Cử nhân Lê Hồng Quân cùng các anh chị, côchú trong đơn vị thực tập : Ban nghiên cứu phát triển các ngành sản xuấtvật chất – Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đãchọn đề tài : “Phát triển kinh tế biển nhằm góp phần xoá đói giảm nghèovùng ven biển Thừa Thiên – Huế” Do thời gian, trình độ, hiểu biết thực

tế có hạn nên bài chuyên đề chắc chắn còn rất nhiều sai sót, rất mong

Trang 2

nhận được sự chỉ bảo hơn nữa từ TS Nguyễn Tiến Dũng cũng như cácanh chị, cô chú trong đơn vị thực tập.

PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

1 Quan điểm về phát triển ngành sản xuất

a Vai trò của ngành sản xuất đối với nền kinh tế quốc dân

- Các ngành sản xuất giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Bởi vì ở các nước này đa

số người dân lao động trong các ngành sản xuất vật chất, đặc biệt lànông nghiệp nông thôn Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi chonhân dân, chính phủ cần có sự quan tâm thích đáng và có chính sách tácđộng vào sự phát triển của các ngành sản xuất để nâng cao năng suấtcũng như giá trị của các ngành này

- Như đã nói ở trên, đối với các nước đang phát triển như ViệtNam thì một bộ phận lớn của dân số lao động trong các ngành sản xuấtvật chất Vì vậy vai trò giải quyết việc làm của các ngành sản xuất là rấtlớn Trước hết đối với ngành nông nghiệp với hơn 70% dân số Việt Namthì đó quả là nguồn lao động dồi dào Tuy rằng nhà nước Việt Nam có suhướng chuyển dần một bộ phận lao động của nông nghiệp sang cácngành công nghiệp và dịch vụ thì vai trò của các ngành sản xuất đối vớiviệc giải quyết việc làm cho người lao động vẫn là rất lớn

- Với đặc điểm của các nước đang phát triển, có tiền thân là cácnước thuộc địa Sau khi giành độc lập các quốc gia này khó khăn và

Trang 3

đáp ứng được những yêu cầu trước mắt đó là những của sản phẩm tiêudùng thiết yếu Do đó nền kinh tế của các quốc gia này phụ thuộc rất lớnvào các ngành sản xuất Thu nhập của Chính Phủ, các doanh nghiệp,người lao động phụ thuộc rất lớn vào các ngành sản xuất vật chất Do đócác ngành sản xuất là nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng của cácquốc gia đang phát triển.

-Như đã nói ở trên các nguồn thu của các quốc gia đang phát triểnphụ thuộc rất lớn vào sự tăng trưởng và phát triển của các ngành sản xuấtvật chất Do đó nó cũng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân cácquốc gia này

Khi các ngành sản xuất phát triển, sản xuất được nhiều hàng hoáchất lượng cao Đã đáp ứng được những nhu cầu trong nước và đủ tiêuchuẩn đem xuất khẩu sang các quốc gia khác Các sản phẩm này lạimang về cho quốc gia một nguồn ngoại tệ không nhỏ Nguồn ngoại tệnày là nguồn lực vô cùng quí giá, các quốc gia đang phát triển sử dụng

nó để nâng cấp cơ sở hạ tầng vốn đã nghèo nàn lạc hậu của mình, mộtphần trong số đó sẽ được các chính phủ củ các quốc gia đem chi tiêu vàocác hoạt động phúc lợi xã hội Qua đó người dân được hưởng nhiều hơncác dịch vụ công mà Chính phủ mang lại cho họ

Về phía người lao động, khi các ngành sản xuất được phát triểnnguồn thu nhập của họ cũng cải thiện đáng kể, và gần hơn nữa với mứcthu nhập trung bình của thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tếcủa các quốc gia Với nguồn thu nhập tăng thêm họ có điều kiện quantâm đến sức khoẻ bản thân và gia đình, học vấn con cái Và cũng vớikhoản thu nhập tăng thêm này họ có điều kiện tiêu dùng những sản phẩm

Trang 4

chất lượng cao mà trong nước sản xuất được cũng như nhập khẩu từ cácquốc gia khác.

b Cơ cấu ngành và nội bộ ngành sản xuất.

- Loại cơ cấu này phản ánh số lượng và chất lượng cũng như tỉ lệgiữa cac ngành và sản phẩm trong nội bộ ngành của nền Kinh tế quốcdân Nền kinh tế quốc dân là hệ thống sản xuất bao gồm những ngànhlớn như công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp, thương mại dịch vụ.Trong mỗi ngành lớn lại hình thành các ngành nhỏ hơn thường gọi là cáctiểu ngành Nhỏ hơn nữa là các ngành kinh tế – kỹ thuật

c Các hướng phát triển ngành sản xuất.

- Phát triển gia tăng hàm lượng khoa học – kĩ thuật trong sản xuất Khoa học kĩ thuật đã làm thay đổi những thói quen sản xuất, tiêudùng của thế giới loài người trong thời gian qua Đối với đời sống dânsinh khoa học kĩ thuật đóng vai trò ngày càng lớn Các tiến bộ trong cáclĩnh vực năng lượng, vật liệu, điện tử – tin học, công nghệ sinh học trongthời gian qua đã mang lại cho người những bước tiến dài trong quá trìnhphát triển Năng suất của các ngành tiếp tục tăng không giới hạn, chấtlượng ngày càng cao, mẫu mã ngày càng đổi mới và đổi mới với tốc độchóng mặt

Thấy rõ được vai trò và vị trí của khoa học kĩ thuật trong quá trìnhphát triển kinh tế nói chung cũng như đối với sự phát triển của các ngànhsản xuất nói riêng Việt Nam phải có hướng đi riêng phù hợp với tìnhhình hình thực tế và trình độ phát triển của đất nước

Đặc điểm của công nghệ Việt Nam hiện nay là có trình độ thấp sovới thế giới Chúng ta lạc hậu từ 3 – 4 thế hệ công nghệ, hay về từ 50 –

Trang 5

100 năm về thời gian so với các nước công nghiệp trên thế giới So vớicác nước trong khu vực ASEAN công nghệ Việt Nam cũng lạc hậu từ

20 – 30 năm Để đổi mới công nghệ cần có vốn, đây cũng là vấn đề nangiải của Việt Nam Nhưng chúng ta có tiềm năng về lao động, tàinguyên, vị trí địa lí của đất nước và có cơ hội tiếp thu công nghệ hiện đạicủa các nước đi trước

Lịch sử thế giới đã chứng kiến sự ruát ngắn quá trình công nghiệphoá qua các thời kỳ khác nhau Nếu nước Anh cần 120 năm, Tây Âu và

Mỹ cần 80 năm, Nhật Bản cần 60 năm và các nước NICs châu á HànQuốc, Đài Loan, Singapor cần trên dưới 30 năm Lợi thế của các nước đisau được thể hiện trên nhiều mặt: về mặt công nghệ các nước đi saukhông phải tập trung nhiều vốn và công sức vào phát minh, quan trọnghơn là biết cách lựa chọn, tiếp thu, thích nghi và làm chủ các công nghệsẵn có Những nước này có thể rút ngắn thời gian và mức độ mạo hiểmkhi sử dụng công nghệ mới Về mặt kinh tế, những nước này có thể lựachọn công nghệ tiêu tốn ít năng lượng và nguyên liệu Về môi trường cóthể rút kinh nghiệm bài học củ những nước đi trước, có thể lựa chọnnhững công nghệ phù hợp với điều kiện sinh thái của đất nước mình

Tuy nhiên lịch sử cũng ghi nhận rằng, cùng trong những môitrường như nhau khôn gphải tất cả các nước đi đầu về công nghịi để đưađất nước phát triển, rút hẹp khoảng cách công nghệ và kinh tế với cácnước đi trước

Phương hướng cơ bản phát triển công nghệ Việt Nam được xácđịnh như sau: Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngànhsản xuất, các ngành nghề truyền thống và dịch vụ có thể tận dụng lợi thế

Trang 6

về lao động và tài nguyên Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với cácngành, các lĩnh vực sản xuất then chốt có tác động sâu rộng đến nhiềungành, nhiều lĩnh vực sản xuất và có khả năng phát huy trong tương lainhư các ngành điện tử – tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới.

- Chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển ngành dịch vụ, côngnghiệp chế biến

Với đặc điểm của Việt Nam hiện nay là hơn 70% dân số sinh sống

ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp Trình độ sản xuất còn lạc hậu, tuytrong thời gian qua đã có những tiến bộ do khoa học công nghệ mang lạinhưng năng suất tính theo đầu người vẫn thấp do tỉ lệ người ở khu vựcnông thôn quá cao mà lượng đất nông nghiệp có hạn Do đó chuyển laođộng từ ngành có giá trị kinh tế thấp là nông nghiệp sang các ngành cógiá trị kinh tế cao là dịch vụ, thương mại, công nghiệp, công nghiệp chếbiến

Tuy lao động trong công nghiệp có hạn chế là trình độ văn hoá vàchuyên môn thấp nhưng có lợi thế là giá nhân công rẻ, chịu khó cần cù

và ít đòi hỏi Đây là một lợi thế lớn thu hút các nguồn vốn đầu tư trựctiếp từ nước ngoài vào đầu tư phát triển Việc phát triển dịch vụ, thươngmại, công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết công ănviệc làm cho người lao động, là một nguồn thu hút luồng di dân từ nôngthôn, hình thành nên các khu công nghiệp, khu chế xuất và các đô thịcùng với các hoạt động dịch vụ kèm theo

Vì đặc điểm của lao động sản xuất nông nghiệp là thất nghiệptương đối nên giải quyết thất nghiệp tại chỗ bằng việc phát triển tiểu thủcông nghiệp cũng là một hướng đi đúng đắn Việc phát triển tiểu thủ

Trang 7

công nghiệp đã khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong thờigian qua Với lợi thế, giá trị hàng hoá tiểu thủ công nghiệp cao, có giá trịxuất khẩu cao Giải quyết triệt để được tình trạng thất nghiệp tương đối ởkhu vực nông thôn Đem lại cho người lao động nguồn thu nhập cao và

ổn định hơn hẳn so với việc chỉ sản xuất nông nghiệp Và hơn hết nó còntận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương

Một trong những ngành đem lại giá trị xuất khẩu cao, có sức pháttriển mạnh mẽ trong thời gian qua và giành được sự quan tâm của nhànước đó là ngành thuỷ sản Những sản phẩm từ ngành thuỷ sản có giá trịcao trong xuất khẩu, đem lại nguồn thu lớn cho người lao động, cho cácdoanh nghiệp và cho ngân sách nhà nước Tuy thời gian gần đây gặp một

số trở ngại mang lại do những khó khăn trong việc tiếp cận thị trườngngoài nước Song ngành thuỷ sản vẫn còn nhiều lợi thế và nếu có nhữngđiều chỉnh thích hợp từ phía các doanh nghiệp, từ phía nhà nước thìngành thuỷ sản sẽ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mớicủa đất nước

2 Phát triển kinh tế biển

a Ngành kinh tế biển

- Ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản

Ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản có thể nói là một trongnhững mặt quan trọng nhất của kinh tế biển Hoạt động đánh bắt và khaithác thuỷ sản có từ lâu đời, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trongđời sống của con người Hoạt động nuôi trồng mới xuất hiện gần đây do

Trang 8

giá trị kinh tế của thuỷ sản là khá lớn, và cũng do những tiến bộ về sinhhọc đã giúp người lao động hiểu rõ về tập tính sinh hoạt, đặc điểm sinhhọc của thuỷ sản.

Hoạt động khai thác thuỷ sản ở nước ta hiện nay vẫn ở trình độthấp, qui mô khai thác nhỏ lẻ Trình độ của người lao động chủ yếu hìnhthành trên cơ sở kinh nghiệm, cha truyền con nối Địa bàn đánh bắt gần

bờ do các phương tiện đánh bắt lạc hậu, tàu bè không thể ra khơi xa.Chưa có sự hỗ trợ cần thiết của nhà nước trong vấn đề dự báo ngưtrường, những thay đổi của tự nhiên dẫn đến những thay đổi về ngưtrường Do đó chúng ta còn đang lãng phí nguồn tài nguyên quí giá này

Hoạt động nuôi trồng tuy mới phát triển mạnh trong một số nămgần đây nhưng lại là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việcchuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm và mang lạinguồn thu nhập chính đáng cho người lao động Hoạt động nuôi trồnghiện nay của nước ta hiện nay là khá tốt, do chúng ta chủ động trongkhoa học – kĩ thuật Tạo ra được nguồn con giống có chất lượng, tuyêntruyền giáo dục được người lao động nắm bắt được quy trình sản xuấthiện đại Do đó năng suất là khá cao, giá trị kinh tế mang lại là rất lớn.Tuy nhiên một khó khăn nẩy sinh mà nếu không có những chính sáchgiải quyết triệt để trong thời gian tới thì sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọngđến ngành nuôi trồng thuỷ sản Đó là vấn đề ô nhiễm, đặc biệt là môitrường nước của chúng ta đang ô nhiễm nghiêm trọng Các nguồn ônhiễm chủ yếu từ nguồn nước thải công nghiệp, từ lượng thuốc sâu,thuốc diệt cỏ mà nông dân sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tạo ra

- CN cảng biển và hàng hải

Trang 9

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế thì công nghiệp cảngbiển và hàng hải là không thể thiếu Nó góp phần quan trọng trong việcgiao lưu hàng hoá, phát triển thương mại giữa các quốc gia và trong nội

bộ một quốc gia Với vị trí địa lí của Việt Nam thì công nghiệp cảng biển

và hàng hải còn có tiềm năng trở thành một hàng hoá dịch vụ mang lạinguồn thu nhập lớn cho ngân sách nhà nước qua các hoạt động: tạm nhậptái xuất

Về cảng biển và hàng hải, địa lí Việt Nam mang lại nhiều thuậnlợi Việt Nam có đường bờ biển dài trên 7000 km, có nhiều vị trí thuậnlợi cho việc đặt cảng biển Việt Nam có nhiều cảng lớn có thể đón cáctàu có trọng tải lớn như: cảng Hải Phòng(Hải Phòng), cảng CamRanh(Vũng Tàu), cảng Cái Lân(Quảng Ninh)

- Ngành khai thác muối

Ngành khai thác muối ra đời từ khá lâu, tuy giá trị kinh tế củangành không cao nhưng ngành lại có vị trí khá quan trọng Khai thácmuối cũng thu hút được một số lượng lớn lao động dân cư ven biển Sảnphẩm muối tuy giá trị kinh tế không cao nhưng lại là sản phẩm rất quantrọng trong cuộc sống và sản xuất Các sản phẩm từ muối còn nằm trongchương trình y tế: chống biếu cổ và còn cả trong sản xuất như đánh bắtcá

- Ngành du lịch biển và ven biển

Ngành du lịch nói chung và du lịch biển và ven biển nói riêng pháttriển khi đời sống xã hội đã được nâng cao Nằm trong ngành dịch vụ và

là ngành mang lại cho ngân sách nhà nước những khoản thu lớn, giảiquyết được một lượng lớn lao động

Trang 10

Hàng năm, Việt Nam đón hàng triệu khách du lịch từ các nướctrong khu vực và trên thế giới Với lợi thế giá rẻ, thì du lịch nói chung và

du lịch biển và ven biển nói riêng đang và sẽ là nguồn đem lại cho ViệtNam nguồn thu ngoại tệ lớn và ổn định Khi khách du lịch đến chúng tacòn có cơ hội xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm của chúng ta làm ra đặcbiệt là các sản phẩm lưu niệm

Ngành du lịch biển và ven biển của chúng ta là ngành có tiềmnăng và cần phải phát triển mạnh mẽ để tiếp tục là ngành thế mạnh củachúng ta Việt Nam có lợi thế về đường bờ biển dài, nhiều bờ biển đẹp

có thể làm khu du lịch được Có thể kể ra như là Vịnh Hạ Long ( QuảngNinh ), Đồ Sơn ( Hải Phòng ), Sầm Sơn ( Thanh Hoá ), biển Nha Trang (Khánh Hoà)

Hơn nữa ngành du lịch Việt Nam còn có lợi thế là giá rẻ hơn sovới các nước trong khu vực Có khả năng thu hút được nhiều thành phầnkhách du lịch Việt Nam cũng là điểm đến an toàn cho du khách, ViệtNam không bị ảnh hưởng bởi các cuộc nội chiến, khủng bố Nhưng trongthời gian qua Việt Nam đã xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên mất antoàn, Việt Nam cần chấn chỉnh ngay để không bị mất lợi thế của mình

b Vai trò của ngành kinh tế biển đối với nền kinh tế quốc dân

- Đóng góp vào ngân sách nhà nước

Vai trò của ngành kinh tế biển đối với nền kinh tế quốc dân

Vai trò kinh tế biển có vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tếquốc dân.Từ đây, rất nhiều ngành kinh tế được phát triển hết sức đa dạng

và phong phú Trước tiên, phải kể tới phát triển ngành kinh tế đánh bắthải sản, với vùng biển rộng thì đây là ngành phát triển kinh tế chiến lược

Trang 11

và cơ bản vì trữ lượng hải sản được đánh bắt giúp thay đổi đáng kể nềnkinh tế của nhân dân trong vùng Hơn nữa, ngành kinh tế biển phát triểnphải kể đến sự vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đem lại lợi íchkinh tế cao Khi vận chuyển bằng đường biển thì giảm thời gian vậnchuyển nhanh và quãng đường vận chuyển ngắn hơn so với đường bộ vìđường biển thường là thẳng hơn so với đường bộ và không gây ách tắcđem lại lợi ích kinh tế đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Những ngườidân ven biển có thể tổ chức nuôi trồng thuỷ hải sản theo lồng ở gần bờđem lại nguồn hải sản chủ động cho người dân và có thể tăng gia nhữngloại hải sản cần thiết phục vụ cho đời sống của người dân trong khu vực

và những vùng lân cận

+Đóng góp cho ngân sách nhà nước:

Ngành kinh tế biển phát triển đã đóng góp vào ngân sách nhà nướcmột lượng gía trị khá cao Hiện nay, ngành thuỷ sản đang là ngành xuấtkhẩu chiếm vị trí cao trong hoạt động xuất khẩu của nước ta vì vậy gíatrị mà ngành thuỷ sản đem lại từ phát triển ngành kinh tế biển là khá cao.Hơn nữa, trong nước nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thuỷ sản là rất lớn trênmọi miền của đất nước người dân thích tiêu dùng hàng thuỷ sản nhiều vìhàm lượng đạm trong cá, tôm, cua, ba ba… là rất tốt, hơn nữa hiện naythuỷ sản còn là một trong những món ăn được ưa chuộng trong các món

ăn của khách du lịch Nước ta đã có những cải tạo đáng kể trong vấn đềbảo quản mặt hàng thuỷ hải sản, vì mặt hàng nay rất dễ bị ôi thiu cho nênbảo quản nó rất khó nhất là mỗi khi phải vận chuyển xa tới những vùngkhác

Vai trò đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Trang 12

- Vai trò trong giải quyết việc làm

Vấn đề giải quyết việc làm đang là vần đề hết sức nóng bỏng trongnền kinh tế thị trường Để giải quết việc làm cần phát triển nhiều ngànhnghề kinh tế trong đó có kinh tế biển và các hoạt động của nó Hoạt độngkinh tế biển mỗi năm thu hút được khoảng 2 triệu lao động, đây là con sốrất lớn về lao động nước ta vì ngoài việc hơn 2 triệu lao động có việclàm kia còn có rất nhiều lao động không có việc làm và đang cần việc

Do đó phát triển kinh tế biển có thể coi là phương pháp khá hiệu quảtrong giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động vùngven biển

- Vai trò trong việc xoá đói giảm nghèo dân cư vùng ven biển

Như đã trình bày ở trên, phát triển kinh tế biển tao việc làm cho laođộng, tạo thu nhập cho người lao động, người lao động có thu nhập sẽ tựcải thiện đời sống của mình, tạo cho đời sống ổn định Còn đối với xãhội người lao động có việc làm thì xã hội bớt được một gánh nặng về trợcấp xã hội, chánh được tệ nạn xã hội do tình trạnh thất nghiệp tạo giacũng có nghĩa là làm cho tỷ lệ đói nghèo của nước ta giảm đi một phần.Cho nên có thể nói phát triển kinh tế biển có một vai trò rất quan trọngtrong xoá đói giảm nghèo

3 Các chính sách đối với việc phát triển ngành kinh tế biển

- Chính sách thương mại

Để phát triển kinh tế biển thì các chính sách thương mại của nhànước là rất quan trọng, đóng góp một phần to lớn vào sự phát triển củacác ngành nói chung và đối với kinh tế biển nói riêng

Trang 13

Đối với công nghiệp cảng biển và hàng hải thì những chính sáchphát triển thương mại phát triển giao lưu hàng hoá với nước ngoài đãđóng góp phần quan trọng vào việc phát triển của ngành Với việc tăngmạnh lượng hàng hoá xuất nhập khẩu trong thời gian qua đã làm tăngmạnh lượng tầu biển cập bến So với trước đây khi nước ta còn đóng cửanền kinh tế thì đó là một sự đột biến mạnh mẽ Ngày nay ngày càngnhiều những con tàu ra vào bến và ngày càng xuất hiện những con tàu cótrọng tải lớn đến vài trục nghìn tấn Do đó đã mang về cho ngành hàngnghìn tỉ đồng hàng năm và cho nhà nước hàng trăm tỷ tiền thuế và dịchvụ.

Chính sách thương mại cũng góp phần quan trọng trong việc pháttriển ngành thuỷ sản Các chính sách thương mại đã mở ra cho sản phẩmthuỷ hải sản những thị trường tiềm năng và rộng lớn Góp phần làm chocác doanh nghiệp chế biến và các hộ nông dân yên tâm sản xuất, nângcao chất lượng sản phẩm của mình

Chính sách thương mại mở cửa giữa các quốc gia khiến công dâncác quốc gia qua lại dễ dàng hơn Việt Nam với lợi thế giá rẻ cũng làđiểm đến của các du khách quốc tế Vấn đề của ngành du lịch nói chung

và du lịch biển nói riêng là làm sao nâng cao chất lượng du lịch, tăngcường các hình thức giải trí để giữ chân du khách lâu hơn Hiện tại ởViệt Nam có quá ít các khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế và còn thiếunhững hình thức giải trí sa xỉ để tăng nguồn thu cho ngành du lịch

- Chính sách tín dụng ngân hàng

Trang 14

Chính sách tín dụng ngân hàng trong thời gian qua đã phần nàophát huy được vai trò của mình trong việc phát triển kinh tế biển, đặcbiệt là trong ngành khai thác và đánh bắt thuỷ sản.

Đối với đánh bắt thuỷ sản, những nguồn vốn có đươc từ chínhsách tín dụng và ngân hàng đã được những người lao động đầu tư vàocác hoạt động của mình một cách hiệu quả Cụ thể những ngư dân đã đầu

tư vào những phương tiện đánh bắt, giúp họ có chuyến đi biển dài ngày

để đánh bắt ở những ngư trường mới, giàu tiềm năng có triển vọng đánhbắt được năng suất cao hơn gần bờ Phần vốn có được còn được ngư dânđầu tư vào những thiết bị bảo quản thuỷ hải sản khiến ngư dân yên tâmđánh bắt xa bờ dài ngày và còn có thể nâng cao chất lượng cá thànhphẩm, nâng cao giá trị sản phẩm

Đối với nuôi trồng thuỷ sản, những nguồn vốn có được từ chínhsách tín dụng và ngân hàng đã khiến người lao động mạnh dạn đầu tưvào những loại hải sản có giá trị cao, quy mô sản xuất ngày càng lớnhơn Quy trình sản xuất được đầu tư bằng những công nghệ hiện đại,được đảm bảo từ khâu con giống đến nuôi trồng Sản phẩm thuỷ sản làm

ra đáp ứng được những yêu cầu ngặt nghèo của thị trường ngoài nướccộng với chi phí giá thành thấp đã giúp sản phẩm thuỷ sản có chỗ đứngvững chắc trong các thị trường khó tính Giá trị xuất khẩu ngành thuỷsản ngày càng được nâng cao

Trang 15

sống, tập trung vào sản xuất Nhờ có những chương trình hỗ trợ đó màcuộc sống của người dân vùng ven biển được nâng lên đáng kể Cácchính sách hỗ trợ đã cải thiện đáng kể tình hình sản xuất kinh tế biển,đặc biệt là ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản Tạo cho người laođộng cơ sở vững chắc yên tâm sản xuất, nâng cao năng suất và chấtlượng sản phẩm

PHẦN II : PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN NHẰM GÓP PHẦN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN – HUẾ

Trang 16

I KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI DÂN CƯ VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN – HUẾ

1 Khái quát về kinh tế – xã hội dân cư vùng ven biển Thừa Thiên – Huế.

GDP qua các n m t nh Th a Thiên – Huăm tỉnh Thừa Thiên – Huế ỉnh Thừa Thiên – Huế ừa Thiên – Huế ế

DVT N1995 N1996 N1997 N1998 N1999 N2000 N2001 1.GDP tổng số

( giá 1994

Triệu đồng

535363.7 543380.5 565107.2 579824.3 567909.5 599666.

6 634992.4

Công nghiệp và

xây dựng

Triệu đồng

272656 313291.6 353719.9 391670.5 428555 497005.

2 550573.1

1412848 2

2 GDP tổng số (

giá hiện hành)

Triệu đồng

3740160 3

nghiệp, thuỷ sản

Triệu đồng

1841398 3

Nguồn : Ban nghiên cứu phát triển các ngành sản xuất – Viện Chiến

lược phát triển

Với dân số bình quân năm 2001 là 1.024.734 người, GDP bìnhquân đầu người tỉnh Thừa Thiên – Huế là 3.649 triệu đồng/ người/ nămtính theo giá hiện hành So với thu nhập bình quân đầu người trong cả

nước năm 2001 là 370 USD/ người /năm thì có thể thấy mức sống của

dân cư tỉnh Thừa Thiên – Huế vẫn ở mức thấp tuy trong các năm qua cótăng, tốc độ tăng là khá cao song vẫn ở diện tỉnh nghèo so với cả nước

Trang 17

- Các huyện ven biển tỉnh Thừa Thiên – Huế bao gồm các huyện:Thành phố Huế, huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Thuỷ, PhúLộc, Phú Vang, Hương Trà Các hộ dân các huyện thị này đều hoạtđộng, lao động phụ thuộc vào biển, ngoại trừ thành phố Huế do có nhiều

di tích lịch sử nên còn phát triển du lịch lịch sử rất mạnh mẽ cùng vớicác dịch vụ khác kèm theo

- Đời sống nhân dân các huyện ven biển ( Ngoại trừ Thành phốHuế ) là rất thấp Mức thu nhập bình quân đầu người hàng năm vàokhoảng 2.5 triệu đồng/ người / năm Đời sống nhân dân phụ thuộc chủyếu vào các hoạt động khai thác nguồn lợi từ biển vì thế khi trình độ sảnxuất ở đây thấp thì đời sống nhân dân khó khăn là điều khó tránh khỏi.Theo thống kê cho thấy các phương tiện đánh bắt của ngư dân ven biểntrên 90% là nhỏ lẻ, chỉ để phục vụ đánh bắt ngần bờ Các phương tiện đểđánh bắt xa bờ ít, lí do đưa ra là chi phí quá cao nên những hộ nông dânnhỏ lẻ không thể có đủ nguồn tài chính để đóng tàu Khi mà đời sốngnhân dân còn nghèo, nhà nước phải tìm cách hỗ trợ người dân bằngnhiều cách trong đó phải tìm cách cho dân vay vốn thì mới phát triểnđược các phương tiện đánh bắt xa bờ, người dân có điều kiện gia tăngthu nhập của mình

- Trình độ văn hoá và chuyên môn của các huyện thị ven biển tỉnhThừa Thiên – Huế nói chung là khá thấp so với mặt bằng chung của cảnước

Về trình độ văn hoá, tỉ lệ trẻ em trên 13 tuổi đến trường là 72% Tỉ

lệ học sinh học hết lớp 12 là rất thấp Một trong những nguyên nhân chủyếu là do các em đã phải sớm tham gia lao động cùng gia đình để kiếm

Trang 18

sống Hơn nữa, tỉnh Thừa Thiên – Huế thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt.

Khi có thiên tai sảy ra việc các em phải nghỉ học là chuyện thường

xuyên Cơ sở giáo dục của các huyện thị này vừa thiếu lại vừa yếu

Khó khăn trong việc nâng cao trình độ văn hoá cho trẻ em vùng

Thừa Thiên – Huế là dân cư 81% vùng ven biển và sống không tập

trung Do đó rất khó để đưa các em đến trường khi mà chính cha mẹ các

em cũng không tỏ ra mấy quan tâm đến vấn đề này Hơn nữa vùng ven

biển Thừa Thiên – Huế còn có khó khăn khi mùa mưa lũ đến, các trường

lớp thường phải đóng cửa

Trình độ văn hoá và chuyên môn trong vùng nói chung là còn ăm tỉnh Thừa Thiên – Huế v n hoá v chuyên môn trong vùng nói chung l cònà chuyên môn trong vùng nói chung là còn à chuyên môn trong vùng nói chung là còn

th p, trình độ văn hoá và chuyên môn trong vùng nói chung là còn ựa chủ yếu trên cơ sở cha truyền con nối Điều này d a ch y u trên c s cha truy n con n i i u n yủ yếu trên cơ sở cha truyền con nối Điều này ế ơ sở cha truyền con nối Điều này ở cha truyền con nối Điều này ền con nối Điều này ối Điều này Điều này ền con nối Điều này à chuyên môn trong vùng nói chung là còn

c ng gây tr ng i khi ở cha truyền con nối Điều này ại khi đưa các phương tiện sản xuất, phương tiện đánh đưa các phương tiện sản xuất, phương tiện đánha các phưa các phương tiện sản xuất, phương tiện đánhơ sở cha truyền con nối Điều nàyng ti n s n xu t, phện sản xuất, phương tiện đánh ản xuất, phương tiện đánh ưa các phương tiện sản xuất, phương tiện đánhơ sở cha truyền con nối Điều nàyng ti n ánhện sản xuất, phương tiện đánh đ

b t hi n ắt hiện đại vào khai thác ện sản xuất, phương tiện đánh đại khi đưa các phương tiện sản xuất, phương tiện đánh à chuyên môn trong vùng nói chung là còni v o khai thác

+ Trồng trọt : Đất nông nghiệp trồng lúa và mầu chủ yếu phân bố

3 vùng đồng bằng và một ít vùng gò đồi ( tiếp giáp đồng bằng ) Tổng

diện tích gieo trồng năm 1995 là 72.333 ha bao gồm diện tích:

Cây lương thực 3.136 ha

Cây công nghiệp 4.048 ha

Trang 19

Cây thực phẩm 4.682 ha

Cây khác 467 ha

Sản lượng lương thực quy thóc năm 1995 đạt 211.204 tấn trong đómầu quy thóc 27.607 tấn

Bình quân lương thực năm là 209 kg/ đầu người

Năng suất bình quân đạt 37,8 tạ/ha

+ Chăn nuôi

Chăn nuôi chủ yếu gia súc, gia cầm

Năm 1995 tổng đàn trâu bò có 63.442 con, đàn lợn có 191.768con Đàn gia cầm gồm gà vịt có 1,288 triệu con Như vậy trong nôngnghiệp, giá trị sản lượng trồng trọt năm 1995 chiếm tới 69,5 %, chănnuôi 25%

Trang 20

(giá 94)

triệu đ

164393 173309 197700 203154 194154 203654

Dịch vụ (giá

94)

triệu đ 52677 51092 55134 59490 60111 61092 - Giá trị sản

Trang 21

chăn nuôi

Lợn con 186801 186744 237626 236317 220734 241090 Chăn nuôi

gia cầm

con 1392.2 1414.9 1442.2 1539.2 1602.9 1704.8Nguồn : Ban nghiên cứu phát triển các ngành sản xuất -Viện chiến lượcphát triển

Trang 22

+ Đánh bắt thủy sản 18,630 tỷ đồng chiếm 86,2%

+ Nuôi trồng thuỷ sản 2,352 tỷ đồng chiếm 10,8%

Năm 1995 sản phẩm đánh bắt thuỷ sản đạt 11.717 tấn trong đó

+ Sản phẩm biển 8.999 tấn chiếm 76,8%

+ Sản phẩm sông, đầm 2.718 tấn chiếm 23,2%

Tốc độ nông lâm ngư nghiệp năm 1995 tăng 121%

Trang 24

+ Công nghiệp chế biến đạt 180,878 tỷ đồng chiếm 97% ( tiêu biểunhà máy bia 12 triệu lít/năm và nhà máy đông lạnh 3 tấn/ngày ).

Công nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếmtới 72% Còn lại là công nghiệp ngoài nhà nước Tốc độ phát triển năm

1995 tăng 112%

Ngày đăng: 04/12/2014, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w