Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác chủ yếu trên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang + Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình canh tác trong nông nghiệp. + Đánh giá được thực trạng hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác chủ yếu ở vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang + Đề xuất được các giải pháp góp phần cao hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác chủ yếu trên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiêt của đề tài
Trong những năm qua do điều kiện tự nhiên, đất đai, tập quán sản xuất,
hệ thống giao thông đi lại, vận chuyển hàng hóa không thuận lợi, nguồn nướcphục vụ cho sản xuất không chủ động được nên tình hình sản xuất của ngườidân trong khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng hiệu quả chưacao, dẫn đến đời sống gặp rất nhiều khó khăn Từ đó một số hộ dân vào rừngkhai thác tài nguyên trái phép làm tổn hại đến Vườn quốc gia Do đó, việcnghiên cứu, lựa chọn và thực hiện mô hình sản xuất có hiệu quả, phù hợp vớikhu vực này là một việc hết sức cần thiết
Để đánh giá đầy đủ hiệu quả của các mô hình hiện tại, nhằm giúp chonông hộ có định hướng đúng về mô hình sản xuất để đem lại hiệu quả cao và
sử dụng tốt nguồn tài nguyên góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời sống
Từ đó góp phần làm giảm đi sự thâm nhập của người dân sống xung quanhvào rừng khai thác tài nguyên
Kiên Giang là một trong những tỉnh có sản lượng lúa tương đối cao củavùng ĐBSCL trên 3 triệu tấn mỗi năm, huyện U Minh Thượng là huyện mớithành lập, có vườn quốc gia U Minh Thượng, một trong những huyện đượctỉnh quan tâm đầu tư Người nông dân ở đây có truyền thống canh tác 1vụ lúakết hợp với nuôi cá đồng Trong thời gian gần đây xuất hiện một số mô hìnhsản xuất kết hợp như 1 vụ lúa - cá - màu, mô hình 1 vụ lúa - cá - lúa và môhình lúa - cá nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào hoàn chỉnh vềđánh giá hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất tại vùng đệm Vườn quốcgia U Minh Thượng
Vấn đề hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp nông thôn của huyện UMinh Thượng là tăng thu nhập trên cùng một diện tích đất Đặc biệt là hiện
Trang 2nay, sản xuất hàng hoá theo nhu cầu của thị trường thì vấn đề cạnh tranh làhết sức gay gắt, do đó việc giảm chi phí đầu vào của sản xuất, tăng thu nhập
là vấn đề quan trọng đối với người dân sản xuất nông nghiệp nơi đây
Vì vậy hiện nay, việc lựa chọn và xác định mô hình sản xuất phù hợp làhết sức cần thiết để đánh giá thực trạng và hiệu quả của các mô hình sản xuất
ở vùng đệm Nhằm đề nghị giải pháp và kiến nghị mô hình sản xuất có hiệu
quả, tác giả chọn đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế các mô hình canh tác chủ yếu của huyện U Minh Thượng tỉnh
Kiên Giang” cho luận văn thạc sĩ của mình
Đề tài rất cần thiết được thực hiện để cung cấp các thông tin cho cácnhà quản lý và người dân ở địa phương trong việc quyết định lựa chọn môhình canh tác phù hợp nhằm đảm bảo tăng năng suất và tăng lợi nhuận chonông hộ theo hướng sản xuất bền vững, phù hợp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình canh tác chủ yếu đangđược thực hiện tại vùng đệm vườn quốc gia U Minh Thượng
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1 Phạm vi về nội dung
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các mô hình chủ yếu gồm:
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - màu
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - lúa và
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá
- Đề tài chỉ tập trung vào khía cạnh hiệu quả kinh tế của các mô hình canhtác
3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài thực hiện nghiên cứu tại các xã vùng đệm của Vườn quốc gia trên địa
bàn huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
3.2.3 Phạm vi về thời gian
Từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả mô hình canh tác trong nông nghiệp
- Thực trạng hiệu quả kinh tế các mô hình canh tác chủ yếu tại vùng đệmvườn quốc gia U Minh Thượng
- Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác chủ yếutrên địa bàn vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
Trang 4Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác trong nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của SX nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học
-kỹ thuật, bởi vì mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năngsinh học - cây trồng, vật nuôi Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhấtđịnh con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển vàduyệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để
có những giải pháp tác động thích hợp của chúng Mặt khác quan trọng hơn làphải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với
sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuốicùng hơn
1.1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất kháckhông thể có là:
* Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt
Đặc điểm này cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sảnxuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai vàthời tiết - khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình
Trang 5khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa hình khác nhau, ở đó diễn ra cáchoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậuvới lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… trên từng địa bàn gắn rất chựtchẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậukhông giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vựcrất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nôngnghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật sau đây:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông - lâm - thủy sản trênphạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các câytrồng, vật nuôi cho phù hợp
- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹthuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từngvùng
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng,từng khu vực nhất định
* Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nộidung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong công nghiệp, giao thông,…đấtđai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệthống đường giao thông,… để con người điều khiển các máy móc, cácphương tiện vận tải hoạt động
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuấtchủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, conngười không thể tăng theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất làchưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất
Trang 6nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vìthế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm,hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biệnpháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn,sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trênđơn vị sản phẩm.
* Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhấtđịnh Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiệnthời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng Chúng rấtnhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khíhậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kếtquả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách sử dụngtrực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuấtcho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn,đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nộinhững giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao,chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
* Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì mộtmặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quátrình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽvào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ caotrong nông nghiệp
Trang 7Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được,trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên vềđiều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng - loại cây xanh có vaitrò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn nănglượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơbản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quantrọng đối với nông dân, tạo hóa đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếucho nông nghiệp, như: ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tựnhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất
ra những nông sản với chi phí thấp
Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối vớinông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời
vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, phân bón, làm cỏ, tưới tiêu,… việc thựchiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải
có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời,trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc công bố trícây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm cho nhândân
1.1.1.3 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp sản xuất giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ởhầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này cònnghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên, ngay cả những nước cónền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn,nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng
Trang 8lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cầnthiết đó là lương thực, thực phẩm
Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triểnnhư hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được Lương thực, thựcphẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của conngười và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nông nghiệp sản xuất còn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấpcác yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Điều đó được thểhiện chủ yếu ở các mặt sau đây:
- Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển làkhu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị.Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư sống bằng nôngnghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực nông nghiệp,nông thôn thực sự là nguồn dự trữ dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và
đô thị
Quá trình nông nghiệp hóa và đô thị hóa, một mặt tạo ra nhu cầu lớn vềlao động, mặt khác năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lựclượng lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đôthị Đó là xu hướng có tính qui luật của mọi quốc gia trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quícho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệpchế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khảnăng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường,…
Trang 9- Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự pháttriển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệphóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân
Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiếtkiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nôngnghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rấtquan trọng” Kuznets cho rằng gánh nặng của thuế mà nông nghiệp phải chịu
là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cung cấp cho công nghiệp” Việchuy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là cần thiết vàđúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ không phảibằng sự áp đặc của chính phủ
Những điển hình về sự thành công của sự phát triển ở nhiều nước đều
đã sử dụng tích lũy từ nông nghiệp để đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên vốntích lũy từ nông nghiệp chỉ một trong những nguồn cần thiết phát huy, phảicoi trọng các nguồn vốn khác nữa để khai thác hợp lý, đừng quá cường điệuvai trò tích lũy vốn từ nông nghiệp
- Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp,
ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệutiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trongnước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về nhucầu trong khu nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng
ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thunhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làmcho nhu cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển,từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
Trang 10- Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự pháttriển bền vững của môi trường Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất nhưphân bón, hóa học, thuốc trừ bệnh,…làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trongquá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi vàkhai hoang mở rộng diện tích rừng,…Vì thế, trong quá trình phát triển sảnxuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sựphát triển bền vững của môi trường.
Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự pháttriển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường – cungcấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho cáckhu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịchcác nguồn lực từ nông nghiệp sang khu vực khác
1.1.2 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
đó kiểu sử dụng đất có thể được xem là một trong những đối tượng hay đơn vịnghiên cứu và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.1.2.2 Hệ thống sử dụng đất
Theo FAO (1983) hệ thống sử dụng đất được hình thành khi một kiểu
sử dụng đất hoặc một loại hình sử dụng đất nào đó thể hiện trong một điềukiện cụ thể, như việc bố trí các cây con trên một diện tích nào đó
Trang 11Hệ thống sử dụng đất bao gồm các kiểu sử dụng đất hoặc các loại hình
sử dụng đất trong sự phối hợp, tương tác qua lại với nhau, hỗ trợ lẫn nhau trênmột mảnh đất nhất định Bởi thế về quy mô nó có thể lớn nhỏ tùy ý nhưngngười sử dụng đất có thể xây dựng nên các hệ thống sử dụng đất riêng biệttùy thuộc vào khả năng của mình Khả năng ở đây bao gồm nhiều lĩnh vực:Tài chính, kỹ thuật, nhân lực, môi trường tự nhiên, chính sách tác động…
Tuy nhiên cũng có những hệ thống sử dụng đất gần như đã có sẵn ởtrong thực tế do quá trình sản xuất tạo nên Chúng được hình thành do sự tíchlũy kinh nghiệm lâu đời của những người dân địa phương Những việc nghiêncứu chỉ việc phát hiện nắm bắt và mô tả chúng
1.1.2.3 Hệ thống canh tác
Là phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triểntrong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với điều kiện sinh thái, khí hậucủa không gian nhất định đáp ứng với điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy
Là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nôngtrại ở một môi trường nhất định, bằng những phương pháp sản xuất ra nhữngsản phẩm nông nghiệp sơ cấp
1.1.2.4 Hệ thống cây trồng
Hệ thống cây trồng là thành phần và tỷ lệ các loài, giống cây trồngđược bố trí theo không gian và thời gian ở một cơ sở hay một vùng sản xuất.Nghĩa là số lượng, mối quan hệ giữa các loài cây trồng trên một đơn vị diệntích về mặt vật lý và sinh học
Hệ thống cây trồng bao gồm các hình thức canh tác: Trồng xen, trồnggối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp
Trang 12Công thức luân canh là tổ hợp trong không gian và thời gian của cáccây trồng trên một mảnh đất và biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng.
Tóm lại, hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệtương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trongkhông gian và thời gian tức là mối quan hệ sinh thái vì vậy đối tượng nghiêncứu hệ thống cây trồng là:
- Các công thức luân canh và hình thức đa canh
- Cơ cấu cây trồng hoặc tỷ lệ diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhấtđịnh
- Kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống đó
1.1.2.5 Mô hình canh tác
Mô hình canh tác trong nông nghiệp có thể hiểu là một kiểu sử dụng đấthay một hệ thống sử dụng đất ở địa phương nhưng nó thể hiện tính phổ biến,tính đại diện lâu dài
Các quan điểm về Mô hình canh tác
Hiện nay có rất nhiều các quan điểm, quan niệm khác nhau về mô hìnhcanh tác trong SXNN Các quan điểm đang được thay đổi dần dần, từ chỗ chỉmang tính chất thuần tuý là đáp ứng được nhu cầu của con người có lâu bềnhay không? Có phù hợp với năng lực thực tế của đất đai và các nguồn lựckhác hay không?
Đặc điểm chính của Mô hình canh tác
+ MHCT mang tính đại diện cho một hoạt động sử dụng đất Trong sảnxuất nông, lâm nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp,chăn nuôi…, các MHCT phải đại diện cho từng lĩnh vực này như: nôngnghiệp có MHCT lúa nước, mô hình vườn cây ăn quả…
Trang 13+ MHCT mang tính phổ biến: Có nghĩa là MHCT đó có quy mô phảilớn và đặc trưng cho khu vực đó.
+ MHCT phải dễ nhận biết
Một MHCT có hiệu quả khi nó đáp ứng được các yêu cầu chủ yếu sau
+ MHCT phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,môi trường sinh thái của vùng
+ MHCT phải có khả năng nhân rộng, dễ áp dụng và được người dânchấp nhận
+ MHCT phải đảm bảo về mặt kinh tế, tức là mô hình đó phải đảm bảocuộc sống cho người dân, tăng thu nhập cho hộ nông dân
+ Phải có khả năng tổng hợp các biện pháp canh tác, có thể cùng mộtlúc sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật như kỹ thuật trồng cây công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp
+ MHCT phải có khả năng sử dụng tiềm năng của đất đai một cách bềnvững, mô hình đó phải duy trì và ổn định lâu dài về năng suất cây trồng vàchất lượng Bảo tồn phục hồi đất đai và phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xãhội, tập tục văn hoá, truyền thống canh tác của địa phương
MHCT chính là đối tượng được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tếtrong sử dụng đất nông nghiệp và mục tiêu đề tài đã đặt ra Tuy nhiên, do hạnchế về thời gian và khả năng của bản thân, tác giả chỉ chọn phạm vi nghiêncứu là một số mô hình canh tác điển hình và trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh
tế của chúng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất củacác mô hình canh tác
1.1.3 Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác trong nông nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế:
Trang 14Khái niệm về hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trựctiếp tới nền sản xuất hàng hoá dịch vụ và với tất cả phạm trù, quy luật kinh tếkhác Mặt khác Hiệu quả kinh tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh chấtlượng của các hoạt động kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lựctrong quá trình sản xuất kinh doanh
Ta có thể hiểu Hiệu quả sử dụng đất là mối quan hệ giữa các kết quảđạt được so với các chi phí nguồn lực bỏ ra trong quá trình sử dụng đất
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả sử dụng đất còn được hiểu là toàn
bộ các lợi ích (trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của cá nhân hộ vàcộng đồng) thu được từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên mộtđơn vị diện tích đất sử dụng
Hiệu quả sử dụng đất là mối quan tâm hàng đầu trong điều kiện diệntích đất đai sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp
Bản chất của hiệu quả kinh tế:
Bản chất đánh giá hiệu quả mô hình sử dụng đất: Là sự tính toán, phântích, xem xét mối quan hệ giữa phần thu được của mô hình (vật chất và phivật chất) từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên đất tính trênmột đơn vị diện tích đất sử dụng và các yếu tố tác động tới mối quan hệ trên
Hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp là xem xét phần thu được từcác hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tính trên một đơn vị diện tích đất canhtác, cũng như các tác động của hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tới các vấn
đề xã hội ở địa phương
Hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên diện tích đất canh tác cóthể là các hoạt động riêng lẻ như trồng trọt hoặc chăn nuôi, hoặc trồng trọt kết
Trang 15hợp với chăn nuôi theo các mô hình chuyên canh hoặc các mô hình kết hợp.Trong nông nghiệp, do đối tượng cây trồng, vật nuôi hết sức phong phú, kèmtheo điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau, nên các mô hình chuyên canhhoặc kết hợp cũng rất đa dạng Tùy từng mục tiêu cụ thể, khi đánh giá hiệuquả sử dụng đất chúng ta lựa chọn các mô hình điểm cho phù hợp.
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình canh tác trong SXNN
Nhóm các chỉ tiêu thể hiện kết quả và chi phí sản xuất
+ Giá trị sản xuất (GO)
Giá trị sản xuất (Gross Outputs) là toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch
vụ sản xuất được trong một đơn vị thời gian
GO = (Qi x Pi) Trong đó: Qi là sản lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
Pi là giá bán của một đơn vị sản phẩm i
+ Chi phí trung gian (IC)
Chi phí trung gian (Intermediate Costs) là toàn bộ các khoản chi phí về
vật chất cho các hoạt động kinh tế, bao gồm các khoản chi phí về nguyênnhiên vật liệu, giống, phân bón, dịch vụ mua ngoài…
IC = (Cj x Pj) Trong đó: Cj là lượng tiêu hao vật chất loại j
Pj là giá của một đơn vị vật chất loại j
+ Giá trị gia tăng (VA)
Giá trị gia tăng (Value Added) là giá trị được sáng tạo ra của chủ thểkinh tế trong một thời kỳ nhất định
Trang 16Giá trị gia tăng VA được xác định trên cơ sở lấy tổng doanh thu trừ đicác khoản chi phí trung gian.
VA = GO – IC
+ Thu nhập hỗn hợp (MI)
Thu nhập hỗn hợp (Mix Income) là phần thu nhập của người sản xuấtgồm cả công lao động của họ và lợi nhuận đạt được trong một thời kỳ nhấtđịnh
Thu nhập hỗn hợp MI có thể được xác định thông qua các chỉ tiêu sauđây:
MI = VA – ( A+T+Lt)Trong đó: A là giá trị khấu hao tài sản cố định
T là các khoản thuế phải nộp
Lt là chi phí thuê mướn lao động bên ngoài
+ Lợi nhuận P
Lợi nhuận (Profits) là phần còn lại của thu nhập sau khi đã trừ đi toàn
bộ các chi phí sản xuất kinh doanh và nộp thuế cho ngân sách
P = GO – Z – TTrong đó: GO là tổng giá trị sản xuất (doanh thu) đạt được
Z là tổng chi phí SXKD của sp (gồm cả VC và LĐ)
T là các khoản thuế phải nộp
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực
+ Nhóm chỉ tiêu tính cho một đơn vị chi phí trung gian
Trang 17Nhóm chỉ tiêu này cho biết bỏ một ngàn đồng vào chi phí sản xuất kinhdoanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp và lợinhuận cho người sản xuất.
- Giá trị gia tăng trên một đơn vị chi phí trung gian
+ Nhóm chỉ tiêu tính cho một công lao động
Nhóm chỉ tiêu này cho biết một công lao động sẽ làm ra bao nhiêu giátrị gia tăng, thu nhập hỗn hợp và lợi nhuận
- Giá trị gia tăng trên một công lao động (VA/Ld)
Trang 18Nhóm chỉ tiêu này cho biết mỗi một ha đất canh tác sẽ đem lại bao nhiêugiá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp và lợi nhuận cho người sản xuất.
- Giá trị sản xuất trên một ha đất canh tác (GO/ha):
E7 = GOS (đ/ha)
Trong đó: S là diện tích đất canh tác của chủ thể
- Giá trị gia tăng trên một ha đất canh tác (VA/ha)
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV - Net Present Value):
NPV là Lợi nhuận ròng tích lũy trong suốt chu kỳ đầu tư, phụ thuộcvào tỷ suất chiết khấu và độ dài chu kỳ dự án Khi sử dụng chỉ tiêu NPV để sosánh các dự án Khi đánh giá cần chú ý xem xét thêm mức vốn đầu tư ban đầu
NPV =
n
Ci Bi
1 ( 1 )
) (
Trang 19vì có trường hợp NPV của hai dự án đầu tư là như nhau nhưng vốn đầu tư banđầu khác nhau, dự án được lựa chọn là dự án có mức đầu tư ban đầu nhỏ.
Trong đó: - Bi Thu nhập năm thứ i
- Ci Chi phí năm thứ i
- r Tỷ lệ chiết khấu của vốn đầu tư
- n Số năm trong chu kỳ
- Tỷ suất lợi ích trên chi phí (B/C) của mô hình:
Tỷ suất lợi ích trên chi phí được tính bằng cách lấy tổng hiện giá lợi ích(doanh thu) chia cho tổng hiện giá chi phí (cả chi phí đầu tư và chi phí sảnxuất hàng năm) của mô hình Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra đầu
tư cho mô hình sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu
- Tỷ lệ hoàn vốn (IRR - Internal Teturn Rate):
Chỉ tiêu IRR là chỉ tiêu phản ánh mức sinh lợi của đồng vốn bỏ vàothực hiện mô hình Đây là chỉ tiêu được sử dụng hết sức phổ biến và là chỉtiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả đầu tư
1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác trong nông nghiệp
Trang 20Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, được trải rộng trongmôi trường tự nhiên, chịu tác động của khí hậu, thời tiết, đất đai Nông nghiệp làngành thường xuyên phải chống đỡ với rủi ro về thời tiết, sâu bệnh và biến độngcủa thị trường
Lịch sử hàng trăm năm đã chứng kiến sự thay đổi, phát triển sản xuấtnông nghiệp của các quốc gia trên thế giới Trong những năm qua các việnnghiên cứu đã đưa ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới, những công thứcluân canh mới, những mô hình mới
Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của Hà Lan:
Là một nước có 4,18 triệu ha đất tự nhiên trong đó đất canh tác chỉ
chiếm 0,91 ha và có trên 480.000 người dân sống bằng nghề nông nghiệp HàLan đã đưa nền nông nghiệp từ một nước nghèo tài nguyên, đối mặt với thiênnhiên khắc nghiệt của một nước thấp trũng hơn so với mặt nước biển thànhmột nước có tỷ suất hàng hoá cao, sức cạnh tranh mạnh, phát triển bền vững
Nông trại của Hà Lan trải qua quá trình phát triển từng bước từ kinh tế
tự cấp, tự túc, hiệu suất thấp tới kinh tế tiểu nông chuyển dần sang kinh tế sảnxuất nhỏ rồi sản xuất chuyên môn hoá lớn Đến nay đã hình thành kinh tế tổhợp “nông - công - thương” làm nền tảng cho nông nghiệp hàng hoá lớn
Đạt được kết quả đó là bởi Hà Lan có những chính sách vĩ mô đúngđắn, sáng tạo từ nhiều năm Trong đó phải kể đến việc tổ chức sản xuất nôngnghiệp đúng hướng và nổi bật là xây dựng hệ thống nông trại đủ sức làm nềntảng cho nền nông nghiệp hàng hoá phát triển [10]
Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở Đức:
Là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi lắm nhưng sauchiến tranh thế giới thứ hai do tăng cường cơ giới hoá, chuyên mô hoá, hợp lý
Trang 21hoá sản xuất, sử dụng ngày càng nhiều giống tốt, tiến hành tưới tiêu hợp lýnên năng suất đã tăng mạnh.
Nông nghiệp nước Đức chuyển từ các trang trại vừa và nhỏ thành cáctrang trại lớn nhờ vào sự liên kết với nhau Nông nghiệp Đức được chuyênmôn hoá cao trên các lĩnh vực canh tác dựa trên các đặc điểm tự nhiên củatừng vùng để phát huy lợi thế so sánh
Nhà nước Đức chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp có tính cạnhtranh cao và bền vững Đặc biệt Đức chú trọng bảo vệ môi trường trong lĩnhvực nông nghiệp và nông thôn Ngoài ra Nhà nước Đức sử dụng các chínhsách hỗ trợ gián tiếp như thông qua các chương trình bảo vệ môi trường nôngnghiệp, và đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo cho người nông dân Gần đâyChính phủ Đức đặc biệt quan tâm và đưa ra ba hướng nghiên cứu khoa họcnông nghiệp của mình là: Đẩy mạnh phát triển công tác nghiên cứu khoa học
kỹ thuật sinh vật; Tăng cường việc vận dụng tin tức điện tử, kỹ thuật trênmạng áp dụng trong nông nghiệp; Mở rộng hơn nữa những phương thức trồngtrọt vừa cho năng suất cao vừa bảo vệ được môi trường hiệu quả [12]
Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở Mỹ:
Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 18,01% đất đai, trong khi đó diệntích trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm 0,21% đất đai Nhưng nhờ cơ giới hoátriệt để nên sản lượng nông nghiệp của Mỹ là rất lớn so với số lao động khôngnhiều như: Năm 2006 sản lượng nông nghiệp Mỹ đạt 1,600 tỷ USD, kimngạch xuất khẩu nông sản lên tới 68 tỷ USD Chính sách quan trọng nhất củanước Mỹ đối với sản xuất nông nghiệp là nhà nước bảo lãnh giá cả cây trồngcho nhà nông Bên cạnh đó nhiều trang trại của Mỹ đã chuyển đổi từ quy mônhỏ sang tập đoàn nông nghiệp được trang bị ở mức hiện đại Đồng thời pháttriển các loại giống cây trồng chuyển gen GMC, các loại phân bón, thuốc bảo
Trang 22vệ thực vật được cải tiến … đã đưa nước Mỹ có những bước phát triển về sảnxuất nông nghiệp [10].
Kinh nghiệm của Thái Lan:
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nôngthôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàngthập kỷ qua có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chấtlượng cuộc sống cho người dân
Để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một
số chiến lược như: Tăng cường vai trò của các cá nhân và các tổ chức hoạtđộng trong lĩnh vực nông nghiệp; Đẩy mạnh phong trào học tập, nâng caotrình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạtđộng chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường côngtác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân Về cácsản phẩm của nông nghiệp nhà nước hỗ trợ tăng sức cạnh tranh bằng việc tổchức các hội chợ, đẩy mạnh công tác tiếp thị,
Chính phủ Thái Lan đã tập trung cơ cấu lại ngành nghề phục vụ côngnghiệp nông thôn đồng thời xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹnăng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị, songsong với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã khuyến khích phát triển một số ngành mũi nhọn như sảnxuất hàng nông sản, thúc đẩy công nghiệp chế biến cho nông sản… cơ cấu lạimặt hàng nông sản trong đó lúa, dứa, tôm sú, gà và cà phê là những mặt hàngchủ yếu Bên cạnh đó những chương trình làm gia tăng giá trị cho nông sảnđược khuyến khích như chương trình “One Tambon, One product - OTOP”
Trang 23(mỗi làng, một sảm phẩm) và chương trình quỹ làng (village pund program)[9].
Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Là một trong những nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Nhật Bản cómột nền nông nghiệp hiện đại với tỷ lệ cơ giới hoá trong nông nghiệp tươngđối cao Các phương pháp canh tác truyền thống đều được thay thế bằng cácloại máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc khác nhờ vậy mà Nhật Bản đãtăng từ 9,5 triệu tấn năm 1950 lên 13 triệu tấn năm 1975
Bên cạnh việc cơ giới hoá trong nông nghiệp thì Nhật Bản còn chútrọng phát triển nông nghiệp du lịch, thực hiện đề án chương trình phát triển
“Mỗi làng, mỗi nghề” trên cơ sở mỗi làng nghề chọn ra một sản phẩm chủ lựccủa mình, một sản phẩm có khả năng cạnh tranh nhất và có trên thị trườngrộng nhất để được hỗ trợ về chính sách, vốn nhằm giúp người tham gia đượchưởng lợi ích gia tăng nhiều nhất Đến nay chương trình đang được thực hiệnvới mục tiêu đưa mức tăng trưởng bình quân của ngành nghề nông thôn ổnđịnh và đạt 15%/năm; tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 20 - 22%, tạo trên300.000 việc làm đến năm 2015 [7]
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay các nhà khoa học, nhà quản lýđang tập trung mọi nỗ lực để nghiên cứu, cải tiến hệ thống giống cây trồngvật nuôi có năng suất cao vào sản xuất để tăng giá trị trên 1 đơn vị canh tác.Đồng thời có các giải pháp thích hợp để hỗ trợ nền nông nghiệp của đất nướcphát triển toàn diện trong giai đoạn mới
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu các kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có thểrút ra một số kinh nghiệm để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Việt Nam pháttriển như sau:
Trang 24Một là: Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại đồng thời
phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Đẩy mạnh tiến độ quyhoạch sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất chếbiến và thị trường Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoahọc công nghệ hiện đại, sử dụng có hiệu quả đất đai Thái Lan chủ trương cơcấu lại ngành nông nghiệp lựa chọn cây trồng chủ lực nên hiệu quả sản xuấtnông nghiệp trên một diện tích không ngừng tăng; Nhật Bản và Hoa Kỳ ápdụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp như cây giống năng suất cao,máy móc hiện đại đã thay thế được sức sản xuất của con người đồng thời làmtăng giá trị ngày công lao động của nông dân
Hai là: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông nghiệp,
nông thôn Lao động phải được đào tạo và phải có chuyên môn, phải biết ápdụng khoa học công nghệ vào sản xuất
Ba là: xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển
các đô thị Tiếp tục đầu tư các công trình thuỷ lợi theo hướng đa mục tiêu,phát triển giao thông nông thôn bền vững gắn với mạng lưới giao thông quốcgia Ưu tiên phát triển giao thông ở các vùng khó khăn Xây dựng hệ thốngchợ nông sản phù hợp với từng vùng nhằm thúc đẩy giao lưu kinh tế và pháttriển sản xuất
Bốn là: thực hiện liên minh Công - Nông - Trí thức, phát triển nhanh
việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lựcđáp ứng hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn Liên minhgiữa tổ hợp của Hà Lan đã làm nền tảng cho nông nghiệp hàng hoá lớn vàtăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông sản trên thị trường
Năm là: đổi mới cơ chế chính sách để phát huy thật tốt các nguồn lực
để phát triển kinh tế nông thôn Rà soát bổ sung, điều chỉnh và thực hiện tốt
Trang 25chính sách đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư nhằm tạo điều kiện cho doanhnghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Đa dạng hoá các nguồn vốn để phát triển mạnh hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế,
xã hội nông thôn, ưu tiên nâng cấp và xây dựng hệ thống thuỷ lợi đồng bộ,tiếp tục đầu tư, phát triển giao thông nông thôn,.…
Sáu là: Bằng chủ trương xây dựng “mỗi làng, một sản phẩm”, “Mỗi
làng, mỗi nghề” của Thái Lan và Nhật Bản đã đưa nông nghiệp của các quốcgia và vùng lãnh thổ đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được số lượng lớnviệc làm cho lao động dư thừa trong nông thôn Đó là một trong những biệnpháp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụngđất nông nghiệp Các mô hình này đã được một số tỉnh của Việt Nam thựchiện như Hà Nam, Hải Dương, Hà Tây (cũ),.…
Bảy là: Chủ trương xây dựng các trang trại quy mô lớn, tập trung sản
xuất theo hướng thân thiện bảo vệ môi trường ở Đức đã tăng hiệu suất sửdụng máy móc thiết bị đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của các vùngmiền
1.2.2 Tại Việt Nam
Nguyễn Ngọc Đệ (1994) khảo sát hệ thống canh tác vùng nước trời venbiển ở các tỉnh Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, BạcLiêu và Cà Mau trong năm 1993 với 298 nông hộ cho thấy trong đầu nhữngnăm 90 của thế kỷ 20 các hệ thống canh tác vùng nước trời tiêu biểu là: 1)Lúa Mùa một vụ, 2) Lúa Hè Thu - mùa, 3) lúa Mùa - màu (Khoai, đậu, raucải), và Lúa Mùa - tôm, cá, trong đó lúa một vụ còn chiếm đến 60% tổng số
hộ khảo sát, lúa Hè Thu - Mùa chiếm đến 30%, và 3,8% số nông hộ có thêmnguồn thu nhập từ thủy sản Một số nông hộ kết hợp trồng lúa với các loại câycông nghiệp như: Mía, khóm, dừa, điều, thốt nốt, hoặc cây ăn trái như nhãn,
Trang 26xoài, chôm chôm, Ngoài ra, lá dừa nước cũng là nguồn thu đáng kể Đặcbiệt nhiều nông hộ (70%) có chăn nuôi gia súc (trâu, bò, heo) và gia cầm (gà,vịt) [1].
Nguyễn Quang Tuyến và các cộng tác viên năm 1990 trong Báo cáo kếtquả điều tra mô hình canh tác lúa - tôm ở ấp Cái Côn và Mang Cá, xã ĐạiThành, Huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế ở 4 môhình: Lúa Hè Thu (HT) - lúa Đông Xuân (ĐX) (1), lúa HT - lúa mùa (2), tôm+ lúa HT - tôm + lúa ĐX (3), tôm + lúa HT - tôm + lúa mùa (4)
Các kết quả nghiên cứu này cho thấy: lợi nhuận và tỷ suất thu của nôngdân trong mô hình canh tác (4) khoảng 4,9 tấn lúa/ha/năm cao hơn các môhình (1), (2) và (3) Lợi nhuận cao nhất của nông dân trong mô hình canh tác(4) là 10 tấn lúa/ha/năm trong khi ở mô hình (1) là: 5,7 tấn lúa/ha/năm, môhình (2): 2,7 tấn lúa/ha/năm và mô hình (3) là: 8,5 tấn lúa/ha/năm Nhìnchung, nông dân có thể chấp nhận tỷ suất thu của cả 4 mô hình canh tác trên.Tuy nhiên, tỷ suất thu và lợi nhuận thu được của các hộ nuôi tôm trên ruộnglúa có hiệu quả kinh tế cao hơn những hộ chỉ độc canh cây lúa, trong đó môhình nuôi tôm trên ruộng lúa Hè Thu và lúa mùa có hiệu quả kinh tế cao nhất[16 ]
Theo Nguyễn Xuân Lai (1994) ở vùng cát ven biển, hành tím là câychủ lực cho thu nhập ổn định trong mùa khô Củ sắn (đậu) và khoai lang luâncanh với hành trong mùa mưa nhưng cho năng suất và thu nhập thấp, do đólúa ngắn ngày được đưa vào thay thế củ sắn và khoai lang có hiệu quả caohơn, giải quyết nhu cầu lương thực đồng thời cho một lượng rơm đáng kể(tương đương 500 kg lúa) cho việc trồng hành góp phần tiết kiệm chi phí [6]
Nguyễn Thanh Toàn, Lê Xuân Sinh, Mai Viết Văn (2002) trong nghiêncứu của mình đã đưa ra một số kết luận về mô hình lúa - cá ở ĐBSCL Qua
Trang 27đánh giá khả năng ứng dụng mô hình lúa - cá tại địa bàn nghiên cứu có nhiềuđiểm phù hợp cả về sinh thái, kỹ thuật và kinh tế - xã hội Những nhân tốquan trọng mang ý nghĩa quyết định nâng cao tính khả thi của mô hình làhoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, công tác chuyển giao kỹ thuật canh tác, cungứng tín dụng, công tác phát triển cộng đồng cũng như khâu tiếp thị sản phẩmcần được quan tâm [15].
Trương Hoàng Minh, Ayakupitiyage, D.J.Macintosh (2002) trong đề tàiđánh giá sự phát triển các mô hình lâm - ngư kết hợp trong vùng đệm, tỉnh CàMau đã nghiên cứu 4 mô hình chính: rừng - tôm quản canh, rừng - tôm quảncanh cải tiến, rừng - tôm quản canh cải tiến kết hợp với thả cua và rừng - tômquản canh cải tiến kết hợp cua và sò huyết Qua kết quả nghiên cứu cho thấymặc dù kỹ thuật nuôi còn đơn giản nhưng lãi ròng và tỷ lệ lợi nhuận so vớichi phí của mô hình rừng - tôm quản canh cải tiến kết hợp với thả cua cao hơn
so với mô hình rừng - tôm quản canh cải tiến [7]
Võ Tòng Xuân, Nguyễn Văn Sánh (1998) trong đề tài “Điều tra vàđánh giá hệ thống canh tác trên vùng đệm U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang”
đã nghiên cứu vùng U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang trên 5 tiểu vùng sinhthái, 195 mẫu điều tra nông hộ được thực hiện với số liệu thu thập gồm:nguồn lực, phân bổ sử dụng đất và thu nhập từ hoạt động sản xuất của nông
hộ, hệ thống hỗ trợ phát triển sản xuất, các trở ngại và đề xuất của nông hộ
Số liệu được xếp nhóm và phân tích theo tiểu vùng sinh thái, mô hình canhtác và theo nguồn lực nông hộ để so sánh mô hình canh tác, các chỉ số lợinhuận, lời trên vốn đầu tư và tỷ suất thu chi biên tế được sử dụng để phân tích
và đánh giá [17]
Vườn quốc gia U Minh Thượng (2008) đã công bố “Báo cáo kinh tế-xãhội vùng đệm vườn quốc gia U Minh Thượng” Qua kết quả điều tra 48 hộ
Trang 28thuộc 3 loại hộ nghèo, trung bình và giàu, diện tích đất canh tác trung bìnhcủa hộ nghèo là 2,4ha, hộ trung bình là 9,3ha và hộ giàu là 1,2 ha, thời gianthiếu đói của hộ nghèo là từ tháng 7 đến tháng 9, số hộ nghèo thường lén vàorừng đặt bẩy thú, hộ trung bình và hộ giàu thì không Số hộ nghèo và trungbình thường lén vào rừng để khai thác cá, lươn, mục đích đến ăn và bán, hộgiàu thì không Lý do họ vào khai thác tài nguyên rừng là để giải quyết tạmthời lúc thiếu đói Hộ nghèo coi rừng Vườn Quốc gia như một nguồn tàinguyên tiềm năng mà họ mong muốn tìm kiếm những sản phẩm từ rừng khicần thiết Hộ trung bình và hộ khá không phụ thuộc quá nhiều vào việc khaithác tài nguyên rừng đặc dụng Những hoạt động của con người đe dọa đếnVườn quốc gia bao gồm các hoạt động sau: (1) Giăng lưới khai thác thủy sản(2) Đặt chúm bắt lươn (3) Săn bắt động vật rừng [23].
Hà Văn Sơn (2002) trong nghiên cứu về Hiệu quả kinh tế của 3 môhình canh tác (3 lúa; 2 lúa - 1 màu; 3 lúa - cá) ở vùng sinh thái huyện VũngLiêm tỉnh Vĩnh Long đã đề xuất kế hoạch chuyển đổi cơ cấu mùa vụ trên từngđịa bàn sinh thái được chuẩn xác hơn, đảm bảo năng suất và tăng lợi tức chonông hộ [18]
Nguyễn Văn Tâm (2006), nghiên cứu đề tài “Điều tra so sánh hiệu quảkinh tế hệ thống canh tác lúa - cá tại Nông trường Sông hậu tỉnh Cần Thơ” đềtài nghiên cứu mô hình canh tác lúa kết hợp nuôi cá có hiệu quả kinh tế quathu nhập thuần, chi phí giá thành thấp hơn và chi phí đồng vốn có hiệu quảhơn so với độc canh hai vụ lúa [11]
Quan Minh Nhật (2006) nghiên cứu đề tài “phân tích lợi nhuận và hiệuquả theo quy mô sản xuất của mô hình độc canh ba vụ lúa và luân canh hailúa một màu tại Chợ Mới - An Giang năm 2005” qua phân tích bằng phươngpháp chi phí lợi nhuận cho kết quả nhóm hộ sản xuất theo mô hình luân canh
Trang 29hai vụ lúa một đậu nành cao hơn nhóm hộ sản xuất theo mô hình độc canh ba
vụ lúa Tổng chi phí của hai mô hình gần như bằng nhau nhưng lợi nhuậnròng của hộ sản xuất theo mô hình luân canh lúa màu cao hơn hộ sản xuấttheo mô hình độc canh ba vụ lúa Năng suất lao động của hộ sản xuất luâncanh lúa màu cũng cao hơn hộ sản xuất theo mô hình độc canh ba vụ lúa Hệ
số sinh lời của hộ sản xuất luân canh lúa màu cũng cao hơn hộ sản xuất theo
mô hình độc canh ba vụ lúa [8]
Đặng Kiều Nhân, Lê Thành Đương, Nico Vromant (2002) trong nghiêncứu đề tài “Thâm canh lúa và kết hợp nuôi cá trong ruộng lúa ở vùng nướcngọt của Đồng Bằng Sông Cữu Long: sử dụng tài nguyên nông hộ và hiệuquả kinh tế” đã cho thấy nông dân áp dụng mô hình lúa cá là hộ có đất đainhiều hơn, có nhiều lao động, ruộng gần nhà và gần nguồn nước so với hộnông dân độc canh lúa Nuôi cá trong ruộng lúa làm giảm lượng và chi phí sửdụng thuốc sâu và thuốc cỏ và công làm cỏ Trong mô hình 2 lúa - cá, nôngdân có khuynh hướng nuôi các ở mức đầu tư cao hơn so với mô hình canh tác
3 vụ lúa - cá Do năng suất cá nuôi và cá đồng có chiều hướng cao hơn nêntổng năng suất cá trong ruộng lúa 2 vụ cao đáng kể so với nuôi trong ruộnglúa 3 vụ Hiệu quả kinh tế của mô hình lúa cá kết hợp cao hơn so với độc canhlúa đơn thuần và không có ý nghĩa về hiệu quả kinh tế giữa canh tác 2 vụ lúa
và 3 vụ lúa/năm Lợi nhuận và hiệu quả đầu tư của việc nuôi cá trong ruộnglúa và thâm canh lúa bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi giá lúa thị trường Hệ thốngcanh tác lúa - cá tổng hợp là một hệ thống canh tác có triển vọng về kinh tế -
xã hội và môi trường ở vùng nước ngọt của ĐBSCL [9]
Thái Kim Phương (2007) nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả việcchuyển đổi một số mô hình canh tác chính trên nền lúa của vùng ven biểnTỉnh Trà Vinh ” cho thấy, ở các hộ có nuôi tôm chi phí bỏ ra hơn 10 lần sovới trồng lúa nhưng thu nhập ròng/năm nhận được cũng khá cao Tuy nhiên,
Trang 30nông dân trồng lúa đầu tư 1 đồng vốn nhận được 1,30 đồng lời, cao nhất trong
3 mô hình mặc dù khoảng lợi nhuận mang lại cho nông hộ là thấp nhất Việcchọn lựa mô hình canh tác lúa chuyên hay lúa - tôm, tùy theo điều kiện sinhthái của từng vùng mà các cơ quan chức năng cần qui hoạch nhằm làm tăngtính bền vững của mô hình, góp phần phát huy thế mạnh tiềm năng của vùng.[10]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy rằng xu thế canh tác hiện nay của nôngdân các tỉnh có xu hướng là chuyển từ độc canh lúa sang các hệ thống canhtác như: lúa - tôm, lúa - cá, lúa màu, lúa cá màu Những nghiên cứu trên chothấy rằng hệ thống canh tác xen canh như vậy là có hiệu quả cao hơn so vớiviệc độc canh do lợi nhuận thu được từ hệ thống canh tác xen canh cao hơn
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là một trong những nội dungtrọng tâm trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.Trong những năm qua, nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu mà cụ thể là việc đacanh trên nền đất lúa hoặc chuyển một phần diện tích sản xuất chưa hiệu quảsang sản xuất các loại khác là một hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng thunhập cho nông dân xóa đói giảm nghèo, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất.Đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sảnphẩm và tăng hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường
Trong những năm qua, diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa kémhiệu quả được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản (NTTS) diễn ra mạnh mẽ ởcác tỉnh ĐBSCL Từ năm (2001 - 2004) các tỉnh ĐBSCL đã chuyển được gần320.000 ha đất nông nghiệp sang NTTS Điều này kéo theo diện tích nuôi tôm,sản lượng tôm liên tục tăng Năm 2001 diện tích nuôi tôm các tỉnh đồng bằng là398.965 ha thì năm 2004 đã tăng lên 521.335 ha (tăng 10%/năm) và sản lượng
từ 127.899 tấn tăng lên 235.189 tấn Nếu như năm 2001, từ con tôm, các tỉnh
Trang 31trong vùng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 705 triệu USD thì năm 2004 đãlên đến 1.028 USD, chiếm trên 50% cơ cấu giá trị xuất khẩu của toàn vùng
Kết quả ĐBSCL với đặc điểm thổ nhưỡng, đất bị nhiễm mặn chiếm tỷ
lệ lớn do địa hình có lòng chảo, cao dần hướng ra biển (cao gần 1,8 mét), còn
đa số địa hình thấp (chỉ khoảng 0,25 - 0,4 mét) Hai bờ Đông và Tây (biểnĐông và vịnh Thái Lan) cao và thoải dần về phía trung tâm, vì vậy ảnh hưởngđến thủy triều, có thể xâm nhập rất sâu vào nội địa Những đặc điểm này rấtkhó khăn trong việc chuyên trồng lúa, do ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn.Song, đây là điều kiện thuận lợi cho việc canh tác các mô hình kết hợp Nghịquyết 09/2000/NQ - CP của Chính phủ xác định: Với loại đất lúa kém hiệuquả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả kinh tế caohơn ; đất trũng và đất ven biển chuyển sang nghề NTTS
Trang 32Chương II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện U Minh Thượng
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên
Huyện U Minh Thượng được thành lập theo Nghị định 58/2007/NĐ-CPngày 10/05/2007 của Chính Phủ, là huyện nằm trong vùng U Minh Thượngthuộc tỉnh Kiên Giang cách Trung tâm Thành phố Rạch Giá về hướng Đông -Nam 65km, cách Thành phố Cà Mau theo quốc lộ 63 về hướng Nam khoảng70km Toàn huyện có 06 xã, với tổng diện tích tự nhiên là 43.270,30ha, dân số
là 68.076 người, dân số sống bằng nghề nông nghiệp U Minh Thượng là huyệncăn cứ cách mạng có bề dày lịch sử trong hai cuộc kháng chiến Có quốc lộ 63
đi qua trung tâm huyện, có thế mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản
và phát triển du lịch - dịch vụ - thương mại
Năm 1975, Chính phủ Việt Nam đã chia vùng đất rừng này thành nhiềuđơn vị và giao cho từng Lâm Trường Quốc Doanh điều hành quản lý Do đó, UMinh Thượng được đặt dưới sự điều hành của Lâm Trường Quốc Doanh 103
và đến năm 1976 được đổi thành Lâm Trường Quốc Doanh U Minh Thượng.Khu rừng này vẫn tiếp tục được quản lý theo hệ thống này cho đến 1989 mớiđược quy hoạch thành vùng bảo vệ nghiêm ngặt theo bộ Luật về rừng Cuốicùng, khu vực này được thừa nhận qui chế Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên kể từnăm 1992
Ban Quản Lý Khu Di Tích Lịch Sử và Bảo Tồn Thiên Nhiên U MinhThượng được thành lập năm 1994 để giám sát công việc hành chính trong khuvực và để điều hành quỹ tài trợ của Chính phủ thông qua Dự Án 327
Trang 33Khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng, được thành lập năm 1992, baogồm khu bảo tồn (KBT) hay còn gọi là khu bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệmxung quanh (VĐ) KBT có diện tích là 8,000ha rừng ngập nước trên đất thanbùn và VĐ có diện tích là 12,000ha Để ngăn chặn sự xâm nhập trái phép vàoKBT, vùng đệm được thiết lập bao quanh KBT Theo 1 chương trình tái định
cư của nhà nước, có khoảng 12.000 người được giao đất để phát triển nông lâmnghiệp trong VĐ
Rừng U Minh Thượng đã được công nhận là vườn Quốc gia vào tháng 7năm 2000 Rừng nằm trong địa giới của các huyện An Biên, An Minh, VĩnhThuận của tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng bán đảo Cà Mau Vườn Quốc gia UMinh Thượng có diện tích 21,107ha, trong đó vùng lỏi được bảo tồn nghiêmngặt là 8,000ha, còn lại là vùng đệm có khá nhiều hộ dân sinh sống, làm ruộng,trồng rẫy, nhận khoán trồng và giữ rừng cho Nhà nước Đây là loại rừng với hệsinh thái rừng nhiệt đới ngập nước, còn lại rất hiếm trên thế giới U MinhThượng và U Minh Hạ được xem như là khu sinh quyển, là lá phổi xanh củaĐồng Bằng Sông Cửu Long và của cả khu vực Đông Nam Á
Nhận thức được sự đe dọa của việc di dân ngoài kế hoạch vào khu vực,năm 1992, Sở NN&PTNT đã trình lên Bộ NN&PTNT kế hoạch giao 13,291hađất bao quanh KBT cho các hộ gia đình không có đất từ các huyện An Minh,Vĩnh Thuận và An Biên thuộc tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau lân cận
Vườn quốc gia U Minh Thượng lịch sử có tiềm năng khai thác, pháttriển du lịch sinh thái rừng và là nơi có điều kiện phát triển nuôi các loài động -thực vật, phát triển vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch vườn Địa hình củahuyện bằng phẳng và có nhiều kênh rạch chằng chịt
Trang 342.1.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia U Minh Thượng thuộc địa phận huyện U MinhThượng, tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá khoảng 50km về phíanam
Huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Kiên Giang; Bắc giáp huyện GòQuao, ranh giới là sông Cái Lớn; Nam giáp huyện Thới Bình của tỉnh CàMau; Tây giáp huyện An Biên và huyện An Minh; Đông giáp huyện VĩnhThuận Về hành chính, huyện bao gồm 6 xã là: Thạch Yên, Thạch Yên A, AnMinh Bắc, Minh Thuận, Vĩnh Hoà và Hoà Chánh
2.1.1.2 Địa hình, khí hậu, thủy văn
* Địa hình: Tác động của yếu tố địa hình tới hiệu quả sử dụng đất được
xem xét thông qua tác động của độ cao so với mực nước biển, độ dốc, độ chicắt đối với việc bố trí cây trồng cũng như khả năng mở rộng diện tích đấtcanh tác Mỗi cao độ, độ dốc khác nhau đòi hỏi phải bố trí, quy hoạch các loạicây trồng khác nhau nhằm khai thác các lợi thế so sánh về địa hình để nângcao hiệu quả sử dụng
* Khí hậu: Huyện U Minh Thượng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.Mùa mưa từ tháng 5 - 11 và mùa nắng từ tháng 12 - 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình dao động khoảng 27,4 ± 0,30C nhiệt độ trung bìnhcao nhất và thấp nhất hàng năm xuất hiện vào các tháng 4 (28-29 0C) và tháng
Trang 352.1.1.3 Cơ cấu đất đai
Cơ cấu đất đai của huyện u Minh thượng được nêu trên bảng 2.1
Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai huyện U Minh Thượng
1.1 Đất NN trồng cây hàng năm 4.500,58 12,561.2 Đất NN trồng cây lâu năm 4.477,50 12,50
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 864,42 11,612.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.175,85 15,80
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện U Minh Thượng)
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
Theo số liệu thống kê cuối năm 2011, toàn huyện U Minh Thượng có68.076 nhân khẩu, 49.362 lao động và 11.578 hộ gia đình Phân bố dân cưtheo các đơn vị hành chính của huyện được nêu trên bảng 2.2
Trang 36Bảng 2.2 Đặc điểm dân số, lao động huyện U Minh thượng
TT Xã, Thị trấn (người) Dân số Lao động (người) Số Hộ GĐ (hộ)
Hiện nay huyện đã có trạm y tế, 100% xã có trạm y tế được xây dựngkiên cố U Minh Thượng có 100% các xã, thị trấn được trang bị máy tính, nốimạng Internet, có điểm bưu điện - văn hóa
2.1.2.3 Đặc điểm phát triển các ngành kinh tế
Trong những năm qua kinh tế của huyện U Minh Thượng phát triểntoàn diện về mọi mặt, tình hình an ninh chính trị tương đối ổn định là cơ sởcho các ngành sản xuất trên địa bàn huyện có hướng phát triển mạnh mẽ
Tổng sản phẩm năm 2010 đạt 22.962 tỷ đồng, trong đó: lĩnh vực nônglâm thủy sản 10.028 tỷ đồng, công nghiệp xây dựng 6.036 tỷ đồng và các
Trang 37ngành dịch vụ 4.542 tỷ đồng; Cơ cấu kinh tế: nông lâm thủy sản đạt 43,67%,công nghiệp và xây dựng đạt 26,26% và các ngành dịch vụ đạt 30,06%
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: tỷ trọng nông nghiệp chiếm 62,1%, lâmnghiệp chiếm 1,01% và thủy sản chiếm 36,89% Tốc độ tăng trưởng kinh tếcòn phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Câytrồng chính trong sản xuất nông nghiệp là cây lúa
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
2.2.1.1 Phương pháp thu nhập dữ liệu thứ cấp
Thu thập những thông tin từ báo cáo hàng năm của 2 xã, Phòng Nôngnghiệp & PTNT, Sở nông nghiệp - PTNT tỉnh, niên giám thống kê của Cụcthống kê tỉnh và huyện, các văn bản liên quan đến vùng đệm, thông tin từinternet để tổng hợp các dữ liệu:
- Tổng quan điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của ĐBSCL
và tỉnh Kiên Giang
- Tổng quan các mô hình sản sản xuất hiện nay
- Các báo cáo tổng kết, các kết quả nghiên cứu về mô hình sản xuất đãđược nghiên cứu và thực hiện
- Các chính sách đã được ban hành về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vậtnuôi, các loại nông sản
- Cơ sở hạ tầng nông thôn, tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua cácnăm tại vùng nghiên cứu
2.2.1.2 Phương pháp thu nhập dữ liệu sơ cấp
Điều tra, khảo sát các nông hộ trong vùng đệm
Trang 38Lập phiếu điều tra, thu thập số liệu sơ cấp bằng cách tiến hành phỏngvấn trực tiếp các thông tin về chi phí sản xuất, những thuận lợi và khó khăn
trong sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp bằng điều tra nông
hộ
Các nông hộ điều tra là những hộ đang canh tác một trong 3 mô hìnhchủ yếu thuộc hai xã An Minh Bắc và Minh Thuận, trong đó:
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - màu: 36 hộ
+ Mô hình 1 vụ lúa - cá - lúa: 34 hộ
+ Mô hình 1 lúa - cá: 30 hộ
Các ấp được khảo sát được mô tả vắn tắt trên bảng 2.3
Bảng 2.3: Tổng quát địa bàn điều tra khảo sát
1 Xã An Minh Bắc Công Sự, Trung Đoàn, An Thạnh, Kinh 5, An Hoà và Minh Trung.
2 Xã Minh Thuận Minh Dũng A, Minh Kiên A, Minh Dũng, Minh Kiên.
Nội dung khảo sát chính trong bảng câu hỏi bao gồm:
- Đặc điểm nông hộ (tên, tuổi, giới tính, học vấn )
- Điều kiện sản xuất của nông hộ (diện tích, lao động, vốn, )
- Các yếu tố đầu vào được sử dụng trong MHCT (diện tích, vốn đầu
tư, lao động, vật tư, chi phí sản xuất kinh doanh )
- Kết quả SXKD của MHCT (năng suất, sản lượng, doanh thu )
- Các thông tin về điều kiện sử dụng dịch vụ cho SXKD của nông hộ
Trang 39 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA:
Là phương pháp tìm hiểu về địa phương được thực hiện bởi một nhómliên ngành trong thời gian ngắn và dựa trên các thông tin thu thập trước, quansát trực tiếp và phỏng vấn khi cần thiết trong trường hợp có những câu hỏikhông thể xác định trước đó
Để thu thập thông tin cho đánh giá hiệu quả các mô hình sử dụng đất vàphân tích các nhân tố ảnh hưởng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp các bước công việc cần được thực hiện theo trình tựsau:
Sơ đồ 2.1 Các bước công việc thực hiện thu thập dữ liệu điều tra
Thu thập dữ liệu liên quan đến mô hình:
Việc thu thập dữ liệu về các mô hình trong nông nghiệp thường rất khókhăn Có thể xuất phát từ các hướng sau: Thu thập từ các báo cáo về điển hìnhkinh tế của địa phương, thu thập số liệu của các mô hình tương tự đã diễn ra
và được công bố rộng rãi; Đến tham quan trực tiếp mô hình, phỏng vấn trựctiếp chủ hộ của mô hình, tiến hành điều tra mẫu, phỏng vấn nhóm
Chọn
mô hình
điểm
Thu thập thông tin,
dữ liệu
Tổng hợp thông tin bảng số liệu để phânXây dựng hệ thống
tích, đánh giá
Trang 40Sơ đồ 2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu cho đánh giá mô hình
2.2.1.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả:
Sử dụng chương trình excell và SPSS 13.0 để quản lý, phân tích những sốliệu điều tra, phỏng vấn
+ Phương pháp phân tích hồi qui tương quan:
Đánh giá nhanh
Đánh giá theo nhóm về
sự thay đổi (trình
độ canh tác của chủ mô hình)
Điều tra
hộ triển khai mô hình
- Quan sát theo chủ đề
- Lập bảng liệt kê các chỉ tiêu quan sát
- Do cán bộ nghiên cứu và các cán bộ có chuyên môn thực hiện.
- Chọn ngẫu nhiên hộ trong vùng có mô hình
- Hỏi về các tác động của mô hình tới hộ (trình độ canh tác của hộ, khả năng nhân rộng của mô hình)
- Nội dung điều tra:
+ Cách thức triển khai mô hình;
+ Kết quả thu được;
+ Cá tác động của mô hình đến thu thập, trình độ canh tác của hộ.
- Các bước triển khai: