Trong quá trình công tác, được tiếp thu chương trình tiểu học 2000 về đổimới phương pháp dạy tập đọc và những kiến thức lý luận về phương pháp dạy Tập đọc học được ở trường Sư phạm, bản
Trang 1PHỤ LỤC
Chương I- Cơ sở lý luận của việc dạy Tập đọc 5
Chương II- Thực trạng dạy Tập đọc lớp 4 ở trường Tiểu học 12
Chương III- Đề xuất biện pháp góp phần nâng cao chất lượng 17
Trang 2PHẦN I - MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, đất nước ta đang trên con đường đổi mới Trongcuộc cách mạng đổi mới ấy giáo dục được ưu tiên hàng đầu và được coi là quốcsách với mục tiêu là: “ Nâng cao dân trí đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài,phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng với yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng vănminh”( Luật giáo dục - Nhà xuất bản chính trị quốc gia- Hà Nội 12/1998)
Nòng cốt của đổi mới về giáo dục là đổi mới về nội dung, phương phápgiáo dục Tiểu học cho phù hợp với hướng tự giác tích cực của học sinh
Trong đó, bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học là bộ môn rất quan trọng Đặc biệt phânmôn Tập đọc lại không thể thiếu Bởi nó giúp học sinh hình thành các kỹ năng
sử dụng Tiếng Việt đó là nghe, nói, đọc , viết và là các kiến thức rất cơ bản trongkho tàng kiến thức và những kinh nghiệm sống, văn hoá và khoa học vv
Vì thế, nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minhcủa loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc vớiđúng nghĩa của nó trong xã hội hiện đại
Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây người
ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội.Biết đọc con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản giúp
họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác Đặc biệt khi đọc các tácphẩm văn chương, con người có những rung động tình cảm, nảy nở những ước
mơ tốt đẹp, khơi dậy những năng lực, hành động, sức mạnh sáng tạo cũng nhưbồi dưỡng tâm hồn
Nếu không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáodục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện
Trang 3Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó
sẽ giúp con ngươì sử dụng các nguồn thông tin
Đối với học sinh Tiểu học, phân môn Tập đọc như chìa khoá đầu tiên đểgiúp các em bước vào kho tàng tri thức khoa học vô tận của nhân loại
Đặc biệt học sinh Tiểu học, lứa tuổi thích mày mò sáng tạo, tìm hiểu cáimới lạ Biết đọc sẽ giúp các em từ tìm hiểu tri thức khoa học xã hội loài người,những điều mà nhà trường không có điều kiện truyền đạt hết Ngoài ra, đọc sẽgiúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập
Nó tạo hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng
tự học và tinh thần học tập cả đời
Đọc một cách có ý thức sẽ có tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũngnhư biết tư duy có hình ảnh
Vì vậy ở bậc Tiểu học, phân môn Tập đọc góp phần thực hiện mục tiêuchung của bậc học về tất cả các mặt : Đức dục, Trí dục, Mĩ dục và khả năng laođộng
Do đó dạy tập đọc có tầm quan trọng rất lớn, là phân môn không thể thiếuđược trong nhà trường Tiểu học “Đọc” trở thành một đòi hỏi đầu tiên đối vớimỗi người đi học Vì vậy việc dạy Tập đọc cũng luôn luôn được các nhà nghiêncứu quan tâm tìm phương hướng giảng dạy sao cho đạt hiệu quả cao nhất Haynói cách khác cần phải xây dựng các công việc rất cụ thể và phù hợp trong mộtgiờ Tập đọc mà ta gọi là “ Quy trình” sao cho phù hợp, theo hướng dạy học pháthuy tính tích cực hoá hoạt động của học sinh
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, ở một số nơi chưa chú trọng lắm đến sựphối hợp chặt chẽ giữa các bước và các phần trong một bài Tập đọc
Trong quá trình công tác, được tiếp thu chương trình tiểu học 2000 về đổimới phương pháp dạy tập đọc và những kiến thức lý luận về phương pháp dạy
Tập đọc học được ở trường Sư phạm, bản thân tôi đưa ra ý kiến xây dựng “ Qui trình dạy phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động dạy học” góp phần cải tiến phương pháp dạy Tập đọc ở lớp 4 có hiệu quả
cao hơn
Trang 42 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua nghiên cứu lý luận dạy học phân môn Tập đọc lớp 4, đưa rađược qui trình dạy bài Tập đọc theo hướng tích cực hoá hoạt động dạy học ởtrường Tiểu học - đơn vị mình phụ trách
3 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
3.2 Tìm hiểu thực trạng dạy Tập đọc ở trường.
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy Tập đọc lớp 4.
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Qui trình dạy kiểu bài Tập đọc lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động dạy học
- Phương pháp điều tra qua dự giờ
- Phương pháp phân tích tìm hiểu thực tế
- Phương pháp thống kê, thu nhập xử lý thông tin, dùng lý luận để soi vàothực tiễn
7 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu trong phạm vi năm học 2002 - 2003
Trang 5PHẦN II- NỘI DUNG CHƯƠNG I - LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY TẬP ĐỌC
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Như chúng ta đã biết, dạy Tiếng Việt trong nhà trường tạo cho học sinhnăng lực sử dụng Tiếng Việt, văn hoá và hiện đại để suy nghĩ, giao tiếp và họctập
Thông qua việc học Tiếng Việt , nhà trường rèn luyện cho các em nănglực, tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục cho các em những lí tưởng, tìnhcảm, lành mạnh trong sáng
Môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác đều phải góp phần thực hiệnmục tiêu đào tạo, nhưng môn Tiếng Việt được coi là phương tiện để nắm cáckiến thức, công cụ để giao tiếp và tư duy, để giáo dục tình cảm và đạo đức chocác em học sinh
Vì vậy ở trường Tiểu học, phân môn Tập đọc chiếm vị trí chủ đạo là môn
kỹ năng mang tính thực hành, coi việc rèn luyện kỹ năng đọc và cảm thụ bài văncho học sinh là nhiệm vụ trung tâm của bài dạy Do đó dựa vào nguyên tắc dạyhọc của phân môn Tập đọc mà coi trọng cả hai hình thức luyện đọc Đọc thầm
và đọc thành tiếng, và việc dạy học đã đặt ra theo yêu cầu cần đạt đối với từngkhối lớp, luôn coi trọng khâu học tập, giáo viên là người trực tiếp hướng dẫn, chỉđạo còn học sinh là người phải được suy nghĩ, được nói lên suy nghĩ, ý nghĩ,được luyện đọc giúp cho các em tìm cách đọc thích hợp Từ đó các em biết cảmthụ được bài văn
Dạy Tập đọc trước hết là dạy đọc - dạy cho học sinh biết đọc, rèn kỹ năngđọc, trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, đời sống, giáo dục thẩm
mỹ, tình cảm, phát triển tư duy cho học sinh Giúp học sinh hiểu và cảm thụđược bài đọc là thực hiện khai thác ba chức năng: Nhận thức- Giáo dục- Thẩmmĩ
Trang 6II- CƠ SỞ THỰC TIỄN
Hiện nay việc dạy Tập đọc chưa thật thống nhất giữa lý thuyết với thựchành, giữa phương pháp được học ở nhà trường và thực tiễn, nhiều ý kiến cònđang tranh cãi và bàn luận
Vì vậy gần đây nhìn chung giáo viên Tiểu học khi tổ chức dạy một giờTập đọc họ đã thể hiện sao cho việc phân tích nội dung của bài Tập đọc đồngthời hoàn thiện kỹ năng đọc và hướng đến ý thức bài đọc
Việc đọc không tách rời chiếm lĩnh nội dung văn bản đó mới thực sự làngười đọc đã đọc thành thạo Muốn vậy người giáo viên dạy đọc cần phải xâydựng được các công việc cụ thể trong một giờ dạy Tập đọc
Công việc này được thực hiện ở một địa bàn miền núi lại là một công việcrất nan giải Do đó để thực hiện tốt việc dạy phân môn tập đọc người giáo viêncần nắm vững việc đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hướng vàongười học là rất quan trọng
Phân môn Tập đọc ở lớp 4 là lớp kề cận lớp cuối cấp học Vì vậy cần phảihình thành kỹ năng theo một qui trình khoa học Có như thế mới có thể tránhđược tình trạng đọc vẹt, đọc mà không hiểu, không cảm nhận được văn bản
Môn Tập đọc lớp 4 có 66 tiết / năm ( 1 tuần có 2 tiết) Chủ đạo là các bàivăn, bài thơ có thể nói là đạt chuẩn về câu, từ và dụng ý văn bản.Sau mỗi bài họclại có hệ thống câu hỏi nhằm đưa học sinh đi sâu vào nội dung của văn bản đọc
Bên cạnh sách Tiếng Việt 4 ( SGK ) còn có bộ sách “ Hướng dẫn giảngdạy Tiếng Việt 4” dành cho giáo viên, đã hướng dẫn khá cụ thể và chi tiết theonội dung sách giáo khoa
Tuy nhiên để giảng dạy tốt một giờ Tập đọc lớp 4, giáo viên không thể ápdụng một cách y nguyên như “Sách hướng dẫn giảng dạy” mà phải tuỳ thuộc vàorất nhiều yếu tố khác Điều kiện về dân trí, sách giáo khoa, đồ dùng dạy họcv.v
Trang 7Qui trình các bước thực hiện để dạy một bài Tập đọc ở cấp Tiểu học nóichung và lớp 4 nói riêng cũng được Bộ giáo dục xây dựng khá cụ thể
A Qui trình dạy Tập đọc trước năm 2000.
1 Kiểm tra bài cũ
1 Kiểm tra bài cũ: ( 3- 5 phút)
- Mục đích Kiểm tra cả việc đọc thành tiếng và hiểu nội dung bài đã học
- Hình thức thể hiện : Yêu cầu học sinh đọc một đoạn hay cả bài, trả lờicâu hỏi nêu nội dung một đoạn hay cả bài
2 Bài mới
a) Giới thiệu bài : ( 2 - 3 phút)
- Mục đích: Kích thích học sinh ham thích đọc bài tập đọc
- Hình thức thực hiện : Dùng tranh ảnh hoặc đặt câu hỏi nêu vấn đề gâyhứng thú tạo nhu cầu đọc bài ở học sinh
Trang 8+ 1 học sinh đọc chú giải.
c ) Hướng dẫn tìm hiểu bài
- Mục đích : Hiểu nghĩa một số từ ngữ, từ đó nắm được nội dung của bàiđọc
d) Luyện đọc : Luyện đọc diễn cảm
- Mục đích : Để học sinh luyện đọc được như mẫu và nắm chắc nội dungbài
* Giáo viên đọc mẫu lần 2:
+ Luyện đọc : Gọi nhiều em đọc giáo viên kết hợp uốn nắn, điều chỉnhcách phát âm, ngữ điệu đọc, ngắt nghỉ, kết hợp trả lời câu hỏi để nắm chắc nộidung bài dạy
e) Củng cố - dặn dò ( 2- 3 phút)
Trang 9- Mục đích: Khắc sâu nội dung bài đọc , nâng cao mở rộng kiến thức, rút
ra bài học cho bản thân
B Quy trình dạy Tập đọc sau năm 2000.
1 Kiểm tra bài cũ : ( 3 - 5 phút )
- Gọi học sinh đọc bài tập đọc đã học tiết trước
2 Bài mới :
a) Giới thiệu bài
b) Luyện đọc đúng
c) Hướng dẫn tìm hiểu bài
d) Luyện đọc diễn cảm và học thuộc lòng ( nếu SGK yêu cầu)
e) Củng cố - dặn dò
* Cụ thể :
1 Kiểm tra bài cũ : ( 3 - 5 phút )
- Gọi học sinh đọc bài đã học tiết trước
- Giáo viên nhận xét hoặc hỏi thêm nội dung của đoạn hoặc bài
2 Bài mới :
a- Giới thiệu bài ( 2 - 3 phút )
- Giáo viên giới thiệu đôi nét về bài đọc và tác giả hoặc nêu vấn đề đểgiới thiệu bài nhằm gây hứng thú, cuốn hút các em vào bài đọc
b- Luyện đọc đúng: ( 7 - 8 phút ):
Trang 10- Giáo viên đọc mẫu lần 1.
- Gọi 1-2 học sinh khá đọc toàn bài
- Cả lớp đọc thầm bài
- Học sinh phát hiện ra từ khó, vần khó, dấu thanh dễ nhầm lẫn Trình bàycách phát âm ( nếu học sinh nào đó trong lớp đã biết ) hoặc giáo viên hướng dẫnphát âm (nếu học sinh chưa biết)
- Luyện đọc từ ngữ, câu, kết hợp giải nghĩa từ ngữ
- Luyện đọc đoạn, bài: Hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, đọcđúng nhịp (đối với thơ) trong lúc gọi học sinh đọc giáo viên uốn nắn
c- Hướng dẫn tìm hiểu bài: ( 12 - 15 phút ):
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc thầm bài
- Dựa theo câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên đặt câu hỏi đểhọc sinh tìm hiểu bài (có thể dẫn dắt gợi mở, điều chỉnh cho sát với đối tượnghọc sinh cụ thể)
- Sau khi học sinh trả lời để nêu bật được từ khó, giáoviên giải nghĩa vàghi bảng
- Gợi ý để học sinh nêu ra ý của từng đoạn và nội dung bài, giáo viên ghibảng
d- Luyện đọc diễn cảm và học thuộc lòng ( nếu SGK yêu cầu)
-Nội dung và thứ tự thực hiện ( 10 -12 phút )
- Giáo viên đọc mẫu lần 2:
- Lưu ý học sinh về giọng điệu chung của đoạn hoặc bài những câu cầnchú ý
+ Từng học sinh đọc : Giáo viên uốn cách đọc cho học sinh
e- Củng cố - dặn dò:
- Giáo viên ( hoặc học sinh đọc tốt ) đọc toàn bài lần cuối
Trang 11- Học sinh nhắc lại nội dung bài Liên hệ giáo dục học sinh, mở rộng vốnhiểu biết.
- Dặn dò: Về nhà luyện đọc, chuẩn bị bài giờ sau sẽ học
C Nhận xét - đánh giá về hai qui trình đã trình bày.
Đối với hai qui trình cơ bản trước và sau năm 2000, mỗi qui trình đều cónhững ưu - nhược điểm nhất định
* Với qui trình dạy tập đọc trước năm 2000 đã được sử dụng trong khoảngthời gian khá dài và được bổ sung điều chỉnh từ năm 1994 Với qui trình này nộidung bài mới được chia thành 2 phần tương đối rành mạch : Tìm hiểu bài - luyệnđọc
- Học sinh được thông, hiểu bài đọc rồi mới chuyển sang phần luyện đọc,
từ đó các em sẽ nắm được bài và luyện đọc đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm
- Tuy nhiên cách dạy trên có những hạn chế:
+ Trước hết ở phần giảng từ: Giáo viên giảng theo phương pháp: Tìm từ rút từ - giảng từ Vì vậy, nhiều khi có bài sa vào giảng văn như ở trong chươngtrình trung học cơ sở sẽ chiếm rất nhiều thời gian và phần luyện đọc sẽ bị rútngắn
-+ Phần hướng dẫn luyện đọc phát âm còn mang tính áp đặt giáo viên nêu
ra từ khó chứ không phải học sinh
+ Phần nội dung chính của bài với hai phần rành mạch riêng biệt như vậykhó bổ trợ cho nhau
* Với qui trình dạy Tập đọc sau năm 2000, chương trình Tiếng việt thửnghiệm được biên soạn theo hướng tích hợp, đảm bảo phát triển toàn diện các kỹnăng trong cùng một bài học Qui trình này với ba bước cơ bản là: Luyện đọcđúng- tìm hiểu bài- luyện đọc diễn cảm đã khắc phục được nhược điểm của quitrình trước năm 2000 Như vậy phần rèn kỹ năng đọc cho học sinh được chú ý và
Trang 12khắc sâu Học sinh đọc đúng để làm cơ sở cho hiểu nội dung bài, từ cảm thụ nộidung tạo tâm thế và tình cảm để học sinh điều chỉnh giọng đọc của mình diễncảm theo nội dung bài đọc.
Hơn nữa qui trình này đã phát huy tính tích cực của học sinh, tự tìm từkhó, tự phân tích cách phát âm và rèn luyện thành thạo Trong luyện đọc quitrình cũng mang tính hệ thống và khoa học Từ việc rèn đọc từ -> câu -> đoạn ->văn bản Như vậy so với qui trình dạy Tập đọc trước năm 2000 thì qui trình dạyTập đọc sau năm 2000 phù hợp hơn đối với sự phát triển của giáo dục trong giaiđoạn hiện nay
CHƯƠNG II- THỰC TRẠNG DẠY TẬP ĐỌC LỚP 4 Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC THIÊN PHỦ - QUAN HÓA
I- THỰC TRẠNG
Việc giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 4 ở trường Tiểu học nói chung và ởtrường Tiểu học Thiên Phủ nói riêng, thông qua việc dự giờ và trao đổi với một
số giáo viên giảng dạy khối 4 Họ cho biết để giảng dạy một giờ Tập đọc thật tốt
họ đã phải nắm chắc nội dung bài Tập đọc trong SGK và những gợi ý của sáchhướng dẫn giảng dạy Tuy nhiên họ đã sử dụng đổi mới các phương pháp trongmột giờ dạy Xong khi bắt tay vào dạy thì đôi khi không lường trước được cáctình huống xảy ra như có câu hỏi đặt ra để hỏi hoặc các từ ngữ để giảng các emchưa trả lời nhanh, làm tiết dạy chưa đạt được như mong muốn Người thực hiện
đề tài cũng dự giờ tiết Tập đọc ở lớp 4A với bài “Người thợ lặn” của (Đỗ ThịLiên) trình tự như sau:
1 Kiểm tra bài cũ:
- Giáo viên gọi - 2 HS đọc học thuộc lòng bài “ Nghệ
nhân Bát tràng”
Trang 13-H: Nêu đại ý bài
2 Bài mới:
a) Giới thiệu bài GV ghi đầu bài lên
bảng
- GV đọc mẫu lần 1
- GV hướng dẫn học sinh chia đoạn
+ Đoạn 1: “Từ đầu tối như bưng ấy”
+ Đoạn 2: Phần còn lại :
b) Tìm hiểu bài
-GV yêu cầu HS đọc bài
H: Người thợ lặn chuyên làm nghề gì?
Giảng từ : “ Thợ lặn”: người chuyên
làm nghề lặn sâu dưới nước để làm một
việc gì đó
H: Hiệu thính viên là người chuyên
làm nghề gì?
H : Anh Thịnh xuống sông để làm gì?
- Yêu cầu HS đọc đoạn 1
H: Khi mới lặn xuống sông anh Thịnh
- Người làm nghề nghe và phát tín hiệu
vô tuyến điện ý trong bài là người chỉdẫn hoạt động của người thợ lặn quamáy vô tuyến điện
- Khảo sát tình hình cây cầu cũ bị đánhsập
+ HS đọc đoạn “ Từ đầu tối nhưbưng ấy”
Trang 14H : Tối như bưng có ý nghĩa như thế
H : Tinh thần làm việc của anh Thịnh ở
đây như thế nào ?
- GV gợi ý để học HS rút ra ý chính 2
- GV ghi bảng ý2
H : Bài này có mấy ý chính ?
H : Để khôi phục lại chiếc cầu bị hỏng
- ( )
- HS nêu
- ý 2 : Những khó khăn khi xuống đáysông và tinh thần làm việc thận trọng,chu đáo của người thợ lặn
- HS nêu
- Nội dung: Người thợ lặn đã vượt quakhó khăn vất vả để khôi phục lại chiếccầu bị hỏng
- Vài em nhắc lại