Thực chất củachiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia trong quanhệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm : Phát huy lợi thế so sánh cả vềkinh tế, tự nhiên, xã
Trang 1Đề tài : Lý thuyết và thực tế áp dụng của chiến lược hướng về xuất khẩu
A.Đặt vấn đề
Chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu đã được đề cập từ đại hội toànquốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam Trong những năm qua Đảng,nhà nước và nhân dân ta đã cố gắng về mọi mặt như hội nhập quốc tế, mởrộng thị trường , cải thiện chính sách, áp dụng nhiều công nghệ hiện đại vàosản xuất để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và tăng sức cạnh tranh của hànghoá Việt Nam trong nước và trên thế giới
Song hiểu thế nào cho đúng và đầy đủ nội dung , ý nghĩa của chiến lượcnày?Trong đề tài này, chúng em xin đưa ra những vấn đề thuộc về lý thuyếtnhư khái niệm, cơ sở lý luận,nội dung , ưu nhược điểm của chiến lược.Trên
cơ sở lý thuyết đó , cùng với kinh nghiệm của một số nước đi trước, chiếnlược đã được áp dụng thực tế ở nước ta như thế nào? những khó khăn vàthuận lợi cho việc áp dụng?những thành tựu và tồn tại ?đồng thời cần cónhững giải pháp gì để chiến lược hướng về xuất khẩu được áp dụng một cách
có hiệu quả hơn?
Đề tài chắc chắn sẽ không tránh được những thiếu sót Rất mong được
sự đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn
Trang 2Cơ sở lý luận của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu bắt nguồn từnguyên lý của Keynes về tổng cầu chứ không phải tổng cung là yếu tố quyếtđịnh mức sản xuất Lý luận của Keynes về tổng cầu hiệu quả đã mở ra cáchlập luận mới về nền kinh tế mở, lấy nhu cầu thị trường thế giới làm mục tiêucho nền sản xuất trong nước Tình hình đó đòi hỏi người ta phải có phươngthức phù hợp, có cách đi hợp lý, cải tạo và thay đổi chính các nền kinh tế sởtại sao cho thích ứng với những đòi hỏi của thị trường thế giới Thực chất củachiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia trong quan
hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm : Phát huy lợi thế so sánh (cả vềkinh tế, tự nhiên, xã hội) ; buộc sản xuất trong nước phải luôn luôn đổi mớicông nghệ, không thể tồn tại với năng suất thấp kém ; mau chóng nâng caokhả năng tiếp thị ; tự do hoá thương mại Đích cuối cùng là đáp ứng nhanhnhạy nhu cầu của thị trường và giá rẻ, kể cả thị trường trong nước và quốc tế.Hướng về xuất khẩu không có nghĩa là xem nhẹ nhu cầu trong nước, khôngchú ý thay thế nhập khẩu Quan điểm hướng về xuất khẩu được hiểu theonghĩa : không chỉ sản phẩm xuất khẩu mà tất cả sản phẩm sản xuất trong nướcphải có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, từ đó mà cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng có hiệu quả nhất
Nếu như đặc trưng của chiến lược thay thế nhập khẩu trong thương mạiquốc tế là bảo hộ cao, kiểm soát nhập khẩu chặt chẽ, khuyến khích xuất khẩu
và tỷ giá hối đoái quá cao thì ngược lại trong chiến lược hướng về xuất khẩu
Trang 3là mức bảo hộ thấp, rất Ýt hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu, khuyến khíchxuất khẩu và tỷ giá hối đoái thực tế ủng hộ xuất khẩu.
Như vậy ưu thế của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là gắn sảnxuất và nền kinh tế trong nước với các hoạt động của nền kinh tế thế giới, nốikết các nền kinh tế quốc gia với nhau và tạo ra một không gian kinh tế rộnglớn hơn nhờ kiên kết và buôn bán quốc tế
1.2-Cơ sở lý luận của việc lựa chọn chiến lược hướng về xuất khẩu
Trong các sách báo kinh tế quốc tế đã có sự tranh luận liệu “Thươngmại dẫn đến tăng trưởng” hay “Thương mại do tăng trưởng sinh ra” Về lýthuyết mà nói, các lợi Ých mà thương mại có được đều thúc đẩy tăng trưởng.Theo mét lý thuyết về lợi thế tương đối, việc buôn bán tự do giữa các nước sẽdẫn đến tăng mức tiêu thụ, làm cho nã cao hơn so với chế độ khép kín, tự sảnxuất và trao đổi lẫn nhau; đồng thời các hệ thống sản xuất sẽ ngày càng trởnên có hiệu quả hơn vì chúng được hợp lý hoá để đạt được mức chi phí tươngđối thích hợp ; ngoài ra chóng ta còn thu được các lợi Ých phô do sản xuất ởquy mô lớn và do việc chuyển giao kỹ thuật Khi một nền kinh tế mở ra chothương mại quốc tế thị trường của nó cũng tăng lên về quy mô làm cho nó cónhiều thời cơ đẩy mạnh chuyên môn hoá và tăng hiệu quả sản xuất hơn trước.Nói một cách cụ thể, điều này có nghĩa là nếu một nước xuất khẩu hàng hoá
ta thị trường nước ngoài, thì thị trường nước ngoài càng lớn bao nhiêu nó sẽcàng thúc đẩy mức độ chuyên môn hoá nội địa và hiệu quả sản xuất trongnước bấy nhiêu Ngược lại, thông qua nhập khẩu, một nước có thể được lợi vềchuyển giao kỹ thuật Do đó, có thể xem thương mại quốc tế là một động cơthúc đẩy phát triển
Tiêu điểm của chiến lược thương mại hướng về xuất khẩu là thị trườngquốc tế, hoặc chính xác hơn là một số bộ phận được lựa chọn của thị trường
đó Chiến lược này dựa vào việc khai thác lợi thế so sánh, hoặc sẽ tạo ra sớmlợi thế đó, có thể là tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc lao động sẽ hoặcđặc biệt là lành nghề Xuất khẩu tăng lên sẽ có được tài chính cần thiết để
Trang 4nhập hàng cơ bản, giúp tích luỹ tư bản trong nước và phát triển, tăng trưởng ởcác khu vực trong nước của nển kinh tế.
Ngay từ thế kỷ XVII-XVIII, các nhà kinh tế học như Adam Smith, DvidRicado đã cho rằng : các quốc gia có lợi thế so sánh lớn hay kém hơn so vớicác quốc gia khác trong sản xuất sản phẩm vẫn có lợi khi tham gia vào phâncông lao động và thương mại quốc tế, bởi vì nó cho phép mở rộng khả năngtiêu dùng của quốc gia đó khi chuyên môn hoá sản xuất một sản phẩm nhấtđịnh có lợi thế hơn, xuất khẩu sản phẩm đó và nhập khẩu những sản phẩm màsản xuất trong nước có lợi thế kém hơn hoặc không sản xuất được
Quá trình phát triển kinh tế thế giới trải qua bao thăng trầm đã chứngminh tính đúng đắn của học thuyết trên Khoa học càng phát triển , sản phẩmhàng hoá càng nhiều, các nhu cầu trao đổi, hàng hoá tiêu dùng, nguyên nhiênliệu, công nghệ tiên tiến càng phát triển với quy mô và tốc độ ngày càng lớn.Cùng với các vấn đề như ô nhiễm môi trường, chất thải không thể được giảiquyết bởi từng quốc gia riêng rẽ mà yêu cầu các quốc gia phải cùng nhau giảiquyết Những vấn đề trên vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện yêu cầu cácquốc gia phải “mở cửa” hội nhập với nhau trong sự phát triển chung của khuvực và trên thế giới Ngày nay xu hướng toàn cầu hoá, khu vực đã và đang trởthành hiện thực, phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đa số các quốc gia có chiếnlược phát triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu
1.3-Những nội dung cần thống nhất của chiến lược
Thứ nhất : Hướng mạnh về xuất khẩu là nhiệm vụ chiến lược của toàn bộnền kinh tế, của toàn xã hội Vì thế, vấn đề xây dựng chiến lược, quy hoạch
và tổ chức thực hiện của tất cả các ngành, các lĩnh vực, các cấp quản lý cũngnhư các doanh nghiệp, các doanh gia của các thành phần kinh tế đều hướngvào mục tiêu tăng trưởng thông qua hoạt động xuất khẩu hoặc để xuất khẩu.Việc thu hút và phân bổ nguồn lực, kế hoạch và tổ chức thực hiện cũng nhưkiểm tra, kiểm soát đều phải tập trung cho thực hiện chiến lược trên, khôngthể và không phải chỉ là nhiệm vụ của ngành thương mại hay của một số
Trang 5ngành sản xuất mà là nhiệm vụ của tất cả các ngành kinh tế, xã hội, văn hoá,luật pháp.
Thứ hai : Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, chiến lượchướng mạnh về xuất khẩu quyết không chứa đựng trong đó những mầm mốnghoặc tư duy “để, cho, vì xuất khẩu” với bất kỳ giá nào mà chỉ chứa đựngtrong đó nội dung là chủ yếu Với quan niệm như thế, cần thống nhất một sốvấn đề có tính nguyên tắc như :
-Không được gây tổn thương đến các vấn đề độc lập dân tộc, định hướng
xã hội chủ nghĩa, truyền thống văn hoá và bản sắc dân tộc
-Phải hết sức coi trọng hiệu quả kinh tế xã hội và giữ gìn môi trườngsinh thái Nếu quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ loại trừ được mối lo ngại vềnguy cơ “bỏ trống thị trường trong nước”, sự khai thác cạn kiệt tài nguyênthiên nhiên và phá huỷ môi trường sinh thái Đồng thời, các vấn đề về bảo hộsản xuất trong nước, bảo vệ lợi Ých của người tiêu dùng hay xuất nhập khẩucái gì đều phải dựa trên sự phân tích và tính toán kỹ lưỡng lợi thế so sánhquốc gia và quốc tế cũng như các lợi Ých trước mắt và lâu dài
Thứ ba : Hướng mạnh về xuất khẩu bao gồm cả hàng hoá hữu hình vàcác loại hàng hoá vô hình Hiện nay chóng ta vẫn chủ yếu là xuất khẩu hànghoá và ngay trong hàng hoá giá trị gia tăng còn thấp, một số mặt hàng còn chủyếu là gia công cho nước ngoài Vì thế, trong phương hướng lâu dài cần chủđộng nâng cao tỷ lệ xuất khẩu hàng hoá vô hình và trong hàng hoá hữu hìnhcần giảm phần tỷ lệ giá trị nguyên liệu trong giá hàng hoá xuất khẩu
Thứ tư : Chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu nhằm đạt mục tiêu tăngtrưởng thông qua hoạt động, sản xuất để xuất khẩu là một chiến lược có sựlựa chọn Điều đó có nghĩa cần phải thiết lập được một lộ trình hoặc một bước
đi thích hợp và có hiệu quả với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trên cơ sở kếthợp hài hoà với thực trạng và diễn biến của xu hướng chính trị và kinh tế trênthế giới Hướng mạnh về xuất khẩu không loại trừ hay phủ định sự tăngtrưởng của nhập khẩu cũng như mâu thuẫn với quản lý tốt nhập khẩu mà
Trang 6chiến lược này nhằm vào mục tiêu tăng trưởng cả xuất và nhập khẩu theohướng cải thiện cán cân thương mại cũng như tạo tiền đề và xác lập cơ cấuthương mại hợp lý, tiến bộ ổn định giữa Việt Nam với thế giới Như thế việcnhập siêu chủ yếu là máy móc thiết bị và vật tư hoặc còn phải xuÊt khẩu mộtphần nguyên liệu, khoáng sản để lấy ngoại tệ cho nhập khẩu ở giai đoạnđầu(giai đoạn tạo tiền đề vật chất cần thiết) cần phải được xem là hợp lý Tấtnhiên tỷ lệ này không được chiếm quá lớn so với GDP u , n
II Ưu ,nhược điểm của chiến lược hướng về xuất khẩu
2.1-Ưu điểm
a/Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đểđem lại lợi nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế Mở rộngxuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ
sở hạ tầng
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Công nghiệp hoá đất nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩumáy móc thiết bị, kỹ thuật, vật tư và công nghệ tiên tiến Nguồn vốn để nhậpkhẩu có thể được hình thành từ các nguồn như : liên doanh đầu tư nước ngoàivới nước ta ; vay nợ, viện trợ, tài trợ ; thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ ; xuấtkhẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ cũngphải trả bằng cách này hay cách khác Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọngnhất là từ xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhậpkhẩu
Năm 1994 thu xuất khẩu đã đảm bảo được 80% nhập khẩu so với 24,6%năm 1986 Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đạt 14,3 tỷ USD, năm 2001 đạtgần 16 tỷ USD tăng 8% so với năm 2000
Với xu hướng này các năm sau kim ngạch xuất khẩu đều tăng lên so vớicác năm trước đó
Trang 7b/Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tếhướng ngoại.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thànhquả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấukinh tế trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta là phù hợp với xu hướngphát triển kinh tế của thế giới
Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế có thể được nhìn nhận theo các hướng sau :
-Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài
-Xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuấtkhẩu những sản phẩm mà nước khác cần.Điều đó có tác động tích cực đếnchuyển dịch cơ cấu kinh tế , thúc đẩy sản xuất phát triển
-Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triểnthuận lợi Ví dụ khi phát triển dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triểnngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm, sự phát triển củacông nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu kéo theo sự phát triển của ngànhcông nghiệp chế tạo thiết bị
-Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào chosản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước
-Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế-kỹ thuật nhằm đổi mới thườngxuyên năng lực sản xuất trong nước Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạothêm vốn và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vào
-Thông qua xuất khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thịtrường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổchức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường
-Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoànthiện công tác quản lý sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạgiá thành
Trang 8c/Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhândân
Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ranguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống củanhân dân
d/Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đốingoại
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế trongnước gắn chặt với phân công lao động quốc tế Thông thường hoạt động xuấtkhẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩycác quan hệ này phát triển Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩuthúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế Đến lượt nó chính các quan
hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
Chiến lược hướng về xuất khẩu vừa là hệ quả vừa là tác nhân và là sựđảm bảo thắng lợi cho tiến trình tự do hoá thương mại của Việt Nam trongquan hệ cạnh tranh và hợp tác về kinh tế với các nước trong khu vực cũngnhư các nước khác trên thế giới
Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đểphát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
2.2-Nhược điểm
Chiến lược hướng về xuất khẩu dựa vào việc khai thác lợi thế so sánh đã
có hoặc sẽ sớm tạo ra những lợi thế đó, có thể là tài nguyên thiên nhiên phongphú hoặc lao động rẻ hay đặc biệt lành nghề.Xuất khẩu tăng lên sẽ có đượctài chính cần thiết để nhập hàng cơ bản, giúp tích luỹ tư bản trong nước vàphát triển tăng trưởng ở các khu vực trong nước của nền kinh tế
Tuy nhiên, chiến lược này không phải là không có nhược điểm.Có thểnêu vài nhược điểm sau:
Trang 9-Xuất khẩu hàng nông nghiệp hoặc nguyên vật liệu công nghiệp thườngkhông có nhu cầu cao trên thế giới: tốc độ tăng trưởng của khu vực này do đóthấp.
-Giá các hàng nông nghiệp và nguyên liệu công nghiệp tăng Ýt hơn hàngchế tạo : cán cân thương mại xấu đi vì những điều khoản thương mại khôngthuận lợi
-Sự phát triển của khu vực xuất khẩu , chủ yếu là nhóm chế tạo, vẫn cònphụ thuộc vào vốn và công nghệ nước ngoài
-Sự lệ thuộc quá nhiều vào thị trường quốc tế và công nghệ nước ngoài
có thể gây ra bất ổn định và giảm tác dụng phát triển thương mại
-Vấn đề môi trường sinh thái:do cần có hàng để xuất khẩu dẫn đến ônhiễm môi trường , tàn phá rừng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
-Vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa
Chiến lược hướng về xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộng quan hệvới nhiều nước trên thế giới.Nếu không tỉnh táo và có bản lĩnh chính trị vữngvàng sẽ làm mất đi những truyền thống tốt đẹp cuả dân tộc như yêu nước,trung thực và bị chệch hướng, chống đối lại chế độ xã hội chủ nghĩa
III Thực tế áp dụng chiến lược hướng về xuất khẩu ở Việt Nam
Chiến lược hướng về xuất khẩu đã được đề cập từ đại hội toàn quốc lầnthứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam Từ đó đến nay ,trên cơ sở nắm vữngnội dung, những ưu và nhược điểm , chiến lược hướng về xuất khẩu đã được
áp dụng trong bối cảnh đất nước ta và đã đạt nhiều thành tựu song cũng lắmkhó khăn thách thức
3.1-Những năm 1991-2000
a/Thành tựu đã đạt
-Đã đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hộithời kì 1991-2000: kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 13,5 tỉ USD, gấp 5,6lần kim ngạch năm 1990 (2,4 tỉ USD ) Nhịp độ tăng trưởng bình quân
Trang 1018,4%/ năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 2,6 lần (GDP tăngbình quân 7,6%/ năm ).
-Cơ cấu xuất khẩu đã được cải thiện theo hướng “tăng các mặt hàng chếbiến , giảm tỉ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn
và thị trường tương đối ổn định ”.Tỉ trọng sản phẩm chế biến đã tăng từ 8%vào năm 1991 lên khoảng 40% vào năm 2000 Năm 1991 mới có 4 mặt hàngđạt giá trị xuất khẩu trên 100 triệu USD là dầu thô, thuỷ sản, gạo và hàng dệtmay; nay có thêm 8 mặt hàng nữa là cà phê, cao su, điều, giày dép, than đá,điện tử , thủ công mĩ nghệ và rau quả.Về một số mặt hàng, nước ta đã chiếmlĩnh vị trí cao:gạo đứng hàng thứ hai thế giới,cà phê đứng thứ hai, hạt tiêu vàhạt điều đứng thứ ba
-Việc thực hiện chủ trương “ phát triển nhiều hình thức dịch vụ thu ngoại
tệ, nhất là hoạt động du lịch ’’ có nhiều tiến bộ.Khách du lịch từ nước ngoàivào Việt Nam tăng 250 ngàn lượt người vào năm 1991,lên khoảng 2 triệulượt người vào năm 2000, doanh thu đạt khoảng 450 triệu USD.Lao động ởnước ngoài tính đến năm 2000 có khoảng 9 vạn người đem lại khoảng 500triệu USD thu nhập hàng năm.Các dịch vụ khác như ngân hàng, hàng không ,viễn thông, xây dựng, y tế, giáo dục thu được khoảng 1 tỉ USD vào năm2000
-Đã vượt qua được sự khủng hoảng thị trường vào đầu những năm 90 dochế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu bị xoá bỏ,đã đẩy lùi được chính sáchbao vây, cấm vận và về cơ bản thực hiện được chủ trương “ đa dạng hoá thịtrường và đa phương hoá quan hệ kinh tế tích cực thâm nhập , tạo chỗ đứng
ở thị trường mới, phát triển các quan hệ mới ’’.Nay nước ta có quan hệthương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, trong đó đã kí hiệp địnhthương mại với 61 nước.Chủ trương “gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tếquốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện ’’ đã được thực hiện bằng việc gianhập ASEAN (1995) ,ASEM (1996) ,APEC (1998) và trở thành quan sátviên WTO (1995)
Trang 11-Chính phủ đã đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý theo hướng mởrộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, giảm dần hàng rào phi thuế, hạn chế
cơ chế “ xin, cho ’’ , giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, nâng cao vai trò của các công cụ vĩ mô như thuế, lãixuất, tỷ giá.Chính phủ cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho xuất khẩu thôngqua các chương trình hỗ trợ cho trợ cấp, trợ giá, lập quỹ hỗ trợ , quỹ thưởng ,hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện, trong đó đã thông qua đượcluật Thương mại
b/Những tồn tại
-Quy mô xuất khẩu còn quá nhỏ so với những nước trong khu vực : bìnhquân tính theo đầu người khoảng 175 USD năm 2000, trong khi Malaysianăm 1996 đã đạt mức 3700 USD, Thái Lan:933USD và Philippin là 285 USDRiêng Trung Quốc năm 1999 kim ngạch xuất khẩu đạt 195 tỉ USD, bình quânđầu người 163 USD
-Việc chuyển dịch cơ cấu ngành hàng chưa bám sát tín hiệu của thịtrường thế giới nên nhiều sản phảam làm ra không tiêu thụ được.Khả năngcạnh tranh của nhiều hàng hoá còn thấp do giá thành cao, chất lượng còn kémmẫu mã chưa phù hợp với nhu cầu thị trường Đầu tư vào khâu nâng cao khảnăng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ chưa thoả đáng.Tỉ trọng hàng thô và sơchế trong cơ cấu xuất khẩu còn khá cao.Trong số sản phẩm chế biến, hàng giacông còn chiếm tỉ trọng lớn.Tỉ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trítuệ cao còn nhỏ.Xuất khẩu dịch vụ còn thấp xa so với tiềm năng
-Sự hiểu biết về thị trường ngoài còn hạn chế.Nhà nước chưa cung cấpđược thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp.Ngược lại nhiều doanh nghiệpcòn ỷ lại vào nhà nước,thụ động chờ khách hàng.Đối với một số thị trườnghàng xuất khẩu vẫn còn phải qua trung gian
-Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không Ýt lúngtúng.Cho tới nay chưa hình thành được chiến lược tổngthể ,chưa có lộ trìnhgiảm thuế và hàng rào phi thuế quan dài hạn.Nhiều doanh nghiệp còn trông
Trang 12chờ vào sự bảo hộ của nhà nước và nhà nước cũng chưa đưa ra được lộ trìnhgiảm dần sự bảo hộ.
-Công tác quản lý nhà nước về thương mại tuy đã có nhiều sự cải tiếnnhưng nhìn chung còn khá thụ động.Sự phối hợp giữa các bộ , ngành, địaphương đã có chuyển biến tích cực nhưng nhìn chung chưa tạo được sứcmạnh tổng hợp,còn thiếu cán bộ quản lý có trình độ
đã có mặt tại tất cả các nước lớn và các trung tâm kinh tế lớn.Quá trình hộinhập sẽ tạo cơ hội cho ta mở rộng thị trường để phát triển kinh tế và tăngcường quan hệ thương mại
Trên bình diện quốc tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ vàđang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đưa thế giới vào thời kỳ phát triểnmới: thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông tin.Các ngành dịch vụ và kinh tếgiàu hàm lượng chất xám phát triển mạnh.Khái niệm thương mại được mởrộng bao gồm cả các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất truyền thống lẫncấc sản phẩm “mềm’’ của nền sản xuất dựa vào tri thức.Mức độ phổ cập củamạng Internet khiến tỉ trọng của thương mại điện tử tăng nhanh:theo số liệucủa UNCTAD thì năm 1995 thương mại điện tử mới đạt 100 triệu USD thìnăm 1999 đã là 180 tỉ USD và năm 2002 sẽ lên tới khoảng 1234 tỉ USD Xuhướng toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng mạnh.Châu á- Thái Bình Dương
Trang 13đang hồi phục nhanh chóng sau khủng hoảng, tiếp tục là một thị trường tiêuthụ rộng lớn và cùng Châu Âu hình thành không gian kinh tế á - Âu.
* Khó khăn thách thức
Nước ta vẫn còn là một nước nghèo và kém phát triển:GDP bình quânđầu người năm 2000 mới đạt gần 400 USD, dự kiến 10 năm tới chỉ có thể đưaGDP lên gấp đôi.Cơ cấu sản xuất sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộhơn song nhìn chung còn lạc hậu so với chiều hướng phát triển của thế giới.Thực trạng đó ảnh hưởng tiêu cực tới quy mô, cơ cấu và hiệu quả của hoạtđộng xuất nhập khẩu.Năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sảnphẩm còn thấp trong khi nước ta lại phải nhập cuộc đua tranh ngày càng gaygắt trên thị trường khu vực và thế giới Trình độ của cán bộ làm công tác xuấtnhập khẩu và công tác tham mưu về chiến lược , chính sách còn bất cập
Khó khăn rất lớn cho hoạt động xuất khẩu là những bất cập trong một sốchính sách.Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu đã được đề cập từ đại hộitoàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam.Đảng đã xác định mô hìnhchiến lược công nghiệp hoá hướng mạnh về xuất khẩu, kết hợp với thay thếnhập khẩu một số mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả.tuy nhiên đếnnay chính sách công nghiệp – thương mại của nhà nước cũng như trên thực tếnền kinh tế nước ta vẫn còn dấu Ên khá rõ nét còn lại của việc thay thế nhậpkhẩu và hướng vào bên trong chứ chưa thực sự hướng ngoại.Điều này đượcthể hiện khá rõ nét qua một số biện pháp được nêu với ý định bảo vệ nền côngnghiệp non trẻ: ví dụ như yêu cầu của hiệp hội máy công nghiệp về tổng thuếnhập khẩu đánh vào máy móc lên 20-30% để bảo vệ sản xuất trongnước.Thực tế trên thể hiện những bất cập , những mâu thuẫn của nền kinh tếcũng như các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.có thể nêu lên một sốmâu thuẫn chủ yếu:
-Mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu chuyển ngay sang chiến lược kinh
tế hướng về xuất khẩu với một bên là công nghiệp còn non trẻ cần được bảo
vệ ở mức độ cao nhất có thể