1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó

27 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 490,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy thực tế hoạt động thời gian gần đây cho thấy, còn nhiều hạn chế đối với thị trường để hoạt động hiệu quả như: tâm lý bầy đàn, giao dịch nội gián, giao dịch chứng khoán dựa theo t

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Có thể tìm hiểu Luận án tại:

Thư viện Quốc gia

Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài

Để thị trường chứng khoán (TTCK) hoạt động hiệu quả, các nhà đầu tư cần được cung cấp thông tin đầy đủ cho các nhà đầu tư để họ có thể ra các quyết định đầu tư phù hợp Thông tin không cân xứng (các bên tham gia vào một giao dịch tài chính có thông tin không đầy đủ) có tác động tiêu cực tới hoạt động bình thường của thị trường tài chính

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ năm 2000 trong nền kinh tế đang phát triển Với hơn 10 năm vận hành, thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động

ổn định với những tổ chức và các công cụ cơ bản nhất là cổ phiếu và trái phiếu Tuy vậy thực tế hoạt động thời gian gần đây cho thấy, còn nhiều hạn chế đối với thị trường để hoạt động hiệu quả như: tâm lý bầy đàn, giao dịch nội gián, giao dịch chứng khoán dựa theo tin đồn v.v… Với những tồn tại trên, Luận án lựa chọn

nghiên cứu tác động của đặc điểm thuộc CTNY tới hoạt động công bố thông tin

của CTNY trên TTCK Việt Nam và tác động của công bố thông tin này tới TTCK Việt Nam và CTNY

Mục đích nghiên cứu

Câu hỏi quản lý đặt ra đối với các nhà quản lý TTCK Việt Nam và các CTNY là làm thế nào để cải thiện hiệu quả hoạt động thị trường thông qua minh bạch thông tin công bố và lợi ích của hoạt động này tới các CTNY và tới giao dịch trên TTCK Việt Nam Để trả lời câu hỏi này, các nhà quản lý TTCK Việt nam

và CTNY cần hiểu rõ hoạt động CBTT, đo lường được mức độ CBTT, những yếu tố nào có thể tác động đến CBTT của CTNY, và kết quả giao dịch thị trường của các cổ phiếu niêm yết sẽ như thế nào khi thực hiện hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động CBTT của các CTNY chính thức trên hai Sàn giao dịch chứng khoán của thị trường Chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu là hoạt động CBTT từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 tới ngày

31 tháng 12 năm 2013 của các công ty niêm yết có thời điểm niêm yết chính thức trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh trên TTCK Việt Nam trước ngày 1 tháng 1 năm 2010

Trang 4

Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể được phát triển như sau:

• Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể được đo lường với các biến số và chỉ tiêu đo lường nào?

• Các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết có tác động tới mức

độ công bố thông tin tổng quát/ mức độ công bố công bố của các nhóm thông tin từ công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?

• Mức độ công bố thông tin của công ty niêm yết có tác động tới thị trường niêm yết và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua chỉ tiêu nào và như thế nào?

Đóng góp mới của nghiên cứu

* Đóng góp về lý luận:

Luận án đã xây dựng một Cơ sở lý thuyết toàn diện mô tả về hoạt động công

bố thông tin (CBTT) của công ty niêm yết (CTNY) trên thị trường Chứng khoán Luận án đã phát triển các tiêu chí đo lường hoạt động CBTT; tổng hợp, điều chỉnh

và bổ sung các yếu tố thuộc CTNY và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố này đến hoạt động CBTT; và đánh giá hệ quả của hoạt động CBTT đến thị trường niêm yết và CTNY Luận án xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và

sử dụng phương pháp nghiên cứu lượng hóa để kiểm định các mối tương quan giữa các biến trong mô hình

Cụ thể, hoạt động CBTT được đánh giá trên ba (3) phương diện: tính thông tin, tính rõ ràng dễ hiểu và tính cập nhật của thông tin công bố Các nghiên cứu trước đây chỉ đánh giá tổng quát hoạt động CBTT qua chỉ tiêu tính thông tin

Về yếu tố thuộc CTNY tác động tới CBTT, Luận án đã đánh giá năm nhóm yếu tố: (1) Đặc điểm ngành nghề; (2) Đặc điểm về sở hữu: ngoài chỉ tiêu sở hữu nước ngoài, Luận án đã bổ sung chỉ tiêu sở hữu nhà nước và mối quan hệ tương hỗ

là nhà sở hữu có tổ chức và là nhà nước; (3) Đặc điểm về quản trị công ty: luận án

đã điều chỉnh chỉ tiêu độc lập, theo đó, xét cả trường hợp thành viên HDQT kiêm nhiệm vị trí Tổng giám đốc/ Giám đốc trong CTNY; (4) Đặc điểm về kết quả kinh doanh: Luận án bổ sung chỉ tiêu dòng tiền trong kỳ; (5) Đặc điểm về niêm yết: nghiên cứu điều chỉnh chỉ tiêu qui mô CTNY; và bổ sung chỉ tiêu Sở niêm yết

Về hệ quả, không chỉ đánh giá tác động của CBTT tới chi phí vốn chủ sở hữu của CTNY; luận án cũng đánh giá hệ quả CBTT tổng quát và CBTT của từng nhóm

Trang 5

thông tin tới biến động thị giá cổ phiếu Chưa có nghiên cứu nào trước đây xem xét đánh giá tác động vĩ mô và vi mô của hoạt động CBTT đến thị giá như vậy

* Những đóng góp về thực tiễn

Các nghiên cứu trước đây về lĩnh vực này được thực hiện chủ yếu tại các nước có trình độ phát triển cao và/hay thị trường Chứng khoán (TTCK) có tốc độ phát triển nhanh và có qui mô lớn Việc nghiên cứu tại TTCK Việt Nam là một điểm mới về thực tiễn của nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cũng đem lại những phát hiện mới về hoạt động CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam, cụ thể là:

(1) Thực trạng thực hiện CBTT của CTNY

(2) Những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực tới CBTT của CTNY

(3) Hệ quả tích cực của CBTT tới chi phí vốn chủ sở hữu và biến động thị giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam

Dựa trên thực trạng đó, luận án đã xây dựng hệ thống kiến nghị với (1) Cơ quan quản lý nhà nước để hoàn thiện nội dung, qui trình trong các qui định về CBTT của CTNY; (2) CTNY để tăng cường nhận thức và hướng thông tin chủ đạo cần cung cấp tới nhà đầu tư; và (3) hướng nghiên cứu sau này về CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu trên Thế giới

Hoạt động CBTT của các CTNY được nghiên cứu khá phổ biến trong hơn 10 năm tại các nước trên Thế giới Các nghiên cứu của Thế giới tập trung vào ba nội dung chính của hoạt động CBTT là:

• Xu thế công bố các nhóm thông tin: CBTT theo qui định và CBTT

tự nguyện

• Lý giải các yếu tố tác động đến hoạt động công bố của CTNY

• Tác động của hoạt động CBTT: các nghiên cứu xem xét tác động trực tiếp của hoạt động CBTT đến chủ thể sử dụng thông tin; và từ đó tác động gián tiếp đến thị trường niêm yết

Chỉ số thông tin trong các nghiên cứu đầu tiên là chỉ số được xây dựng cho

các thông tin công bố bắt buộc theo luật định Theo sự phát triển của thị trường

Chứng khoán trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã tìm ra xu hướng CBTT của các

CTNY không chỉ dừng lại ở CBTT theo luật định mà còn công bố các thông tin tự

Trang 6

nguyện Điều này xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của các CTNY để thu hút sự chú ý

của các tổ chức liên quan bên ngoài

Dựa trên nhu cầu của nguwofi sử dụng các nghiên cứu chuyển sang xây dựng

chỉ số thông tin công bố theo yêu cầu của đối tượng sử dụng thông tin; theo yêu cầu của các nhà phân tích tài chính, bao gồm không chỉ thông tin công bố bắt

buộc theo luật định và thông tin công bố tự nguyện

Đánh giá những yếu tố tác động đến hoạt động CBTT, có nhiều nghiên cứu

đã xem xét tác động của đặc điểm CTNY đến CBTT như các đặc điểm về cơ cấu sở hữu của cổ đông bên ngoài, phạm vi niêm yết quốc tế, vốn hóa, ngành kinh doanh, qui mô công ty, cơ cấu vốn, và kết quả sản xuất kinh doanh, tính độc lập giữa thành viên của Hội đồng quản trị và ban giám đốc, và đặc điểm cá nhân của Ban Giám đốc Các nghiên cứu thực hiện mô hình hồi qui đa biến và tuyến tính để mô tả mối tương quan giữa những yếu tố tác động đến mức độ CBTT

Xu hướng nghiên cứu thứ ba về hoạt động CBTT là hệ quả của hoạt động

CBTT tới đối với các nhà đầu tư, thể hiện trên biến động giao dịch của thị trường

Chứng khoán và tới CTNY

Các nghiên cứu đã đánh giá tác động của CBTT đến biến động giá trên thị trường Chứng khoán và tới chi phí vốn, tính thanh khoản của CTNY và giá trị của CTNY Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa hoạt động CBTT, chi phí vốn và tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu gián tiếp về CBTT với Ngân hàng Thế giới, 2006 về Quản trị Công ty, Lê Trung Thành, 2010 về giám sát giao dịch chứng khoán, Vũ Thị Thu Ngà, 2011 về Quản lý nhà nước về Pháp luật đối với CTNY trên TTCK Việt Nam, đã đánh giá rằng Việt Nam thiếu một cơ chế quản lý hiệu quả về chất lượng thông tin công bố; kiểm soát việc lập; nhà đầu tư không tiếp cận được với thông tin hoặc là phản ứng rất chậm với thông tin công bố, CBTT chậm và sơ sài so với qui định

Nghiên cứu tập trung trực tiếp vào hoạt động CBTT Kelly Anh Vu, 2011; Tạ Quang Bình, 2012 nghiên cứu về tác động của ban giám đốc độc lập và cơ cấu vốn chủ sở hữu tới CBTT tự nguyện., về khoảng cách về nhu cầu thông tin giữa các chuyên gia phân tích tài chính và quan điểm của giám đốc tài chính tại CTNY về thông tin công bố tự nguyện trong báo cáo thường niên, những yếu tố tác động tạo

Trang 7

nên khoảng cách đó và ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường và chi phí vốn của CTNY trong năm 2009 và 2010

1.2 Công bố thông tin và vai trò của CBTT với CTNY trên TTCK

1.2.1 Công bố thông tin

Trên thị trường chứng khoán; CBTT được hiểu là một quá trình truyền tải thông tin giữa CTNY với các chủ thể trên TTCK có mối quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của CTNY

1.2.2 Vai trò của công bố thông tin đối với doanh nghiệp

CBTT là phương pháp hiệu quả để giảm thiểu và giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng và vấn đề đại diện đó là CBTT

1.3 Chính sách về quản lý hoạt động công bố thông tin

1.3.1 Chính sách về CBTT theo cơ chế đăng ký xin phép phát hành

(1) Chính sách công bố thông tin bắt buộc

Qui định về CBTT tập trung vào giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng với mục tiêu là qui định CBTT bắt buộc đối với các CTNY

(2) Chính sách công bố thông tin tự nguyện

Được áp dụng khá phổ biến ở giai đoạn sơ khai của thị trường tài chính khi qui mô và trình độ của thị trường còn rất yếu, mục tiêu giải quyết vấn đề người đại diện, nhu cầu cần thể hiện và tạo uy tín của các CTNY trên thị trường và tăng tính cạnh tranh trên thị trường Chứng khoán

(3) Chính sách công bố thông tin hỗn hợp

Để khắc phục nhược điểm của Chính sách CBTT bắt buộc và chính sách CBTT tự nguyện, và phù hợp với sự phát triển nhanh về trình độ và qui

mô của TTCK, chính sách CBTT hỗn hợp được ra đời với sự tham gia và bổ trợ lẫn nhau của hai chính sách trên

1.3.2 Chính sách về CBTT theo cơ chế phát hành dựa trên CBTT đầy đủ

Khi công ty đại chúng công bố thông tin đầy đủ, công ty đó sẽ được niêm yết trên thị trường Mục tiêu của chính sách này là xây dựng môi trường minh bạch thông tin

1.4 Chiến lược CBTT

Có hai loại chiến lược áp dụng cho CBTT: chiến lược chủ động và chiến lược bị động Chiến lược CBTT chủ động thỏa mãn nhu cầu thông tin của người sử dụng; và công bố không hạn chế và đúng thời điểm Chiến lược CBTT bị động chỉ công bố các thông tin theo qui định và công bố hạn chế

Trang 8

1.5 Các yếu tố cấu thành hoạt động CBTT

Các thành phần cấu thành hoạt động CBTT bao gồm thông tin, kênh thông tin

và thời điểm để thực hiện hoạt động CBTT

1.5.1 Thông tin công bố

Khi ra quyết định liên quan đến hoạt động CBTT, các CTNY phải cân nhắc

và lựa chọn nhóm thông tin sẽ công bố Hai nhóm thông tin công bố: (1) thông tin công bố theo qui định (công bố định kỳ, bất thường và theo yêu cầu, và (2) thông tin công bố tự nguyện

1.6 Mức độ CBTT

Để đánh giá hoạt động CBTT, các nghiên cứu trước đây đã đưa ra các quan điểm và các tiêu chí khác nhau để đánh giá hoạt động CBTT

1.6.1 Quan điểm về “Minh bạch”

Tính minh bạch được xác định dựa trên số lượng mục thông tin công ty cung cấp so với bộ thông tin yêu cầu của nhà đầu tư Phương pháp đánh giá này chỉ đảm bảo rằng thông tin đó được công bố chứ không đảm bảo rằng là đầy đủ

1.6.2 Quan điểm về “Chất lượng”

Chất lượng thông tin được đánh giá theo sáu tiêu chí là tính giàu thông tin, tính phù hợp, tính rõ ràng, tính đặc biệt, tần xuất xuất hiện, và tính ngoài kỳ vọng hay có thể đánh giá với ba tiêu chí: tính phù hợp; tính tin cậy và tính rõ ràng - dễ hiểu Nhược điểm của phương pháp này đó chính là tính khả thi khi thực hiện chỉ tiêu đo lường tính tin cậy

1.6.3 Quan điểm về “Hiệu quả”

Thông tin công bố được đánh giá là hiệu quả nếu thông tin đó được cung cấp đầy đủ, chính xác và cập nhật Quan điểm này đã bổ sung thêm đặc tính cập nhật của thông tin mà hai quan điểm trên chưa thể hiện được

1.6.4 Kết luận

Luận án cho rằng mức độ CBTT cần được đánh giá theo các tiêu chí cần thiết của một thông tin, cụ thể là đầy đủ, rõ ràng và cập nhật Chính vì vậy, Luận án sẽ

Trang 9

đánh giá mức độ CBTT theo ba (3) tiêu chí: tính thông tin, tính rõ ràng dễ hiểu và

tính cập nhật

1.7 Các yếu tố tác động đến hoạt động CBTT

Khi xem xét các yếu tố tác động đến hoạt động CBTT, các nghiên cứu chỉ tập trung vào tác động của hai môi trường ngành và môi trường hoạt động nội bộ tới doanh nghiệp

1.7.1 Đặc điểm Ngành nghề kinh doanh

Yếu tố được nghiên cứu là loại ngành nghề kinh doanh và tính cạnh tranh của ngành Mối quan hệ giữa đặc điểm này và CBTT không đồng nhất trên các TTCK khác nhau

1.7.2 Đặc điểm Nguồn vốn Chủ sở hữu

Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu được xem xét với cơ cấu sở hữu của nhà quản

lý, cơ cấu sở hữu của hội đồng quản trị, cơ cấu sở hữu của các nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu gia đình; cơ cấu sở hữu của chính phủ

1.7.3 Đặc điểm về Quản trị công ty

Các nghiên cứu xem xét vấn đề đại diện giữa HĐQT và BGĐ: kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch HĐQT và BGĐ, và tỷ lệ thành viên HDQT trong BGD

1.7.4 Qui mô doanh nghiệp

Có sự tác động của qui mô doanh nghiệp tới hoạt động CBTT Qui mô được

đo bằng chỉ tiêu vốn hóa trên TTCK của CTNY

1.7.5 Đặc điểm về kết quả kinh doanh

Bộ chỉ tiêu sinh lời (ROA, ROE và ROS) là bộ chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Tuy nhiên, chỉ tiêu ROS chỉ phù hợp khi đánh giá các doanh nghiệp cùng ngành

1.7.6 Đặc điểm niêm yết

Thuộc tính niêm yết bao gồm thị trường niêm yết, thời điểm niêm yết; giá trị niêm yết

1.7.7 Chất lượng của Kiểm toán độc lập:

Vai trò của kiểm toán độc lập là nhằm kiểm tra tính tin cậy của TTCB Tuy nhiên, tác động của yếu tố chất lượng của kiểm toán độc lập tới mức độ CBTT là không đáng kể

Trang 10

(2) Đặc điểm Nguồn vốn chủ sở hữu: cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng sở hữu của Nhà nước, tỷ trọng sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài, tỷ trọng sở hữu của nhà đầu tư tổ chức

(3) Đặc điểm về Quản trị công ty: độc lập giữa HĐQT và vị trí Tổng Giám đốc/ Giám đốc; tỷ trọng thành viên HĐQT tham gia BGĐ

(4) Đặc điểm về Kết quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh tổng quát: ROA và tỷ

lệ dòng tiền thuần trên doanh thu và hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu: ROE,

tỷ lệ dòng tiền thuần trên lợi nhuận sau thuế và tăng trưởng lợi nhuận sau thuế (5) Đặc điểm về niêm yết: số năm niêm yết, Sở GDCK niêm yết và tỷ lệ vốn hóa trên một cổ phiếu

1.8 Hệ quả của hoạt động CBTT

Hoạt động thị trường được đánh giá là tốt khi : (1) Giá cả và khối lượng giao dịch hàng hóa biến động để phản ánh thông tin công bố đến thị trường; (2) Tính thanh khoản cao, và (3) Tối thiểu hóa chi phí giao dịch

Theo góc độ chủ thể phát hành là các CTNY, hoạt động thị trường được đánh

giá là tốt khi tối thiểu hóa chi phí huy động vốn chủ sở hữu, nâng cao giá trị thị trường của công ty Tuy nhiên, mức độ và cấp độ tác động của CBTT còn hoàn toàn

phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu chung về thị trường Chứng khoán Việt Nam

Quá trình ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam qua hai giai đoạn Giai đoạn 1 là Chuẩn bị thành lập thị trường Chứng khoán (1990s) Giai đoạn 2 – Vận hành thị trường Chứng khoán: Từ năm 2000 Với hơn 10 năm hoàn thiện

và phát triển, từ 5 cổ phiếu, tới cuối năm 2013, số lượng CPNY trên thị trường đạt 983 cổ phiếu

2.2 Quản lý nhà nước về CBTT của CTNY trên TTCK

2.2.1 Chính sách quản lý CBTT của CTNY trên TTCK Việt nam

Cơ quan quản lý thị trường đã quyết định lựa chọn chính sách qui định là CBTT đầy đủ thay thế cho CBTT theo qui định Với chính sách này, mục đích của

cơ quan quản lý nhà nước không chỉ là tăng cường tính minh bạch của thị trường mà còn là cơ sở để thị trường Chứng khoán Việt Nam áp dụng cơ chế phát hành dựa trên CBTT đầy đủ thay cho cơ chế đăng ký xin phép phát hành hiện tại

Trang 11

2.2.2 Hệ thống văn bản pháp qui về CBTT của CTNY trên TTCK Việt nam

2.3 Qui định cụ thể về hoạt động CBTT của CTNY trên TTCK Việt

Nam

2.3.1 Thông tin công bố

Theo thông tư số 09/2010/TT-BTC qui định về CBTT trên thị trường Chứng khoán Việt Nam, CTNY cần công bố các nhóm thông tin như sau:

Thông tin định kỳ:

Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên (26 mục thông tin)

Thông tin bất thường và theo yêu cầu:7 nhóm thông tin

Sau một năm áp dụng Thông tư 09/2010, thông tư 52/2012 TT-BTC được xây dựng và qui định chỉ số thông tin công bố theo luật định của Việt Nam khá toàn diện với 21 nhóm thông tin lớn với mục tiêu là các CTNY phải CBTT đầy đủ

Thông tin định kỳ:

Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên (26 mục thông tin) và báo cáo quản trị Thông tin bất thường và theo yêu cầu: 19 nhóm thông tin

2.3.2 Thời gian công bố

Với các báo cáo định kỳ, thời gian qui định trong Thông tư 52/2012 ngắn hơn

10 ngày so với qui định trong Thông tư 09/2010 Đối với thông tin công bố bất thường và theo yêu cầu thông thường như thông tin niêm yết, giao dịch, giám sát, nghị quyết Đại hội Cổ đông, Nghị quyết Hội đồng Quản trị thời gian công bố yêu cầu là trong 24 giờ kể từ khi thông tin đó được thiết lập

2.3.3 Kênh công bố

Thông tin về tổ chức niêm yết được công bố qua 4 kênh sau đây: (1) Báo cáo thường niên, trang thông tin điện tử (Website) và các ấn phẩm khác của tổ chức niêm yết; (2) Các phương tiện CBTT của Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN); (3) Các phương tiện CBTT của Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK); (4) Phương tiện thông tin đại chúng khác

2.4 Vi phạm trong CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam

Vi phạm về CBTT là vi phạm phổ biến trong các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán Các lỗi vi phạm xếp theo mức độ phổ biến vi phạm như sau:

Về thông tin công bố:

• Vi phạm về chậm nộp hoặc thiếu trung thực khi công bố các báo cáo tài chính, Công bố báo cáo thường niên, Công bố tình hình quản trị công ty, Công bố các Nghị quyết Đại hội cổ đông và Nghị quyết Hội đồng quản trị, Công bố về việc thay đổi nhân sự, báo cáo về giao dịch cổ phiếu quỹ, báo cáo tiến độ sử dụng

Trang 12

vốn, nộp hồ sơ lý lịch các thành phần chủ chốt và Công bố về thông tin bất thường trong Doanh nghiệp

Về kênh công bố:

• Trang tin điện tử của CTNY không có đầy đủ thông tin, thiếu tính cập nhật

2.5 So sánh CBTT của CTNY tại Việt Nam và Thế giới

Tùy vào qui mô và trình độ phát triển của thị trường, các cơ quan quản

lý thị trường phải xác định chính sách về quản lý hoạt động CBTT sẽ áp dụng trên thị trường

2.5.1 CBTT trên Thế giới trong nghiên cứu của S&P

Theo nghiên cứu của Standard & Poor's, tính minh bạch trong CBTT được

đánh giá dựa trên mức độ chi tiết của ba nhóm thông tin là (1) cơ cấu nguồn vốn chủ

sở hữu và quyền của nhà đầu tư; (2) báo cáo tài chính và thông tin kinh doanh; (3)

cơ cấu sở hữu và lợi ích của các cấp quản lý Kết quả cho thấy tính minh bạch trong

CBTT trên thị trường tài chính của các nước đang phát triển như Châu Mỹ la tinh và

các nước phát triển Châu Á rất thấp, nhóm TTCB chủ yếu là “báo cáo tài chính và

thông tin kinh doanh”

2.5.2 CBTT của CTNY tại Việt Nam theo tiêu chí S&P

Tính minh bạch trong CBTT của CTNY trên TTCK Việt nam tốt ngang với các nước phát triển như Châu Âu, Nhật bản…Tuy nhiên chất lượng và tính đầy đủ của từng mục thông tin công bố trong nhóm rất thấp

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên tổng quan nghiên cứu cũng như là khoảng trống cần nghiên cứu về

hoạt động CBTT, luận án xây dựng Mô hình nghiên cứu, và được thể hiện như

THỊ TRƯỜNG NIÊM YẾT

CÔNG TY NIÊM YẾT

Biến động giá giao dịch của cổ phiếu

Chi phí vốn chủ sở hữu

Trang 13

Các giả thuyết về mối tương quan giữa đặc điểm CTNY với hoạt động

CBTT; và giữa hoạt động CBTT và kết quả giao dịch của cổ phiếu và tới CTNY dự kiến như sau:

(1) Giả thuyết kiểm định tính phù hợp của mô hình đề xuất

H1 Đặc điểm thuộc công ty niêm yết có tác động có nghĩa tới mức độ công

bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường Chứng khoán

(2) Giả thuyết kiểm định tác động của từng nhóm yếu tố đặc điểm tới mức độ công bố thông tin

H2 Các CTNY thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau có mức độ công

bố thông tin khác nhau

H3 CTNY có tỷ trọng nguồn vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu

tư có tổ chức càng lớn thì CBTT tốt hơn trên TTCK

H4.CTNY có thành viên HĐQT giữ vị trí Tổng Giám đốc/ Giám đốc trong BGĐ, và tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia BGĐ càng lớn thì mức độ CBTT trên TTCK càng cao

H5 CTNY có kết quả sản xuất kinh doanh tốt thì CBTT trên TTCK tốt hơn H6 CTNY có đặc điểm niêm yết khác nhau có mức độ CBTT khác nhau Khi thời gian niêm yết càng dài, vốn hóa càng lớn thì mức độ CBTT của CTNY

3.3 Mẫu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động CBTT của các CTNY trên thị trường Chứng khoán Việt Nam Mẫu nghiên cứu là bao gồm các CTNY niêm yết trước ngày 1 tháng 1 năm 2010, được lựa chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên Thời

kỳ nghiên cứu là 3 năm từ năm 2011 tới năm 2013

3.4 Nhân tố, biến số và chỉ tiêu đo lường

Như đã trình bày ở phần trên, mô hình nghiên cứu của luận án bao gồm ba

nhóm nhân tố Biến số và thước đo của các biến số được thể hiện trong bảng sau:

Ngày đăng: 03/12/2014, 17:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3-1 Mô hình nghiên cứ u - tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó
Hình 3 1 Mô hình nghiên cứ u (Trang 12)
Bảng 3-2 Nhân tố, biến số và đ o lường  Tên - tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó
Bảng 3 2 Nhân tố, biến số và đ o lường Tên (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w