1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn tây bắc giai đoạn hiện nay

26 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu khái quát về luận án Đề tài“Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn h

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về luận án

Đề tài“Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay” là vấn đề đã được tác giả luận án quan tâm, ấp ủ, trăn trở và có sự

chuẩn bị từ lâu Đặc biệt, với gần 10 năm trải nghiệm thực tiễn, từ là trung độitrưởng đến chính trị viên đại đội, tiểu đoàn làm nhiệm vụ trực sẵn sàng chiếnđấu (SSCĐ) A2, nên tác giả đã có những hiểu biết nhất định về hoạt độngphòng, chống bạo loạn lật đổ (BLLĐ) của đơn vị cơ sở

Nghiên cứu thực tiễn tác giả thấy rằng, công tác đảng, công tác chính trị(CTĐ, CTCT) trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của bộ đội địa phương(BĐĐP) các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay là đề tài có ý nghĩathiết thực cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, đây là một đề tài mới và khó;song, trên cơ sở sưu tầm hệ thống tài liệu và số liệu điều tra khá phong phú vàđược sự giúp đỡ, góp ý của các chuyên gia, các nhà khoa học đã cho phép tác giảtriển khai nghiên cứu hiệu quả đề tài này

Quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan; song, đây thực sự là một côngtrình nghiên cứu hoàn toàn không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

2 Lý do lựa chọn đề tài

Tây Bắc là địa bàn chiến lược trọng yếu, là “phên dậu” phía Tây Bắccủa Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - anninh (QP-AN) , nên trong lịch sử cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôntriệt lợi dụng địa hình, địa bàn này để chống phá ta Nơi đây đã từng diễn rahoạt động nổi phỉ, xưng vua, đón vua, gây bạo loạn Đây là khu vực tập trungnhiều đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều tôn giáo, phần lớn các tỉnh có đườngbiên giới; kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống nhân dân khó khăn, tiềm ẩnnhiều nhân tố gây mất ổn định, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động,tập hợp lực lượng gây BLLĐ, cướp chính quyền

Dưới sự lãnh đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của cấp ủy, chính quyềncác cấp, BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc đã có nhiều hoạt động thiết thực

và hiệu quả, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xâydựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, vừa làm “nòng cốt” thực hiệnnhiệm vụ QP-AN và phòng, chống BLLĐ, giữ vững ổn định an ninh chính trị,trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn; tham gia xử trí có hiệu quả các tình huốngphức tạp về an ninh chính trị Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiềumặt công tác, trong đó, CTĐ, CTCT có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.Những năm qua, CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ củaBĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc được tiến hành trong những điều kiệnkhó khăn, phức tạp về nhiều mặt, nhưng cũng đạt được những tiến bộ tích cực,góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nâng caohiệu quả hoạt động của các tổ chức, các lực lượng, xây dựng đơn vị VMTD,góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội địa bàn

Trang 2

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm phòng, chốngBLLĐ, CTĐ, CTCT còn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập, có mặt chưa đápứng đòi hỏi của thực tiễn Nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lựclượng; nội dung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT chậm được đổi mới; chấtlượng các mặt hoạt động chưa cao, nhất là năng lực của các chủ thể, lực lượngtiến hành CTĐ, CTCT còn hạn chế Hiện nay, trước những âm mưu, thủ đoạnchống phá thâm độc, quyết liệt của các thế lực thù địch, nhằm kích động tưtưởng ly khai, đòi thành lập “Vương quốc Mông tự trị” ở vùng Tây Bắc nướcta; nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phòng, chống BLLĐ tiếp tục có sự phát triểnmới nặng nề, phức tạp hơn Điều đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa CTĐ,

CTCT Đây chính là lý do để tác giả chọn vấn đề: “Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của

AN, khu vực phòng thủ vững chắc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạtđộng chống phá của địch

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải, làm rõ những vấn đề cơ bản về CTĐ, CTCT trong nhiệm

vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra kinh nghiệmCTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địabàn Tây Bắc

- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường CTĐ, CTCTtrong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắcgiai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ củaBĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

* Phạm vi nghiên cứu

Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐcủa BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay Phạm vi kháchthể chủ yếu tập trung vào BĐĐP các tỉnh tiêu biểu là Điện Biên, Lai Châu,Lào Cai, Sơn La và Yên Bái Các số liệu, tư liệu phục vụ nghiên cứu được giớihạn chủ yếu từ năm 2004 đến nay Địa bàn và quy mô khảo sát điểm, theophương pháp chọn mẫu ở các tỉnh nói trên

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Trang 3

Là hệ thống nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội vô sản; đường lối, quan điểm,chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trungương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về xây dựng nền quốc phòng toàndân, xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh, khu vực phòng thủ vững chắc vàthực hiện nhiệm phòng, chống “DBHB”, kết hợp BLLĐ, bảo vệ Đảng, Nhànước, chế độ XHCN

* Cơ sở thực tiễn

Là toàn bộ hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chốngBLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc; những nhận xét, đánh giá vềCTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địabàn Tây Bắc thể hiện trong các văn kiện của các cấp ủy đảng, báo cáo tổng kếtcủa các cơ quan chức năng cấp trên và số liệu thống kê, kết quả điều tra, khảosát của tác giả ở các CQQS, đơn vị BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sửdụng phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, chútrọng các phương pháp: lôgích - lịch sử; hệ thống - cấu trúc; phân tích, tổnghợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia, đặcbiệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn

6 Những đóng góp mới của luận án

- Xây dựng, luận giải rõ quan niệm, đặc điểm công tác đảng, công tácchính trị trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BBĐP các tỉnh trên địa bànTây Bắc;

- Đề xuất giải pháp tăng cường CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng,chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay,trong đó, giải pháp quan trọng nhất là, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với các tổchức, các lực lượng liên quan thực hiện có hiệu quả các hoạt động phòng,chống BLLĐ và thực hiện tốt nội dung, quy trình CTĐ, CTCT trong các giaiđoạn thực hành chống BLLĐ

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu đề tài luận án góp phần làm sâu sắc thêm lý luận vềCTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trênđịa bàn Tây Bắc; cung cấp những luận cứ khoa học cho cấp ủy địa phươngtrên địa bàn cùng lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cơ quan chính trị, cán bộ chínhtrị BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc tham khảo, xác định chủ trương,biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm

Trang 4

Luận án gồm: Mở đầu, phần tổng quan, 3 chương (6 tiết), kết luận,danh mục công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài và danhmục tài liệu tham khảo, phụ lục có liên quan đến đề tài luận án.

Trang 5

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1 Những công trình, đề tài về khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình, nhóm công trình bàn về quan niệm, vị trí, vai trò lực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chống BLLĐ

Đề tài Quân đội tham gia phòng, chống bạo loạn ly khai trong thời kỳ mới, do Đại tá, Tiến sĩ Lê Sĩ Thái (chủ nhiệm), 2006; Trần Sĩ Thành, “Vụ bạo loạn ở khu vực tự trị Tân Cương nhìn từ góc độ an ninh”, Tạp chí Kiến thức quốc phòng hiện đại, Số 9, 2009; Bộ đội Biên phòng tham gia chống bạo loạn lật đổ trong khu vực phòng thủ tỉnh biên giới Tây Bắc, của Nguyễn Xuân

Dược, Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự, Học viện Quốc phòng, Hà Nội,

2001; Lực lượng vũ trang địa phương tham gia phòng chống bạo loạn lật đổ ở địa bàn Tây Nguyên, của Nghiêm Đình Nhập, Luận án Tiến sĩ quân sự, Học viện Quốc phòng, Hà Nội, 2007; Nghiên cứu sử dụng lực lượng vũ trang địa phương tham gia phòng chống bạo loạn lật đổ trong khu vực phòng thủ ở Tây Bắc, của Phạm Lâm Hồng, Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự, Học viện Quốc phòng, Hà Nội, 2011; Bộ Quốc phòng, Giáo dục Quốc phòng (Bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và tương đương), đối

tượng 2, Nxb QĐND, 2004… đã làm rõ quan niệm, vị trí, vai trò, sự cần thiếtphải sử dụng lực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chống BLLĐ

1.1.2 Các công trình, nhóm công trình bàn về nhiệm vụ, yêu cầu và phương thức lực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chống BLLĐ Cuốn sách Phòng chống bạo loạn lật đổ, ly khai của địch trên địa bàn Tây Nguyên, từ thực tiễn đến lý luận, của Võ Tiến Trung, Nxb QĐND, Hà Nội, 2011; Sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân phòng chống “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, của Nguyễn Thới Bưng, Luận án phó Tiến sĩ khoa học quân sự, Học viện Quốc phòng, Hà Nội, 1996; Kết hợp bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương trong chống bạo loạn lật đổ có can thiệp của lực lượng phản ứng nhanh, Trần Văn Lượng, Luận án phó Tiến sĩ khoa học quân

sự, Học viện Quốc phòng, Hà Nội, 1995; Tổ chức, sử dụng lực lượng bộ đội địa phương chống bạo loạn chính trị của khu vực phòng thủ huyện biên giới Tây Nguyên, Nguyễn Văn Công, Luận văn thạc sĩ, Học viện Lục quân, Đà Lạt, 2010; Nguyễn Văn Bích, “Bạo loạn và phòng chống bạo loạn”, Tạp chí Khoa học Quân sự, Số 9, 2003…

1.2 Những công trình, đề tài về công tác đảng, công tác chính trị liên quan trực tiếp đến đề tài luận án

Trang 6

1.2.1 Các công trình, nhóm công trình bàn về vị trí, vai trò CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của lực lượng vũ trang, quân đội

Cuốn sách Góp phần tìm hiểu đường lối quân sự của Đảng, của Nguyễn Đình Ước, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003; Tổng cục Chính trị, Giáo trình CTĐ, CTCT, tập 2 (dùng cho đào tạo cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch), Nxb QĐND, Hà Nội, 2008; Tổng cục Chính trị, Giáo trình CTĐ, CTCT, tập 4 (dùng cho đào tạo cán bộ cấp phân đội), Nxb QĐND, Hà Nội, 2008; Đảng ủy Quân sự Trung ương, Điều lệ công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2009; Viện khoa học xã hội và nhân văn Quân sự, Từ điển công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007; Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay, của

Nguyễn Như Hội, Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị, Hà Nội,

2009; Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quân đảo Trường Sa của các đơn vị thuộc Quân chủng Hải Quân hiện nay, của Trần Đại Nghĩa, Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị,

Hà Nội, 2010… đều khẳng định, CTĐ, CTCT trực tiếp góp phần giữ vững vàtăng cường sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là cấp uỷ, tổ chức đảng đối với mọinhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ; trực tiếp xây dựng vàphát huy nhân tố chính trị - tình thần, làm cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp củacác đơn vị; xây dựng con người, xây dựng tổ chức vững mạnh, phát huy vai tròcác tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ; và góp phần nâng cao trình độ, khả năngSSCĐ, sức mạnh chiến đấu của từng đơn vị

1.2.3 Các công trình, nhóm công trình bàn về chủ thể, lực lượng, đối tượng CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của lực lượng vũ trang, quân đội

Điều lệ Công tác chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc,

người dịch Dương Minh Hào, Triệu Anh Ba, Phòng biên tập sách quốc tế, Nxb

QĐND, Hà Nội, 2003; Viện khoa học xã hội và nhân văn Quân sự, Từ điển công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007; Tổng cục Chính trị, Hướng dẫn CTĐ, CTCT trong công tác quân sự địa phương, Nxb QĐND, Hà Nội, 1998; Bộ Quốc phòng, Giáo dục Quốc phòng (Bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và tương đương), đối tượng 2, Nxb QĐND, 2004; Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của các đơn vị cơ sở Binh đoàn Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, của Đinh Văn Thiên, Luận văn thạc sĩ Xây dựng

Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2005

1.2.3 Các công trình, nhóm công trình bàn về nội dung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ

Trang 7

Cuốn Từ điển công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007; Tổng cục Chính trị, Giáo trình CTĐ, CTCT, tập 2 (dùng cho đào tạo cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch), Nxb QĐND,

Hà Nội, 2008; Tổng cục Chính trị, Giáo trình CTĐ, CTCT, tập 4 (dùng cho đào tạo cán bộ cấp phân đội), Nxb QĐND, Hà Nội, 2008; Đảng ủy Quân sự Trung ương, Điều lệ công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2009… Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu nêu

trên là cơ sở quan quan để tác giả luận án tiếp thu, kế thừa và làm sâu sắc thêmnhững vấn đề cơ bản về CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ củaBĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

2 Đánh giá khái quát về kết quả nghiên cứu của các công trình

đã công bố và những vấn đề cơ bản luận án sẽ tập trung giải quyết

2.1 Khái quát một số kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Thứ nhất, dựa trên kết quả đánh giá, dự báo khả năng, tình huống

BLLĐ trên những địa bàn xác định, cùng với đối tượng và phạm vịnghiên cứu khác nhau, các tác giả có những quan niệm khác nhau về hoạtđộng phòng, chống BLLĐ của từng lực lượng cụ thể, đối với từng lĩnhvực cụ thể; song, nhìn chung các quan niệm ấy đều xoay quanh vấn đềlực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chống BLLĐ Khẳng địnhlực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chống BLLĐ là một yêucầu khách quan

Thứ hai, các tác giả đều khẳng định, lực lượng vũ trang, quân đội có

vị trí, vai trò rất quan trọng trong xử trí tình huống BLLĐ Việc “Quân đội tatham gia tích cực và có hiệu quả vào công cuộc phòng, chống bạo loạn lật đổ,củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị - xã hội là nhiệm vụvừa cơ bản, thường xuyên, vừa cấp bách hiện nay”

Thứ ba, các tác giả đã xác định rõ những nội dung nhiệm vụ, yêu

cầu và phương thức lực lượng vũ trang, quân đội tham gia phòng, chốngBLLĐ Đáng chú ý là, “Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang là bảo vệ cácmục tiêu trọng yếu về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá của địa phương

và trung ương; bao vây, cô lập, tiêu diệt lực lượng vũ trang phản động từbên trong; ngăn chặn các lực lượng vũ trang phản động từ bên ngoài”

Thứ tư, các tác giả đều khẳng định rằng, CTĐ, CTCT trong lực lượng

vũ trang, quân đội và trong các nhiệm vụ của đơn vị quân đội có vị trí, vai trò rấtquan trọng, là linh hồn, mạch sống của Quân đội ta Vì vậy, tiến hành CTĐ,CTCT ở từng cơ quan, đơn vị quân đội, trong tất cả các nhiệm vụ, trong đó cónhiệm vụ phòng, chống BLLĐ là một hoạt động cơ bản, là nguyên tắc trong xâydựng và hoạt động của mỗi đơn vị và toàn quân

Trang 8

Thứ năm, khi bàn về nguyên tắc tiến hành phòng, chống BLLĐ,

các tác giả đều nhất quán khẳng định: Các lực lượng vũ trang địaphương tham gia chống BLLĐ phải đặt dưới sự lãnh đạo, điều hành củacấp uỷ, chính quyền địa phương và sự chỉ đạo của cấp trên trực tiếp củamỗi lực lượng

2.2 Những vấn đề cơ bản luận án sẽ tập trung giải quyết

Một là, nghiên cứu toàn diện về CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng,

chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc, nhận diện đầy đủ sựvận động, phát triển của nó; trên cơ sở đó luận giải một cách cơ bản, hệ thốngnhững vấn đề lý luận về CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ củaBĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Hai là, khảo sát thực tiễn, đánh giá toàn diện, đầy đủ, cụ thể thực

trạng, đúc rút những kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chốngBLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Ba là, phân tích sự phát triển của tình hình nhiệm vụ, xác định yêu

cầu, đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi tăng cườngCTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địabàn Tây Bắc giai đoạn hiện nay

Trang 9

Chương 1 NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG BẠO LOẠN LẬT ĐỔ

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG CÁC TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC GIAI ĐOẠN HIỆN

NAY 1.1 Bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc và nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

1.1.1 Địa bàn Tây Bắc và bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

* Khái lược về địa bàn Tây Bắc

Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, cóchung đường biên giới với Lào 612km, với Trung Quốc 512km Vùng này cókhi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ ViệtNam (2 tiểu vùng kia là vùng Đông Bắc và vùng Đồng bằng sông Hồng) Vềmặt hành chính, vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La,Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứThái tự trị Năm 1955 Khu tự trị Thái - Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh LaiChâu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc Khu

tự trị này giải thể năm 1975

Địa hình các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc phần lớn là rừng, núi caohiểm trở (chiếm trên 75% diện tích), có nhiều khối núi và dãy núi cao chạytheo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn cao đến 1500 m,dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên 3000 m VùngTây Bắc có hai con sông lớn, đó là sông Đà và sông Thao (tức sông Hồng).Thượng nguồn của sông Mã cũng ở trên vùng đất Tây Bắc Khí hậu, thờitiết trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc rất khắc nghiệt Do ảnh hưởng của địahình rừng núi, nên khí hậu có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùamưa (từ tháng 4 đến tháng 10) thường có mưa to, kéo theo lũ lụt, đường sásạt lở, giao thông chia cắt và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau),dẫn tới tình trạng thiếu nước ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân

Dân số năm tỉnh Tây Bắc: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La vàYên Bái khoảng 3 triệu người, với 34 dân tộc anh em cùng chung sống đanxen nhau, trong đó, phần đông là các dân tộc thiểu số (chiếm tới 63%) Mật

độ dân số trung bình (theo số liệu thống kê năm 2009) là 85 người/km2,thấp hơn nhiều so với mật độ dân số chung toàn quốc (254 người/km2),phân bố không đều, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới mật độ rất thấp chỉkhoảng 9-12 người/km2 Nơi đây là địa bàn căn cứ cách mạng và an toànkhu của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong

Trang 10

suốt chiều dài lịch sử, nhân dân các dân tộc Tây Bắc luôn đoàn kết, gắn bóvới nhau đánh đuổi giặc ngoại xâm Trong công cuộc đổi mới, dưới sự lãnhđạo của Đảng, nhân dân các dân tộc Tây Bắc luôn chấp hành nghiêmđường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Hệ thống chính trị

từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh thường xuyên được củng cố, kiện toàn Tuynhiên, so với yêu cầu đổi mới, xây dựng và phát triển địa phương thì vẫncòn nhiều hạn chế, bất cập; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhất là ở

cơ sở còn yếu; hoạt động của bộ máy chính quyền, đoàn thể chất lượng,hiệu quả thấp; một số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, có địa phươngvẫn còn tới “41,17% số bản và cơ sở chưa có đảng viên”, cá biệt có nơi

“100% đồng bào người Mông, là bản “trắng” không có đảng viên”; phongtrào quần chúng hoạt động yếu, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh biêngiới, an ninh chính trị - xã hội cơ sở Lợi dụng những yếu kém đó, các thếlực thù địch đã và đang tuyên truyền, kích động, tranh thủ tập hợp lựclượng mưu đồ thành lập “Vương quốc Mông tự trị”

* Bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc (gồm CQQS và đơn

vị BĐĐP tỉnh, huyện và tương đương) là một bộ phận của lực lượng vũ trangQuân khu 2, của QĐND Việt Nam, đồng thời, là bộ phận quan trọng cấu thành

hệ thống chính trị của địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc, đặt dưới sựlãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đảng, chính quyền địaphương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy quân sự cấp trên về công tác quốcphòng, quân sự BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc được biên chế theo quyđịnh, với cơ cấu, lực lượng gồm: CQQS và các đơn vị BĐĐP Cấp tỉnh có bộchỉ huy quân sự tỉnh với các phòng chức năng (tham mưu, chính trị, hậu cần,

kỹ thuật), trường quân sự, mỗi tỉnh biên giới có một trung đoàn thiếu, các đạiđội BĐĐP đủ quân Cấp huyện có ban chỉ huy quân sự huyện với các ban trựcthuộc (tham mưu, chính trị, hậu cần - kỹ thuật), các tiểu đoàn khung thườngtrực

Khi có Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp của Ủy Ban thường vụ QuốcHội do Chủ tịch nước công bố, BĐĐP được mở rộng ở cấp tỉnh từ 1-2 trungđoàn BĐĐP đủ quân, cấp huyện đến tiểu đoàn BĐĐP đủ quân

1.1.2 Nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

* Bạo loạn lật đổ và âm mưu, thủ đoạn gây BLLĐ của địch ở địa bàn các tỉnh Tây Bắc

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “Bạo loạn là hành độngchống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng lykhai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rốiloạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địaphương hoặc trung ương) Có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang, bạo loạn

Trang 11

chính trị kết hợp với vũ trang Bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đếquốc và các thế lực phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để xóa bỏchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Âm mưu của các thế lực thù địch là tạo ra một vùng mất ổn định, tiến

tới ly khai, thành lập “Vương quốc Mông tự trị” trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc

và vùng lân cận

Về thủ đoạn, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc,

tôn giáo, kích động tư tưởng ly khai, tự trị; móc nối gây dựng lực lượng chốngphá ta trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc Từ cuối năm 2008 đến nay, hoạt độngtuyên truyền về “Vương quốc Mông tự trị” có xu hướng gia tăng và dịchchuyển từ Bắc Lào vào Điện Biên và lan rộng ra các tỉnh trên địa bàn Tây BắcViệt Nam Chúng đặc biệt quan tâm và triệt để lợi dụng tâm lý của ngườiMông là muốn có vua và lợi dụng sinh hoạt đạo Tin lành để kích động, lôi kéomột bộ phận người Mông tin theo luận điệu tuyên truyền về “Nhà nước Mông

tự trị”, “Vương quốc Mông”

Để xây dựng lực lượng vũ trang và các tổ chức phản động, bọn phảnđộng ở trong và ngoài nước đã có những hoạt động cấu kết với nhau, tổ chứccác hoạt động tập hợp lực lượng, huấn luyện quân sự, mua sắm vũ khí nhằmgây bạo loạn, tiến tới thành lập “Vương quốc Mông tự trị” Qua đấu tranh khaithác, ta phát hiện một số đối tượng ở huyện Mường Nhé/Điện Biên đã móc nốivới lực lượng phản động ở Lào, Trung Quốc, tổ chức hoạt động tập hợp lựclượng, huấn luyện, mua sắm vũ khí mục đích kéo sang Lào, phối hợp với bọnphản động ở Lào gây bạo loạn lật đổ, thành lập “Vương quốc Mông”

Thông qua các hoạt động ký kết hợp đồng kinh tế, hoạt động từ thiện,hoạt động tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh, hoạt động khảo sát,nghiên cứu du lịch sinh thái… để điều tra, thăm dò, móc nối cơ sở cũ và xâydựng cơ sở mới Đáng chú ý, các tổ chức phi chính phủ hoạt động theo Hiếnchương Liên hợp quốc (Non-Govermental Organization, viết tắt là NGO) đặttrụ sở đại diện, hoạt động tại Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nông - lâm nghiệp,

y tế, giáo dục… Bên cạnh những hiệu quả do NGO mang lại, đóng góp vàoxóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội vùng sâu, vùng xa, chương trình

y tế, nhân đạo… Song, trong hàng ngũ cán bộ nhân viên của NGO có nhữngphần tử cực đoan, lợi dụng chính sách mở cửa của Việt Nam để hoạt độngchính trị, chống phá trên nhiều lĩnh vực Nổi lên ở vùng Tây Bắc là, chúng đãtrợ giúp đắc lực, bảo đảm tài chính, chuyển phát tài liệu ấn phẩm phản động,

hỗ trợ cho đào tạo, bồi dưỡng phần tử phản động thuộc đồng bào thiểu số vàchỉ đạo các hoạt động của lực lượng phản cách mạng ở địa phương; tập trungthực hiện mục tiêu “Tin lành hóa” đời sống chính trị, xã hội đồng bào các dântộc thiểu số, tranh giành ảnh hưởng với Đảng, chính quyền địa phương, lôi kéoquần chúng thực hiện ý đồ ly khai, tự trị

Trang 12

Thông qua các phương tiện, lực lượng tuyên truyền để kích động, tậphợp lực lượng biểu tình, gây rối, bạo loạn Các thế lực thù địch đặc biệt quantâm đến đồng bào thiểu số người Mông Nhiều đài phát thanh của phương Tây,điển hình là đài FEBC (đặt ở Ma-ni-la Phi-lip-pin) thường xuyên, liên tục phát

đi chương trình giảng kinh Thánh bằng tiếng Mông với những nội dung chủyếu là ca ngợi Vàng Chứ (tức chúa trời), lôi kéo, hướng dẫn người Mông bỏtập quán tín ngưỡng truyền thống đi theo đạo Tin lành - Vàng Chứ; khơi dậyquá khứ tồn tại của Vương quốc Miêu xa xưa, làm thấm đẫm vào người nghemối hận thù dân tộc; khơi dậy ý thức vị kỷ, cực đoan, đi đến tự phá bỏ khốiđoàn kết giữa người Mông với các tộc người khác Bằng những luận điệu nguyhiểm và nham hiểm nhất của đài FEBC là “lên án tổ tiên người Mông khônglập Tổ quốc riêng cho tộc mình nên cơ hàn, cực khổ bao đời nay, lên án ngườiMông hiện nay theo đường “đạo cũ” (ám chỉ theo Đảng và Nhà nước) baonăm nay mà vẫn chưa hết khổ”

Lợi dụng những khó khăn, bất cập trong việc tổ chức thực hiện chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch triệt để khaithác mâu thuẫn nội bộ như: đời sống kinh tế, quan hệ bất bình đẳng giữa cácdân tộc, những sai lầm, thiếu sót trong quản lý kinh tế, xã hội và việc giải quyếtcác vấn đề đó… để gây rối loạn tình hình an ninh chính trị - xã hội; tạo cớ gâyxung đột nội bộ, tiến tới biểu tình, đòi yêu sách về đời sống (đất đai, cơ sở sinhhoạt tôn giáo…), sau đó là yêu sách về chính trị, nếu không đạt được sẽ gâyBLLĐ, cướp chính quyền

* Nhiệm vụ và đặc điểm nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Hoạt động phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc là tổng thể các chủ trương, nội dung, biện pháp xây dựng các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị BĐĐP; tham gia xây dựng và cùng với hệ thống chính trị địa phương chủ động ngăn ngừa, triệt tiêu những nhân tố dẫn đến BLLĐ; đồng thời, phối hợp với các lực lượng liên quan trong khu vực phòng thủ kiên quyết đập tan mọi hành động gây BLLĐ của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bộ máy chính quyền địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc.

Nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc Một là, tham gia xây dựng cơ sở địa phương VMTD đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ QP-AN Hai là, thực hiện chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng,

Nhà nước; đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng

vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm tập hợp lực lượng gây BLLĐ Ba là, phối hợp

cùng các lực lượng tham gia xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội kết

hợp với củng cố QP-AN Bốn là, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện những

Trang 13

nhân tố có thể dẫn đến mất ổn định để tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa

phương có chủ trương, biện pháp, kế hoạch chủ động giải quyết, đối phó Năm

là, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và tổ chức huấn luyện, diễn tập các phương

án chống BLLĐ sát thực tế Sáu là, phối hợp với các lực lượng trong khu vực

phòng thủ chủ động, kiên quyết bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sựđược phân công và đánh chiếm lại mục tiêu khi bị lực lượng BLLĐ chiếm giữ

Bảy là, sẵn sàng tham gia tiêu diệt lực lượng vũ trang phản ứng nhanh của địch

từ nước ngoài hỗ trợ, chi viện cho bọn phản động gây BLLĐ

Đặc điểm nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Thứ nhất, đối tượng của nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP

các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc đa dạng, phức tạp

Thứ hai, lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ là tất cả

cơ quan, đơn vị, mọi CB, CS thuộc BĐĐP, trong đó cán bộ là người dân tộc ởđịa phương chiếm tỷ lệ thấp; hạ sĩ quan, binh sĩ là người dân tộc ở địa phươngchiếm tỷ lệ cao

Thứ ba, quá trình thực hiện nhiệm vụ BĐĐP luôn đặt dưới sự lãnh

đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, sự điều hành thống nhất của chính quyền địaphương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy cấp trên

Thứ tư, địa bàn thực hiện nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ là vùng rừng

núi, vùng sâu, vùng xa, có biên giới, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ giữaBĐĐP với các tổ chức, các lực lượng liên quan

1.2 Những vấn đề cơ bản về công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

1.2.1 Quan niệm công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm

vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc

Với phương pháp tiếp cận CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ phòng, chốngBLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc theo Điều lệ Đảng Cộng sảnViệt Nam, Điều lệ CTĐ, CTCT trong QĐND Việt Nam, đặc biệt là giáo trìnhCTĐ, CTCT trong công tác quốc phòng, quân sự địa phương của Tổng cụcChính trị QĐND Việt Nam và thực tiễn đặc điểm, nhiệm vụ phòng, chốngBLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc, tác giả luận án đưa ra quan

niệm: Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống BLLĐ của BĐĐP các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy địa phương và cấp ủy, tổ chức đảng trong BĐĐP; bao gồm tổng thể các hoạt động công tác tư tưởng, công tác tổ chức

và công tác chính sách do các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức quần chúng ở địa phương tiến hành,

Ngày đăng: 03/12/2014, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w