Đồng thời, các tập đoàn kinh tế nhà nước có 4 tiêu chí hay đặc tính thốngnhất chung: 1chịu sự quản lý theo luật pháp, 2hoạt động trong thể chế tàichính công khai minh bạch, 3có thể huy đ
Trang 1Lời nói đầu
Tất cả các quốc gia đều hiểu rằng: “Chìa khóa cho sự phát triển nền kinh
tế là họ phải giữ cho đèn luôn sáng và xe luôn chạy” Vậy có sự phù hợp nàokhông giữa mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế của Việt Nam với cụm danh
từ “cắt điện” và “tắc đường” dường như được nhắc đến lại quá phổ biến? Câutrả lời là “Không!” Tất cả các thành viên trong nền kinh tế từ chính phủ đếnngười dân đều hiểu rất rõ ý nghĩa về những điều này
Nếu ví von nền kinh tế như một cơ thể sống, thì điện được xem nhưnguồn cung cấp ô xi cho cơ thể nền kinh tế tồn tại và hoạt động được Tất nhiên,không có điện, nền kinh tế sẽ chết; và thiếu điện thì nền kinh tế “bị ốm” Và nềnkinh tế Việt Nam không phải là một nền kinh tế “khỏe mạnh” nếu xem xét từgóc độ này
Cung cấp điện ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần được xem xét thậntrọng và nghiêm túc Bên cạnh những thành quả đã đạt được, điện lực Việt Namvẫn chưa làm tốt được chức năng cũng như vai trò chính của mình Nó là vấn đềthu hút được nhiều sự quan tâm trong xã hội
Đóng vai trò một ngành then chốt trong nền kinh tế, cần thiết phải xâydựng một ngành điện lực Việt Nam ngày càng mạnh, có đủ khả năng cung cấpđiện cho toàn bộ nền kinh tế là một yêu cầu cấp thiết Xuất phát từ thực tế đó,việc nghiên cứu thực tiễn nghành điện Việt Nam đồng thời nghiên cứu các kinhnghiệm để xây dựng một thị trường điện cạnh tranh là một nghiên cứu cần thiết
để đưa ra những hướng đi đúng đắn nhằm trả lời cho bài toán của chính phủ vềviệc : “Cần phải xây dựng và hoàn thiện một thị trường điện Việt Nam có tínhcạnh tranh” như thế nào Vì vậy chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học
“Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị nhằm lựa chọn mô hình cho thịtrường điện lực cạnh tranh ở Việt Nam”
Bố cục đề tài nghiên cứu gồm bốn chương:
Chương I Cơ sở lí luận về tập đoàn kinh tế và cạnh tranh trong tập đoànkinh tế
Trang 2Chương II Thực trạng tập đoàn điện lực Việt Nam.
Chương III Bài học kinh nghiệm cho xây dựng thị trường điện cạnh tranh
Chóng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 31.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là bước phát triển tất yếu một khi nó hội tụ đủ các điềukiện cần thiết về vốn, công nghệ cũng như khi thực tế đòi hỏi các công ty phải
có mối quan hệ mật thiết để giảm áp lực cạnh tranh, tập trung tiềm lực để pháttriển theo hướng đa lĩnh vực, xuyên quốc gia Hiện nay có rất nhiều cách hiểukhác nhau về Tập đoàn kinh tế
Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company Để chỉ các tậpđoàn kinh tế tồn tại như một thực thể có tư cách pháp nhân Tại các nước Tây Âu vàBắc Mỹ, khi nói đến “Tập đoàn kinh tế” người ta thường sử dụng các từ:
“Consortium”, “Cartel”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay “Group” Đồng thờiphải kể thêm hai từ xuất phát từ châu á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của HànQuốc
Conglomerate
Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn,
có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gầnnhư không liên hệ gì với nhau Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiệnnay ở Việt Nam Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại diđộng, và sau này vì mét lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởngquyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấpdịch vụ Internet FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngânhàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT
Holding company
Trang 4Từ holding company (công ty mẹ) cũng rất thông dụng trên thế giới.
Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu củamột hay nhiều công ty con khác Thường được gọi là công ty mẹ (parentcompany) vì công ty này luôn nhằm sở hữu đủ số cố phiếu, với mục đích có ảnhhưởng quyết định đối với công ty con (subsidiary) như quyết định người lãnhđạo và mục tiêu phát triển
Cartel
Trong tiếng Anh, từ Cartel cũng rất hay được sử dụng để chỉ khái niệm “Tập
đoàn kinh tế” Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích làtăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hoá,hoặc các biện pháp hạn chế khác
Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bánhàng hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soátgiá mua nguyên vật liệu đầu vào
Tại nhiều nước, mặc dù bị cấm bởi luật chống phá giá (Antitrust law); tuynhiên, nhiều Cartel vẫn tiếp tục tồn tại trên phạm vi quốc gia và quốc tế, dướihình thức ngầm hoặc công khai, chính thức hoặc không chính thức
Cũng cần lưu ý rằng theo khái niệm này thì một tổ chức đơn lẻ nắm giữthế độc quyền không phải là một Cartel, dù rằng có thể nó lạm dụng sự độcquyền bằng cách khác
Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một sốloại hàng hoá nhất định, nơi có Ýt người bán và thường đòi hỏi những sản phẩm
có tính đồng nhất cao
Từ đó, Các nhà kinh tế học cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về TĐKT: “TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thịtrường khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung, trong đócác thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ tin cậy lẫnnhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại” (Leff, 1978);
“TĐKT là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong mộtthời gian dài” (Powell & Smith- Doesrr, 1934); “TĐKT dựa trên hoạt động cung
Trang 5sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngănngừa một nhóm công ty sát nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất”(Granovette, 1994) [1]
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế đượcxếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
“Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài vớinhau về lợi Ých kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.Thành phần của nhóm công ty gồm có:
Công ty mẹ, công ty con
Tập đoàn kinh tÕ
Các hình thức khác”.[2]
Còn quan điểm của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương CIEM thì:
"Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanhnghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong mét hay nhiều ngành khác nhau,
có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và cácliên kết khác xuất phát từ lợi Ých của các bên tham gia Trong mô hình này,
"công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tàichính và chiến lược phát triển."[3]
1.2 Các mô hình tập đoàn:
Mô hình liên kết ngang:
- Là mô hình liên kết giữa các DN cùng ngành
- Chủ yếu dùng để hình thành liên kết chống lại sự thôn tính và cạnh tranhcủa DN hoặc hàng hóa bên ngoài
- Công ty mẹ thực hiện chức năng quản lý, điều phối và định hướng chungcho cả tập đoàn, đồng thời trực tiếp kinh doanh những dịch vụ, khâu liên kếtchính của tập đoàn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty con hoạt động(xuất nhập khẩu nguyên liệu, sản phẩm chính; nghiên cứu khoa học; nắm giữ vàcung cấp các trang thiết bị, dịch vụ quan trọng, hoạt động kinh doanh tài chính)
Trang 6- Các công ty con có thể được tổ chức phân công chuyên môn hóa và phốihợp để sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh theo đặc thù công nghệ của ngành.
Trang 7- Là mô hình liên kết giữa các DN khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ
về công nghệ, tạo thành một liên hợp sản xuất-kinh doanh-thương mại hoànchỉnh
- Công ty mẹ là công ty có tiềm lực kinh tế mạnh nhất, nắm giữ các bộphận then chốt nhất trong dây chuyền công nghệ, đồng thời thực hiện chức năngquản lý, điều phối và định hướng chung cho cả tập đoàn
Liên kết hỗn hợp đa ngành, đa lĩnh vực:
- Liên kết các DN trong nhiều ngành, nghề và lĩnh vực, có mối quan hệchặt chẽ về tài chính
- Công ty mẹ không nhất thiết trực tiếp sản xuất kinh doanh mà chủ yếulàm nhiệm vụ đầu tư, kinh doanh vốn; điều tiết, phối hợp kinh doanh bằng chiếnlược, kế hoạch phát triển, kinh doanh thống nhất
1.3 Các đặc trưng cơ bản của TĐKT
Tập đoàn kinh tế bao gồm 3 đặc trưng cơ bản
Các TĐKT thường có quy mô lớn về vốn, doanh thu và phạm vi hoạt động.
Sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong một tập đoàn luôn luônnhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụkinh doanh Vì vậy, khi đã hình thành tập đoàn, các doanh nghiệp thành viênphát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó,tổng tài sản trong toàn tập đoàn cũng khá lớn
Các tập đoàn kinh tế thường chiếm phần lớn thị phần trong những mặthàng chủ đạo của tập đoàn đó và vì vậy có doanh thu rất cao
Và phần lớn các tập đoàn mạnh trên thế giới hiện nay là tập đoàn đa quốcgia, tức là có các chi nhánh, công ty con ở nhiều nước trên thế giới
Các TĐKT đã và đang hoạt động trên thế giới hiện nay đều là những tập đoàn đa ngành, tức là hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực.
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực là xu hướng có tínhquy luật cùng với sự phát triển của các tập đoàn kinh tế Với sự kết hợp ngàycàng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh
Trang 8doanh và sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, hiện nay,các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và các viện nghiên cứu ứng dụng vềkhoa học, công nghệ tham gia vào các tập đoàn kinh tế ngày càng nhiều.
Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn.
Về cơ cấu tổ chức, cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý của mộtquốc gia nào quy định một cơ cấu tổ chức thống nhất cho tập đoàn kinh tế Bởi
lẽ, các tập đoàn kinh tế được hình thành dần dần trong quá trình phát triển; haihoặc một số doanh nghiệp hình thành một tập đoàn theo nguyên tắc tự nguyện,hiệp thương
Vấn đề quan trọng nhất cần nhấn mạnh:
Tập đoàn không phải là một doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhânđộc lập Do đó, các mệnh lệnh hành chính không được sử dụng trong điều hànhcác tập đoàn Các doanh nghiệp là thành viên của tập đoàn đều có pháp nhânđộc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên (với công tyTNHH), đại hội cổ đông (với công ty cổ phần) Theo thỏa thuận giữa các thànhviên của tập đoàn, chủ tịch hội đồng thành viên, hội đồng quản trị các công tytrong tập đoàn tập hợp lại thành hội đồng chủ tịch tập đoàn Hội đồng chủ tịchbầu ra chủ tịch tập đoàn Hội đồng chủ tịch không thực hiện chức năng điềuhành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh và tổ chức của các công tythành viên, do đó, không có chức danh tổng giám đốc tập đoàn
Sở hữu vốn trong các tập đoàn kinh tế cũng rất đa dạng Trước hết, vốntrong tập đoàn là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tưnhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong tập đoàn cũng tùy thuộc vàomức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công ty mẹ và thông thường ởhai cấp độ:
Cấp độ thấp hay còn gọi là liên kết mềm, vốn của công ty "mẹ", côngty"con", công ty "cháu" là của từng công ty
Cấp độ cao hay còn gọi là liên kết cứng là công ty "mẹ" tham gia đầu tưvào các công ty con, biến các công ty "con", công ty "cháu" thành công tyTNHH một thành viên do công ty "mẹ" làm chủ sở hữu hoặc công ty "mẹ"
Trang 9ty "con","cháu" là công ty cổ phần) Trên thực tế, không một tập đoàn kinh tếnào chỉ có quan hệ về sở hữu vốn theo một cấp độ mà đan xen cả hai cấp độ tùytheo từng trường hợp trong quan hệ giữa công ty "mẹ" và công ty "con", "cháu".
[4]
2 Tập đoàn kinh tế nhà nước
2.1 Đặc điểm riêng của tập đoàn kinh tế nhà nước
Khi ra đời, tập đoàn kinh tế mang những đặc điểm riêng biệt mà tập đoànkinh tế tư nhân không có
- Tập đoàn kinh tế nhà nước thường hoạt động mang tính chất độcquyền do được Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó Hay
do sở hữu được một nguồn lực rất khan hiếm, những loại hàng hóa có tính chấtđặc biệt như điện, nước, dầu khí …
- Mặt khác ta thấy ngay ở tên gọi của loại hình tập đoàn này, ta cũngthấy có sự khác biệt Đó là sự sở hữu của nhà nước đối với loại hình tập đoànnày Chính vì vậy mà việc tách bạch giữa quyền lực chính trị của Nhà nước rakhỏi quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn của nó là khó nhất, bởi lẽ quyềnlực chính trị của Nhà nước và quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn này đềunằm trong một thực thể chính trị chung, đó là Nhà nước
Đồng thời, các tập đoàn kinh tế nhà nước có 4 tiêu chí hay đặc tính thốngnhất chung: (1)chịu sự quản lý theo luật pháp, (2)hoạt động trong thể chế tàichính công khai minh bạch, (3)có thể huy động vốn từ khu vực tư nhân hoặc khuvực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo những quy định chặt chẽcủa luật pháp và của thể chế tài chính quốc gia - song không được phép có ngânhàng riêng, (4)phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thế giới Tính đặc thù của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, thể hiện trong ba chứcnăng chính của nó:
- Chống nguy cơ độc quyền tư nhân với những sản phẩm kinh tế cần thiếtcho sự phát triển chung của kinh tế cả nước
Trang 10- Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả nước đối với các quốcgia khác trên thị trường thế giới.
- Đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh quôc phòng.Chính vì ba chức năng trên mà TĐKTNN có được nhiều sự ưu ái của nhànước đối với nguồn lực đầu tư về: vốn, đất đai, công nghệ… Các TĐKTNNđược ưu ái quá nhiều, nhưng ở không Ýt lĩnh vực lại chưa chứng tỏ được vai tròthủ lĩnh của mình trong nền kinh tế Điều này dẫn đến tiêu tốn nhiều nguồn lựccủa nhà nước, nên các khu vực kinh tế khác Ýt có điều kiện tiếp cận với cácnguồn lực này do được dành để phân bổ quá nhiều cho các TĐKTNN Sự "chiềuchuộng" thái quá các TĐKTNN còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh,khiến các doanh nghiệp nhỏ (chủ yếu ở khu vực tư nhân) bị hạn chế cơ hội pháttriển, trong khi đây là khu vực luôn có sự phát triển năng động bậc nhất hiệnnay
2.2 Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của TĐKTNN
Mô hình Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước xuất hiện lần đầu tiênvào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 (khoảng từ 1830) tại một số nước châu Âu (chủyếu là Tây Âu) trong giai đoạn công nghiệp hóa phát triển bùng nổ ban đầu.Nguyên nhân chính của sự xuất hiện này là một số sản phẩm hay ngành kinh tế
tự nó mang tính chất độc quyền rất cao, nếu để nằm trong khu vực tư nhân màmục đích hàng đầu của nó là lợi nhuận sẽ có nguy cơ dẫn tới những chiều hướngphát triển thiên lệch có hại cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cảnước, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của cả nước với các nước xungquanh
Vì vậy mà các tập đoàn kinh tế nhà nước thường hoạt động trong nhữnglĩnh vực giữ vị trí rất quan trọng, then chốt trong nền kinh tế của một nước Cáctập đoàn này thường tập trung vào các lĩnh vực như các ngành cung cấp than,điện, hàng không, bưu chính viễn thông, một số sản phẩm trong lĩnh vực kết cấu
hạ tầng khác như cung cấp nước, giao thông vận tải thủy và bộ (ví dụ đường sắt,các cảng biển) Ngoài ra một số đòi hỏi nhất định về an ninh và quốc phòng
Trang 11Với cách hiểu đó, cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thịtrường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhucầu và mong muốn của người tiêu dùng Khi có cạnh tranh, không một chínhphủ nào cần phải quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lượng,chất lượng và giá cả thế nào Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó vớicác doanh nghiệp
Cạnh tranh là gì? Toàn bộ ý nghĩa của khái niệm này là người mua đượcquyền chọn lựa Tất nhiên những người mua này có thể là các doanh nghiệpkhác hoặc các cá nhân người tiêu dùng Dù là một nhà máy lọc dầu mua dầu thô,một dây chuyền các trạm xăng mua xăng hay một cá nhân người lái xe muốn đổđầy bình xăng của mình, nếu họ được chọn lựa trong số các nhà cung cấp khácnhau thì họ sẽ có nhiều khả năng mua được những sản phẩm chất lượng cao vớigiá cả hợp lý hơn [6]
Như vậy, cạnh tranh là để thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh, không chỉ trong mỗi doanh nghiệp mà là cả trong tất cả các nghành, cáclĩnh vực, trong toàn bộ nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của ngườitiêu dùng – họ sẽ được mua sản phẩm dịch vụ với giá thành rẻ và chất lượngcao
1.2 Sự cần thiết của cạnh tranh trong nền kinh tế.
Cạnh tranh đem lại lợi Ých tốt nhất cho người tiêu dùng, đồng thời thúcđẩy sự phát triển của nền kinh tế Việc xây dựng các thị trường kinh tế cạnhtranh là một yêu cầu kinh tế tất yếu Bởi những lÝ do sau:
Trang 12Thứ nhất, cạnh tranh là một quy luật kinh tế khách quan Tồn tại trong tất
cả các nền kinh tế thị trường
Thứ hai, Cạnh tranh để các chủ thể tồn tại và khẳng định mình trong nền
kinh tế Đặc biệt là trong thời đại toàn cầu và hội nhập kinh tế đang diễn ramạnh mẽ ở tất cả các quốc gia
Thứ ba, cạnh tranh đem lại lợi Ých cho tất cả các thành viên trong nền
kinh tế: Người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm dịch vụ giá thành rẻ, chấtlượng cao; Người sản xuất thu được lợi nhuận tối đa và khẳng định được vị thếtrên thị trường; Chính phủ đảm bảo được lợi Ých ròng xã hội là lớn nhất
Tuy nhiên, cũng cần thấy được những thất bại trên thị trường cạnh tranhgây nên tổn thất xã hội, nó đòi hái sự can thiệp đúng mức của chính phủ để điềuchỉnh các thi trường một cách tốt nhất
2 Cạnh tranh trong tập đoàn kinh tế nhà nước
Trong một số bối cảnh, sức mạnh của thị trường không bảo vệ được sựcạnh tranh trong kinh doanh và lợi Ých mà sự cạnh tranh đó đem lại cho ngườitiêu dùng, những bối cảnh như vậy rất phổ biến ở các nước đang phát triển, nơicác doanh nghiệp trước kia là của nhà nước thường khống chế một nền côngnghiệp và các nhà quản lý ở các khu vực đã được tư nhân hoá thường thích hợptác hơn là cạnh tranh.[7]
Điều này thấy rõ nhất trong các tập đoàn kinh tế nhà nước, do bản chất sởhữu nhà nước của những tập đoàn này khiến chúng chậm thích nghi hoặc khôngthể thích nghi với sự biến động năng động của môi trường kinh tế - thể hiện tậptrung ở sự giảm sút khả năng cạnh tranh của nhóm tập đoàn này; Nó đặt ra yêucầu cấp bách: Cần phải xây dựng những tập đoàn kinh tế có tính cạnh tranh cao
để đảm bảo vai trò là những “quả đấm thép” trong nền kinh tế
Cơ sở của sự cạnh tranh trong một tập đoàn kinh tế nhà nước.
Xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước cạnh tranh là một tất yếu kháchquan ở các tập đoàn kinh tế nhà nước thường cũng chính là một ngành, một thịtrường riêng biệt đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế Quy luật cạnh tranh
Trang 13đoàn này
Có quan điểm cho rằng, có những thị trường, trong đó cạnh tranh khôngđem lại ý nghĩa kinh tế nào Chúng ta không muốn các công ty nước đang cạnhtranh đào các đường ống dẫn dưới các phố để những người tiêu dùng có thểchọn lựa trong số các nhà cung cấp nước Có một vài lĩnh vực như vậy thườngđược gọi là "những lĩnh vực độc quyền tự nhiên", trong đó, như bản thân thuậtngữ này cho thấy, lợi Ých của việc cạnh tranh không đáng với cái giá phải bỏ ra
Do đó những lĩnh vực này thường do nhà nước quản lý hoặc điều tiết.[8] Tuynhiên cũng cần lưu ý rằng:
- Có Ýt lĩnh vực độc quyền tự nhiên hơn nhiều so với người ta từng nghĩ
Ví dụ ngành đường sắt vẫn được nhiều người coi là lĩnh vực độc quyền tự nhiên,một ngành mà ở nhiều nước cần phải có sự kiểm soát chặt của chính phủ, nhưngquyền lợi của những người gửi hàng lại được bảo vệ tốt hơn nhờ sự cạnh tranhcủa các hãng vận tải đường bộ và đường thuỷ hơn là nhờ sự kiểm soát của chínhphủ
- Và ở những lĩnh vực độc quyền tự nhiên, không phải trong tất cả cáckhâu đều cần thiết phải có một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật với nguồn vốnđầu tư ban đầu rất lớn Vẫn có thể cạnh tranh để giảm chi phí sản xuất ở cáckhâu bộ phận
- Cuối cùng, các doanh nghiệp mà ở đây chính là các tập đoàn kinh tế sẽ
cố gắng vô hiệu hoá cạnh tranh Họ thích có cạnh tranh khi họ đóng vai tròngười mua trên thị trường, tìm kiếm những sản phẩm tốt nhất với giá cả hợp lýnhất cho bản thân và thường hợp tác với các nhà chức trách về vấn đề cạnh tranh
để bảo vệ sự cạnh tranh đó Nhưng họ có xu hướng thích một sự tồn tại dễ dànghơn và đoàn kết hơn khi họ bán các sản phẩm của mình cho người mua Nhưnhà kinh tế học người Anh J R Hicks có lần đã nhận xét: " Lợi Ých tốt nhấttrong tất cả những lợi Ých của sự độc quyền là một cuộc sống êm ả".[9]
Đó là những lÝ do cơ bản nhất để thấy được nhiêm vụ của nhà nước làphải biết can thiệp vào khâu nào của từng thị trường với các đặc trưng riêng để
Trang 14ngăn chặn không để xảy ra những hành động buộc các nhà cung cấp hoặc cácnhà phân phối của mình ký các hợp đồng độc quyền để bảo đảm vị trí chiếm lĩnhcủa mình trên một thị trường nhất định nhằm bảo vệ lợi Ých cho người tiêudùng và đảm bảo cạnh tranh không bị hạn chế trong một thị trường tự do.
Tập đoàn kinh tế cạnh tranh như thế nào?
- Thứ nhất, xuất phát từ chức năng của các tập đoàn kinh tế là đóng vai tròchủ đạo ở các lĩnh vực then chốt, là những quả đấm thép trong nền kinh tế nên
nó cần chịu sự quản lí điều tiết vĩ mô từ phía nhà nước.Vừa đảm bảo được vaitrò của mình, đồng thời phát huy được sự chủ động về hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh
- Thứ hai, các tập đoàn kinh tế nhà nước với vai trò là các thành viêntrong nền kinh tế, hoạt động không nằm ngoài các quy luật kinh tế khách quan:cạnh tranh, cung cầu, giá trị và chịu tác động trước những biến động của môitrường như các thành phần kinh tế khác
Như vậy, tập đoàn kinh tế cũng sẽ cạnh tranh theo cơ chế của thị trường
và cạnh tranh trong sự điều tiết của chính phủ ở đó, cạnh tranh diễn ra giữa:
Các tập đoàn kinh tế với các các thành viên kinh tế khác trong nền kinhtế
Cạnh tranh giữa các tập đoàn kinh tế với nhau
Cạnh tranh ngay trong nội bộ tập đoàn
Câu hỏi đặt ra: Có mâu thuẫn không khi phải cạnh tranh ngay trong một tập đoàn? Có thể hiểu rõ hơn về câu trả lời khi xem xét các luận điểm dưới đây:
- Tập đoàn kinh tế cũng là doanh nghiệp với mục tiêu lợi nhuận Cạnhtranh để nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh ở tập đoàn Đó làmột tất yếu
- Tập đoàn kinh tế nhưng lại là một lĩnh vực đặc thù, một nghành, một thịtrường Vì vậy không có gì lạ khi cạnh tranh diễn ra trong một ngành, trên mộtthị trường để giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ của ngành Êytrên thị trường đó
Trang 15tự nhiên Nhưng độc quyền tự nhiên không phải ở tất cả các khâu của ngành,cạnh tranh ở các khâu bộ phận không phải độc quyền tự nhiên là cần thiết để hạnchế đến mức tối đa tính độc quyền của các ngành này.
Có thể xem xét các ví dụ:
Trong ngành đường sắt, độc quyền tự nhiên diễn ra ở hệ thống đường ray
xe lửa, nhà nước ở nhiều quốc gia cho các hãng tư nhân thuê hệ thống đường raynày tạo ra trên thị trường nhiều hãng vận tải trong ngành đường sắt, cung cấp đadạng các dịch vụ đến từng đối tượng khách hàng với các mức giá cạnh tranh vàchất lượng dịch vụ ngày càng cao
Hay như trong ngành viễn thông, việc cho các công ty di động, các công
ty dịch vụ mạng Internet thuê lại trục truyền tải quốc gia do nhà nước quản lícũng tạo ra được sự cạnh tranh ngay trong ngành Và lợi Ých người tiêu dùngđược thỏa mãn ngày càng cao
Như vây:
Cạnh tranh trong tập đoàn kinh tế là một yêu cầu tất yếu khách quan Nó được hiểu là tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng ngành, từng lĩnh vực mà tập đoàn hoạt động để xây dựng được những thị trường bộ phận cạnh tranh lành mạnh và minh bạch Từ đó giúp giảm đến mức thấp nhất các chi phí sản xuất,nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của ngành, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khẳng định được vai trò của tập đoàn trong nền kinh tế.
Có nhiều cách làm khác nhau để xây dựng thành công các tập đoàn kinh
tế cạnh tranh, nó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từngthời kì, đồng thời phụ thuộc vào đặc trưng riêng của ngành mà tập đoàn đó hoạtđộng Vì thế, cần nghiên cứu kĩ tất cả các điều kiện để có thể xây dựng được môhình tập đoàn kinh tế hiệu quả nhất mà cạnh tranh đem lại
Trang 16Chương II
Thực trạng cạnh tranh trong tập đoàn
điện lực Việt Nam
I Giới thiệu chung về tập đoàn điện lực Việt Nam.
1 Sù ra đời của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Xuất phát từ nhu cầu của nền kinh tế về việc nhà nước cần phải có nhữngdoanh nghiệp đủ mạnh, làm đầu tàu chủ đạo cho nền kinh tế quốc dân, tiến tới
về lâu dài những doanh nghiệp này phải trở thành các tập đoàn kinh tế hùng hậu,
đủ sức hội nhập và cạnh tranh trong khu vực và trên toàn thế giới Các tập đoànkinh tế nhà nước đã ra đời, đóng những vai trò then chốt để đảm bảo nền kinh tếphát triển Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) là một tập đoàn kinh tế nhà nướchoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực chính là sản xuất điện nhằm cungcấp và đáp ứng đủ nhu cầu điện của quốc gia
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điệnlực Việt Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ EVN kinh doanh đa ngành Trong đó, sản xuất, kinhdoanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinhdoanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, côngnghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo
2 Cơ cấu tổ chức của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hoạt động theo mô hình Công ty mẹ
Trang 17nước và các công ty con, công ty liên kết được thực hiện theo pháp luật và quyđịnh trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ.
EVN là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng,điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước, ngânhàng theo quy định của pháp luật; được tự chủ kinh doanh; có trách nhiệm kếthừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng công ty #iện lực Việt Nam
Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụcủa chủ sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam.[10]
3 Mục tiêu, chức năng của tập đoàn EVN.
Chức năng của tập đoàn:
Chức năng quan trọng nhất của tập đoàn EVN là đảm bảo cung cấp đủđiện cho toàn bộ nền kinh tế vận hành và phát triển Đồng thời đóng vai trò làquả đấm thép trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, qua đó làm cơ
sở cho những tác động vĩ mô của chính phủ để điều tiết nền kinh tế
Mục tiêu của tập đoàn điện lực Việt Nam:
Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh cólãi, bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn củaEVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò trung tâm để phát triển mộtTập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước làchi phối; Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia ViệtNam
Từ mục tiêu chung nhất đó, mục tiêu phát triển của ngành Điện Việt Namtrong thời gian tới là: sử dụng tốt các nguồn thuỷ năng, khí và than để phát triểncân đối nguồn điện; xây dựng các cụm khí - điện - đạm ở Phú Mỹ và khu vựcTây Nam; xúc tiến nghiên cứu, xây dựng thuỷ điện Sơn La; nghiên cứu phương
án sử dụng năng lượng nguyên tử; đồng bộ hoá, hiện đại hoá mạng lưới phânphối điện quốc gia; đa dạng hoá phương thức đầu tư và kinh doanh điện; cóchính sách thích hợp về sử dụng điện ở nông thôn, miền núi; tăng sức cạnh tranh
về giá điện so với khu vực
Trang 184 Phương thức tổ chức kinh doanh điện năng:
EVN là tập đoàn kinh tế nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh tronglĩnh vực điện và hoạt động theo mô hình liên kết dọc Tập trung tất cả các nhàmáy điện hoạt động trong ba khâu: sản xuất – truyền tải – phân phối thành một
hệ thống thống nhất nằm trong tập đoàn điện lực Việt Nam
Mô hình quản lý sản xuất kinh doanh của EVN đang thực hiện theo môhình Nhà nước độc quyền quản lý tất cả các khâu của quá trình: Sản xuất - Truyềntải - Phân phối điện năng Mô hình này dẫn đến nhiều hạn chế về quản lý cũng nhưhiệu quả đầu tư, không thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh điện năng
Giá bán điện cho từng loại khách hàng được tính trên cơ sở chi phí cậnbiên dài hạn và do Chính phủ quy định áp dụng thống nhất trong cả nước Giábán điện vẫn còn mang nặng tính “bù chéo” giữa các nhóm khách hàng
Hoạt động kinh doanh điện năng hiện nay chưa tách bạch rõ ràng chứcnăng kinh doanh và hoạt động công Ých của các công ty phân phối điện.[11]
5 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Tập đoàn EVN ra đời từ tổng công ty điện lực Việt Nam, EVN đã cónhững đóng góp to lớn trong nền kinh tế quốc dân
Các thành tựu mà tập đoàn đạt được:
EVN có m c t ng trức tăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia ăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia ưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chiang liên t c v s n lục về sản lượng điện qua các năm Chia ề sản lượng điện qua các năm Chia ản lượng điện qua các năm Chia ượng điện qua các năm Chiang i n qua các n m Chiađiện qua các năm Chia ện qua các năm Chia ăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia
l m hai giai o n: 2000 – 2006 v 2006 – 2008 điện qua các năm Chia ạn: 2000 – 2006 và 2006 – 2008 Đồng thời số lượng khách Đồng thời số lượng kháchng th i s lời số lượng khách ố lượng khách ượng điện qua các năm Chiang khách
h ng mua i n tr c ti p t EVN t ng lên áng k qua các n m Cô th qua cácđiện qua các năm Chia ện qua các năm Chia ực tiếp từ EVN tăng lên đáng kể qua các năm Cô thể qua các ếp từ EVN tăng lên đáng kể qua các năm Cô thể qua các ừ EVN tăng lên đáng kể qua các năm Cô thể qua các ăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia điện qua các năm Chia ể qua các năm Cô thể qua các ăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia ể qua các năm Cô thể qua các
b ng sau: ản lượng điện qua các năm Chia
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Điện phát ra Tr.kwh 26683 30673,1
15%
35888 17%
40546 13%
46202 14%
52078 12,7%
59050 13,4%
Nhà nước " 24972
93,6%
28547,693,1%
3377794,1%
3915496,7%
4465596,7%
4925094,6%
5591194,7%Ngoài nhà
nước " 11,0 5,4 7,0 7,0 9,0 9,0 11,0
Trang 19ĐTNN " 1700 2120,1 2104 1385 1538 2819 3127
Nguồn: Tổng cục thống k ê.
Bảng 1 Sản lượng điện năm 2000 – 2006.
Biểu đồ 1 Biểu đồ sản lượng điện 2000 – 2006.
S n lản lượng điện qua các năm Chia ượng điện qua các năm Chiang i n trong 3 n m g n ây khi ã chuy n sang mô hình t pđiện qua các năm Chia ện qua các năm Chia ăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm Chia ần đây khi đã chuyển sang mô hình tập điện qua các năm Chia điện qua các năm Chia ể qua các năm Cô thể qua các ập
Số lượng khách hàng mua điện
trực tiếp của EVN
(tính đến cuối tháng 9)
9,000,000 10,180,000 11,877,342
Nguồn: Tài liệu tổng hợp của nhóm nghiên cứu.
Bảng 2 Sản lượng điện và số khách hàng mua điện trực tiếp của EVN
(từ 2006-2008 )
Trang 20Ngoài ra, thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ về thực hiện phúc lợi xã hội,diện tích mở rộng vùng được sử dụng điện trong cả nước tăng lên đáng kể EVNthực hiện đưa điện về các vùng sâu, vùng xa, các vùng miền núi, nông thôn.
Phát triển điện tại khu vực nông thôn để đáp ứng yêu cầu về công bằng xãhội luôn được Chính phủ quan tâm và có chính sách tổng thể Thực hiện phươngchâm Nhà nước, chính quyền địa phương và nhân dân cùng đóng góp nguồn lực
để đưa điện về nông thôn, đến nay công cuộc đưa điện về nông thôn đã đạt đượcnhững thành tựu đáng khích lệ
Nguồn: Số liệu từ EVN.
Bảng 3 Số liệu về phát triển điện khu vực nông thôn 2006 – 2008.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế rất lớn:
EVN chưa đáp ứng đủ yêu cầu về điện cho nền kinh tế Sản lượng điệnkhông đủ cung cấp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và không đủ phục vụnhu cầu sinh hoạt của người dân Vẫn tồn tại thường xuyên hiện tượng cắt điệnluân phiên trong nền kinh tế, nó gây nên các tổn thất cho sự tăng trưởng và pháttriển
Tổn thất điện năng giảm nhưng không đáng kể qua các năm Do các cơchế độc quyền không tạo ra những khuyến khích để doanh nghiệp chăm lo đủđến tính hiệu quả, đến tổ chức hệ thống hữu hiệu, tiết kiệm nên tổn thất và lãngphí lớn
Năm
Số huyện có điệnluới quốc gia
Số xã có điệnlưới quốc gia
Số hộ có điện lưới quốc
Trang 21Nguồn: Tài liệu tổng hợp của nhóm nghiên cứu.
Biểu đồ 2 Tỷ lệ tổn thất điện năng 2006 – 2008.
Theo EVN, tổn thất điện năng ở mức cao hơn 11% (tổn thất điện năngtrên mạng lưới của Trung Quốc cỡ 7,4%) Tăng trưởng của Việt Nam là tăngtrưởng rất tốn điện năng (có thể là một dấu hiệu của sử dụng điện năng kém hiệuquả)
Trong thập kỷ qua nếu lấy tốc độ tăng trưởng điện trung bình chia cho tốc
độ tăng trưởng GDP trung bình thì tỷ lệ của Việt Nam hiện nay là 1,79 [theoTổng giám đốc EVN hệ số này là 1,13 cho giai đoạn 2010-2020] trong khi tỷ lệnày của Trung Quốc là 0,95 Nếu lấy tổng GDP chia cho tổng tiêu thụ điện sẽcho ta mét con số cũng phản ánh tính hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế
Dựa trên số liệu của báo cáo phát triển con người của UNDP cho chóng ta
bảng số sau:
Trang 22Nước GDP
(TỷUSD)
GDP/đầu người(1.000USD)
Điện tiêu thụ(TỷkWh)
GDP/điện tiêu thụ(USD/kWh)
Nguồn: http://tailieu.tapchithoidai.org/PDHien_2020VN.htm.
Bảng 4 Chỉ tiêu phát triển kinh tế và tiêu thụ điện năng ở 16 nước trên thế
giới năm 2000 và dự báo cho Việt Nam năm 2020 theo EVN.
Cả tỷ số 1,79 ở trên và tỷ số 1,03 so với trung bình 2,4 của 16 nước cho
thấy tăng trưởng của Việt Nam rất tốn điện Con số dự báo của Việt Nam đượcphỏng đoán với tăng trưởng GDP 6%/năm và 9,7%/năm cho thấy đến 2020 hiệu
Trang 232020) là vô cùng thấp
Giả như chúng ta giảm được tỷ lệ tăng trưởng điện/tăng trưởng GDPxuống 1 (vẫn cao hơn Trung quốc) hay nâng được mức tăng trưởng GDP trênđiện năng được sử dụng lên mức 70% của con sè trung bình 2,4 USD/kWh ởbảng trên, tức là cải thiện từ 1USD(GDP)/kWh lên 1,68 USD(GDP)/kWh, vớigiả thiết GDP năm 2020 của Việt Nam đạt 200 tỷ USD thì chỉ cần 118 tỷ kWhđiện năng chứ không phải 200 tỷ kWh như EVN dự tính.[12]
Bên cạnh đó, là một tập đoàn kinh tế nhà nước, EVN được sử dụng mộtnguồn lực đầu vào là rất lớn nhưng lại chỉ đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sáchnhà nước
Nguyên nhân của những hạn chế.
Hạn chế lớn nhất của tập đoàn điện lực Việt Nam là: Dù là một tập đoànkinh tế nhà nước, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, được sử dụng nhữngnguồn lực kinh tế dồi dào nhưng lại không hoàn thành tốt chức năng trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh chính của mình – không đáp ứng đủ yêu cầu về điệncho nền kinh tế quốc dân, để diễn ra tình trạng thường xuyên cắt điện luân phiêngây ra những tổn thất nhất định cho nền kinh tế
Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng này là thiếu nguồn cung về điệntrong ngành Nhưng đó lại chỉ là bề nổi của vấn đề Nguyên nhân sâu xa của nóthì tồn tại trong cơ chế, thể hiện rõ nhất khi trả lời câu hỏi: “Nguồn cung vềđiện không đủ cho nền kinh tế nhưng tại sao lại có nhiều nhà máy điện sau khixây dựng lại không thể đi vào vận hành?”
Nghiên cứu mô hình hoạt động nội tại của EVN để làm rõ vấn đề Khitrên thị trường chỉ tồn tại một người mua duy nhất là công ty mua bán điện trưcthuộc EVN, đồng thời đó cũng chính là đơn vị nắm giữ đến hơn 70% sản lượngtoàn ngành điện trên thị trường phát điện cạnh tranh nội bộ thì việc Ðp giá đốivới các doanh nghiệp bên ngoài EVN là điều đương nhiên Và như thế, tất yếukhông thể thu hút đầu tư từ bên ngoài vào thị trường phát điện để giải quyếtđược bài toán về nguồn cung
Trang 24Rõ ràng, để có đủ nguồn cung về điện thì có hai cách làm:
Một là, thu hút đầu tư từ bên ngoài, nhưng điều này bị hạn chế về giá cả
mua bán là của công ty mua bán điện duy nhất trên thị trường chi phối, khônghấp dẫn các nhà đầu tư
Hai là, EVN sẽ tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy phát điện nhằm
đáp ứng đủ nguồn cung Thế nhưng việc làm này lại rất thiếu khả thi khi chínhEVN trả lại chính phủ 13 dự án điện vì lÝ do không huy động đủ nguồn vốn đểthực hiện các dự án này
Vậy, nguyên nhân cơ bản nhất chính là cơ chế nội tại của thị trường điệnViệt Nam
II Thực trạng tính cạnh tranh của tập đoàn điện lực Việt Nam.
1 Đặc trưng riêng của ngành điện:
Tập đoàn điện lực Việt Nam là một tập đoàn kinh tế nhà nước, hoạt độngtheo các quy luật kinh tế và chịu sự quản lí của nhà nước theo các quy định phápluật và các thể chế như các tập đoàn kinh tế khác Tuy nhiên EVN cũng cónhững đặc trưng riêng về lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình
Thứ nhất, sản xuất kinh doanh điện là một ngành thuộc lĩnh vực độc quyền tự nhiên.
Thị trường điện là trạng thái thị trường có các yếu tố hàm chứa trong quátrình sản xuất cho phép doanh nghiệp liên tục giảm chi phí khi quy mô sản xuất
mở rộng Với chi phí đầu tư ban đầu là rất lớn cho một hệ thống mạng lưới cungcấp điện quốc gia thì ngành điện đòi hái phương pháp tổ chức sản xuất hiệu quảnhất là chỉ thông qua mét doanh nghiệp trên thi trường Đó là chi phí cho xâydựng hệ thống lưới điện quốc gia Nó đòi hái sự cần thiết của nhà nước tronglĩnh vực này [13]
Vì là hàng hóa của lĩnh vực độc quyền tự nhiên nên xu hướng của doanhnghiệp duy nhất cung cấp nó trên thị trường là trở thành một doanh nghiệp độcquyền nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa
Thứ hai, Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt
Trang 25Truyền tải - Phân phối điện năng xảy ra đồng thời (ngay tức khắc), từ khâu sảnxuất đến khâu tiêu thụ không qua một khâu thương mại trung gian nào Điệnnăng được sản xuất ra khi đủ khả năng tiêu thụ vì đặc điểm của hệ thống điện là
ở bất kỳ thời điểm nào cũng có sự cân bằng giữa công suất phát ra và công suấttiêu thụ (không để tồn đọng)
Từ hai đặc trưng cơ bản nhất của lĩnh vực sản xuất điện năng, có thể đưa
ra kết luận chung:
Quy trình sản xuất kinh doanh điện năng được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Hình 1 Quy trình sản xuất kinh doanh điện năng.
Ngành điện là lĩnh vực độc quyền tự nhiên nhưng không phải ở tất cả cáckhâu của ngành Trừ khâu truyền tải cần phải hoạt động theo mô hình độc quyềnthì vẫn có thể xây dựng thị trường điện cạnh tranh bằng việc hình thành nên haithị trường trong khâu sản xuất và phân phối:
- Thị trường điện bán buôn giữa các nhà máy điện
- Thị trường điện bán lẻ cho các hộ tiêu thụ điện năng
Nã cho phép tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường điện, đảm bảo nguồncung điện cho nền kinh tế, hướng đến phục vụ tốt nhất lợi Ých cho người tiêu dùng
Trang 262 Khả năng cạnh tranh của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Thực hiện quyết định của thủ tướng Chớnh phủ số 26/2006/QĐ-TTg ngày26/1/2006 về lộ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển thị trường điện lực Việt Nam gồm
3 cấp độ: cấp độ 1 (từ 2005-2014) là thị trường phỏt điện cạnh tranh, cấp độ 2(từ 2015- 2022) là thị trường bỏn buụn điện cạnh tranh và cấp độ 3 (từ sau 2022)
là thị trường bỏn lẻ điện cạnh tranh Tập đoàn điện lực Việt Nam đó bước đầutiến hành xõy dựng thớ điểm mụ hỡnh thị trường phỏt điện cạnh tranh nội bộ vàbỏn điện cho cụng ty mua bỏn điện duy nhất trờn thi trường Cú thể biểu diễndưới dạng sơ đồ mụ hỡnh hoạt động của thị trường điện như sau:
Hỡnh 2 Mụ hỡnh thị trường điện lực Việt Nam hiện nay.
Nhận xột rút ra từ mụ hỡnh thị trường hiện tại:
Trong tất cả cỏc khõu từ sản xuất đến phõn phối, đều chưa cú cỏc thịtrường mang tớnh cạnh tranh Việc thành lập thớ điểm mụ hỡnh thị trường phỏtđiện cạnh tranh nội bộ được xem là bước đầu cho việc xõy dựng thị trường điệncạnh tranh, nhưng trờn thực tế, khi chỉ cú duy nhất một cụng ty mua điện tồn tạitrờn thị trường thỡ khụng thể tồn tại thị trường phỏt điện cạnh tranh Đú là mụhỡnh độc quyền mua chứ khụng phải cạnh tranh Đồng thời, đõy lại là cụng ty
Công ty phát
điện thuộc EVN
EVN
độc quyền.
Trang 27trường thì việc Ðp giá các công ty phát điện độc lập bên ngoài EVN là điềuđương nhiên Như vậy có là cạnh tranh?
Hơn nữa, dựa vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngành điện như
đã trình bày ở trên thì có thể thấy EVN còn không đáp ứng đủ nhu cầu về điệncho nền kinh tế, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng không được thỏa mãn cácnhu cầu về số lượng hàng hóa chứ chưa nhắc đến chất lượng thì làm sao có khảnăng cạnh tranh với thị trường điện của nước ngoài Câu hỏi đặt ra: vậy tínhcạnh tranh thể hiện ở đâu?
Từ những cơ sở trên có thể đi đến một kết luận chung: Thị trường điệnViệt Nam hiện tại không chứa đựng những yếu tố cạnh tranh
3 Đề án tái cơ cấu ngành điện của bộ công thương.
Về mặt quản lí nhà nước, Bộ công thương là bộ chủ quản của tập đoànđiện lực Việt Nam Trước những hạn chế của EVN, Bộ Công Thương đã có tờtrình Thủ tướng Chính phủ đề nghị phê duyệt “đề án xây dựng thị trường phátđiện cạnh tranh tại Việt Nam và kế hoạch chuyển đổi”
Có thể hình dung việc tái cơ cấu ngành điện được đề xuất 3 phương án.
Phương án thứ nhất sẽ thực hiện tách cùng lúc các khâu phát điện - truyềntải và phân phối điện đang thuộc EVN thành các Cty hoạt động độc lập dưới sựquản lý của bộ chủ quản (tức Bộ Công Thương) Một số nguồn điện đa mục tiêu,
có vai trò lớn trong hệ thống điện và TCty Truyền tải điện quốc gia sẽ thuộc sựquản lý của TCty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
Phương án 2, chỉ tách khâu phát điện và vận hành hệ thống điện để khâunày không thuộc quyền chi phối của một mình EVN;
Phương án cuối cùng là tách khâu phát điện, vận hành hệ thống và khâu muabán điện ra khái EVN Lúc này, EVN sắm vai trò như một tập đoàn kinh doanh vàbán lẻ điện, chịu trách nhiệm của nhà phân phối điện đến các hộ sử dụng
Trang 28Đồng thời, Bộ Công Thương cũng đã đưa ra ba phương án tái cơ cấu ngành điện cho phát triển thị trường phát điện cạnh tranh để đảm bảo phát triển đúng với mô hình chào giá theo chi phí
Cả ba phương án đều đặt vấn đề sẽ tách các khâu phát điện truyền tải phân phối khỏi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thành các đơn vị độc lập
-Theo đề án này, các nhà máy phát điện của EVN sẽ được tách ra, gộpthành các công ty và các nhà máy điện có công suất từ 30 MW trở lên phải thamgia chào giá trên thị trường Các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện sẽ phải chàogiá theo các mức giá trần và giá sàn khác nhau
Do tổng công suất các nhà máy điện thuộc EVN hiện chiếm đến 71% toàn
hệ thống, lo ngại với tỷ lệ này EVN hoàn toàn có thể thao túng thị trường điện vìvậy việc tách các nhà máy điện của EVN thành các công ty phát điện độc lập, đểmỗi công ty chiếm không quá 25% tổng công suất là giải pháp được Bộ CôngThương cho là tối ưu nhất
Các nhà máy điện hạt nhân, nhà máy thủy điện chiến lược như Hòa Bình,Ialy, Trị An, Sơn La sẽ thuộc sở hữu nhà nước 100%, được nhóm lại thànhCông ty Phát điện chiến lược do Bộ Công Thương quản lý Với các nhà máyđiện đã cổ phần hóa, phần vốn sở hữu nhà nước do EVN quản lý sẽ được chuyển
về Tổng Công ty Quản lý kinh doanh vốn nhà nước
Các công ty mua bán điện sẽ hoạt động độc lập, mua điện từ công ty phát điện
và bán lại cho các công ty phân phối điện Hiện có 11 công ty phân phối trực thuộcEVN Đề án của Bộ Công Thương xây dựng giảm xuống còn 5-7 công ty [14]
Các ý kiến đánh giá về đề án tái cơ cấu ngành điện.
Khi bộ công thương trình chính phủ Đề án tái cơ cấu ngành điện,nó thuhút được sự quan tâm của dư luận với nhiều cách nhìn nhận, lý giải khác nhau
Đứng trên quan điểm chủ quan của bản thân và các ý kiến đánh giá khácnhau từ nhiều góc độ Chúng em xin được trình bày quan điểm của mình về đề
án này
Đồng ý với quan điểm: “Tuy đề xuất của Bộ Công Thương chưa phải làtoàn diện, song là một bước tiến vượt bậc để phát triển ngành điện”.[15] Cần thiết
Trang 29hợp lí nên điều chỉnh của đề án này.
Đề án tái cơ cấu ngành điện của bộ công thương là một bước tiến vượt bậc
- Độc quyền doanh nghiệp trong ngành điện từ lâu đã được các chuyêngia kinh tế coi là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của ngànhđiện nước ta Mô hình quản lý của ngành điện với sự độc quyền của EVN là rấtthiếu hiệu quả, dẫn đến tình trạng thiếu điện triền miên, tổn thất điện năng lớnkéo dài, các đề án đầu tư sản xuất điện của các doanh nghiệp khác đều gặp khókhăn và chậm tiến độ Cụ thể, trong Đề án của Bộ Công Thương có viết: "EVNnắm giữ và chi phối hầu hết các khâu trong quá trình dây chuyền sản xuất -truyền tải - phân phối nên không thể minh bạch hoá được chi phí từng khâu;hoạt động của ngành điện kém hiệu quả, cản trở việc chuyển sang cơ chế thịtrường" Vì vậy, Đề án của Bộ Công Thương với mục tiêu cao nhất là thiết kế vàxây dựng thị trường điện cạnh tranh, minh bạch, phát huy mọi nguồn lực củanền kinh tế đầu tư phát triển ngành điện, sau khi trình Chính phủ đã được dưluận lên tiếng ủng hộ Đề án của Bộ Công Thương trình Chính phủ cũng rất phùhợp với lộ trình chuyển giá điện sang cơ chế thị trường mà Thủ tướng Chính phủvừa quyết định
Cả ba phương án đều đặt vấn đề sẽ tách các khâu phát điện truyền tải phân phối khỏi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thành các đơn vị độc lập
-Nó sẽ cho phép thị trường điện minh bạch giữa các khâu, xóa bỏ mô hình độcquyền dọc duy nhất của EVN đang tồn tại
- Đề án của bộ công thương đặc biệt quan tâm đến các giải pháp xây dựngthị trường phát điện cạnh tranh Xuất phát từ nhu cầu thực tại của nền kinh tế,sản lượng điện không đáp ứng đủ nhu cầu, nên bài toán lớn nhất cần giải quyết
đó là “làm thế nào để có đủ sản lượng điện cho nhu cầu nền kinh tế” Đề án đãxây dựng các giải pháp để giải quyết vấn đề trước mắt này
Các điểm chưa hợp lí từ đề án:
Việc thực hiện cả ba bước theo đề án của bộ công thương sẽ dẫn đến một
cơ chế quản lí: Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện, là công ty
Trang 30TNHH NN MTV sẽ thuộc Bộ Công Thương Tổng công ty Truyền tải điện quốcgia sẽ trở thành công ty TNHH NN MTV và cũng thuộc Bộ Công Thương Cáccông ty phát điện độc lập, hoạt động dưới dạng công ty TNHH NN MTV hoặccông ty cổ phần là do Bộ Công Thương là đại diện sở hữu vốn nhà nước.
Như vậy tổng thể là không có cạnh tranh khi tất cả có chung một “cái ô”
là Bộ Công Thương.[16] Nó dẫn đến việc vừa đá bóng, vừa thổi còi vừa vỗ tayhoan hô luôn Liệu cơ chế quản lí Êy có tạo ra một hình thức độc quyền mới haykhông? – sẽ không ai dám khẳng định câu trả lời “không”!
Việc thực hiện tái cơ cấu ngành điện đặt ra ngày càng trở thành cấp bách
và cần phải làm nhanh nhưng không thể làm Èu Tái cơ cấu ngành điện sẽ độngchạm đến nhiều nhóm lợi Ých trong xã hội Việc kết hợp khéo léo cách thứccũng như các bước đi với lựa chọn về thời điểm đặt ra yêu cầu phải xem xét vànghiên cứu bài học từ nhiều ngành,nhiều quốc gia để có thể đưa ra những giảipháp tối ưu nhất
Trang 31Chương III
Bài học kinh nghiệm cho xây dựng thị trường điện cạnh tranh ở
Việt Nam
I Bài học từ các mô hình tập đoàn kinh tế.
1 Bài học từ mô hình các tập đoàn kinh tế nhà nước trên thế giới.
âm tới mức cản trở sự phát triển chung của nền kinh tế
(2) sự phát triển năng động của công nghệ và dịch vụ thời kỳ đi vào kinh tế tríthức và toàn cầu hóa cho phép chuyển ngày càng nhiều sản phẩm kinh tế và dịch
vụ vào khu vực tư nhân
Trước tình hình đó, bài học rót ra với rất nhiều các quốc gia đã làm là việc
họ tiến hành loại bỏ phần lớn các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủyếu bằng hai bước gắn với nhau: Đầu tiên, bãi bỏ những quy định có liên quan
và sau đó tư nhân hóa hầu hết những tập đoàn này
Điều này diễn ra mạnh mẽ ở các nước Tây Âu từ những năm 1980s, minhchứng rõ ràng nhất ở Mỹ và Canada, tỷ trọng tham gia của những tập đoàn kinh
tế thuộc sở hữu Nhà nước vào toàn bộ nền kinh tế quốc dân mỗi nước chỉ còn lạirất Ýt hoặc gần như không có
Bài học thứ hai
Toàn bộ lịch sử phát triển các tập đoàn kinh thế thuộc sở hữu nhà nước tạicác nước công nghiệp phát triển cho thấy nó chỉ có vai trò nhất định vào những
Trang 32thời điểm và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đòi hỏi cần tạo lập một sự độc quyền nhànước nhất định để đảm bảo sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nướctrong bối cảnh Êy Nhưng một khi bối cảnh phát triển như vậy qua đi, các nhượcđiểm cố hữu của nhóm tập đoàn này xuất phát từ tính chất quyền sở hữu củaNhà nước ngày càng trở nên khó khắc phục, và tới một thời điểm nhất định làtrở thành trở ngại kìm hãm sự phát triển Thì các nước phát triển hầu như đi tớikết luận giống nhau: “Dưới góc nhìn lợi Ých tổng thể của toàn bộ nền kinh tế,chỉ nên duy trì các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cho những sản phẩm
mà khu vực kinh tế tư nhân làm không hiệu quả bằng hoặc không làm được.” [17]
Dư luận trong cả nước đang vô cùng bức xúc về tình hình điện ở nước ta,
về tình trạng than được khai thác một cách tàn phá môi trường và xuất khẩu lậuhàng chục triệu tấn mỗi năm, về cung cách cấp vốn cho Vinashin, về hoạt độngcủa các tổng công ty trên lĩnh vực thị trường bất động sản, thị trường chứngkhoán , về nhiều yếu kém lớn khác hay nói cho đúng hơn trong nhiều trườnghợp là sự lũng đoạn của các tập đoàn và tổng công ty 91 & 90 và sự dính líu sâucủa các cơ quan chức năng, về nguy cơ bên ngoài lợi dụng những yếu kém nàycan thiệp vào nước ta, v.v Tất cả cho thấy đòi hỏi nóng bỏng đặt ra đối vớinước ta lúc này là phải phân tích và xem xét lại hiệu quả của các tập đoàn kinh
tế này để có sự điều chỉnh cần thiết trong nội tại mỗi tập đoàn
Bài học thứ ba
Trong kinh tế, việc quản lý quốc gia theo luật, cai trị đất nước theo luật,nói một cách khác là việc tách quyền lực chính trị ra khỏi quyền lực kinh tế (dù
là thuộc khu vực tư nhân hoặc khu vực thuộc sở hữu Nhà nước) luôn luôn là vấn
đề nan giải và hầu như không có giải pháp hoàn hảo tuyệt đối, luôn luôn phátsinh vấn đề mới, luôn luôn đòi hỏi những giải pháp mới, thường xuyên phải tiếnhành những cải cách mới, không hiếm khi quyết liệt và gian khổ, cá biệt đã cótrường hợp tình trạng tham nhũng dẫn tới làm sụp đổ nội các ở một vài nướcphát triển (ý, Nhật )
Đặc biệt việc tách quyền lực chính trị của Nhà nước ra khỏi quyền củaNhà nước sở hữu các tập đoàn của nó là khó nhất, bởi lẽ quyền lực chính trị của
Trang 33thực thể chính trị chung, đó là nhà nước.
Để hình thành sự câu kết giữa một bên là quyền lực chính trị của Nhànước và một bên là quyền lực kinh tế (đặc biệt là quyền của Nhà nước đối vớicác tập đoàn kinh tế mà Nhà nước là chủ sở hữu), trước sau sẽ là con đườngngắn nhất dẫn tới hình thành các thế lực mafia, nhà nước mafia Đấy là vấn đềcác nước phát triển thường xuyên phải tìm mọi cách loại trừ và phòng ngừa –bằng cách thường xuyên cải cách, phát triển thể chế kinh tế thị trường – nhànước pháp quyền – xã hội dân sự Song chính sự câu kết này lại đang là vấn đềhàng chục nước đang phát triển không sao gì ra được Có thể nói sự câu kết giữaquyền lực chính trị và quyền lực kinh tế (kể cả khu vực sở hữu tư nhân và khuvực sở hữu nhà nước) là nguồn gốc nguyên thủy bất khả kháng của tham nhũng
và mọi tệ nạn khác trong các nước đang phát triển Sự bất lực trước thực trạngnày của các nước đang phát triển nói lên nguyên nhân cơ bản nhất giải thích tạisao sau hơn nửa thế kỷ giành được độc lập mà các nước đang phát triển này vẫnkhông thể thoát khỏi số phận nước nghèo và lạc hậu
So với các nước công nghiệp phát triển, các nước NICs và một số nướcđang phát triển có thu nhập cao vẫn còn duy trì nhiều tập đoàn kinh tế thuộc sởhữu Nhà nước Song có lẽ trừ trường hợp ngoại lệ là Singapore, các nước còn lạivẫn đứng trước nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tập đoàn kinh tế thuộc
sở hữu Nhà nước, xu thế thu hẹp nhóm này vẫn đang tiếp diễn
Tình hình này cũng đang diễn ra tương tự ở Việt Nam Khi một số cáctập đoàn kinh tế nhà nước có được lợi thế hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tựnhiên không muốn từ bỏ lợi thế này để cơ cấu lại mình trở thành những tập đoànkinh tế mạnh và có khả năng cạnh tranh hơn
2 Bài học từ ngành viễn thông cho ngành điện.
Những năm qua, lĩnh vực Viễn thông và CNTT nước ta đã đạt được nhiềuthành tựu quan trọng Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia cótốc độ phát triển viễn thông cao nhất thế giới, và đang trở thành điểm thu hútđầu tư hấp dẫn của nhiều đối tác trên thế giới
Trang 34Viễn thông Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ cao, đạt mức trung bình30% mỗi năm Đến nay, với 5 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (VNPT, Viettel,Saigon Postel, EVN Telecom và Hanoi Telecom), Việt Nam đã có trên 40 triệuthuê bao điện thoại Trong đó, riêng VNPT đã có 22 triệu thuê bao điện thoại[18] Hiện nay, với hơn 84 triệu dân và có khoảng 47% số dân đang sử dụngdịch vụ điện thoại, trên 20% sử dụng dịch vụ Internet, Việt Nam đang là một thịtrường đầy tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài Theo Quy hoạch phát triểnViễn thông và Internet đến năm 2010 mà Chính phủ đã phê duyệt, mục tiêu đặt
ra là: xây dựng và phát triển CSHT viễn thông có công nghệ hiện đại ngang tầmcác nước trong khu vực, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước với dung lượnglớn, chất lượng cao, cung cấp đa dịch vụ và hoạt động có hiệu quả; đến 2010,tổng doanh thu dịch vụ viễn thông và Internet đạt khoảng 55.000 tỷ đồng (3,5 tỷUSD) Về chỉ tiêu phát triển dịch vụ, theo Chiến lược, Việt Nam phấn đấu đếnnăm 2010 mật độ điện thoại đạt từ 32-42 máy/100 dân (nay đã đạt trên 47máy/100 dân); mật độ thuê bao Internet đạt từ 8-12 thuê bao/100 dân.[19]
Những thành tựu phát triển vượt bậc của ngành Viễn thông Việt Nam làmột bước đột phá lớn về chuyển đổi cơ chế quản lý từ độc quyền sang cạnhtranh
Thời điểm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khi Chính phủ và Tổng cụcBưu điện đưa ra chủ trương xóa độc quyền doanh nghiệp trong ngành viễnthông, không phải không có những ý kiến phản đối từ phía doanh nghiệp độcquyền VNPT Nhiều lý do được đưa ra nhưng có 2 lý do được coi là có sức nặngnhất là: mở cửa cạnh tranh trong viễn thông sẽ ảnh hưởng đến an ninh thông tinquốc gia và ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công Ých phổ cập dịch vụviễn thông đến vùng sâu, vùng xa Vai trò của VNPT lóc đó cũng giống như vaitrò của EVN hiện nay, là một doanh nghiệp đóng vai trò là một ngành với bềdày truyền thống và công lao, chiến tích vô cùng to lớn Nhưng Chính phủ màtrực tiếp là Thủ tướng Võ Văn Kiệt và lãnh đạo Tổng cục Bưu điện vẫn quyếttâm thực hiện chủ trương xóa độc quyền trong viễn thông với việc cho ra đời 2doanh nghiệp viễn thông mới là Công ty Cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT)
Trang 35Viễn thông quân đội Viettel) Năm 2003, thành lập thêm Công ty viễn thôngđiện lực (EVN Telecom), Công ty Viễn thông hàng hải và Công ty Hà NộiTelecom Sự xuất hiện của các công ty này đánh dấu ngành BC-VT không cònđộc quyền và như vậy khách hàng có nhiều lợi Ých từ cạnh tranh Khi doanhnghiệp cùng cung cấp một loại hình dịch vụ thì cần coi sự xuất hiện cạnh tranhnhư một yếu tố bình thường Từ chỗ chỉ có một công nghệ di động GSM (VNPT
sử dụng) giờ có thêm công nghệ CDMA (EVN -Telecom sử dụng) nữa cùngđược kết nối với nhau nên khó tránh khỏi trục trặc ban đầu Để hỗ trợ cho việckết nối của các doanh nghiệp viễn thông mới, Bộ BC-VT đã lập ra một tổ kếtnối nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới Bộ chỉ tổ chức họp giao banlãnh đạo hai tuần một lần, để giữa hai lần giao ban có thời gian gặp gỡ với cácdoanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phản ánh các vấn đề cần giảiquyết với Bộ, cũng như tiếp nhận thông tin giữa các doanh nghiệp với nhau.[20]
Cơ chế kết nối mạng giữa các doanh nghiệp được chuyển từ cơ chế hànhchính sang cơ chế kinh tế, kinh doanh, mục tiêu là phục vụ khách hàng Cácdoanh nghiệp phục vụ càng nhiều thuê bao (của mình và của công ty khác) và cóđấu nối đến càng nhiều thì hưởng lợi càng lớn Và để thuận lợi cho việc kết nốitrong những trường hợp đột xuất Bộ đã đề nghị Chính phủ cho phép doanhnghiệp mua sắm trực tiếp thiết bị đấu nối trên cơ sở chất lượng và giá cả cạnhtranh
Để hình thành nên thị trường cạnh tranh trong ngành Viễn thông cần hìnhthành nên cơ quan quản lý độc lập mà trước đây Chính phủ thực thi cả 3 chứcnăng trên thị trường vừa đóng vai trò quản lý nhà nước, vừa là chủ sở hữu, đồngthời vừa khai thác kinh doanh Khi chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh thì môhình được sử dụng như sau:
Trang 36
Tác động trực tiếp
Tác động gián tiếp dài hạn
Hình 3 Mô hình quản lý thị trường viễn thông cạnh tranh
Đây là mô hình được nhiều nước trên thế giới áp dụng khi hình thànhthị trường viễn thông cạnh tranh Điều quan trọng là cơ quan quản lý cần đượcđộc lập với bất kỳ nhà khai thác nào vì mâu thuẫn quyền lợi giữa các nhà khaithác với cơ quan quản lý và giữa nhà khai thác với các đối thủ cạnh tranh của
họ Tính độc lập được thể hiện là tách chức năng quản lý và chức năng kinhdoanh trong ngành viễn thông đã được áp dụng ở rất nhiều nước, trong đó cóViệt Nam Khi chuyển sang mô hình thị trường cạnh tranh thì nhà khai thác bâygiờ không chỉ do một nhà khai thác cung cấp, mà đó được chia cho nhiều nhàkhai thác, mỗi nhà khai thác này tự hạch toán kinh tế, chịu trách nhiệm về kếtquả kinh doanh của mình Hoạt động của những nhà khai thác này là hướng tớithị trường, hướng tới khách hàng, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn của họ
Nhờ chuyển sang cơ chế cạnh tranh mà đã tạo ra sù thay đổi mạnh mẽtrên thị trường, nhất là với lĩnh vực thông tin di động Về phía người dùng, họ sẽđược sử dụng nhiều dịch vụ tiên tiến với chi phí ngày càng hợp lý và có quyền
ChÝnh phñ ( X©y dùng chÝnh s¸ch)
Trang 37đảm bảo hơn Cạnh tranh cũng là cơ hội để doanh nghiệp có những thay đổinăng động hơn Đây cũng là bước chuẩn bị cho hội nhập quốc tế, cạnh tranh vớicác tập đoàn viễn thông lớn.
Như vậy, một điều cần nhấn mạnh là doanh nghiệp "cựu độc quyền"VNPT không những không yếu đi mà nhờ động lực cạnh tranh vẫn tiếp tục pháttriển mạnh mẽ và giữ vững vai trò doanh nghiệp chủ lực của ngành viễn thôngViệt Nam An ninh thông tin quốc gia và việc thực hiện nhiệm vụ công Ých đốivới vùng sâu vùng xa vẫn được bảo đảm hiệu quả
VNPT cũng là một tập đoàn kinh tế hoạt động trong lĩnh vực độc quyền
tự nhiên, việc chia tách VNPT và hình thành thị trường viễn thông cạnh tranh đãdiễn ra hơn một thập kỉ Đó là một bài học lớn khi xem xét việc nên hay khôngchia tách và xây dựng thị trường điện lực cạnh tranh ở Việt Nam Nã rót ra bàihọc lớn cho ngành điện, có thể sẽ có những khó khăn phải đối mặt ở thời điểmban đầu, nhưng việc tiến hành xây dựng thị trường điện cạnh tranh sẽ đem lạihiệu quả cao trong lĩnh vực này VNPT chính là một dẫn chứng thuyết phục nhấtkhi nói rằng: Việc hình thành thị trường điện lực cạnh tranh ở Việt Nam sẽ giúpEVN giữ vững vai trò doanh nghiệp chủ lực của ngành điện Việt Nam Đảm bảotốt hơn an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện tốt nhiệm vụ công Ých màchính phủ giao phó
II Kinh nghiệm từ Mô hình điện nước ngoài cho xây dựng thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam.
Thị trường điện lực (TTĐL) được hình thành đầu tiên ở Anh vào thậpniên 90 của thế kỷ trước do việc không đảm bảo chất lượng điện năng của ngànhđiện các nước trên toàn thế giới Điều kiện hình thành TTĐL không những chỉphụ thuộc vào chính sách về kinh tế, xã hội của Nhà nước mà còn được quyếtđịnh bởi điều kiện kỹ thuật, công nghệ của hệ thống điện Có nhiều điểm khácnhau về TTĐL tuy nhiên về cơ bản TTĐL là việc hộ tiêu thụ cuối tiêu thụ điệnnăng từ các nhà máy sản xuất điện thông qua hệ thống truyền tải điện (được xem
Trang 38như độc quyền tự nhiên) hình thành nên thị trường điện bán buôn giữa các nhà máy điện và thị trường điện bán lẻ cho các hộ tiêu thụ điện năng.
Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quản lý, kết hợp với sựphát triển của một số học thuyết kinh tế mới đã tạo điều kiện để nhiều công tyđiện lực nghiên cứu xây dựng, phát triển các mô hình kinh doanh mới thay thếcho mô hình truyền thống trước đây, như mô hình truyền tải hộ, mô hình thịtrường phát điện cạnh tranh, mô hình TTĐ cạnh tranh bán buôn và bán lẻ, Tuynhiên, nhìn từ góc độ cạnh tranh của thị trường có thể phân chia thành bốn loại
mô hình thị trường điện cơ bản đang được áp dụng tại các nước trên thế giớihiện nay như sau:
1 Mô hình Thị trường điện độc quyền liên kết dọc.
Trong mô hình này, chỉ có một công ty nắm giữ toàn bộ các khâu củangành điện từ sản xuất, truyền tải cho đến phân phối tới khách hàng Không cócạnh tranh trong bất kỳ khâu nào Mô hình này được sử dụng ở các nước: Pháp,
Bồ Đào Nha, Italy, Malaixia
a)Ngành dọc (b) Phân phối bán lẻ riêng
Ph¸t ®iÖn B¸n bu«n/TruyÒn t¶i
C«ng ty ph©n phèi
Ph¸t ®iÖn
Kh¸ch hµng
B¸n bu«n/TruyÒn t¶i C«ng ty ph©n phèi Kh¸ch hµng Mua b¸n gi÷a c¸c c«ng ty