nước sạch để sử dụng cho sinh hoạt bằng cách xây bể lọc, xây dựng nhà vệ sinh, chuồng trại cách xa nguồn nước… còn phần lớn người dân vẫn quen sử dụng trực tiếp các nguồn nước mà chưa qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
TRƯƠNG THỊ TỊNH THANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT VÙNG BÁN SƠN ĐỊA HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.85.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
KIỂM SOÁT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN MINH TRÍ
Huế, 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu trong luận văn có được là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có
kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả khác thì đều có trích dẫn cụ thể, rõ ràng
Tác giả luận văn
Trương Thị Tịnh Thanh
Trang 3được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè và các phòng ban liên quan Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa sinh học, Đại học Khoa học Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn;
TS Nguyễn Minh Trí, thầy giáo hướng dẫn, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp;
Xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị ở Trung tâm khí tượng Ba Đồn; Trung tâm Kỹ thuật Đo lường Thử nghiệm, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quảng Bình; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Trạch; Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm Thừa Thiên Huế, đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên ngành môi trường và Tài nguyên sinh vật K34 đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn;
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Quảng Bình 09/2014Người thực hiện luận vănTrương Thị Tịnh Thanh
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Trang 4
Trang phụ bìa 4
Lời cam đoan 4
Lời cảm ơn 4
Mục lục 4
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 4
Danh mục bảng 4
DANH MỤC BẢNG 11
Số hiệu bảng 11
Tên bảng 11
Trang 11
1.1 11
Nhiệt độ trung bình ngày trong năm 2013 tại Quảng Trạch 11
23 11
1.2 11
Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2013 tại Quảng Trạch 11
23 11
1.3 11
Trang 51.4 11
Số giờ nắng trung bình trong năm 2013 tại Quảng Trạch 11
24 11
3.1 11
Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt ở vùng bán sơn địa Quảng Lưu 11
31 11
3.2 11
Địa điểm lấy mẫu nước sinh hoạt ở thôn Tô Xá, Quảng Phương và thôn 6, 7, Quảng Thạch 11
34 11
3.3 11
35 11
Số hiệu hình vẽ 12
Tên hình vẽ 12
Trang 12
3.1 12
Biểu đồ biểu diễn cơ cấu các nguồn nước sinh hoạt tại vùng bán sơn địa Quảng Lưu - Quảng Trạch 12
29 12
3.2 12
pH trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
36 12
3.3 12
Độ đục trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
37 12
Trang 6Hàm lượng amoni trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
38 12
3.5 12
Hàm lượng sắt tổng số trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
39 12
3.6 12
COD trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
40 12
3.7 12
Độ cứng trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 12
41 12
3.8 12
43 12
3.9 12
49 12
3.10 12
50 12
3.11 12
51 12
3.12 12
52 12
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
Trang 7Chương 1 4
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI 4
1.1.1 Vai trò của nguồn nước 4
1.1.2 Tầm quan trọng của nước sạch tới sức khỏe của con người 5
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.2.3 Khảo sát về nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Bình 13
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT 15
1.3.1 Ở khu vực thành thị 16
1.3.2 Ở khu vực nông thôn 16
1.4 TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 17
1.4.1 Về chính sách 17
1.4.2 Những khó khăn trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn 18
1.4.3 Quản lý nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Bình 20
1.5 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
1.5.1 Nhiệt độ 22
1.5.2 Độ ẩm 23
1.5.3 Lượng mưa 23
1.5.4 Số giờ nắng - lượng bốc hơi 24
1.5.5 Gió và hướng gió 25
1.5.6 Chế độ thủy văn 25
Chương 2 26
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 82.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập thông tin 26
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu 26
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 27
2.3.4 Thống kê và xử lý số liệu: bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 [12] 28
Chương 3 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI VÙNG BÁN SƠN ĐỊA QUẢNG LƯU, HUYỆN QUẢNG TRẠCH 29
3.2 CHẤT LƯỢNG CÁC NGUỒN NƯỚC TẠI VÙNG BÁN SƠN ĐỊA XÃ QUẢNG LƯU, HUYỆN QUẢNG TRẠCH 33
3.2.1 Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn thôn Tô Xá xã Quảng Phương và thôn 6, 7 xã Quảng Thạch 34
3.2.2 Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Quảng Lưu 35
3.3 THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH TẠO NGUỒN NƯỚC SẠCH 47
3.3.1 Xây dựng mô hình thử nghiệm 47
3.3.2 Đề xuất mô hình xử lý sắt cho các hộ gia đình nông thôn 50
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC SINH HOẠT 52
3.4.1 Giải pháp quản lý tài nguyên nước sinh hoạt vùng BSĐ Quảng Lưu 52
3.4.2 Những giải pháp trong quản lý tài nguyên nước sinh hoạt 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
I KẾT LUẬN 62
II ĐỀ NGHỊ 63
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 10BTNMT Bộ Tài nguyên và môi trường
COD Chemical oxygen demand
NS và VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
QĐ – TTg Quyết định của Thủ tướng
UNICEF United Nations International Children's Emergency FundWHO World Health Organization
Trang 113.2 Địa điểm lấy mẫu nước sinh hoạt ở thôn Tô Xá, Quảng
3.3 Chất lượng nước sinh hoạt tại thôn Tô Xá, Quảng Phương và
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang 123.1 Biểu đồ biểu diễn cơ cấu các nguồn nước sinh hoạt tại vùng bán sơn địa Quảng Lưu - Quảng Trạch 293.2 pH trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 363.3 Độ đục trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 373.4 Hàm lượng amoni trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 383.5 Hàm lượng sắt tổng số trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 393.6 COD trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 403.7 Độ cứng trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 413.8 Tổng Coliform trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 433.9 Mẫu nước giếng bị nhiễm phèn sắt trước và sau khi lọc 493.10 Mẫu nước trước và sau khi xử lý sắt nấu với lá chè xanh 503.11 Mô hình xử lý sắt trong nước sinh hoạt bị nhiễm phèn 51
Trang 13MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước giữ một vai trò đặc biệt trong đời sống sinh tồn và phát triển của con người, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên trái đất và rất cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người Trong cơ thể sống, nước chiếm khoảng 70% khối lượng cơ thể con người trưởng thành Nước còn được coi như một tiêu chí để đánh giá mức sống, sự phát triển của mỗi quốc gia hoặc mỗi khu vực Nước dùng cho ăn uống an toàn và vệ sinh là những yếu tố quyết
định để giảm nghèo và phát triển bền vững.
Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu rất cần thiết trong đời sống hàng ngày của con người Nước sạch cho dân cư nông thôn là một trong những tiêu chí quan trọng của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Hiện nay, một số vùng nông thôn ở nước ta, người dân đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt chủ yếu từ sông, hồ, nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan Nếu nguồn nước không bảo đảm vệ sinh sẽ gây nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác Chính vì thế, vai trò của nước sạch ở các vùng nông thôn luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết [28]
Vùng bán sơn địa Quảng Lưu thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là nơi chưa được cung cấp nước sạch cho sinh hoạt Ở đây nguồn nước sinh hoạt của người dân chủ yếu là do mỗi hộ gia đình tự khai thác bằng cách đào giếng, thu nước mưa, hay sử dụng nước từ các ao hồ đây là những nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các hoạt động sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân
Việc quản lý chất lượng nước dùng cho sinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ chính quyền, có chăng chỉ là nhận thức của một bộ phận nhỏ các hộ gia đình trong việc tạo nguồn
Trang 14nước sạch để sử dụng cho sinh hoạt bằng cách xây bể lọc, xây dựng nhà vệ sinh, chuồng trại cách xa nguồn nước… còn phần lớn người dân vẫn quen sử dụng trực tiếp các nguồn nước mà chưa qua khâu xử lý nào cả.
Do vậy, đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt vùng
bán sơn địa huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp quản lý” được thực hiện nhằm khảo sát tình hình sử dụng, đánh giá chất
lượng nước sinh hoạt tại xã Quảng Lưu, đồng thời đưa ra những giải pháp phù hợp góp phần quan trọng vào công tác quản lý, đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn sử dụng cho người dân tại địa phương
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Điều tra tình hình sử dụng và đánh giá chất lượng các nguồn nước hiện đang được sử dụng cho sinh hoạt tại vùng bán sơn địa Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Xác định một số nguyên nhân chính tác động đến chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất các giải pháp cho công tác khai thác, quản lý chất lượng nước sinh hoạt tại đây
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
* Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng chất lượng các nguồn nước sinh hoạt ở vùng bán sơn địa Quảng Lưu thuộc huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp khai thác tạo nguồn nước an toàn phục vụ cho mục đích sinh hoạt của người dân trong khu vực
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt ở vùng bán sơn địa Quảng Lưu thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 15- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác quy hoạch, khai thác và cung cấp nước sạch, phục vụ mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về chất lượng các nguồn nước sinh hoạt tại vùng bán sơn địa Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Bao gồm 3 thôn thuộc xã Quảng Lưu; thôn Tô Xá, xã Quảng Phương và thôn
6, 7 xã Quảng Thạch Trong đề tài chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước theo tiêu chí phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày mà không bao gồm ăn uống
Trong khu vực nghiên cứu sẽ lựa chọn các địa điểm để lấy mẫu sao cho
có thể thu được các mẫu đại diện cho tiểu vùng
5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày trong 70 trang, bố cục như sau:
Mở đầu: 3 trang; Tổng quan các vấn đề nghiên cứu: 22 trang; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 3 trang; Kết quả nghiên cứu: 33 trang; Kết luận và đề nghị: 2 trang; Danh mục công trình của tác giả: 1 trang; Tài liệu tham khảo: 6 trang
Trong luận văn có 7 bảng, 12 biểu đồ và hình vẽ, 53 tài liệu tham khảo (43 tài liệu tiếng Việt, 7 tài liệu nước ngoài và 3 tài liệu từ Internet) để minh họa cho kết quả nghiên cứu
Trang 16Chương 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
1.1.1 Vai trò của nguồn nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quả đất Từ xưa, con người đã biết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã xem nước là thành phần cơ bản của vật chất Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc; nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn
ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65 - 75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể Nước là một dung môi, nhờ
đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch [38]
Một người cân nặng 60kg cần cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể và duy trì các hoạt động sống bình thường trong ngày Uống không đủ nước sẽ ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể Khi cơ thể mất trên 10% lượng nước có khả năng gây trụy tim mạch, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao Nguy hiểm hơn, có thể tử vong nếu lượng nước mất trên 20%” Bên cạnh oxy, nước đóng vai trò quan
Trang 17trọng thứ hai để duy trì sự sống [43].
1.1.2 Tầm quan trọng của nước sạch tới sức khỏe của con người
Kết quả điều tra vệ sinh môi truờng nông thôn của Bộ Y tế năm 2007 cho thấy tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình vùng nông thôn Việt Nam đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Quyết dịnh 08/2005/QÐ-BYT còn rất thấp Chỉ có 18% số hộ nông thôn có nhà tiêu dạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và sử dụng bảo quản, bao gồm 7,9% nhà tiêu thấm dội nuớc, 7,7% nhà tiêu tự hoại, 2,0% nhà tiêu hai ngăn và 0,3% nhà tiêu Biogas Có 30,1% số hộ nông thôn Việt Nam đang sử dụng phân nguời trong sản xuất nông nghiệp, nuôi cá Ða số những hộ này không ủ phân hoặc ủ phân không đủ thời gian quy định Ðây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gây ô nhiễm phân nguời ra nguồn nuớc và môi truờng xung quanh [8]
Thực tế điều tra cho thấy, cơ cấu nguồn nuớc ăn uống, sinh hoạt chính
ở các hộ gia đình vùng nông thôn hiện nay như sau: 33,1% giếng khoan, 31,2% giếng khơi, 1,8% nuớc mưa, 11,7% nuớc máy, 7,5% nuớc suối đầu nguồn, 11% nuớc sông ao hồ, 3,7% nguồn nuớc khác [8]
Có 11,6% đối tuợng được phỏng vấn vẫn thuờng xuyên uống nuớc lã Thói quen uống nuớc lã sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng do mắc phải những bệnh dịch lan truyền theo nuớc [8]
Như đã mô tả ở trên, các phương tiện cấp nuớc và vệ sinh chưa được cải thiện nhiều, đặc biệt ở vùng nông thôn Ðiều đó đã ảnh huởng nhất định đến sức khỏe nguời dân (đặc biệt là trẻ nhỏ), đến phát triển xã hội và kinh tế
Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nuớc: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong dó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100 000 dân) Năm 2009 tình hình cũng chưa được cải thiện, tỷ lệ mắc/100 000 dân với bệnh tiêu chảy là 1081,66 ; tả là 0,56 ; lỵ trực khuẩn là
Trang 1830,55 ; lỵ amip là 10,97 thương hàn là 1,77 Tỷ lệ mắc các bệnh này chỉ đứng thứ 5 sau một số bệnh đường hô hấp [8]
Số mắc thương hàn ở trẻ em năm 2008 là 1316 trẻ, bệnh tả là 1049 trẻ Năm 2009 các tỷ lệ này có giảm (thương hàn 823 trẻ và tả 474 trẻ), nhưng tỷ
lệ chết không thay đổi Các bệnh liên quan đến chất thải là các bệnh thường gặp tại Việt Nam Trong nuớc thải, nhất là từ bệnh viện, có chứa nhiều mầm bệnh: vi khuẩn, vius, Protoza, trứng giun [8]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.2.1 Trên thế giới
Nước ngọt có ý nghĩa sống còn đối với an ninh chính trị, an sinh xã hội của mỗi quốc gia Đến năm 2010, có 89% dân số thế giới, tức khoảng 6,1 tỷ người được sử dụng nguồn nước đã cải thiện Tuy nhiên, tổ chức UNICEF và WHO cũng khuyến cáo còn lại 11% dân số, tức khoảng 783 triệu người trên toàn cầu vẫn không được tiếp cận với nguồn nước đảm bảo
vệ sinh Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến hơn 3000 trẻ em trên thế giới phải tử vong hằng ngày do tiêu chảy - một căn bệnh liên quan tới nguồn nước không đảm bảo điều kiện vệ sinh [52]
Vấn đề nước sạch dùng cho sinh hoạt của người dân luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm Nước sinh hoạt nông thôn là kế hoạch hành động của Liên Hợp Quốc trong chương trình nước sạch nông thôn Để cảnh báo và ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước ngọt, từ năm 1997, hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu (GEMS) đã cùng với tổ chức y tế thế giới (WHO) và UNESCO triển khai mạng lưới quan trắc chất lượng nước toàn cầu [50]
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất cho sinh hoạt nhưng ngày càng cạn kiệt do bị khai thác quá mức và ngày càng bị ô nhiễm bởi hoạt động của con người Do vậy, nhiều quốc gia như Phần Lan, Hà Lan, Anh đã
Trang 19giảm nhu cầu về nước cho công nghiệp, một số ngành công nghiệp sử dụng lại nước thải đô thị đã tái chế [50].
Năm 1990, các nhà khoa học Áo đã đưa ra phương pháp lọc nước bằng cát Nước sau khi được lọc qua lớp cát có thể loại bỏ các hợp chất hữu cơ và các ion kim loại nặng [49]
Năm 2007, Michael Berg và cộng sự đã nghiên cứu về ô nhiễm Asen trong nước vùng đồng bằng sông Cửu Long ở Campuchia và Việt Nam: ô nhiễm Asen trong nước ngầm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại Campuchia trung bình đạt 217 µg/l và ở miền Nam Việt Nam trung bình 39 µg/l Nhóm nghiên cứu đã thu các mẫu tóc của người dân sử dụng nước ngầm tại Việt Nam, campuchia, Bangladesh và Tây Bengal để nghiên cứu gián tếp hàm lượng Asen và tác động của Asen đến sức khỏe con người, nhận thấy: tại Việt Nam và Campuchia có hàm lượng Asen cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng tại Bangladesh và Tây Bengal Qua nghiên cứu cho thấy Asen có tác động nguy hại rất lớn đến sức khỏe con người đặc biệt với mức độ ô nhiễm càng lớn thì khả năng gây hại sức khỏe càng cao [45]
Stephen Luby (2008) đã phát hiện phổ biến khắp Đông Nam Á cả hai nguồn cung cấp nước cho đô thị và nông thôn thường xuyên bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật có nguồn gốc từ phân người với tần số rất phổ biến đến mức
nó được chấp nhận như là một điều hiển nhiên Đáng quan tâm là nước ngầm tầng nông ở nhiều khu vực của Đông Nam Á bị ô nhiễm asen với mức độ nguy hiểm cao Mặc dù nhiều phương pháp tiếp cận có thể xử lý asen trong nước uống, tuy nhiên có rất ít bằng chứng về các giải pháp có thể được áp dụng ở quy mô lớn và khả năng giảm phơi nhiễm asen cho con người [47]
Trang 201.2.2 Ở Việt Nam
Trong những năm qua vấn đề nước sạch cho sinh hoạt luôn được Chính phủ quan tâm và được đưa vào các chương trình mục tiêu của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển
Để giải quyết kịp thời và thỏa mãn nhu cầu về nước sạch cho người dân
đã có nhiều tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học tham gia nghiên cứu nhằm bảo vệ nguồn nước sạch và xử lý nước bị ô nhiễm
Trong những năm gần đây, chương trình cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn do UNICEF tài trợ đã góp phần cải thiện tình hình nước sạch và vệ sinh cho nông thôn Hằng năm, nhà nước đã đầu tư nguồn kinh phí lớn và tranh thủ sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của các nhà tài trợ cho việc
xã hội hóa, phát triển thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn, cũng như các công trình nghiên cứu, triển khai các kỹ thuật đánh giá chất lượng nước cùng các công nghệ xử lý thích hợp và khả thi [51]
Năm 1996, Phạm Song đã xây dựng phương pháp loại bỏ sắt và mangan trong nước giếng Sắt trong nước giếng được khử bằng phương pháp sục khí rồi lọc với vật liệu là cát, ngoài ra có thể tách sắt ra khỏi nước bằng chất keo tụ (nhôm sulfat, sắt clorua hoặc hỗn hợp hai chất này) Các chất này hấp thu mạnh ion sắt và tất cả cùng kết tủa lắng xuống Còn mangan được loại
bỏ khỏi nước bằng phương pháp oxy hóa hay dùng các chủng vi khuẩn như
Metallogenium personatum; Caulococeus manganifer để trộn vào vật liệu
lọc nhằm tách mangan (II) ra khỏi nước [29]
Phan Văn Tình và Lưu Minh Đại (1997) đã giới thiệu một số kết quả nghiên cứu khả năng kết tủa để loại bỏ các ion Thori (IV) và Chì (II) bằng axit humic tách ra từ than bùn Kết quả này làm tiền đề định hướng cho việc phát triển công nghệ xử lý nước bị nhiễm kim loại nặng, độc hại bằng vật liệu
là than bùn có phổ biến ở nước ta [40]
Trang 21Năm 2000, Phan Đỗ Hùng và cộng sự đã nghiên cứu và đề nghị phương pháp xử lý nước sinh hoạt từ nước mặt chất lượng thấp bằng màng vi lọc polyetylen dạng sợi rỗng có kích thước lỗ xốp 0,4µm Nước nguồn được đưa vào bể lọc phía ngoài màng sợi rỗng, nước sẽ thấm qua màng vào phía trong màng và hút sang bể chứa Trong quá trình lọc, bể lọc được sục khí liên tục Kết quả sau khi lọc loại bỏ các chất rắn lơ lửng, giảm đáng kể các vi khuẩn gây bệnh, đạt tiêu chuẩn nước dùng cho sinh hoạt [18].
Nguyễn Hữu Phú (2001) đã nghiên cứu và xây dựng quy trình ứng dụng than hoạt tính trong xử lý nước tự nhiên sau khi lọc cát hoặc qua giai đoạn oxy hóa Than hoạt tính có khả năng làm giảm nồng độ các chất hữu cơ trong nước, loại bỏ nhiều chất ô nhiễm hữu cơ có mặt trong nước bằng cơ chế hấp phụ [26]
Năm 2002, Đoàn Thị Hồng Diễm đã khảo sát quá trình xử lý nước giếng bị ô nhiễm nitrat bằng than bùn là một loại vật liệu phổ biến ở Thừa Thiên Huế [10]
Trần Quốc Thưởng (2002) qua nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cấp nước sinh hoạt nông thôn vùng duyên hải miền trung là: hệ thống cấp nước tập trung (hệ thống cấp nước tự chảy, hệ thống bơm dẫn nước mặt và hệ thống bơm dẫn nước ngầm) và hệ thống cấp nước đơn lẻ cho hộ gia đình [39]
Qua nghiên cứu khai thác nguồn nước từ mạch lộ, phục vụ cấp nước sinh hoạt cho đồng bào miền núi 9 tỉnh gồm Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thuộc vùng miền núi và trung du, miền Bắc và Bắc Trung Bộ Năm 2006, Vũ Văn Thặng
đã đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả và bền vững phù hợp với mô hình cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn miền núi với qui trình vận hành đơn giản và chi phí cho công tác quản lý thấp [36]
Trang 22Nghiên cứu về quản lý môi trường nước ở Đồng bằng sông Cửu Long - Việt Nam của Lê Anh Tuấn và Guido Wyseure (2007) cho thấy: đây là khu vực rất đông dân cư với mật độ cao và có liên quan đến ô nhiễm nước Các tác giả đã xác định được năm vấn đề môi trường nước ở khu vực này là sự xâm nhập mặn khu vực ven biển, ảnh hưởng của đất phèn, nguồn nước ô nhiễm từ hoạt động của con người, tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô
và nước đục trong mùa mưa Từ đó đã đề xuất các biện pháp quản lý tài nguyên nước trong khu vực bằng cách theo dõi và kiểm soát cho cả số lượng
và chất lượng tương ứng với kinh tế môi trường và phát triển bền vững [48]
Thịnh Thị Hương và cộng sự (2008) đã đánh giá chất lượng nước sông Tiền, sông Hậu ở một số vùng dân cư của tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ trong năm 2006 Kết quả nghiên cứu cho thấy: nhu cầu oxy hoá học lúc triều thấp vượt quá giới hạn cho phép từ 1,1 - 6 lần Nhu cầu oxy sinh hóa sau
5 ngày (BOD5) vượt mức cho phép từ 1,5 - 10 lần Mật độ coliform của nhánh sông Hậu ở huyện Thốt Nốt, Cờ Đỏ và quận Bình Thuỷ vượt mức cho phép từ 4,6 - 92 lần (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942 -1995, loại A) Nước sông Tiền, sông Hậu tại các điểm lấy mẫu không đạt Tiêu chuẩn vệ sinh Các kết quả này sẽ giúp cho các cấp chính quyền, cơ quan Y tế xây dựng chương trình cải thiện chất lượng nước và ngăn ngừa các bệnh truyền qua nước [21]
Đặng Ngọc Chánh, Vũ Trọng Thiện và Nguyễn Xuân Thủy (năm 2008) qua quá trình khảo sát chất lượng nước sinh hoạt nông thôn và xác định các yếu tố ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước sử dụng tại hộ gia đình ở hai tỉnh Long An và Hậu Giang, kết quả cho thấy: tại Long An tỷ lệ sử dụng nước cấp theo đường ống là 27,2%; các hộ gia đình vẫn còn thích sử dụng nước mưa (26,3%) Tại tỉnh Hậu Giang có 38% các hộ gia đình thích sử dụng nước bề mặt; tỷ lệ sử dụng nước giếng khoan là 21,6% Nhìn chung mẫu nước đạt tiêu chuẩn của Long An (44,9%) cao hơn so với Hậu Giang (23,9%) Các yếu tố ô
Trang 23nhiễm ảnh hưởng đến chất lượng nước giếng ở mức trung bình, không có rào chắn gia súc (78%); gần nhà tiêu (65%); gần bãi rác, phân súc vật (32%) Các yếu tố ô nhiễm đối với nướcmặt chiếm tỷ lệ cao là: không rào chắn ngăn súc vật (97%); chăn thả trâu bò, vịt tại nguồn nước (24%) Đối với nước mưa không có bộ phận chắn rác, bộ phận lọc chiếm tỷ lệ cao (83%); dụng cụ múc nước gần các nguồn ô nhiễm chiếm tỷ lệ 20% [5].
Nguyễn Lê Mạnh Hùng, Mai Thị Hương Xuân và Nguyễn Thị Chúc (2008) đã khảo sát, đánh giá chất lượng vệ sinh nước ăn uống thông qua chỉ
số vi sinh vật tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk trong năm 2007 cho thấy: tỷ lệ các mẫu nước ăn uống không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật tại xã Krông Na là 86,67%, tại xã Ea Huar là 73,33% và tại
xã Ea Noul là 80% Nguyên nhân là do đồng bào các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên phần lớn sử dụng nước suối và nước giếng đào để sinh hoạt và ăn uống Nhóm tác giả cũng đề nghị chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nữa đến điều kiện vệ sinh môi trường sống, đặc biệt là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và ăn uống của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn [20]
Năm 2011, Nguyễn Chí Hiếu, Đặng Viết Hùng đã đánh giá hiện trạng nước sạch tại các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn nước ngầm chiếm từ 75 - 98% nước cấp cho sinh hoạt ở các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, trong đó từ 80 - 90% là nước ngầm do người dân tự khai thác, còn lại từ 10 - 20% nước do các trạm cấp nước tập trung cung cấp Nguồn nước ngầm hiện đã có những dấu hiệu của sự ô nhiễm
vi sinh, một số chỉ tiêu khác cần quan tâm và có những biện pháp khắc phục kịp thời Huyện Cần Giờ và Nhà Bè nguồn nước dùng cho ăn uống và một phần sinh hoạt của người dân chủ yếu do công ty cấp nước thành phố cung cấp chiếm từ 53 - 70%, chủ yếu thông qua các phương tiện vận chuyển như sà
Trang 24lan, xe bồn Chất lượng và số lượng chưa đảm bảo và chưa đáp ứng được nhu cầu Tỷ lệ hộ dân sử dụng nguồn nước đạt tiêu chuẩn khoảng 25 - 30% [19].
Nguyễn Đức Hạnh (2012) đã công bố kết quả khảo sát điều tra chất lượng nước mặt tỉnh Khánh Hòa trong năm 2011, cho thấy các nguồn nước
hồ, đập trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa chưa bị ô nhiễm nhiều, đạt tiêu chuẩn chất lượng về mặt hóa lý và có thể sử dụng để phục vụ mục đích tưới trong nông nghiệp, cần lưu ý về hàm lượng sắt (Fe) và oxy hòa tan trong nước và cần có các giải pháp thích hợp [15]
Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân (2012) đã đánh giá thực trạng các mô hình quản lý khai thác dịch vụ nước sạch nông thôn ở Việt Nam và chỉ ra những hạn chế trong các mô hình đó là do: cơ chế, chính sách quản lý cấp nước chưa phù hợp, hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước còn mang tính bao cấp trong đầu tư và quản lý, chưa tự chủ về tài chính Để phát huy những thế mạnh và khắc phục hạn chế từ các mô hình đó, các tác giả đề xuất một mô hình quản lý, khai thác dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn có sự quản lý kết hợp của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư [35]
Năm 2012, Võ Văn Phú đã khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước ngọt trên đảo Cồn Cỏ - tỉnh Quảng Trị phục vụ cho mục đích sinh hoạt Kết quả cho thấy chất lượng nước tại đây đều đạt tiêu chuẩn chất lượng nước tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo QCVN 02/2009/BYT của Bộ Y tế, có thể sử dụng tốt cho sinh hoạt hàng ngày [27]
Năm 2013, Nguyễn Thị Huyền Trang và Đào Vĩnh Lộc đã nghiên cứu xây dựng mô hình khử sắt trong nước giếng khoan quy mô hộ gia đình Trong đề tài này, phương pháp làm thoáng kết hợp cột lọc cát dùng để khử sắt cho hiệu suất xử lý sắt tổng số đạt 84,51% và hàm lượng sắt tổng số sau
xử lý là 0,48mg/l, thấp hơn quy định của QCVN 02:2009/BYT Mô hình đã
Trang 25được lắp đặt phục vụ nhu cầu sử dụng nước tại hộ gia đình huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng [41].
Đoàn Thu Hà (2013) đã đánh giá hiện trạng cấp nước nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, hiện nay toàn vùng chỉ có 36,52% dân số được sử dụng nước đạt QCVN 02:2009/BYT Nhiều công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ và rất nhỏ đang ở tình trạng xuống cấp, chất lượng nước cấp không đảm bảo yêu cầu cho người sử dụng [14]
Kết quả đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn xã Nam Tiến - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên của Lương Văn Minh và Đào Đoàn
Hạ (2013) cho thấy các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt trên địa bàn xã khá
đa dạng, có trữ lượng dồi dào và chất lượng các nguồn nước đảm bảo tiêu chuẩn cho phép dùng trong sinh hoạt hàng ngày của người dân [23]
1.2.3 Khảo sát về nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Bình
Từ ngày thống nhất đến nay, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến vấn
đề nước sạch dùng cho sinh hoạt của người dân, nhất là từ những năm 1990 trở lại đây Tỉnh Quảng Bình đã có những chính sách, dự án để thay đổi tình hình và cải thiện điều kiện nước sạch ở nông thôn
Kết quả nghiên cứu đánh giá hệ sinh thái và môi trường sông Kiến Giang ở tỉnh Quảng Bình của Nguyễn Văn Hợp và cộng sự năm 2002 cho thấy các vấn đề lo lắng về chất lượng nước bao gồm: sự ô nhiễm hữu cơ cao, nhiễm phèn, ô nhiễm vi khuẩn và có hiện tượng phú dưỡng Tuy nhiên chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi các chất độc như các ion kim loại độc, thuốc trừ sâu [17]
Trương Đình Đắc và Nguyễn Huy Nga (2005) đã đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại các hộ gia đình ở 3 huyện của Quảng Bình và Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình hình sử dụng nước tại 8180 hộ gia đình ở 3 huyện miền Bắc Trung Bộ tương đối đảm bảo cả về số lượng lẫn
Trang 26chất lượng theo cảm quan, trong đó hai nguồn nước được sử dụng với tỷ lệ cao là giếng khơi và giếng khoan Cụ thể, tại huyện Quảng Trạch và Bố Trạch (Quảng Bình), nguồn nước chính mà người dân sử dụng là nước giếng khơi (52,8% và 72,7%); còn ở Phú Lộc (Huế), hai nguồn nước được phần đông số
hộ sử dụng là nước giếng khơi và giếng khoan (49,6% và 35,3%) Tính chung
cả 3 huyện thì nguồn nước được sử dụng phổ biến là giếng khơi (59,3%), sau
đó là giếng khoan (19,2%), các nguồn nước khác chiếm tỷ lệ thấp [4]
Năm 2007, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình đã thực hiện
đề tài phân tích, đánh giá tổng hợp diễn biến chất lượng và trữ lượng nước
hồ chứa Phú Vinh qua các thời kỳ trong năm Đánh giá các yếu tố môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến chất lượng nước hồ và
đề xuất các biện pháp quy hoạch, bảo vệ môi trường, các giải pháp xử lý, khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước hồ Phú Vinh ở thành phố Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình [30]
Nguyễn Thanh Sơn và Trương Ngọc Thắng (2009), đã khảo sát cân bằng tài nguyên nước hệ thống lưu vực sông Kiến Giang, tỉnh Quảng Bình bằng mô hình IQQM (Integrated Quantity and Quality Model) Kết quả cho thấy lưu vực có khả năng điều tiết và cân bằng hệ thống với mức sử dụng hiện nay Để tài nguyên nước tránh bị suy thoái và cạn kiệt, việc sử dụng nước cần tuân theo những quy chế nghiêm ngặt và trước hết cần giải quyết bài toán quy hoạch tổng thể tài nguyên nước lưu vực để đảm bảo sự phát triển bền vững của địa phương [32]
Theo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường tỉnh Quảng Bình, hiện toàn tỉnh có 69 công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn; gần
430000 người dân ở nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, đạt 61,47% dân số Riêng 6 tháng đầu năm 2013, trên 6700 người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh từ công trình cấp nước xây mới, cải tạo và nâng cấp Dựa
Trang 27vào Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, tỉnh Quảng Bình phấn đấu đến năm
2015 ước đạt khoảng 70% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh
Hiện tại, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Bình đang tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp: tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa 3 ngành là nông nghiệp
và phát triển nông thôn - y tế - giáo dục; đẩy mạnh công tác thông tin - giáo dục - truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng; tổ chức đào tạo nâng cao năng lực quản lý, vận hành công trình cấp nước tập trung sau đầu tư, góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới [53]
Tháng 4/2014, Trung tâm kỹ thuật Đo lường Thử nghiệm thuộc Chi cục
Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quảng Bình đã triển khai đề tài “Đánh giá tổng hợp chất lượng nước và đề xuất giải pháp xử lý nước tại các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” với mục tiêu
phân tích, đánh giá tổng hợp chất lượng nước tại các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ và xử lý nước nhằm đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt tại các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình [42]
1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT
Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người sử dụng rất nhiều nước sinh hoạt, về mặt sinh lý mỗi người cần 1 - 2 lít nước/ngày Trung bình nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của một người trong một ngày 10 - 15 lít cho
vệ sinh cá nhân, 20 - 200 lít cho tắm, 20 - 50 lít cho nấu ăn, 40 - 80 lít cho giặt bằng máy…[29]
Trang 281.3.1 Ở khu vực thành thị
Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với 21,59 triệu người (chiếm 26,3% dân số toàn quốc Có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m3/ngày Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn nước mặt với tổng công suất khoảng 1,95 triệu m3/ngày và 148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất khoảng 1,47 triệu m3/ngày [24]
Một số địa phương khai thác 100% nước dưới đất để cung cấp cho sinh hoạt sản xuất như Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc… các tỉnh thành Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Gia Lai, Thái Bình… khai thác 100% nước mặt Nhiều địa phương dùng cả hai nguồn nước Tổng công suất nước hiện có
của các nhà máy cấp nước có thể cung cấp khoảng 150 lít nước sạch mỗi
người/ngày Tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng xuống cấp lạc hậu nên tỷ lệ thất thoát nước sạch khá cao (có nơi tỉ lệ lên tới 40%) Nên thực tế nhiều đô thị chỉ
có khoảng 40 - 50 lít/người/ngày [37]
1.3.2 Ở khu vực nông thôn
Đối với khu vực nông thôn Việt Nam có khoảng 36,7 triệu người dân được cấp nước sạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu) Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt lớn nhất ở vùng Trung Bộ chiếm khoảng 66,7%, đồng bằng sông Hồng 65,1% đồng bằng sông Cửu Long 62,1% [29]
Tại Hà Nội, tổng lượng nước dưới đất được khai thác là 1100000
m3/ngày đêm Trong đó, phía nam sông Hồng khai thác với lưu lượng 700 000m3/ngày đêm Trên địa bàn Hà Nội hiện nay khoảng trên 100000 giếng khoan khai thác nước kiểu UNICEF của các hộ gia đình, hơn 200 giếng khoan của công ty nước sạch quản lý và 500 giếng khoan khai thác nước của các trạm cấp nước nông thôn [11]
Trang 29Các tỉnh ven biển miền Tây nam bộ như: Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Long An do nguồn nước ngọt trên các sông rạch ao hồ không đủ phục vụ nhu cầu của đời sống và sản xuất, vì vậy nguồn nước cung cấp chủ yếu được khai thác từ nguồn dưới đất Khoảng 80% dân số ở 4 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đang sử dụng nước ngầm mỗi ngày [8].
1.4 TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 1.4.1 Về chính sách
Trong những năm qua Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, chiến lược quan trọng đưa vấn đề nước sạch trở thành mục tiêu quốc gia cần phải được đáp ứng [8]
Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, dựa trên quan điểm đẩy mạnh công tác xã hội hóa, phát triển thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phát huy nội lực của toàn xã hội để thực hiện chương trình, căn cứ đặc điểm của từng vùng, từng địa phương và nhu cầu của người sử dụng để lựa chọn quy mô công nghệ, cấp độ dịch vụ phù hợp với khả năng tài chính và công tác quản lý, khai thác, sử dụng công trình sau đầu tư Mục tiêu cụ thể của chiến lược là phấn đấu đến năm 2015, đạt được những kết quả sau:
- Về cấp nước, 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp
vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT với
số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày; 100% các trường học mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn có đủ nước sạch
- Về vệ sinh môi trường: 65% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 45% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh; 100%
Trang 30các trường học mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nhà tiêu hợp vệ sinh [8].
1.4.2 Những khó khăn trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn
- Khó khăn về kinh tế - tài chính
Mức sống của người dân nông thôn nói chung còn rất thấp, phần lớn cư dân nông thôn có thu nhập chỉ đủ để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống Đầu tư cho lĩnh vực cấp nước sạch chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho một bộ phận lớn người dân nông thôn
- Khó khăn về xã hội và tập quán
Hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân nông thôn còn thấp Số đông ít quan tâm đến đến vệ sinh, coi đó chỉ là vấn đề cá nhân liên quan đến tiện nghi là chính chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng và sự trong sạch của môi trường
Những thói quen sinh hoạt ở nông thôn mang tính chất truyền thống, thực hành vệ sinh kém nên các bệnh tật phổ biến vẫn thường xuyên xảy ra ở khu vực nông thôn, có khi xảy ra những dịch lớn như tả, thương hành, sốt xuất huyết khiến cho người dân nông thôn đã nghèo nay lại khó khăn hơn do ốm đau và bệnh tật
Ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc Trung Bộ người dân nông thôn có tập quán sử dụng phân người chưa được xử lý để làm phân bón Ở phía Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân người được thải trực tiếp xuống ao làm thức ăn cho cá [29]
- Khó khăn về kỹ thuật và thiên tai
Có nhiều vùng gặp khó khăn về nguồn nước như các vùng bị nhiễm mặn, các vùng núi cao và các vùng đá vôi có đặc trưng là nguồn nước ngầm ở rất sâu và không có hoặc rất hiếm nước mặt
Trang 31Thời gian gần đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường, lũ lụt và hạn hán xảy ra ở nhiều địa phương làm cho tình hình nguồn nước càng khó khăn hơn Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng cho sản xuất và sinh hoạt Nhiều vùng ở miền núi ven biển và khó khăn về nguồn nước, người dân chỉ được sử dụng bình quân dưới 20 lít nước/ người/ ngày Nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn ra từ 5 - 6 tháng trong năm như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên,…
Ở các vùng làng chài ven biển có mật độ dân số rất cao nhưng lại thiếu nước sạch, ở các làng nghề môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm do chuông trại gia súc và thuôc trừ sâu cũng là một vấn đề lớn cần được quan tâm giải quyết
Chưa có các trung tâm chuyển giao công nghệ và sản xuất cung ứng các vật tư thiết bị phục vụ cho nhu cầu cấp nước sạch
- Những bất cập trong quá trình thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường
Trong công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, các cơ quan chức năng chưa sửa đổi, bổ sung và ban hành kịp thời một số cơ chế, chính sách; chưa hoàn thành theo đúng thời gian một số dự án quy hoạch cấp nước vùng trình cấp thẩm quyền phê duyệt, hoặc có dự án thiếu nội dung quy hoạch chi tiết cho các vùng trên phạm vi toàn quốc
Tại một số địa phương còn tình trạng chưa thành lập Ban điều hành Chương trình theo quy định hoặc chưa ban hành quy chế hoạt động của Ban điều hành Một số nơi Ban điều hành có biểu hiện chưa nắm được đầy
đủ các hoạt động của Chương trình, cũng như mục tiêu hoạt động hàng năm của địa phương
Trang 32Về công tác quản lý, điều hành, sử dụng kinh phí thực hiện tại một số địa phương đã phê duyệt đầu tư nhiều công trình cấp nước sinh hoạt với tổng giá trị dự toán lớn vượt khả năng so với kế hoạch vốn đầu tư; việc phân bổ nguồn vốn tại một số tỉnh còn dàn trải, công tác điều chỉnh vốn chưa kịp thời dẫn đến có dự án thiếu vốn nhưng cũng có dự án còn dư kinh phí không sử dụng hết.
Ở một số địa phương chưa chú trọng việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình cấp nước tập trung dẫn đến nhiều công trình đã được bàn giao đưa vào vận hành sau một thời gian đã hư hỏng [8]
1.4.3 Quản lý nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Bình
Từ 1989, tỉnh Quảng Bình được tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên, Trung tâm nước sinh hoạt nông thôn Quảng Bình được chính thức thành lập Hoạt động của Trung tâm đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc tăng nhanh số lượng các giếng khoan, giếng đào cung cấp nước hợp vệ sinh cho người dân
Tại Quảng Bình, việc quản lý nhà nước về tài nguyên nước đang bước đầu được thực hiện, chủ yếu là cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước Các khu cấp nước tập trung đã có đội tự quản thường xuyên kiểm tra
và điều chỉnh nguồn nước, việc làm này đã được triển khai ở vùng dân tộc miền núi nơi chủ yếu dùng hệ thống nước tự chảy từ nước mạch lộ và suối thường xuyên xảy ra sự cố hỏng đường ống, nước kém chất lượng do mùa mưa lũ Tuy nhiên, chưa có quy hoạch khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt; số liệu về cả hiện trạng khai thác lẫn sử dụng nguồn nước chưa đầy đủ Việc xử lý nước thải hầu hết là chưa thực hiện, người dân thường cho nước thải chảy tự do ra vườn, việc làm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến vệ sinh môi trường và lâu dài ảnh hưởng đến nguồn nước dưới đất, chưa có cấp chính quyền địa phương nào quản lý và hướng dẫn đến việc người dân xả thải
Trang 33Chương trình Mục tiêu Quốc qia về Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 đã được triển khai sâu rộng trên toàn tỉnh Quảng Bình và đạt được những kết quả quan trọng Đến hết năm 2013, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 77,78%; tỷ lệ
số hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 55,42% Ngày càng nhiều trường học, trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh;
tỷ lệ công trình cấp nước tập trung nông thôn hoạt động có hiệu quả ngày càng tăng; chất lượng nước được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng và điều kiện sống của người dân khu vực nông thôn
Bên cạnh những kết quả nêu trên, còn có một số công trình cấp nước sạch hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động Bên cạnh nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan là công tác quản lý, vận hành khai thác, bảo vệ công trình còn buông lỏng, phân công trách nhiệm không rõ ràng, công trình vận hành chưa đúng quy trình, không được duy tu, bảo dưỡng định
kỳ, nhanh hư hỏng, xuống cấp, không bảo đảm yêu cầu cấp nước sạch bền vững cho người dân nông thôn, lãnh phí vốn đầu tư
1.5 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Quảng Trạch là một huyện lớn nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình, nằm trãi dài từ toạ độ 170 42’ đến 17059’ Vĩ Bắc và từ 1060 15’ đến 1060 34’ Kinh đông, Quảng Trạch có vị trí phía Bắc giáp với tỉnh Hà tĩnh, phía Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Tây giáp huyện Tuyên Hoá và phía Đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 61.388,5 ha, dân số trung bình năm 2012 là 208.063 người
Huyện Quảng Trạch mang đặc điểm khí hậu chung của toàn tỉnh Quảng Bình: nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa Đông tương đối lạnh ở miền Bắc Khí hậu
Trang 34phân làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mưa thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12, chiếm 80% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng, lượng mưa trung bình năm cả tỉnh là 2.100 - 2.200 mm, số ngày mưa trung bình là 152 ngày/năm Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 200C - 250C, được chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm với nhiệt độ trung bình trên 250C, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình 200C Tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 8.600 - 8.7000C, số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.700 - 1.800 giờ/năm.
Điều kiện thời tiết bất lợi đối với tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Quảng Trạch nói riêng là có gió Tây Nam khô nóng xuất hiện khoảng 100 ngày trong năm, chủ yếu tập trung trong tháng 7 kết hợp với thiếu mưa gây hạn hán Bão thường độ bộ vào mùa mưa, tập trung vào tháng 9 (37%) Bão thường đi kèm với mưa lớn Do lãnh thổ hẹp, sông ngắn và dốc nên mùa mưa bão thường có hiện tượng nước dâng tạo ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp hàng năm
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình khoảng 83% song nhìn chung không ổn định Vào mùa mưa, độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 15% Thời kỳ có độ ẩm cao nhất thường xẩy ra vào những tháng cuối mùa Đông nên độ ẩm không khí rất lớn thường trên 87%
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí khu vực chịu sự chi phối của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc với miền khí hậu đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa Theo tháng khí hậu được chia thành hai mùa: mùa lạnh và mùa nóng
Trang 35- Mùa lạnh: Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình ngày ổn định dưới 19,40C Thời kỳ này chịu sự chi phối của gió mùa Đông Bắc.
- Mùa nóng: Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình ngày ổn định ban ngày cao hơn 21,00C Thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ cực đại có khi lên đến 40,70C (tháng 7)
Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình ngày trong năm 2013 tại Quảng Trạch
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 84,5%, song nhìn chung không
ổn định, cao nhất của huyện thường xảy ra vào tháng cuối mùa đông
Bảng 1.2 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2013 tại Quảng Trạch
Trang 36- 67% lượng mưa cả năm, mỗi năm thường có 2 - 3 cơn bão, các tháng 11, 12,
1 có mưa phùn, gió bấc Số ngày mưa trung bình là 152 ngày/năm Tổng lượng mưa trung bình hàng năm ở Quảng Bình từ 1.800 - 2.600mm/năm Lượng mưa không đều giữa các vùng và các tháng trong năm Kết quả khảo sát, đo được lượng mưa tại Quảng Trạch thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2013
Thán
Cả nămLượn
426,
9 591,7 271,8
86,8
1996,5
(Nguồn: Trạm khí tượng Ba Đồn, 2014)
1.5.4 Số giờ nắng - lượng bốc hơi
Mùa khô từ tháng 4 kéo dài đến tháng 8, trùng với mùa khô hanh nắng gắt với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn (960 - 1.200 mm/năm) Trong mùa lạnh lượng bốc hơi nhỏ hơn so với mùa nóng vì vậy trong các tháng từ 4 - 7 lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng tới sự phát triển và sinh trưởng của cây trồng
Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5, thấp nhất là tháng 12 Trong năm, số giờ nắng tăng nhanh nhất vào tháng 4, tháng 5 và giảm tương đối nhanh từ tháng 10 đến tháng 11, vì đây là những thời đoạn giao mùa
Bảng 1.4 Số giờ nắng trung bình trong năm 2013 tại Quảng Trạch
Trang 371.5.5 Gió và hướng gió
Chế độ gió khu vực mang tính chất chế độ nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa sâu sắc của địa hình và chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta Có hai mùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè
- Gió mùa Đông: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành là gió Đông Bắc Do ảnh hưởng của dãy núi đèo Ngang nên thường có hướng Tây Bắc và Tây
- Gió mùa Hè: Từ tháng 5 đến tháng 10 thịnh hành là hướng gió Tây Nam Ngoài ra còn có hướng gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào Nhìn chung, gió Đông Nam có tốc độ thấp, trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lên tới cấp 10, 11
1.5.6 Chế độ thủy văn
Quảng Bình có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối,
hồ khá dày đặc Mật độ sông suối đạt 0,8 - 1,1 km/km2,tuy nhiên phân bố không đều và có xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông, từ vùng núi ra biển Toàn tỉnh, có 5 hệ thống sông chính đổ ra biển là: sông Roòn, Gianh,
Lý Hoà, Dinh và Nhật Lệ
Nhìn chung, sông ngòi của Quảng Bình có đặc điểm chung là chiều dài ngắn và dốc nên khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ kịch phát trong mùa mưa Tốc độ dòng chảy lớn nhất là trong mùa mưa lũ; tổng lượng dòng chảy vào mùa lũ chiếm từ 60 - 80% lượng dòng chảy cả năm Sông Gianh bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Đoạn chảy qua huyện Tuyên Hóa dài khoảng 70 - 80 km, chảy qua huyện Quảng Trạch dài 15 km và đổ
ra biển ở cửa Gianh
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2013
Trang 38Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các mẫu nước ngầm và nước mặt phục vụ cho sinh hoạt tại vùng bán sơn địa xã Quảng Lưu huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 7/2014
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập thông tin
Điều tra, phỏng vấn các hộ dân để biết được các nguồn nước hiện đang
sử dụng cho mục đích sinh hoạt ở vùng Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình bằng các phương pháp sau:
- Phỏng vấn trực tiếp người dân về các nguồn nước hiện sử dụng
- Thu thập tài liệu thứ cấp từ UBND xã và khảo sát thực địa để thống
kê số hộ dân sử dụng các nguồn nước
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu nước mặt và nước giếng theo TCVN 5992:1995, TCVN 5992:1995 và TCVN 5997:1995 để phân tích chất lượng nước
Mẫu nước mưa được lấy tại các dụng cụ chứa nước trước khi đưa vào
sử dụng của từng hộ gia đình, đối với các gia đình sử dụng nguồn nước là giếng khoan hoặc giếng khơi thì lấy mẫu trực tiếp tại nguồn
Tất cả các mẫu đều được bảo quản trong chai nhựa PE sạch, mẫu sau khi mang về phòng thí nghiệm nếu chưa phân tích được cố định và bảo quản
ở nhiệt độ khoảng 40C
Tiến hành lấy mẫu 3 đợt; mỗi đợt lấy ngẫu nhiên 1-2 mẫu nước mưa và
4 - 6 mẫu nước giếng tại mỗi thôn
Trang 392.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
Phân tích các thông số về chất lượng nước tại phòng thí nghiệm Tài nguyên sinh vật & Môi trường, khoa Sinh học - Đại học Khoa học Huế
Các phân tích về hàm lượng kim loại nặng trong mẫu nước được thực hiện tại trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ Phẩm, Dược phẩm Thừa Thiên Huế trên máy quang phổ Analyst 800 của hãng Perkin Elmer - Mỹ
- Xác định pH: bằng giấy đo pH - Indikatorpapier
- Xác định độ đục: đo bằng máy Hach DR890 cầm tay
- Xác định oxy hóa học (COD): bằng phương pháp chuẩn độ KMnO4
Nguyên tắc: Đun nóng mẫu thử trong nồi cách thủy với một lượng KMnO4 và axit H2SO4 đã biết trong khoảng thời gian nhất định (10 phút) Khử phần KMnO4 trong mẫu bằng chất có khả năng oxy hóa và xác định lượng KMnO4 đã dùng bằng việc thêm dung dịch axit Oxalic dư, sau đó chuẩn độ với KMnO4 Kết quả tính ra mgO2/lít [34]
- Xác định độ cứng theo CaCO 3 : bằng phương pháp chuẩn độ EDTA
Nguyên tắc: Chuẩn độ tạo phức canxi và magiê với dung dịch nước của muối dinatri của EDTA ở pH 10 Dùng Eriochrome Black T làm chỉ thị Chỉ thị này tạo hợp chất màu đỏ hoặc tím với ion canxi và magiê
Trong quá trình chuẩn độ, EDTA trước hết phản ứng tạo phức với các ion canxi và magiê tự do, sau đó ở điểm tương đương phản ứng với các ion canxi và magiê đã liên kết với chất thỉ thị, giải phóng chỉ thị và làm màu dung dịch đổi từ đỏ sang tím sang xanh [44]
- Xác định sắt tổng số: bằng phương pháp so màu với thuốc thử phenaltrolin
Nguyên tắc: Đun nóng mẫu thử trong nồi cách thủy với một lượng hydroxyamin trong môi trường acid để chuyển Fe (III) có mặt về Fe (II) và lên màu với thuốc thử 1,10 - phenantrolin ở pH từ 3,2 đến 3,3 Một ion Fe(II)
sẽ kết hợp với 3 phân tử 1,10 - phenantrolin để hình thành phức có màu đỏ
Trang 40cam So màu bằng máy quang phổ ở bước sóng 510nm cho phép xác định được nồng độ sắt trong mẫu.
Kết quả mật độ quang đo được về hàm lượng sắt tổng số được tính theo phương trình đồ thị chuẩn, từ đó tính được hàm lượng sắt tổng số có mặt trong nước [44]
- Xác định amoni (NH 4 + ): bằng phương pháp Nessler
Nguyên tắc: Ion amoni (NH4+) trong môi trường kiềm phản ứng với thuốc thử Nessler tạo thành phức có màu từ vàng tới nâu, phụ thuộc vào hàm lượng amoni có trong nước So màu bằng máy quang phổ ở bước sóng
420 nm - 425 nm
Kết quả mật độ quang đo được về hàm lượng amoni được tính theo phương trình đồ thị chuẩn, từ đó tính được hàm lượng amoni có mặt trong nước [44]
- Xác định coliform: bằng phương pháp MPN (Most Probable Number)
Nguyên tắc: Dựa theo đặc tính của nhóm vi khuẩn coliform là lên men đường lactose và sinh hơi ở 37oC trong 24 giờ Tổng số Coliform được xác định bằng số ống nghiệm dương tính sau khi nuôi cấy vào môi trường BGBL (Brilliant Green Bile Lactose) và sử dụng bảng MPN để tính kết quả [9], [33]
- As được phân tích bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS (Atomic Absorption Spectrometers)
Nguyên tắc của phương pháp AAS: Phương pháp quang phổ hấp thụ
nguyên tử dựa trên sự hấp thụ chọn lọc các bức xạ cộng hưởng của nguyên tử
ở trạng thái tự do của nguyên tố cần xác định Đối với mỗi nguyên tố vạch cộng hưởng thường là vạch quang phổ nhạy nhất của phổ phát xạ nguyên tử của chính nguyên tử đó [44]
2.3.4 Thống kê và xử lý số liệu: bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 [12].