Qua biểu cho ta thấy sản phẩm của Công Ty sản xuất ra các loại giầyvải và giầy da có xu hướng ngày càng giảm điều đó là do ở thị trường xuấtkhẩu của Công Ty có nhu cầu ngày càng giảm về
Trang 1Lời nói đầu
Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm đượcsản xuất ra để bán trên thị trường Trong kiểu tổ chức kinh tế này toàn bộquá trình sản xuất - phân phối - tiêu dùng, sản xuất cái gì? như thế nào?vàcho ai? đều thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định Nhưvậy, tiêu thụ sản phẩm chính là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuấtkinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sảnxuất và phân phối với một bên là tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, thì bất kỳ một doanhnghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải thúc đẩy cho quá trình trêndiễn ra một cách nhanh chóng Khi đó tiêu thụ sản phẩm sẽ là một khâu màcác doanh nghiệp cần thực hiện tốt bởi khi sản phẩm tiêu thụ ra thị trườngcàng nhiều thì sẽ có thêm nhiều vốn quay vòng đầu tư cho sản xuất và nhưvậy lại tiếp tục một quá trình tái sản xuất
Công nghiệp Da Giầy là một trong những ngành quan trọng trong nềnkinh tế nước ta, hàng năm đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng chục tỷđồng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động…
Là mét trong những công ty gắn liền với lịch sử hình thành và pháttriển của ngành Da Giầy Việt Nam, Công ty Da giầy Hà Nội đã và đangđứng vững, tiếp tục phát triển Một trong những vấn đề mà công ty coitrọng đó là làm thế nào để sản phẩm tiêu thụ nhanh chóng với khối lượnglớn, thu được lợi nhuận tối đa và thoả mãn tốt nhất nhu cầu của kháchhàng Đó cũng chính là vấn đề mà thị trường cũng đang đặt ra
Trong thời gian thực tập ở công ty, do tìm hiểu và nắm bắt được vấn
đề bức xúc trên của công ty mà em đã quyết định chọn đề tài “ Một số giải
pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm ở Công Ty Da Giầy Hà Nội” làm luận
văn tốt nghiệp của mình
Luận văn tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3phần chính nh sau:
Trang 3thậm chí cả máu xương của các thế hệ đã đổ xuống để công ty vững bước
đi lên
Lịch sử hình thành, phát triển của công ty được chia thành các thời kỳ sau:
Thời kỳ pháp thuộc ( từ năm 1912-1954)
- Tên gọi của nhà máy thời kỳ này là: Công ty thuộc da Đông Dương ( societe des tanneries de l’lndochine )
Chủ nhà máy là ông Max roux, quốc tịch Thuỵ Sĩ
- Vốn của công ty là : 188.000 đồng bạc Đông Dương
- Địa điểm nhà máy : toạ lạc tại làng Thuỵ Khuê, tổng Trung đại lýHoàn long, ngoại thành Hà Nội, đường Thuỵ Khuê, ghi vào sổ điền thổlàng Thuỵ Khuê, bằng khoán điền thổ số 205
+ Phía bắc giáp sông Tô lịch
Phía nam giáp đường hàng tỉnh số 64
Phía đông giáp các thửa đất
Tổng diện tích của nhà máy là: 21.867 m2
- Sản phẩm chủ yếu là da kipmăng dùng để sản xuất dây lưng, bao đạn,bao súng, mặt giày, yên ngựa, tắc kê và dây cua roa…
- Số lượng công nhân: khoảng 80 người
+ Năm 1912 một nhà tư sản Pháp là ông Max Roux đã bỏ vốn thành lậpcông ty, hồi đó lấy tên là “ Công ty thuộc da Đông Dương “ Khi đó nó lànhà máy thuộc da lớn nhất Đông Dương Mục tiêu chính là khai thác cácđiều kiện về tài nguyên và lao động của Việt Nam và thu lợi nhuận cao, sảnphẩm chủ yếu phục vụ quân đội là chính
Sản lượng khi đó còn thấp:
- Da cứng: 10-15 tấn/ năm
- Da mềm: 200-300 ngàn bia/ năm
( Bia là đơn vị đo diện tích của da 30cm*30cm)
Thời kỳ công tư hợp doanh
(từ năm 1954-1962 )
- Giai đoạn từ năm 1954- 1956
Trang 4Nhà máy hoạt động dưới sự quản lý của các nhà công thương: (Nhàmáy được mua lại từ ông chủ Roux với giá 2.200.000 đồng bạc ĐôngDương lúc bấy giờ) và đổi tên thành “ Công Ty Thuộc Da Việt Nam” domét ban quản trị được các cổ đông bầu ra quản lý công ty (năm 1955-1956) Người đại diện để thoả thuận đàm phán mua lại công ty và ký bản “Chứng thư đoạn mại “ là ông Nguyễn Hữu Nhậm, sinh năm 1909 tại làngĐình Bảng, Bắc Ninh có căn cước số T.14.196 cấp tại Bắc Ninh ngày17/9/1932.
- Giai đoạn từ năm 1956- 1958:
Chuyển thành công ty cổ phần hữu hạn trách nhiệm và đổi tên thànhcông Ty Thuộc Da Thuỵ Khuê do mét ban quản trị được các cổ đông bầu raquản lý công ty và do ông Bùi Đức Miên, hiệu Tư Trang làm trưởng banquản trị công ty Vốn của công ty có tổng trị giá là 300.000.000 đồng ngânhàng và được chia làm 300 cổ phiếu
- Giai đoạn từ năm 1958- 1962
Tiến hành công tư Hợp doanh và đổi tên thành Nhà Máy CTHD Thuộc
Da Thuỵ Khuê
Các giám đốc trong giai đoạn này :
+ Từ năm 1958- 1960: ông Nguyễn Văn Chí
+ Từ năm 1960- 1962: ông Nguyễn Gia Léc
Đây là thời kỳ công ty hoạt động dưới hình thức là ( Công – Tư HợpDoanh) Đây là thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH ở Miền Bắc
Thời kỳ chuyển doanh nghiệp nhà nước
(Từ năm 1962- 1990 )
- Đổi tên thành: nhà máy Thuộc Da Thuỵ Khuê
Tên giao dịch quốc tế : HALEXIM
- Các giám đốc trong giai đoạn này là:
+ Từ năm 1962- 1969: ông Nguyễn Văn Tích
+ Từ năm 1969- 1975: ông Lê Thảo
+ Từ năm 1976- 1981: ông Nguyễn Văn Tích
+Từ năm 1976- 1981 : ông Hồ Thái Mai
Trang 5+Từ năm 1981- 1989: ông Đinh Văn Tuyển
- Giai đoạn này công ty chuyển hẳn sang thành nhà máy quốc doanhTrung Ương, thuộc công ty Tạp Phẩm hoạt động dưới sự quản lý nhà nướccủa bộ công nghiệp nhẹ Tên chính thức là nhà máy Da Thuỵ Khuê, tên nàyđược dùng đến năm 1990
Thời kỳ này nhà máy hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá, sức sảnxuất đã phát triển nhanh, đặc biệt sau giải phóng Miền Nam, khi cả nướcthống nhất, khi đó sản lượng da thuộc đã đạt: Da mềm ( trên 1000.000 bia)
Da cứng (trên 100 tấn); keo công nghiệp (50-70 tấn)
Ngoài ra sản phẩm để chế biến đồ da cũng rất phong phú ( dây cuaroa, gông dệt, bóng đá, bao súng, găng tay bảo hộ…)
Số lượng công nhân thời kỳ này đã lên đến trên 500 người
Thời kỳ đổi mới và chuyển đổi sản xuất
(Từ năm 1990 đến nay)
- Từ năm 1993 đổi tên thành: Công Ty Da Giầy Hà Nội
Tên giao dich quốc tế: HANSHOES
- Các ông giám đốc trong giai đoạn này :
+ Từ năm 1990-1993: Giám đốc ông Nguyễn Công Giao
+ Từ năm 1993-1997: Giám đốc ông Nguyễn Văn Tỵ
+ Tữ năm 1997-2003: Giám đốc ông Vũ Mạnh Cường
+Từ năm 2003- nay: Giám đốc ông Trần Danh Đáng
- Từ năm 1990- 1998, nhiệm vụ của công ty vẫn là sản xuất, kinh doanhcác sản phẩm thuộc da Nhưng vì lý do môi trường nên lãnh đạo công ty đãquyết định chuyển hướng sản xuất mới đầu tư vào ngành giầy vải và giầyda
- Từ năm 1998, công ty đã đầu tư hai dây chuyền vải xuất khẩu côngsuất từ 1-1,2 triệu đôi / năm
- Cùng với chủ trương đó đến tháng 7/1999, theo quy hoạch mới thì tổngcông ty da giầy Việt Nam đã có quyết định chuyển toàn bộ dây chuyềnthuộc da vào nhà máy da Vinh – Nghệ An
Trang 6- Đến tháng 8/1999, công ty quyết định tận dụng dây chuyền sản xuấtgiầy da cũ để đầu tư vào dây chuyền giầy cũ để đầu tư vào dây chuyền giầy
nữ, đến nay dây chuyền này đang được chuẩn bị và củng cố để sản xuấttrong thời gian tới
- Cùng với sự thay đổi chung, từ những năm 1990, bộ Công Nghiệp vàUBND thành phố cho công ty Da Giầy Hà Nội chuyển từ 151 Thuỵ Khuê
về số 409 đường Tam Trinh, quận Hai Bà Trưng Hà Nội để thực hiện cácnhiệm vụ nói trên Khu đất 151 Thuỵ Khuê được góp vào liên doanh và lấy
tên là công ty liên doanh Hà Việt – Tungshing) Đây là liên doanh giữa 3
đơn vị là công ty Da Giầy Hà Nội, công ty may Việt Tiến, công tyTungshing- Hồng Kông nhằm xây dựng khu nhà ở cao cấp, khu vănphòng, khu vui chơi giải trí
Hiện nay, tổng số CBCNV của công ty là 1350 người với 3 dâychuyền SX giầy đồng bộ, công suất 1,5 triệu đôi/ năm Sản phẩm bao gồm:Giầy da nam nữ, giầy thể thao, giầy vải, dép xăng đan, dép đi trong nhà…Trong đó 90% xuất khẩu, thị trường chính của công ty hiện nay là EU,Anh, Pháp ,Đức, ý, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha …
Địa chỉ giao dịch, trụ sở công ty:
Công Ty Da Giầy Hà Nội
(Hanoi Leathes and Shoes Company Hanshoes- ISO 9001)
Địa chỉ: 409 Tam Trinh, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84 4)862 1254?862 6889
Fax: (84 4)862 4811
Website: www.hanshoes.com.vn
Email: hanshoes@hn.vnn.vn
2 Chức năng nhiệm vụ của Công Ty
Theo điều lệ thành lập công Ty và mục tiêu của tổng Công Ty DaGiầy Việt Nam giao, Công Ty Da Giầy Hà Nội có các chức năng nhiệm vụchính sau:
- Công Ty chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ thuộc da sangsản xuất kinh doanh giầy dép các loại nh: giầy vải, giầy da nam nữ, giầy
Trang 7thể thao, xăng đan, dép đi trong nhà…chủ yếu là xuất khẩu ngoài ra là phục
vụ thị trường nội địa
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hoá chấtthuộc ngành da
- Công Ty phải hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu do cấp trên giao chonhư giá trị tổng sản lượng, doanh thu, sản phẩm chủ yếu ( giầy vải, giầy danam nữ ), kim nghạch xuất khẩu, nhập khẩu, nộp ngân sách nhà nước, tổng
số cán bộ công nhân viên chức, thu nhập bình quân, đầu tư xây dựng cơbản, lợi nhuận
- Đẩy mạnh công tác phát triển thị trường nhằm tạo ra một thị trường ổnđịnh vững chắc cho Công Ty Để đạt được điều đó, Công Ty phải xây dựng
và củng cố trung tâm mẫu mạnh đủ yêu cầu làm mẫu nhanh, đẹp đa dạng.Đồng thời xây dựng phòng xuất nhập khẩu là trung tâm quảng cáo tiếp thị
và chăm sóc khách hàng
- Tập trung củng cố các xí nghiệp thành viên tạo sự chuyển biến về chấttrong quản lý điều hành nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suấtlao động và từng bước tăng thu nhập cho người lao động
- Tăng cường công tác đào tạo đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở,đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật Công Ty tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO–9001trên phạm vi toàn Công Ty
II CƠ CẤU SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY.
Từ năm 1998, sau khi Công Ty chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh từ thuộc da sang sản xuất giầy dép các loại Công Ty Da Giầy HàNội sản xuất 2 loại sản phẩm chính là giầy da và giầy vải
Trong những năm qua, Công Ty đã nỗ lực phấn đấu phát triển sản xuấtkinh doanh và đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của TổngCông Ty và của nền kinh tế quốc dân Trong mô hình sản xuất kinh doanhhiện nay, ngoài các bộ phận quản lý, Công Ty có 6 đơn vị sản xuất và phục
vụ sản xuất
- Xí nghiệp giầy vải:
Trang 8Được tách riêng vào năm 1999, giờ đây xí nghiệp giầy vải đã có 2 dâychuyền sản xuất với chức năng sản xuất các loại giầy vải phục vụ cho thịtrường nội địa và xuất khẩu Công suất hiện nay ước đạt 5000 đôi/ngày.
Cụ thể, các phân xưởng trong xí nghiệp giầy vải gồm:
+ Phân xưởng chặt: phân xưởng này có nhiệm vụ cán, Ðp vải, chặt vảitheo các lớp độn theo mẫu quy định Sản phẩm của phân xưởng chặt sẽđược chuyển qua phân xưởng may để tiếp tục quá trình chế tạo sản phẩm.+ Phân xưởng may: máy móc thiết bị được sử dụng ở phân xưởng này làcác loại máy may Phân xưởng đảm nhiệm việc máy ghép các mảnh vải đãđược chặt ở phân xưởng chặt lại với nhau, tạo thành khuôn của giầy
+ Phân xưởng gò: nhận được sản phẩm dở dang từ phân xưởng may,phân xưởng gò thực hiện gò mũi giầy, gót giầy và lắp ghép các bộ phận của
nó lại với nhau, tạo thành khuôn của giầy
+ Phân xưởng hoàn tất: thực hiện một số khâu cuối cùng của dây chuyềnsản xuất sản phẩm, kiểm tra sản phẩm và đóng gói sản phẩm
- Xí Nghiệp giầy da:
Hình thành sau xí nghiệp giầy vải và chỉ có 1 dây chuyền sản xuất donăng lực tiêu thụ chưa lớn Ngoài sản phẩm giầy da, xí nghiệp còn sảnxuất các sản phẩm khác từ da và giả da nhưng số lượng nhỏ
Xí nghiệp này cũng chia làm 3 phân xưởng nhỏ:
+ Phân xưởng chặt: tương tự ở xí nghiệp giầy vải, phân xưởng chặt ở xínghiệp giầy da cũng có nhiệm vụ chặt da theo mẫu để phục vụ các côngđoạn sau của quá trình sản xuất sản phẩm
+ Phân xưởng may: thực hiện việc may lắp ghép các mảnh da đã chặt + Phân xưởng lắp ráp: phân xưởng lắp ráp tiếp tục thực hiện quy trìnhsản xuất sản phẩm ở phân xưởng này người ta thực hiện các công việc tiếp:
gò, chỉnh lý và hoàn tất
- Xí nghiệp cao su:
Xí nghiệp này thực hiện việc chế biến cao su nguyên liệu thành 1 dạngbán thành phẩm là đế giầy dùng để phục vụ cho việc sản xuất của xí nghiệpgiầy vải
Trang 9Ngoài ra còn chịu trách nhiệm cung cấp các loại phụ liệu nh: nhựa, hoáchất, phụ gia cần thiết khác.
- Phân xưởng cơ điện:
Đây là bộ phận rất quan trọng có nhiệm vụ cung cấp năng lượng cho 3
xí nghiệp thành viên và duy trì hoạt động của toàn Công Ty Chính vì vậy
mà đội ngũ lao động ở đây chủ yếu là thợ bậc cao
- Trung tâm nghiên cứu- thiết kế mẫu:
Chuyển sang sản xuất giầy thì đồng thời trung tâm nghiên cứu- thiết kếmẫu cũng được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu – thiết kế, triển khai, ápdụng việc cải tiến mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng caomức tiêu thụ của Công Ty
- Liên doanh Hà Việt – Tungshing.
Sau khi chuyển đổi địa điểm từ 151 Thuỵ Khuê về số 409 NguyễnTam Trinh, quận Hai Bà Trưng theo quyết định của UBND thành phố HàNội, khu đất cũ (20.300 m2) đã được đưa vào góp cổ vốn liên doanh giữaCông Ty với Công Ty may Việt Tiến và Công Ty Tungshing- Hồng Kông).Công trình liên doanh là khu nhà ở cao cấp để cho thuê, bán và làm khuvăn phòng, khu vui chơi giải trí Nó có nhiệm vụ kinh doanh để đem lại thunhập cho công ty Chính là nguồn thu thuộc lĩnh vực kinh doanh ngoài sảnxuất của công ty
- Các xí nghiệp giầy vải, xí nghiệp giầy da, xí nghiệp cao su, xưởng cơ
điện: Các xí nghiệp này có nhiệm vụ sản xuất theo đúng các chức năng củamình Trong đó nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các loại giầy, đồ da xuất khẩuđồng thời tạo nguyên vật liệu cho sản xuất và sửa chữa các thiết bị máymóc
Nói chung tổ chức sản xuất của Công Ty có thể được thể hiện tóm tắtqua sơ đồ sau:
Trang 10Sơ đồ1: Cơ cấu sản xuất tại Công Ty Da Giầy Hà Nội
III CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY
1.Sơ đồ tổ chức bộ máy Công Ty Da Giầy Hà Nội
Công Ty Da Giầy Hà Nội đang thực hiện việc tổ chức bộ máy quản lýCông Ty theo mô hình trực tuyến chức năng Tham gia vào công tác quản
lý của Công Ty bao gồm 4 bộ phận: Đảng, Ban Giám Đốc, Công Đoàn vàĐoàn Thanh Niên theo chủ trương: Đảng lãnh đạo, ban Giám Đốc điềuhành, Công Đoàn và Đoàn Thanh Niên tham gia quản lý Bộ máy quản lýcủa Công Ty được tổ chức theo mô hình sau:
XÝngiÖpcao su
Xëngc¬ ®iÖn nghiÖpXÝ
giÇyv¶i
Ph©n
xëng
chÆt
Ph©nxëngl¾pr¸p
Ph©nxëngmay
Ph©nxëngchÆt
Ph©nxëngmay
Ph©nxënggß
Ph©nxënghoµntÊt
Nhµm¸ygiÇyTh¸iNguyªn
Trang 12Error: Reference source not found2.Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
Trang 13IV ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1.Đặc điểm về sản phẩm
1.1.Đặc điểm về mặt hàng giầy dép
Giầy dép là đồ dùng thiết yếu nó gắn liền với hoạt động sinh hoạt hàngngày của con người, nó có tác dụng bảo vệ đôi chân khỏi các tác động bênngoài, tạo điều kiện thuận lợi khi nghỉ ngơi Ngoài ra với điều kiện nhưngày nay thì giầy dép còn có thêm một công dụng nữa đó là làm đẹp bànchân mỗi khi sử dụng nó Chính vì vậy mà ngày nay mặt hàng giầy dép rất
đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu cho mọi thành phần lứa tuổi khácnhau, do vậy mà mặt hàng này cũng được phân loại theo nhiều dấu hiệukhác nhau:
- Phân loại theo công dụng: giầy sinh hoạt, sản xuất, giầy thể thao, giầy
lễ hội
- Phân loại theo lứa tuổi: giầy trẻ em, giầy người lớn
- Phân loại theo giới tính: giầy nữ, giầy nam
- Phân loại theo dạng của giầy: giầy cao cổ, giầy thấp cổ, xăng đan
- Phân loại theo nguyên liệu làm giầy: Giầy da bò, da lợn, giả da, giầyvải
- Phân loại theo nguyên liệu làm đế giầy: đế bằng cao su, đế bằng nhựahoá học…
- Phân loại theo phương vào đế: giầy khâu chỉ, giầy dán keo…
Dựa vào tính chất của giầy mà một đôi giầy được coi là tốt nếu nó đápứng được các chỉ tiêu sử dụng theo tiêu chuẩn quy định bao gồm:
- Nhóm chỉ tiêu economic: nó phản ánh quan hệ giữa đồ vật– con môi trường, trong đó con người đóng vai trò là chủ thể, nhóm chỉ tiêu này
người-nó đảm bảo cho bàn chân hoạt động bình thường khi sử dụng giầy Chỉ tiêunày được đặc trưng bởi các thông số thống kê của giầy như: hình dáng,kích thước, khối lượng, chiều cao gót giầy, độ mềm dẻo của giầy, độ cứngcủa giầy…
Trang 14- Nhóm chỉ tiêu vệ sinh: đây là chỉ tiêu rất quan trọng của giầy dép để
nó đáp ứng được điều kiện sinh hoạt bình thường của con người các chỉtiêu này bao gồm: tính giữ nhiệt, thấm hơi, tính thấm nước, tính khôngđộc…các chỉ tiêu vệ sinh phụ thuộc vào cấu trúc của giầy, nguyên vật liệulàm giầy
- Nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ: bao gồm các đặc trưng về hình dáng, kiểumốt, phong cách, màu sắc, trang trí của giầy, nó tách rời phong cách ănmặc như quần áo, giày dép phải phù hợp
- Nhóm chỉ tiêu độ bền: nhóm chỉ tiêu này chủ yếu xác định độ bền cơ
lý của giầy dép như độ bền, độ cứng bề mặt… Nó phụ thuộc chủ yếu vàonguyên vật liệu và phương pháp gia công, một số đôi giầy mốt thì thời hạn
sử dụng (độ bền) còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý do hao mòn vôhình
1.2 Cơ cấu mặt hàng giầy dép sản xuất ra
Từ năm 1998 Công Ty Da Giầy Hà Nội chuyển đổi sản xuất kinhdoanh từ thuộc da sang sản xuất giầy dép các loại, việc chuyển đổi sản xuất
Êy đã giúp Công Ty thoát khỏi tình trạng kinh doanh thua lỗ như nhữngnăm trước đó Từ năm 1998 Công Ty luôn sản xuất kinh doanh năm sau tốthơn năm trước đó là nhờ vào việc Công Ty luôn sản xuất đa dạng các loạisản phẩm khác nhau Nhưng nói chung sản phẩm chủ yếu mà Công Ty sảnxuất và tập trung vào 3 loại sản phẩm chủ yếu là giầy vải, giầy thể thao vàgiầy da
Bi u1: C c u s n ph m ch y u c a Công Ty Da Gi y H N i ểu1: Cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ầy Hà Nội à Nội ội
Sản phẩm chủ yếu Đơn vị Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
( Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công Ty Da Giầy
Hà Nội )
Trang 15Qua biểu cho ta thấy sản phẩm của Công Ty sản xuất ra các loại giầyvải và giầy da có xu hướng ngày càng giảm điều đó là do ở thị trường xuấtkhẩu của Công Ty có nhu cầu ngày càng giảm về giày vải và giầy da.Trong khi đó ta thấy giầy thể thao là sản phẩm đang ngày càng được ưachuộng, năm 2002 Công Ty chưa sản xuất mặt hàng này mà chỉ đầu tư chosản xuất giầy vải và giầy da, nhưng đến năm 2003 do nhu cầu của thịtrường có sự thay đổi nên Công Ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất giầythể thao và bắt đầu từ năm 2003 trong cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công
Ty đã xuất hiện thêm giầy thể thao với sản lượng là 565.795 (nghìn đôi) và
cứ thế Công Ty ngày càng chú trọng đến việc đầu tư cho công nghệ sảnxuất giầy thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường Đặc biệt là ở thịtrường xuất khẩu, một thị trường có tiềm năng rất lớn của Công Ty ở cảhiện tại và trong tương lai
2.Đặc điểm thị trường
2.1.Thị trường trong nước
Trong những năm gần đây, người tiêu dùng Việt Nam đã được chứngkiến sự thành công bước đầu của hàng loạt các phẩm mang thương hiệu “made in Việt Nam” chiếm lĩnh thị trường nội địa và vươn ra quốc tế Điểnhình trong đó phải kể đến các sản phẩm của ngành giầy dép Việt Nam.Những thành công ban đầu của ngành sẽ tạo tiền đề cho việc tiếp tục mởrộng thị trường và xác lập thương hiệu cho sản phẩm da giầy Việt Nam.Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân ngàycàng được cải thiện, nhu cầu thiết yếu về ăn mặc ngày càng được nâng cao
Đó là những điều kiện thuận lợi cho phép ngành da giầy vươn lên chiếmlĩnh thị trường nội địa Tuy nhiên, có một thực tế phải thừa nhận rằng,trong những năm gần đây ngành da giầy còn chưa tập trung khai thác vàđáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước Hàng năm chỉ có khoảng6-7 triệu đôi giầy dép da và trên 20 triệu đội giầy nữ, giầy vải giầy thểthao… trong tổng số lượng hơn 400 triệu đơn vị sản phẩm phục vụ tiêu thụtrong nước và chủ yếu do lực lượng thủ công và các đồng nghiệp tư nhânsản xuất Thêm vào đó, nhiều chủng loại hàng Trung Quốc, mẫu mã đa
Trang 16dạng kiểu dáng thời trang được đưa vào thị trường nội địa bằng con đườngnhập lậu trốn thuế nên giá cả rẻ hơn rất nhiều Chính điều này đã và sẽ làmcho ngành Da Giầy Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và phải cạnh tranh rấtgay gắt để tìm chỗ đứng trong thị trường nội địa
2.2.Thị trường xuất khẩu
Với phương châm đẩy mạnh sản xuất hướng về xuất khẩu, trongnhững năm qua Công Ty Da Giầy Hà Nội đã không ngừng mở rộng quan
hệ với các bạn hàng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộckhối liên minh Châu Âu- EU Vào đầu thập kỷ 90 khi thị trường Đông Âuhoàn toàn sụp đổ, lúc đó Công Ty gặp rất nhiều khó khăn và đã quyết địnhchuyển hướng sang thị trường EU và một số thị trường khác như HànQuốc, Đài Loan… Từ đó tới nay thị trường các nước EU vẫn là thị trườngtruyền thống và là bạn hàng nhập khẩu giầy dép nhiều nhất của Công Ty
Da Giầy Hà Nội Hiện nay Công Ty đang hướng tới thị trường Mỹ, NhậtBản Bước đầu Công Ty đã xuất sang đó 1 sản lượng sản phẩm nhất định
- Đặc điểm thị trường EU: EU là thị trường nhập khẩu tới 85% sảnphẩm giầy dép của Công Ty Tuy nhiên thị trường EU là một thị trườngkhá khó tính, đòi hỏi mẫu mã, chủng loại đa dạng, chất lượng cao Nhưngbên cạnh đó EU cũng là thị trường có khá nhiều sự ưu đãi như: chưa bịquản lý bằng hạn nghạch, được hưởng ưu đãi về thuế quan (bằng 70%)mức thuế bình thường nếu đảm bảo tiêu chuẩn mà họ yêu cầu về chấtlượng nguyên vật liệu sử dụng và chất lượng của toàn bộ đôi giầy)
- Thị trường Mỹ: Mỹ là nước có nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ giầy déplớn nhất Thế Giới, hàng năm, Mỹ nhập khẩu khoảng 1.4 tỷ đôi giầy dép cácloại, trị giá khoảng 14- 15 tỷ USD Tiềm năng của thị trường Mỹ rất lớn,không những tạo cơ hội cho Công Ty Da Giầy Hà Nội mà còn cho toàn bộngành công nghiệp Việt Nam Nhất là sau khi hiệp định thương mại Việt –
Mỹ đã được ký vào tháng 7/ 2000
- Đặc điểm thị trường các nước Đông Á ( (Nhật Bản, Đài Loan, HồngKông, Hàn Quốc) là khu vực thị trường có những tập quán thói quen tiêudùng tương đối giống Việt Nam lớn nhất trong số đó là thị trường Nhật Bản
Trang 17(chiếm khoảng 6% tổng kim nghạch xuất khẩu) Nhật Bản là nước có nhucầu nhập khẩu giầy dép hàng năm vào khoảng 250 triệu đôi.
Các nước trên là những thị trường tiềm năng rộng lớn cho sản phẩm
Da Giầy Việt Nam nói chung và sản phẩm của Công Ty Da Giầy Hà Nộinói riêng Những thuận lợi đó đòi hỏi trong thời gian tới để có thể giữ đượcthị trường cũ và ngày càng mở rộng thị trường mới thì Công Ty Da Giầy
Hà Nội càng phải đầu tư nhiều hơn cho công tác thiết kế mẫu mốt đáp ứngđược nhu cầu tiêu dùng cũng như phải đầu tư hơn nữa cho công tác nghiêncứu thị trường và xúc tiến thương mại
3.Đặc điểm nhân sự
Như chóng ta đã biết giầy dép là một loại hình sản xuất mang tính chấtmùa vụ Hàng năm thì mùa sản xuất chính là từ tháng 8 năm trước cho đếntháng 3 năm sau Vào những mùa chính công việc nhiều hơn do đó cónhiều đơn đặt hàng và đòi hỏi phải tăng số lượng lao động Chính vì thếnên số lượng lao động của Công Ty không ổn định, luôn thay đổi theo mùa
vụ của công việc Vào những mùa chính ngoài lực lượng lao động trực tiếpđược biên chế trong Công Ty thì Công Ty phải thuê thêm lao động tạm thời
để đảm bảo tiến độ sản xuất giao hàng đúng thời hạn cho khách hàng
Việc tăng, giảm số lượng lao động hàng năm trong Công Ty là mộtvấn đề khá khó khăn cho việc quản lý nhân sự đối với các cấp quản lý Dođặc thù công việc, các thao tác chủ yếu là gia công vì vậy đòi hỏi người laođộng phải có tay nghề, kiên trì kết hợp với sự khéo léo để đáp ứng sự thayđổi linh hoạt của sản phẩm Do đó lao động của Công Ty chủ yếu là nữ với
số lượng chiếm tới 80% tổng số lao động hiện có
Bi u 2: C c u lao ểu1: Cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội đội ng c a Công Ty Da Gi y H N i ủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ầy Hà Nội à Nội ội
2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Trang 18( Nguồn báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công Ty Da Giầy Hà Nội )
Qua bảng tổng hợp tình hình lao động của Công Ty trong thời gian từnăm 2001- 2004 ta có những nhận xét như sau:
Nói chung càng về những năm sau thì tổng số lao động của Công Tycàng tăng (trừ năm 2004 là do Công Ty đang trong quá trình cổ phần hoá
và do năm 2003 kết quả sản xuất kinh doanh của Công Ty không được tốt).Trong đó ta thấy:
+ Lao động gián tiếp của Công Ty năm 2003 là nhiều nhất với 145người tăng 38.09% so với năm 2001, nhưng đến năm 2004 như đã nói thìCông Ty đang trong quá trình cổ phần hoá nên số lượng lao động giảm đichỉ còn 120 người tức là 20.83%
+ Trong sè lao động gián tiếp thì ta thấy số lượng lao động có trình độđại học là chiếm phần lớn Năm 2001 là 93 người chiếm 88.57%, năm2002tăng lên là 90.9%, năm 2003 là 89.65%, năm 2004 lên tới 95.83% mặc dùCông Ty đang trong quá trình cổ phần hoá
+ Trong Công Ty năm 2001 vẫn có 2 người chiếm 1.9% là lao độngtrình độ cấp 3 các năm sau thì không còn, đây là con số rất nhỏ còn lại làlao động có trình độ trung cấp cũng chỉ chiếm một số lượng nhỏ
Trang 19Như vậy, trình độ của cán bộ nhân viên trong Công Ty ngày càngđược nâng cao, cán bộ có trình độ đại học ngày càng chiếm phần lớn, cán
bộ có trình độ trung cấp và cấp 3 giảm dần xuống còn rất Ýt Điều đó chothấy Công Ty hiện tại đang có đội ngũ cán bộ công nhân viên quản lý cótrình độ tương đối tốt, đó là nguồn lực góp phần quan trọng giúp Công Tyngày càng khẳng định mình trên thị trường trong tương lai
+ Đối với bất kỳ một Công Ty sản xuất công nghiệp nào, thì một phầnkhông thể thiếu được đó là lực lượng công nhân sản xuất trực tiếp Đối vớiCông Ty Da Giầy Hà Nội, nhìn vào bảng trên ta thấy tổng số lao động trựctiếp của Công Ty ngày càng tăng, năm 2001 chỉ có 895 người chiếm 89.5%trong tổng số lao động của Công Ty, đến năm 2003 là nhiều nhất 1615người chiếm tới 91.76% Đây là con số nói lên Công Ty đang trong quátrình đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm tăng số lượng sản phẩmsản xuất ra đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu
+ Cũng nhìn vào bảng ta thấy công nhân bậc 1, bậc 2, bậc 3 chiếm đa
số Đây là lực lượng trẻ đã được đào tạo và có thời gian sản xuất thực tế.Tuy tay nghề chưa cao nhưng cũng đã phát huy được sức mạnh của tuổi trẻ
là khéo tay, dám nghĩ dám làm Còn công nhân bậc cao hơn như bậc 5, bậc
6 thì vẫn là con số nhỏ hơn nhưng hàng năm vẫn tăng lên đều đặn, năm
2001 là 56 người chiếm 6.25% nhưng đến năm 2004 là 105 người chiếm8.53% tổng số lao động trực tiếp Đây chính là lực lượng lao động có trình
độ tay nghề cao có thể đáp ứng được yêu cầu sản xuất những mặt hàng đòihỏi có chất lượng tốt, cần có sự khéo léo của người thợ, họ là lực lượng laođộng có thể kèm cặp giúp đỡ rất tốt cho lực lượng lao động trẻ của CôngTy
+ Ta cũng thấy rằng, thu nhập bình quân của lao động trong Công Tyngày càng tăng hơn, năm 2001 là 623000đ/ người nhưng đến năm 2004 lêntới 750000đ/ người Điều này nói lên Công Ty đã phần nào đáp ứng được
Trang 20nhu cầu của người lao động, cuộc sống của lao động trong Công Ty đãđược nâng cao hơn.
Ngoài ra Công Ty còn có sự quan tâm đến đời sống của cán bộ côngnhân viên chức bằng các hoạt động xã hội như hàng năm tổ chức các hoạtđộng văn hoá văn nghệ, thể thao, lập các quỹ phúc lợi xã hội, xây dựngnhà tình nghĩa…giúp người lao đông yên tâm công tác
Hiện nay, Công Ty đang tích cực thi hành chính sách nâng cao chấtlượng năng lực đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của Công Ty như: tổchức lại bộ máy cơ cấu hợp lý, mở các lớp đào tạo tay nghề cũng như trình
độ quản lý và tiếp tục tuyển dụng thêm nữa cán bộ, công nhân có năng lực
4.Đặc điểm về kỹ thuật
4.1.Quản lý máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị là một yếu tố sản xuất quan trọng, giá trị của nóchiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn cố định của Công Ty (65% trong tổngvốn cố định ) Trong hoạt động sản xuất của Công Ty, do đặc trưng củangành, máy móc thiết bị đóng vai trò lớn trong việc nâng cao năng suất laođộng và chất lượng sản phẩm của Công Ty
Từ một đơn vị chuyên sản xuất các sản phẩm thuộc da nay chuyểnsang sản xuất giầy nên toàn bộ máy móc thiết bị chủ yếu phục vụ quá trìnhđều được nhập trong những năm gần đây
Trang 21Biểu3: Mét số loại máy móc thiết bị chủ yếu
STT Máy móc thiết bị Đv tính Nước SX Số lượng Giá trị
còn lại
13 Dây chuyền SX tói cao
(Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty da giầy Hà Nội )
Qua đó thấy máy móc thiết bị của Công Ty có nhiều chủng loại đápứng nhu cầu kỹ thuật khác nhau của từng loại sản phẩm Nó chủ yếu đượcnhập ở Liên Xô, các nước Đông Âu và Đài Loan Tuy thế ta thấy máy mócthiết bị vẫn chưa tận dụng được hết công suất (chỉ sử dụng được khoảng55- 60 % công suất thiết kế), giá trị còn lại còn khoảng 60 – 70 % Nh vậy,
có thể nói máy móc thiết bị của Công Ty đều không còn hiện đại, cần có sựđầu tư nhiều hơn cho công nghệ sản xuất
4.2.Quản lý chất lượng sản phẩm
Trong tình hình nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiệnnay thì vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhiệm vụquan trọng hàng đầu của công ty Để thực hiện được nhiệm vụ Êy Công ty
đã đề ra chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm bằng nhiều biện pháp màchủ yếu nhất là áp dụng quản lý chất lượng sản phẩm bằng hệ thống quản
lý chất lượng ISO 9000 Tháng 10/2000 hệ thống ISO 9000: 1994 đã chínhthức được vận hành và áp dụng trên phạm vi toàn công ty, từ đó đưa ra các
Trang 22mặt hoạt động của công tác quản lý đi vào nề nếp Giải quyết một cách cănbản hiện tượng chồng chéo các chức năng quản lý, phân định rõ ràng tráchnhiệm của các bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý của công ty Đặcbiệt tháng 11/2002 công ty đã được tập đoàn chứng nhận quốc tế SGS củaThuỵ Sĩ đánh giá và chứng nhận đạt tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượngquốc tế theo phiên bản ISO 9001: 2000.
Đây là hệ thống quản lý vừa đảm bảo chất lượng vừa kiểm soát về chấtlượng sản phẩm Nh vậy, hệ thống này sẽ giúp cho công ty có biện phápngăn ngừa các phát sinh còng nh giải quyết các vấn đề xảy ra trong quátrình Tất cả những điều Êy đều nhằm 2 mục tiêu:
- Chất lượng: khách hàng thoả mãn về sản phẩm
- Đảm bảo chất lượng: khách hàng tin tưởng vào công ty
Trong quá trình áp dụng ISO 9000 vào công tác quản lý chất lượng thìcông ty đã đạt được những thành tựu nhất định giúp công ty vừa giữ vữngđược thị trường hiện có đồng thời mở rộng thêm thị trường mới
Mặc dù đã có những kết quả tốt sau khi áp dụng ISO 9000 nhưng đểđảm bảo cho chất lượng sản phẩm càng cao, tăng khả năng cạnh tranh hơnnữa thì công ty đã xác định rõ: phải thực hiện tốt hệ thống quản lý chấtlượng bằng ISO 9000, cụ thể là thực hiện tốt những nhiệm vụ như sau:
- Xác định rõ mục tiêu, kế hoạch thực hiện quản lý chất lượng và thôngbáo rộng rãi
- Có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hợp lý
- Có hệ thống thủ tục, quy trình xác lập và người thực hiện
- Có nguồn lực để điều phối, con người, tiền bạc, cơ sở vật chất
- Có đầy đủ bằng chứng khách quan để chứng tỏ khả năng đảm bảo chấtlượng của mình
- Các yếu tố cần kiểm soát phải được làm rõ, lập biểu đồ “quá trình kiểmsoát”
- Khi thực hiện cần tuân theo quy trình đã được xác định
- Có các giải pháp phòng ngừa thích hợp
Trang 23- Phải thực hiện dự đoán quản lý chất lượng nh xem xét của lãnh đạo,đánh giá nội bộ bởi các đánh giá viên độc lập đã được đào tạo.
Nh vậy:
- Sổ tay chất lượng - Các bảng biểu , mẫu biểu
- Các thủ tục -Các phiếu kiểm tra, sổ kiểm tra
- Các quy trình công nghệ - Hồ sơ sản phẩm
- Các sơ đồ hướng dẫn - Hồ sơ đánh giá HTCL
- Đánh giá của khách hàng -Có người trách nhiệm về ĐBCL
§¶m b¶o chÊt l îng(ISO 9000)
Chøng minh viÖc kiÓm
so¸t chÊt l îng
B»ng chøng cña viÖc kiÓm
so¸t chÊt l îng
Trang 245.Đặc điểm yếu tố nguyờn vật liệu
Nguyờn vật liệu được xỏc định là yếu tố chớnh trong giỏ thành sảnphẩm Để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thỡ việc tập trung quantõm đến vấn đề nguyờn vật liệu là rất cần thiết
Với sản phẩm chớnh của Cụng Ty hiện nay là giầy vải, giầy da, thểthao Nguyờn vật liệu chủ yếu được sử dụng tại Cụng Ty là cỏc loại da, vải,cao su…Đối với Cụng Ty Da Giầy Hà Nội thỡ hiện nay nguyờn vật liệuchiếm tỷ trọng 80 – 85% giỏ thành sản phẩm hoàn thành Vỡ vậy, việc quản
lý hoạt động thu mua, bảo quản và sử dụng cú hiệu quả nguyờn vật liệu là
cú ý nghĩa lớn trong việc hạ giỏ thành sản phẩm
Theo cơ chế quản lý của Cụng Ty thỡ hàng năm phũng xuất nhập khẩulập kế hoạch cho toàn Cụng Ty về vấn đề cung ứng nguyờn vật liệu, do tớnhchất hạch toỏn độc lập của xớ nghiệp trực thuộc Cụng Ty, mỗi xớ nghiệp cúquyền tự hạch toỏn độc lập tỡnh hỡnh thu mua và sử dụng nguyờn vật liệucủa đơn vị mỡnh Hiện nay cú tỡnh trạng một số nguyờn vật liệu Cụng Ty sửdụng vẫn chưa được sản xuất ở nước ta như cỏc loại hoỏ chất, giả da, một
Kiểm soát chất l ợng đảm bảo chất l ợng
Chứng minh Việc kiểm Soát CL
Có ng ời Chịu trách nhiệm
tra CL
Trang 25số loại da cao cấp… Nên Công Ty phải nhập từ nước ngoài Điều này làmcho Công Ty gặp những khó khăn nhất định như phải phụ thuộc vào bêncung cấp, về giá cả thì cao điều đó sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng lênlàm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường…
Hiện tại, để đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu nhằmnâng cao hiệu quả của sản xuất, Công Ty đã và đang áp dụng hệ thống địnhmức tiêu hao đối với một số nguyên vật liệu chính:
Biểu4: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu Lượng nguyên vật liệu Lượng sản phẩm
(Nguồn: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công Ty Da Giầy Hà Nội)
Việc Công Ty áp dụng hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu đãgóp phần tiết kiệm được nguyên vật liệu tránh lãng phí, nâng cao chấtlượng sản phẩm, làm cho người công nhân có trách nhiệm hơn đối với côngviệc của mình Mặt khác giúp cho người công nhân phấn khởi hơn tronglao động do Công Ty luôn có những phần thưởng xứng đáng dành chonhững lao động có thành tích cao trong việc thực hiện theo đúng định mứcnày
6.Đặc điểm về tài chính
Bất kỳ một Công Ty nào muốn hoạt động đều phải có vốn để sản xuấtkinh doanh Vốn là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại và khả năngtiến vào đầu tư ở những lĩnh vực mới
- Nguồn vốn của Công Ty
Công Ty Da Giầy Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước đang trongquá trình cổ phần hoá Hiện tại vốn kinh doanh tại thời điểm xác định giátrị doanh nghiệp ( năm 2004 ) là: 153.546.873.804 đồng Trong đó vốn lưuđộng là 70.585.229.463 đồng và vốn cố định là 82.961.644.341 đồng Công Ty sử dụng vốn cố định chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị còn vốn
Trang 26lưu động thì dùng để mua nguyên vật liệu và một số hoạt động kinh doanhkhác…
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty sử dụng 2nguồn vố cơ bản là vốn chủ sở hữu bao gồm vốn ngân sách nhà nước cấp
và vốn tự bổ sung, nguồn vốn vay, chủ yếu là vốn tín dụng ngân hàng vàtín dụng thương mại
Bi u 5: C c u v n c a Công Ty Da Gi y H N i ểu1: Cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ốn của Công Ty Da Giầy Hà Nội ủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ầy Hà Nội à Nội ội
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công Ty Da Giầy Hà Nội )
Qua bảng trên ta thấy:
+ Nguồn vốn kinh doanh của công ty có xu hướng năm sau cao hơnnăm trước Năm 2004 tăng so với năm 2002 là 18.692 trđ và tăng so vớinăm 2003 là 20.915 trđ Điều đó cho thấy công ty không ngừng đầu tưthêm cho sản xuất kinh doanh Trừ năm 2003, là năm công ty gặp nhiềukhó khăn, so với năm 2002 thì nguồn vốn kinh doanh không những khôngtăng mà lại còn giảm đi 2.223 trđ Ta có thể thấy trong năm vốn chủ cótăng lên nhưng vốn vay lại giảm đi tới 9.212 trđ, trong năm 2003 hầu nh 6tháng cuối năm công ty không có được nguồn vốn từ ngân hàng Do vậytổng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của công ty giảm đi, dẫn đến giảmdoanh thu, giảm lợi nhuận của công ty gây ảnh hưởng đến kết quả sản xuấtkinh doanh trong năm này
Trang 27+ Chỉ số nợ khá cao, bởi nguồn vốn chủ mà công ty sử dụng so vớinguồn vốn vay chỉ chiếm phần nhỏ Do vậy làm cho độ an toàn giảm Hiệuquả sản xuất kinh doanh của công ty phụ thuộc nhiều vào vốn vay Khi có
sự biến động lớn ở vốn vay sẽ ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh.Điển hình là năm 2003 khi công ty gặp khó khăn với vốn vay từ ngân hàngthì kết quả sản xuất kinh doanh của toàn công ty trong năm đó đã giảm hẳn.+ Trong những năm qua, chỉ số vòng quay của toàn bộ vốn đã chứng
tỏ phần nào tình hình sử dụng vốn của công ty Hiệu quả sử dụng vốn chưađược tốt, một đồng vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh cũng chỉ tạo racao nhất là 0,534 đồng doanh thu Có năm 2003 chỉ đạt 0,38 đồng doanhthu
+ Bởi vì tình hình sử dụng nguồn vốn như trên mà hiệu quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của công ty đã được thể hiện phần nào thông qua chỉ
số ROE Hàng năm, chỉ số này có thể nói là rất thấp Một đồng vốn chủ sởhữu dùng vào kinh doanh tạo ra được cao nhất là 0,00693 đồng lợi nhuận.đây chính là kết quả của công việc công ty không có nhiều vốn chủ sở hữucho sản xuất kinh doanh mà phụ thuộc nhiều vào vốn vay nh đã nói ở trên.Trong những năm tới, khi công ty đã hoàn thành việc cổ phần hoácông ty thì việc sử dụng nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh cũng là mộtvấn đề mà công ty cần quan tâm Chính việc cổ phần hoá sẽ ảnh hưởng đếnnguồn vốn vay trước kia khi công ty đang còn là một doanh nghiệp nhànước được hưởng nhiều thuận lợi do được nhà nước ưu tiên Vì vậy, để sảnxuất kinh doanh có hiệu quả hơn thì công ty cần có một hướng đi mới phùhợp hơn
Trang 28Phần2: Phân tích công tác tiêu thụ sản phẩm của Công Ty Da
Giầy Hà Nội
I.KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG DA GIẦY TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
1.Thị trường trong nước
Với sự tăng trưởng ngày càng tăng và ổn định của nền kinh tế thì nhucầu tiêu dùng của người dân cũng tăng lên rất nhiều, trong đó có mặt hànggiầy dép Người tiêu dùng trong nước bây giờ không chỉ yêu cầu về đôigiầy, dép chỉ đơn thuần là đi mà họ còn đòi hỏi ngày càng cao về chấtlượng đặc biệt là tính thời trang của sản phẩm Với khoảng 80 triệu dân, đó
là một con số nói lên thị trường nội địa là một thị trường lớn đầy tiềm năng.Mặc dù vậy, trong những năm qua thị trường này chưa được ngành da giầyViệt Nam quan tâm nhiều tới Hàng năm tỷ trọng sản phẩm ở thị trườngtrong nước chỉ chiếm một con số khá khiêm tốn là 15% tổng sản phẩm sảnxuất ra Ngành Da giầy Việt Nam hiện nay đã có một số công ty có uy tíntrên thị trường như: Bitis, Hiệp Hưng, Thượng Đình…Đây là những công
ty đã có được chỗ đứng tốt ở thị trường trong nước, không chỉ thế họ cònđang có chiến lược mở rộng thêm thị trường ra các nước lân cận
Trong những năm qua, thị trường trong nước còn được chứng kiến sựcạnh tranh gay gắt của sản phẩm da giầy của Trung Quốc, do họ có đầy đủtiềm năng và mạnh hơn da giầy của chúng ta rất nhiều bởi tất cả những gì
họ đã tạo lập được về cơ sở nguyên vật liệu, ngành công nghiệp sản xuấtnguyên phụ liệu, ngành chế tạo máy móc- phụ kiện cho giầy dép, kinhnghiệm và năng suất lao động, đội ngũ lao động đông đảo có lao động rẻ…Đặc biệt sản phẩm của Trung Quốc khi vào Việt Nam chủ yếu qua conđường nhập lậu, trốn thuế nên giá cả rất rẻ so với hàng giầy dép nước ta.Thêm vào đó là mẫu mã sản phẩm lại rất đa dạng, đẹp, phù hợp với thị hiếucủa người tiêu dùng Việt Nam
Nh vậy, thị trường trong nước chính là thị trường mà giầy dép ViệtNam cần quan tâm hơn nữa Các doanh nghiệp Da giầy Việt Nam không
Trang 29thể để thua ngay trên “sân nhà” của mình Đây chính là biện pháp để thựchiện tốt chiến lược phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2010.
2 Thị trường xuất khẩu
Với chính đặc điểm sản phẩm thì các mặt hàng giầy dép chủ yếu đượctiêu dùng tập trung ở các nước công nghiệp phát triển, các khu vực côngnghiệp và các thành phố lớn Theo như thống kê về nhu cầu tiêu dùng giầycho biết: ở các nước Tây Âu, số giầy được sử dụng cho một người vàokhoảng 5- 6 đôi/ năm, còn ở Châu Á chỉ sử dụng có 0,5 – 2 đôi/ năm Vớimỗi khu vực thị trường khác nhau thì với đặc điểm của nó sẽ ảnh hưởngđến khả năng tiêu thụ sản phẩm
Trong những năm qua, thị trường chính của ngành Da giầy Việt Nam
là thị trường xuất khẩu Sản phẩm giầy dép của nước ta sản xuất ra chủ yếudành cho xuất khẩu Những thị trường chính có thể nói đến bao gồm:
- Thị trường EU: Đây là thị trường lớn có khoảng 400 nghìn ngườitiêu dùng với mức tiêu dùng giầy dép cao ( 6- 7 đôi/ người/ năm) chiếm30% mức tiêu thụ toàn thế giới Trong số giầy dép tiêu dùng thì nhu cầubảo vệ đôi chân dưới 35%, còn lại hơn 65% là nhu cầu về thẩm mỹ Do đờisống được nâng cao, xu hướng tiêu dùng ở đây về giầy dép là nhiều hơn( có độ bền cao, giữ tốt trong quá trình sử dụng) mềm mại, độ thấm mồ hôitốt Trong những năm qua, ở thị trường này ngành giầy dép nước ta đã xuấtsang thị trường này chiếm một tỷ trọng rất lớn khoảng 85% sản phẩm sảnxuất ra để xuất khẩu Tuy nhiên, đối với thị trường này ngành giầy dép ViệtNam cũng đang phải đối mặt với những khó khăn là hiện nay xu hướnghàng nhập khẩu vào EU là cần hạn nghạch và được kiểm soát chặt chẽ vềchất lượng Chất lượng sản phẩm là một thách thức rất lớn vì các nước EUđều thi hành biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của họ rất nghiêm ngặt,trong đó có những tiêu chuẩn về hàng nhập khẩu mà giầy dép nước ta cũngnhư các nhà xuất khẩu nước ngoài phải tuân thủ khi vào thị trường EU
- Thị trường Mỹ và Bắc Mỹ: Với dân số trên 260 triệu người, tổng thunhập quốc nội luôn đạt ở mức cao nhất thế giới, có thể nói đây là thị trườngđầy tiềm năng và hấp dẫn Thị trường này hầu hết là những người có thu
Trang 30nhập cao trên thế giới, hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng 1,4 tỷ đôi Đối vớisản phẩm da giầy của Việt Nam thì trong những năm trước năm 2000, khichưa có hiệp định thương mại Việt – Mỹ thì Ýt vào được thị trường này.
Từ sau năm 2000, khi hiệp định Việt – Mỹ đã ký thì da giầy Việt Nam bắtđầu được xuất sang thị trường này với số lượng năm sau cao hơn năm trướcrất nhiều Đây chính là thị trường có tiềm năng rất lớn mà da giầy ViệtNam đang rất quan tâm
- Thị trường Nhật: Nhật Bản là nước giàu có thứ hai thế giới và mứctiêu dùng của họ rất cao Hàng năm, sản phẩm giầy dép Việt Nam xuấtsang thị trường này tuy chỉ chiếm một tỷ trọng không được nhiều khoảng6% trong tổng sản lượng xuất khẩu Đây là một thị trường mà ngành dagiầy nước ta mới có được trong năm gần đây
- Thị trường các nước trong khu vực ASEAN: Hiện tại thị trường này
có quy mô dân số lớn và có quan hệ mật thiết với nước ta trong tổ chứcASEAN Vì vậy trong tương lai đây được xem là thị trường lớn đầy tiềmnăng Hiện tại, thu nhập bình quân đầu người của người dân trong các nướcnày còn thấp, mức tiêu dùng giầy dép chỉ khoảng từ 0,5- 2 đôi/ người/ năm.Hàng năm sản phẩm giầy dép nước ta xuất vào thị trường này còn rất hạnchế, chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản phẩm xuất khẩu Chỉ những năm gầnđây khi quan hệ làm ăn giữa các nước thuộc khối ASEAN trở nên gắn bóthì cũng nh các mặt hàng khác, sản phẩm giầy dép cũng mới bắt đầu thâmnhập vào thị trường này
Nh vậy, có thể nói thị trường xuất khẩu của giầy dép nước ta là rấtrộng lớn, có xu hướng ngày càng được mở rộng ở mỗi thị trường thì cónhững thuận lợi và khó khăn nhất định Hiện nay trên thế giới có một sốcường quốc sản xuất giầy đó là: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ĐàiLoan… Các nước này có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam rất nhiều
Do vậy Việt Nam rất khó cạnh tranh với các nước này Lợi thế mà ViệtNam có được là nguyên vật liệu trong nước để sản xuất rẻ, nguồn nhân lựcdồi dào …
Trang 31Tóm lại, thị trường xuất khẩu của giầy dép Việt Nam luôn được xem
là thị trường chính Do vậy để có thể ngày càng củng cố và mở rộng thêmthị trường thêm nữa thì da giầy Việt Nam cần nắm bắt kịp cơ hội phát triển,
từ đó phát huy được lợi thế của mình, sản xuất ra những sản phẩm đáp ứngnhu cầu của người tiêu dùng, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nướcthông qua xuất khẩu ra nước ngoài
II.KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI.
Trong xu thế đổi mới của nền kinh tế nước ta, Công Ty Da Giầy HàNội đã và đang từng bước đổi mới, tiếp cận với các phương pháp quản lýhiện đại, đầu tư, mua sắm thiết bị công nghệ mới, nâng cao chất lượng sảnphẩm
Từ giữa năm 1998, đầu năm 1999, Công Ty Da Giầy Hà Nội chuyểnđổi sản xuất từ sản xuất da sang sản xuất các sản phẩm giầy dép Lúc đó,tổng số cán bộ công nhân là 500 người Toàn bộ máy móc thiết bị sản xuất
da chuyển vào nhà máy da Vinh Do có sự chuyển đổi phương hướng sảnxuất kinh doanh nên công ty gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ và laođộng Công ty phải xây dựng lại và nhập toàn bộ máy móc thiết bị, dâychuyền sản xuất giầy Công ty đã cử 20 cán bộ vào Sài Gòn học làm giầytại công ty giầy Hiệp Hưng, sau đó quay về hướng dẫn lại cho các côngnhân khác Tuy nhiên, loại giầy sản xuất ban đầu chỉ là giầy vải
Năm 1998- 1999, công ty nhận nguyên vật liệu gia công cho công tygiầy Hiệp Hưng, xong do chi phí vận chuyển lớn nên hầu nh không có lãi,chỉ sản xuất cầm chừng Trong năm 1999 công ty đã tách riêng thành các xínghiệp sản xuất giầy và hình thành các phân xưởng: chặt, may, gò, hoànthiện và cao su
Sang đến năm 2000, công ty đã trực tiếp sản xuất ra hàng xuất khẩuvới sản lượng 50.000 đôi/ tháng Để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, công ty
đã đầu tư 2 dây chuyền gò, 8 dây chuyền may và 2 dây chuyền hoàn tất.Cuối năm 2000, mét trung tâm mẫu đã hình thành để thiết kế mẫu theo yêucầu của khách hàng và sáng tạo mẫu cho công ty với số lượng nhân viênlên đến 20 người Đến năm 2001, đã hình thành thêm xí nghiệp giầy da với
Trang 322 dây chuyền may, 1 dây chuyền gò và 1 dây chuyền hoàn tất Do nắm bắtđược nhu cầu của thị trường trong những năm tới nên trong năm 2003 công
ty cũng đưa vào 2 dây chuyền sản xuất giầy thể thao với 2 dây chuyền này
đã sản xuất ra hàng năm khoảng 1 triệu đôi giầy thể thao các loại, phần nàođáp ứng nhu cầu của thị trường( chủ yếu là ở thị trường xuất khẩu) Từ năm
2001 đến nay, công ty luôn duy trì và mở rộng được sản xuất hàng năm sốlượng giầy dép được sản xuất ra năm sau thường cao hơn năm trước, gópphần đáp ứng nhu cầu của thị trường, tăng thêm doanh thu cho công ty
Bi u 6: K t qu s n xu t c a Công Ty Da Gi y H N i ểu1: Cơ cấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ấu sản phẩm chủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ủ yếu của Công Ty Da Giầy Hà Nội ầy Hà Nội à Nội ội
1 Giầy vải 1000đôi 700 750 600 450,890 600 440
( Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của
Công Ty Da Giầy Hà Nội )
Nhìn vào bảng trên ta thấy: số lượng sản phẩm của công ty sản xuất ranăm sau đều có xu hướng cao hơn năm trước Kế hoạch đặt ra luôn đượchoàn thành vượt kế hoạch Tuy nhiên đối với từng loại sản phẩm khác nhauthì lại có sự thay đổi khác nhau tuỳ theo nhu cầu của thị trường Đối vớigiầy vải và giầy da thì có xu hướng giảm đi, trong khi đó sản phẩm giầy thểthao lại có xu hướng tăng lên rất nhiều Năm 2002, sản phẩm sản xuất củacông ty chưa có mặt hàng giầy thể thao, nhưng đến năm 2003 và năm 2004thì đã xuất hiện và tăng lên rất nhanh theo từng năm Như vậy để đáp ứngnhu cầu của thị trường thì công ty luôn có sự thay đổi cho phù hợp Công tyluôn đầu tư đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó
Hiện nay, các loại máy móc thiết bị chính trong việc sản xuất giầy cácloại của công ty được nhập hầu hết từ Đài Loan, một cường quốc sản xuất
Trang 33giầy dép Các loại máy móc này có chất lượng tương đối tốt Tuy nhiên, giátrị còn lại của chúng chỉ còn khoảng 60 – 70% Chính điều này đã làm ảnhhưởng đến công suất sản xuất của công ty.
Biểu 7: Kết quả huy động công suất sản xuất của
Công Ty Da Gi y H N i ầy Hà Nội à Nội ội
Tên sản phẩm ĐVT Công
suất thiết kế
Công suất hiệu quả
Công suất thực tế
Mức độ hiệu quả(%)
Mức độ sử dụng(%)
( Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công Ty Da Giầy Hà Nội )
Qua bảng trên ta thấy:
- Chỉ tiêu mức độ hiệu quả chỉ đạt ở mức trung bình khá là 62.3%,63.3% và đặc biệt với giầy da mức độ hiệu quả chỉ đạt 33.3%
- Chỉ tiêu mức độ sử dụng đạt được ở mức thấp thậm chí là rất thấp chí
là rất thấp, chỉ có 30%
Nh vậy, hiệu quả huy động công suất sản xuất của công ty còn chưacao Điều đó cho thấy trình độ quản lý sử dụng công suất chưa tốt gây lãngphí công suất
Về quy trình công nghệ sản xuất giầy của công ty: Hiện nay công tyđang áp dụng công nghệ Ðp dán ( một trong 3 công nghệ sản xuất giầy) đểsản xuất giầy dép Đây là quy trình công nghệ rất phổ biến ở Việt Nam và
nó cũng phù hợp với điều kiện của các công ty giầy trong nước Quy trìnhnày là tập hợp các khâu liên tiếp của quá trình sản xuất giầy
Với đặc điểm của máy móc thiết bị và quy trình công nghệ như trên thìsản lượng sản xuất một ngày là:
Giầy vải: 1600 – 2000 đôi
Giầy da: 1200 – 1600 đôi
Trang 34Sản lượng sản xuất một năm là:
Giầy vải: 1000.000 đôi
Giầy da: 500.000 đôi
Giầy thể thao: 1200.000 đôi
Tuy nhiên với tình hình sản xuất hiện nay sản lượng sản xuất của công
ty mới chỉ đạt trung bình:
Giầy vải: 700.000 đôi/ năm
Giầy da: 300.000 đôi/năm
Giầy thể thao: 570.000 đôi/ năm
Nh vậy, trong những năm tới để có thể đáp ứng được nhu cầu tốt hơnnữa của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm thì công ty cần có chiếnlược đầu tư thêm công nghệ hiện đại cho sản xuất
III.PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI
1.Các hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công Ty
1.1.Nghiên cứu thị trường
Thị trường là một trong những phạm trù kinh tế của nền sản xuất hànghoá Bất cứ ở đâu và khi nào còn tồn tại nền sản xuất hàng hoá thì ở đó còntồn tại phạm trù thị trường
Đối với các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh không thểkhông nghiên cứu thị trường Khi nghiên cứu thị trường doanh nghiệp cóthể biết được nhu cầu trước mắt của người tiêu dùng đồng thời cũng dựđoán được nhu cầu tương lai của họ, từ đó có điều chỉnh kế hoạch sản xuấtkinh doanh cho phù hợp Vì vậy, nghiên cứu thị trường là công việc khôngthể thiếu được đối với mỗi doanh nghiệp Thị trường giữ vai trò quan trọngtrong nền kinh tế hàng hoá, số lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ nhiều hay
Ýt phụ thuộc vào thị trường rộng hay hẹp
Do nhận thức được tầm quan trọng như vậy của công tác nghiên cứuthị trường nên Công Ty Da Giầy Hà Nội đã rất quan tâm đến vấn đề này.Trong năm qua, Công ty đã xây dựng một đội ngũ cán bộ marketing trẻđược đào tạo chính quy, tham gia hầu hết các hội chợ triển lãm chuyênngành Da Giầy trong nước và quốc tế Công ty tiếp tục đầu tư và trang bị
Trang 35thêm các điều kiện, chủ động tham gia tích cực các chương trình về thươngmại điện tử và quảng cáo trên internet để quảng bá sản phẩm và uy tín củaCông ty ra thị trường Chuẩn bị mọi mặt để đón nhận cơ hội do hiệp địnhthương mại Việt – Mỹ mang lại, tạo tiền đề để sản phẩm của Công ty thâmnhập vào thị trường Mỹ trong thời gian tới
Mặt khác nỗ lực tìm kiếm các khách hàng trực tiếp tại Châu Âu, từ đógóp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các đơn hàng
Mặc dù những năm gần đây thị trường chủ yếu của Công ty là xuấtkhẩu nhưng Công ty cũng rất coi trọng thị trường nội địa, năm vừa quaCông ty đã thành lập riêng một phòng chuyên lo công tác phát triển thịtrường nội địa đó là phòng tiêu thụ nội địa Phòng này bao gồm 7 cán bộmarketing Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu thị trường trongnước, phòng tiêu thụ nội địa còn làm công tác củng cố và phát triển mạnglưới đại lý tiêu thụ sản phẩm của Công ty Bởi những hoạt động tích cực Êy
mà Công ty đã không những giữ vững được thị trường mà còn phát triểnthêm được thị trường mới
1.2.Chính sách giá
Để xác định giá của sản phẩm đem bán ra thị trường dưới các hìnhthức thì Công Ty Da Giầy Hà Nội giao cho phòng tài vụ tính toán và xácđịnh giá bán, sau đó trình giám đốc phê duyệt Phòng tài vụ sẽ dựa vào cáccăn cứ sau để xác định:
- Căn cứ vào tình hình tiêu thụ mặt hàng giầy tìm thị trường
- Căn cứ vào số lượng thực tế giầy vừa sản xuất
- Căn cứ vào giá nguyên liệu làm giầy
Biểu8: Giá bán một số mặt hàng giầy tính đến hết tháng 10 năm 2004.
STT Tên sản
phẩm
Số lượng (đôi)
Đơn giá (đồng/đôi)
Giá B (đồng/đôi)
Trang 36và duyệt bởi giám đốc Công ty, dựa vào bảng giá đã xác định đó để các bộ
Trang 37phận có trách nhiệm bán sản phẩm theo đó mà tiến hành Tuy nhiên trongnhững trường hợp sản phẩm bị hỏng trong quá trình vận chuyển hay bảoquản… thì Công ty sẽ có chính sách giá khác đó là giá loại B Ví dụ nhưđối với sản phẩm giầy đinh PVC giá chuẩn lần đầu là 37.000 đồng nhưngkhi áp dụng giá loại B giảm xuống chỉ còn 26.000 đồng, hay như giầy batathường cũ cũng tương tự, bình thường giá lần đầu là 9.000 đồng khi xuốnggiá loại B thì còn 8.000 đồng.
1.3.Chính sách phân phối
Thị trường của Công Ty Da Giầy Hà Nội hiện nay nh chóng ta đã biếtchủ yếu là thị trường xuất khẩu và phần nhỏ sản phẩm phục vụ thị trườngnội địa Với thị trường xuất khẩu thì Công ty chỉ chủ yếu là sản xuất hànggia công xuất khẩu hay là sản xuất sản phẩm dưới danh nghĩa của một đốitác nước ngoài Với hình thức này Công ty không có được thương hiệu củamình đồng thời lợi nhuận mà Công ty thu về cũng bị chia sẻ rất nhiều Cònđối với thị trường nội địa thì mặc dù không phải là thị trường chính củaCông ty nhưng doanh số tiêu thụ nội địa chiếm một phần không nhỏ trongdoanh thu của Công Ty Da Giầy Hà Nội, ở thị trường này Công ty tổ chứctiêu thụ qua các kênh phân phối sau:
- Kênh trực tiếp giữa Công ty với với cơ quan, nhà máy, xí nghiệp thôngqua hợp đồng kinh tế giữa các bên
- Thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của Công ty
- Kênh gián tiếp giữa Công ty đến với người tiêu dùng thông qua hệthống các đại lý
Trang 38Sơ đồ3: Kờnh phõn phối thị trường trong nước
Trong đú, tiờu thụ nội địa của Cụng ty chủ yếu sử dụng hỡnh thức đại
lý Hầu hết tất cả cỏc hoạt động bỏn hàng của Cụng ty đều thụng qua cỏcđại lý, Cụng ty chỉ cú một cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở trước cửa Cụng
Ty Hiện nay, Cụng ty cú hệ thống cỏc đại lý tập trung trờn địa bàn Hà Nội
và một số tỉnh thành khỏc, chủ yếu tập trung ở Miền Bắc
Biểu9 : Danh sỏch đại lý của Cụng Ty Da Giầy Hà Nội
Các cơ sở bán lẻ
Các cơ sở bán lẻ
Các đại lý bán buôn
1
2
3
Trang 3921 Anh Chương Bắc Giang
Tất cả các đại lý của Công ty sẽ do 2 nhóm nhân viên phòng tiêu thụnội địa quản lý Mỗi nhân viên sẽ quản lý một số đại lý nhất định và sẽ thutiền hàng từ các đại lý đó Tất cả các nhân viên của mỗi nhóm thuộc quyềnquản lý của 2 nhóm trưởng, sau đó 2 nhóm trưởng có trách nhiệm báo cáovới trưởng phòng và nộp tiền hàng tháng Các nhân viên này sẽ đượchưởng hoa hồng dựa vào doanh thu từ việc bán các loại sản phẩm Đối vớigiầy chất lượng cao sẽ được hưởng 5% doanh thu, với giầy da là 3%, giầyxuất khẩu là 2% và giầy tồn là 2% Còn đối với các đại lý thì họ sẽ có sựliên hệ trực tiếp với nhân viên bán hàng cho họ Sau khi mua được hàng thì
họ có quyền quyết định đối với giá cả của sản phẩm tuỳ vào từng thờiđiểm, đối tượng khách hàng, khu vực…Tổng doanh thu của các đại lý đónggóp đáng kể vào doanh thu tiêu thụ nội địa của Công ty
Thông thường việc thanh toán tiền hàng giữa Công ty với khách hàngthường theo phương thức giao hàng trước và thanh toán tiền hàng sau Tất
cả các chi phí bán hàng quy định trong hợp đồng do Công ty chịu tráchnhiệm
Thị trường sản phẩm của Công ty ở trong nước tuy vài năm trở lại đây
đã phát triển khá mạnh, nhưng trong điều kiện nền kinh tế thị trường trongnước ngày càng phát triển thì việc mở rộng thị trường trong nước để tăngkhối lượng tiêu thụ sản phẩm là một vấn đề rất đáng quan tâm đối với Công
Ty Da Giầy Hà Nội
Trang 401.4 Các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm ở Công Ty Da Giầy Hà Nội
Trong thị trường cạnh tranh hiện nay, vai trò của các hoạt động xuúctiến bán hàng rất quan trọng, nó là một trong những yếu tố quan trọng thúcđẩy công tác tiêu thụ Mặc dù vậy đối với Công Ty Da Giầy Hà Nội hiệnnay công tác này chưa được quan tâm nhiều
Năm vừa qua Công ty đã xây dựng được một trang web trên mạng giớithiệu về sản phẩm của Công ty Đồng thời hàng năm Công ty cũng đã thamgia các hội chợ triển lãm Còn về các hoạt động hỗ trợ khác nh quảng cáo,hội nghị khách hàng, hoặc các dịch vụ sau bán hàng …thì hầu nh không có.Bởi vì vậy nên trong những năm qua sản lượng tiêu thụ sản phẩm cũngnhư thị trường của Công ty chưa có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường
so với những nhãn hiệu của các Công ty khác đã có uy tín trên thị trường
Để có thể đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ cũng nh mở rộng thị trường thìtrong thời gian tới Công ty cần quan tâm đầu tư hơn nữa cho hoạt độngnày
2.Kết quả tiêu thụ
2.1 Thực hiện kế hoạch tiêu thụ qua các năm
Là một công ty mới chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ thuộc
da sang sản xuất các loại giầy dép, Ýt được khách hàng biết đến nhưngdưới sự chỉ đạo và nỗ lực của tập thể công nhân viên, ban lãnh đạo công ty
đã chủ động trong việc tìm kiếm bạn hàng, ký kết hợp đồng, không ngừngkhai thác và mở rộng thị trường
Để mở rộng hơn nữa thị trường tiêu thụ sản phẩm, trong năm 2000 vànăm 2001 công ty đã đầu tư và nâng cấp thiết bị, nhà xưởng nhằm nâng caochất lượng sản phẩm Vì vậy mà sản phẩm của công ty ngày càng có uy tín
và chỗ đứng trên nhiều thị trường khác nhau Mở rộng được thị trườngcũng đồng nghĩa với lượng sản phẩm tiêu thụ được tăng lên Hàng năm,ban lãnh đạo công ty luôn đưa ra kế hoạch cho toàn công ty Về thị trườngtiêu thụ sản phẩm công ty giao cho phòng xuất nhập khẩu chịu trách nhiệm
về doanh thu tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu, còn về doanh thu tiêu thụ ở thịtrường nội địa thì được giao cho phòng tiêu thụ nội địa Tuỳ vào tình hình