Cạnh tranh tồn tại cùng với sự tồn tại của KTTT và cạnh tranh trở thành động lực phát triển cho nền sản xuất xã hội.Cạnh tranh có rất nhiều khái niệm, tồn tại trong mọi lĩnh vực xã hội c
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1- Sự cần thiết nghiên cứu đề tài.
Thực hiện chủ trương nhất quán phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước nói chung và các DN nhà nước nói riêng, bởi đây là các DN đang SX-KD những hàng hoá quan trọng hàng đầu của nền kinh tế quốc dân
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và mục đích nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với quan hệ sản xuất mới, phù hợp trên cả mặt: sở hữu, quản lý, phân phối"
Chính vì vậy, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trong nền KTTT cần được tiếp tục đẩy mạnh, đó là yêu cầu hết sức quan trọng để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và giải quyết những vấn đề xã hội Nó mở đường, hướng dẫn và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển để làm cho lực lượng sản xuất phát triển và tạo lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa
Trước yêu cầu đổi mới trong quá trình hoạt động SX-KD, các DN đã bộc
lộ những yếu kém và còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục tháo gỡ để DN thực hiện sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần làm cho thành phần kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Qua thực tiễn hoạt động của mình, trong điều kiện nền KTTT và
Trang 2sự hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục, hoàn thiện
để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của mình
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII và IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 3, khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả DN Nhà nước, mỗi đơn vị SX-KD của VICEM phải quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng để tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý kinh tế, phát triển ngày càng mạnh góp phần làm cho kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ có đủ sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết, dẫn dắt nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa có hiệu quả và bình đẳng Vì vậy,
tôi chọn đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT"
2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung được nhiều tổ chức, DN và các nhà khoa học lý luận, khoa học kinh tế nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận và nhằm những mục đích, đối tượng khác nhau và đã có nhiều bài viết dưới dạng trao đổi, nghiên cứu chuyên khảo, đăng trên các tạp chí, thời báo, Về lĩnh vực công nghiệp xi măng, có thể nêu ra một số bài viết nghiên cứu như sau: Hội nhập kinh tế quốc tế của xi măng Việt Nam; Phương thức tổ chức thị trường xi măng ở Việt Nam nói chung và của VICEM nói riêng; Chiến lược tiêu thụ sản phẩm xi măng của VICEM đến năm 2010 của Tiến sỹ Bùi Anh Thi; Thị trường, giá xi măng - bài học và giải pháp của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải,
Tuy nhiên, đối với vấn đề nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM dưới góc độ kinh tế chính trị một cách hoàn chỉnh chưa có tác giả nào nghiên cứu
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Trang 33.1- Mục đích nghiên cứu:
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề cạnh tranh trong nền KTTT
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM
Từ đó, đề xuất các giải pháp có tính khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT
3.2- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá các lý thuyết cạnh tranh và những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của DN trong nền KTTT Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT Nghiên cứu kinh nghiệm năng cao năng lực cạnh tranh của một số DN kinh doanh xi măng ở một số nước
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng của VICEM trong những năm qua (thông qua Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai)
- Đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN
SX-KD xi măng thuộc VICEM
4- Đối tượng nghiên cứu.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM Lấy ví dụ ở Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai
5- Phạm vi nghiên cứu.
- Luận văn không có điều kiện đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của từng DN SX-KD xi măng thuộc VICEM, chỉ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai từ năm 2002
Trang 4đến nay để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường đối với sản phẩm xi măng của VICEM.
6- Phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú ý quan điểm lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử
- Phương pháp thống kê, so sánh và các phương pháp khác để làm rõ đối tượng nghiên cứu
- Tổng kết những tài liệu thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu
7- Những đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các DN trong nền KTTT
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT
- Phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các
DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT
8- Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh
tranh của các DN SX-KD trong nền KTTT
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng
Hoàng Mai
Trang 5Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DN SX-KD
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1- CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DN SX-KD TRONG NỀN KTTT
1.1.1- Một sè lý thuyết về cạnh tranh trong nền KTTT
1.1.1.1- Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền KTTT Một mặt nó đào thải không thương tiếc các DN có mức chi phí cao, sản phẩm kém chất lượng Mặt khác, nó buộc tất cả các DN không ngừng phấn đấu để giảm chi phí; hoàn thiện giá trị sử dụng của dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các DN phải tăng cường sức mạnh của mình, đồng thời phải thay đổi mối tương quan về “thế và lực” để tạo ra các ưu thế cạnh tranh
Khi tham gia thị trường, bÊt kỳ một loại sản phẩm nào còng đều phải chịu một sức Ðp cạnh tranh nhất định Bởi vì, một loại sản phẩm có thể được sản xuất bởi nhiều DN khác nhau, do đó, số lượng sản phẩm được cung ứng ra thị trường rất lớn Các DN phải cạnh tranh với nhau nhằm tiêu thụ hết sản phẩm của mình với mức lợi nhuận thu được lớn nhất Trong cơ chế thị trường, các DN
có quyền chủ động trong SX-KD, do vậy mức độ cạnh tranh giữa các DN ngày càng trở nên gay gắt
Trang 6Ở đâu cã sản xuất trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh Cạnh tranh tồn tại cùng với sự tồn tại của KTTT và cạnh tranh trở thành động lực phát triển cho nền sản xuất xã hội.
Cạnh tranh có rất nhiều khái niệm, tồn tại trong mọi lĩnh vực xã hội chứ không chỉ riêng trong kinh doanh Khái niệm cạnh tranh xuất phát từ nền sản xuất hàng hóa, tuy nhiên cho đến nay cả về mặt lý luận và thực tiễn còn nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù cạnh tranh
Nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Marx còng nh nhiều nhà kinh tế học khác đã rót ra được tính quy luật của nền sản xuất hàng hóa là cạnh tranh Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì cạnh tranh càng quyết liệt và gay gắt giữa nhiều chủ thể kinh doanh, giữa các quốc gia, các ngành và các DN đều phải tạo lập cho mình ưu thế thuận lợi nhất để kinh doanh thành công, thu được lợi nhuận tối đa Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Trong khi đó, theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt: “Cạnh tranh là
sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm dành phần hơn, phần thắng về mình” và theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học: “Cạnh tranh- sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia” Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng dành lấy thứ mà không phải ai cũng
có thể dành được và “chiến lược canh tranh” một khía cạnh của chiến lược thương mại, bao gồm việc DN phát triển các chính sách để đối phó và đánh bại các đối thủ của mình trong vấn đề cung cấp một sản phẩm nhất định
Trong Đại từ điển KTTT cũng đưa ra định nghĩa “Cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp, mà mục đích là dành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường
Trang 7và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý’’.Như vậy, cạnh tranh trong nền KTTT luôn là vấn đề mang tính thời sự, là vấn đề sống còn đối với các DN Mặc dù có nhiều cách khác nhau để diễn đạt về canh tranh, song theo tác giả có thể rót ra được điểm chung trong tất cả các khái
niệm về cạnh tranh, đó là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế khi tham gia vào thị trường nhằm tìm kiếm và đạt được lợi Ých tối đa cho mình
1.1.1.2- Phân loại cạnh tranh
• Cạnh tranh cùng ngành và cạnh tranh giữa các ngành
Căn cứ vào các ngành SX-KD trong nền KTTT thì cạnh tranh được chia làm hai loại: cạnh tranh cùng ngành và cạnh tranh giữa các ngành
- Một là cạnh tranh cùng ngành:
Cạnh tranh cùng ngành là cạnh tranh giữa các DN cùng sản xuất một loại sản phẩm nhằm đạt được những ưu thế trong tiêu thụ sản phẩm và thu được lợi nhuận cao nhất
Cạnh tranh cùng ngành chính là động lực thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ kỹ thuật Không có cạnh tranh cùng ngành, không có sáng kiến, cải tiến thì bản thân ngành đó và toàn nền kinh tế sẽ bị trì trễ Nói cách khác, muốn có sự phát triển ngành phải tạo ra sự cạnh tranh cùng ngành
Do yêu cầu của quy luật giá trị trong nền KTTT, sản xuất phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết Trong điều kiện đó, DN nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn mức lao động xã hội cần thiết sẽ có được siêu lợi nhuận
Để có siêu lợi nhuận, các DN phải cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động làm cho chi phí sản xuất của DN nhỏ hơn chi phí sản xuất
Trang 8của xã hội Điều đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động
xã hội tăng lên, tạo điều kiện giảm giá trị và giá cả hàng hóa trên thị trường
- Hai là cạnh tranh giữa các ngành:
Đây là sự cạnh tranh giữa các DN kinh doanh thuộc các ngành khác nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi, có tỷ suất lợi nhuận cao
Điều này dẫn đến tình trạng những người SX-KD ở lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng dịch chuyển nguồn lực sang SX-KD ở những ngành có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn Đây chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả là ở những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận cao, đầu tư cao hơn sẽ thu hút thêm nguồn lực, quy mô sản xuất tăng, do đó cung hàng hóa vượt tăng quá cầu của nó nên làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống, điều đó làm giảm tỷ suất lợi nhuận
Ngược lai, ở những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư đã rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của những ngành này bị giảm, cung nhỏ hơn cầu của nó Điều đó làm tăng giá cả hàng hóa và tỷ suất lợi nhuận của ngành này tăng
Việc di chuyển nguồn lực và kéo theo nó là sự biến đổi tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành cứ diễn ra như vậy cho đến khi với một số vốn đầu tư nhất định,
dù đầu tư vào ngành nào cũng thu được tỷ suất lợi nhuận ngang nhau mà người
ta gọi là tỷ suất lợi nhuận bình quân, bất kể cấu thành hữu cơ của chúng cao hay thấp,… và nhờ đó, các DN sẽ thu được lợi nhuận bình quân Lợi nhuận này bằng
tỷ suất lợi nhuận bình quân nhân với vốn của mỗi DN
Như vậy, cạnh tranh giữa các ngành đã thực hiện dịch chuyển nguồn lực
từ ngành này sang ngành khác dẫn đến sự cân bằng cung cầu sản phẩm các ngành và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư vốn giữa các ngành khác nhau, tạo nhân tố tích cực cho sự phát triển
Trang 9• Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo:
Căn cứ vào quy mô các chủ thể kinh tế tham gia trên thị trường thì cạnh tranh được chia thành: Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo
- Một là cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và bán một loại sản phẩm có cùng tính chất và người mua, người bán độc lập với nhau Trong thị trường này không có một hoặc một số người sản xuất nào có thể tác động quyết định giá cả thị trường Thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở mỗi thời điểm, mỗi người đều phải được tự do trở thành người mua hoặc người bán, được
tự do gia nhập thị trường và được trao đổi ở cùng một mức giá nh những người trao đổi hiện hành Nó đòi hỏi không trở ngại nào ngăn không cho một người nào
đó thôi không là người mua hoặc người bán trong thị trường và vì thế rút khỏi thị trường
- Hai là cạnh tranh không hoàn hảo (cạnh tranh độc quyền):
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường vừa không phải là cạnh tranh hoàn hảo, vừa không phải là độc quyền hoàn hảo Do vậy, cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh mà trong đó các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể quyết định được giá cả và sản lượng hàng hoá
So sánh thị trường cạnh tranh độc quyền với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ta thấy trong thị trường cạnh tranh độc quyền, giá cân bằng cao hơn chi phí cận biên Điều này có nghĩa là giá trị của những đơn vị hàng hóa bổ sung đối với người tiêu dùng cao hơn chi phí sản xuất ra chúng Nếu sản lượng được mở rộng đến điểm mà ở đó đường cầu cắt đường chi phí cận biên thì tổng thặng dư
sẽ tăng lên một lượng bằng diện tích phần do đường cầu và chi phí cận biên tạo thành Đó chính là khoản mất không do sức mạnh độc quyền bán gây ra Ngoài
Trang 10ra, DN cạnh tranh độc quyền hoạt động với công suất thừa, nghĩa là mức sản lượng của nó hơn mức sản lượng tối thiểu hóa chi phí bình quân.
Nh vậy, khi đánh giá thị trường cạnh tranh độc quyền phải so sánh những tính không hiệu quả với lợi Ých mà người tiêu dùng thu được từ tính đa dạng của sản phẩm
• Một số loại cạnh tranh khác:
Bên cạnh cạnh tranh cùng ngành và cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo, căn cứ vào quy mô của cạnh tranh thì cạnh tranh còn được chia thành: cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh DN và cạnh tranh quốc gia
Căn cứ theo tính chất của phương thức cạnh tranh thì cạnh tranh có: cạnh tranh lành mạnh – tức là biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp, tập quán, đạo đức kinh doanh, và cạnh tranh không lành mạnh – tức là biện pháp cạnh tranh bằng những thủ đoạn chứ không phải vươn lên bằng sự nỗ lực của chính chủ thể kinh doanh
Dưới góc độ các công đoạn của SX-KD, cạnh tranh lại được chia thành: cạnh tranh trước khi bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh tranh sau khi bán hàng
Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người mua với nhau, cạnh tranh giữa những người mua với người bán, người sản xuất với người tiêu dùng Với các loại cạnh trạnh này chủ yếu xoay quanh các vấn đề về chất lượng hàng hoá, giá
cả và điều kiện dịch vụ
1.1.2- Năng lực cạnh tranh và vai trò của nó trong nền KTTT.
Trang 111.1.2.1- Quan niệm về năng lực cạnh tranh trong nền KTTT.
DN muốn tồn tại và phát triển trên thị trường thì cần phải có một tiềm lực
đủ mạnh để có thể vượt lên trên các đối thủ khác Tiềm lực đó chính là năng lực cạnh tranh của DN Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng mà DN có thể tự duy trì vị trí của mình trong một thời gian dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận lớn nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của DN
Năng lực cạnh tranh của DN thường được đánh giá thông qua các yếu tố nội tại của DN như: Quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rót lui khỏi thị trường, sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và lao động,… Tuy nhiên các yếu tố này lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài, trong đó có yếu tố Nhà nước và thể chế trung gian Do vậy, những DN nào có khả năng đổi mới và sáng tạo lớn thì DN đó có khả năng cạnh tranh cao Nhưng đồng thời DN cũng cần phải tận dụng những nguồn lực sẵn cã như đất đai, nguồn nhân lực tiên tiến như các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao,…
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của DN còn thể hiện ở khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ với giá cả thấp hoặc hợp lý, chất lượng cao, uy tín cao, thực hiện cam kết với các bạn hàng và làm hài lòng khách hàng… Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của DN là năng lực của DN đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là DN nào có năng lực sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của DN khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn
Trong khi đó, theo Phillip Lasser: Năng lực cạnh tranh của một DN trong một lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà DN có hoặc huy động được để có thể cạnh tranh thắng lợi Mét quan niệm khác lại cho rằng, năng lực
Trang 12cạnh tranh là trình độ của các DN có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường, đồng thời duy trì được mức thu nhập thực tế của mình.
Như vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của DN Tuy nhiên các quan niệm đều đề cập đến một vấn đề đó là: khả năng duy trì thị phần của DN nhờ những lợi thế khách quan và cả những lợi
thế chủ quan do DN tạo ra
Vì vậy, từ nghiên cứu các quan niệm về năng lực cạnh tranh của DN, theo tác giả luận văn: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực có giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực, và các điều kiện khách quan khác một cách có hiệu quả và sản xuất ra những sản phẩm có giá trị đặc trưng cao hơn đối thủ nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, từ đó đảm bảo cho DN đứng vững, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh.
1.1.2.2- Vai trò của cạnh tranh trong nền KTTT:
Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thì cạnh tranh được thừa nhận, quy luật cạnh tranh bộc lộ và vai trò của cạnh tranh trong nền KTTT thể hiện rõ nét hơn, cụ thể:
• Đối với DN sản xuất kinh doanh:
Cạnh tranh đã trở thành điều kiện sống còn của DN trong nền KTTT hiện nay Bất kỳ DN nào cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh và tìm mọi cách chiếm lấy ưu thế, có như thế thì DN mới có thể tồn tại và phát triển được
Trong nền KTTT, khách hàng có quyền lựa chọn những hàng hóa phù hợp nhất với nhu cầu của mình, DN nào đáp ứng được những điều đã, tức họ sẽ bán được hàng thì DN đã sẽ tồn tại được; ngược lại DN nào không tìm được phương thức thoã mãn nhu cầu trên thị trường, không bán được hàng thì sẽ đi tới
Trang 13thua lỗ và phá sản Do đã, các DN bắt buộc phải tìm cách nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của mình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Mặt khác, để cạnh tranh thu hót được lượng khách hàng lớn nhất thì các
DN luôn tìm cách đưa ra mức giá thấp nhất có thể, do vậy buộc các DN phải tìm phương án sản xuất tối ưu, sử dụng công nghệ hiện đại, giảm tới mức thấp nhất các chi phí đầu vào,… Cạnh tranh không chỉ ở phạm vi giá cả mà cạnh tranh bằng chất lượng cũng buộc các DN phải quan tâm áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến quản lý,… Như vậy, cạnh tranh tạo nên sức Ðp buộc DN phải sử dụng
có hiệu quả nguồn lực sẵn có Song đồng thời, cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên, các nguồn lực xã hội một cách tối ưu Cạnh tranh khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, thóc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội
• Đối với xã hội:
Cạnh tranh được coi là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội Khi có cạnh tranh, các DN tìm mọi cách giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm để giành giật khách hàng và chiếm lĩnh thị trường Trong cuộc cạnh tranh này, người sản xuất và người tiêu dùng không thể lợi dụng được
ưu thế của nhau trên thị trường, do đã cạnh tranh là một yếu tố điều tiết sản xuất
và tiêu dùng
Cạnh tranh loại bỏ các DN có chi phí cao trong sản xuất, điều đã buộc các
DN chọn lựa phương án sản xuất tối ưu Như vậy, cạnh tranh sẽ tạo ra sự đổi mới, mang đến sự tăng trưởng kinh tế, là động lực phát triển cơ bản nhằm liên kết lợi Ých giữa người sản xuất, người tiêu dùng và xã hội Mặt khác, cạnh tranh còn là yếu tố làm lành mạnh hóa các mối quan hệ kinh tế xã hội, thoã mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần tạo nền cơ sở cho sự phân
Trang 14phối thu nhập lần đầu Điều này đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn là ưu điểm mà nã cũng có cả những khuyết tật đặc trưng Trong điều kiện cạnh tranh, các DN quan tâm trước hết là lợi Ých của bản thân DN, do vậy không chó trọng tới lợi Ých của DN khác và chưa chó trọng tới giải quyết các vấn đề xã hội Từ những mâu thuẫn giữa DN và
DN sẽ kÐo theo các vấn đề xã hội như thất nghiệp, tiền lương nhân công thấp, môi trường không được giữ gìn,… Mặt khác, cạnh tranh thóc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển nhưng cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng phân hóa mạnh, kẻ thua người thắng trong cạnh tranh có khoảng cách khá xa, do đã mà sẽ có những cuộc cạnh tranh không lành mạnh hay cạnh tranh độc quyền trên thị trường Vì vậy, trong nền KTTT cần có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo cho các DN có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh, có hiệu quả
1.1.3- Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các
DN SX-KD xi măng thuộc VICEM trong nền KTTT.
Trong nền KTTT các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình đó là tất yếu khách quan Vì:
1.1.3.1- Do yêu cầu của bản thân các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt của nền KTTT.
Trong những năm qua, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM có sự tăng trưởng không đồng đều Nhiều DN có lâu nay có vị thế cao trong thị trường như
xi măng Hà Tiên 1, xi măng Hoàng Thạch tiêu thụ năm 2007 chỉ tăng được 1%
so với năm 2006 Nhiều DN như xi măng Bỉm Sơn, xi măng Bút Sơn lại có tốc
độ tiêu thụ giảm so với năm 2006 từ 2% đến 4% Trong khi đó những dây chuyền mới lại hoạt động có tốc độ tiêu thụ khá cao như xi măng Hải Phòng (mới) tăng gần 21%, xi măng Tam Điệp tăng tới 45% Về số tuyệt đối sản lượng
Trang 15tiêu thụ năm 2007 cho thấy trong tổng số sản lượng toàn xã hội tiêu thụ tăng 3.989.000 tấn thì sản lượng của các DN thuộc VICEM tăng được 896.000 tấn (chiếm 22,46%), sản lượng 6 công ty khối liên doanh tăng được 1.074.000 tấn (chiếm 26,92%) và sản lượng xi măng địa phương, các trạm nghiền tăng được 2.019.000 tấn (chiếm 50,61%)
Qua số liệu trên cũng cho thấy, một số DN SX-KD thuộc VICEM đã từng
có lịch sử phát triển lâu dài, đã từng có công nghệ tiên tiến, đã từng có thời gian xây dựng thương hiệu mạnh trong tình cảm người tiêu dùng, đã từng có thời kỳ độc quyền trên thị trường nội địa, nhưng đến nay lại có tốc độ tăng trưởng chậm nhất trong 3 khối sản xuất tham gia thị trường xi măng (khối các DN SX-KD thuộc VICEM; khối xi măng liên doanh; khối xi măng địa phương và các tfrạm nghiền) Khối xi măng liên doanh, có thể nói là khối công nghiệp trẻ, có công nghệ hiện đại, có kinh nghiệm quản lý của nền KTTT phát triển đã giữ được tốc
độ tăng trưởng khá cao cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối, mang tính ổn định bền vững Khối DN xi măng địa phương và các trạm nghiền có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả số tuyệt đối và số tương đối Khối này đã được đổi mới nhiều về công nghệ, đồng thời trong những năm qua nhiều nhà máy có quy mô lớn bắt đầu hoạt động, nhiều công ty du nhập được phương pháp quản lý hiện đại của các tập đoàn lớn trên thế giới cho nên đã có những bước tiến bộ nhảy vọt
Hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường
có điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với kế hoạch
và định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, ngoài việc nắm giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực SX-KD xi măng, khối các DN SX-KD thuộc VICEM còn được Chính phủ giao nhiệm vụ bình ổn thị trường xi măng và trên
cở sở tình hình thực tế của thị trường xi măng hiện nay, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM tất yếu phải tìm các giải pháp hiệu quả để hạ giá thành sản phẩm,
Trang 16nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh trên thị trường thì mới có thể tồn tại và phát triển.
1.1.3.2- Do yêu cầu đòi hỏi của sù nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải năng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới đều có ngành công nghiệp xi măng phát triển, vì xi măng là loại vật liệu xây dựng cơ bản và thông dụng, được sử dụng rộng rãi với khối lượng lớn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Công nghiệp xi măng phát triển đòi hỏi cần có
sự phát triển liên ngành của các ngành công nghiệp khác như: Giao thông vận tải, cơ khí chế tạo, điện tự động hoá, năng lương, than, dầu khí, giáo dục đào tạo, tài chính, ngân hàng và ngược lại các ngành khác muốn phát triển cũng cần có sự phát triển của ngành công nghiệp xi măng Đây là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại mật thiết lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi ngành công nghiệp xi măng Việt Nam phải phát triển nhanh, mạnh và có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Đồng thời đặt ra cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam những yêu cầu mới Đó là: Một mặt phải phát triển nhanh mạnh để thoả mãn nhu cầu xi măng cho đất nước, mặt khác, để tồn tại và phát triển và duy trì cạnh tranh trong hiện tại và tương lai, công nghiệp xi măng phải phát triển bền vững
Trong quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định xác định rõ mục tiêu phát triển chung của toàn ngành là: “Đáp ứng
đủ nhu cầu tiêu dùng xi măng (cả về số lượng, chất lượng, chủng loại) cho nhu cầu trong nước, giành một phần xuất khẩu và nhanh chóng đưa ngành xi măng Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp mạnh, có công nghệ sản xuất hiện
Trang 17đại, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của nước ngoài, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
1.1.3.3- Do yêu cầu của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải tận dụng cơ hội và vượt qua những thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một bước đi chiến lược tất yếu và cũng là con đường mà tất cả các nước muốn xây dựng một nền kinh tế công nghiệp hiện đại đều phải hướng tới Khi hội nhập, các quốc gia sẽ có nhiều
cơ hội thuận lợi những cũng gặp nhiều khó khăn thách thức phía trước Kinh tế Việt Nam đang đứng trước hoàn cảnh đó và chỉ có con đường duy nhất là đẩy mạnh tiến trình hội nhập, nếu muốn phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại
Các DN SX-KD thuộc VICEM không thể nằm ngoài vòng xoáy đó Đứng trước xu hướng hội nhập, những năm gần đây, các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM đã chủ động nắm bắt cơ hội mới, đón trước những thách thức trở ngại, trên cơ sở đó xác định cho mình hướng đi và những giải pháp tích cực để chủ động nâng cao khả năng cạnh tranh khi hội nhập
Những cơ hội các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM phải vận dụng cũng như những thách thức phải vượt qua đó là:
• Về cơ hội:
- Tiếp nhận nhanh chóng công nghệ tiên tiến hiện đại thông qua con đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn ngững bước đi thăm dò, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
- Toàn cầu hóa, mở rộng tự do thương mại có khả năng tạo ra những cơ hội thị trường cho mọi loại hình DN, trong đó có ngành công nghiệp xi măng Việt Nam Đồng thời tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, các DN SX-KD xi
Trang 18măng thuộc VICEM có điều kiện để tiếp nhận nguồn vốn quốc tế với nhiều hình thức đa dạng và tham gia nhanh vào phân công lao động quốc tế theo các dây chuyền sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh của các tập đoàn, công ty lớn.
- Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa sẽ mở rộng các mối quan hệ quốc tế, các mối quan hệ song phương và đa phương được thực hiện đan xen cùng các quan hệ thương mại của các DN càng củng cố thêm sự bền vững và tính hiệu quả trên cơ sở có sự tôn trọng lợi Ých chính đáng của các thành viên Các DN SX-
KD xi măng thuộc VICEM có nhiều cơ hội học tập kinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến, kinh nghiệm quản lý chặt chẽ những rủi ro trong kinh doanh của những tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới để nâng cao trình độ quản lý hoạt động kinh doanh trong môi trường có cạnh tranh mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường phát triển Sản phẩm của các DN SX-KD xi măng thuộc VICEM có cơ hội thâm nhập thị trường thế giới
- Điều kiện hạ tầng cho SX-KD xi măng của các doanh nghệp thuộc VICEM còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào và chi phí trung gian cao Tư duy kinh tế của cán bộ quản lý vẫn còn chậm phát triển và phát triển không đồng đều,
sự hiểu biết về lý luận KTTT, các quy luật hoạt động của KTTT còn hạn chế, sự hiểu biết về mô hình và cơ chế hoạt động của Công ty mẹ – Công ty con, của tập đoàn kinh tế cũng chưa đầy đủ, chưa rõ ràng
Trang 19- VICEM chưa có chiến lược phát triển chung, toàn diện; sự phát triển của VICEM mới chỉ dựa chủ yếu vào quyết định quy hoạch phát triển chung của toàn ngành.
- Nhiều quốc gia cùng có xu hướng phát triển kinh tế theo trào lưu hướng ngoại, trong khi các DN SX-KD xi măng Ýt khi có cơ hội nhận được sự bảo hộ (bằng thuế và phi thuế) của Nhà nước, dẫn đến việc suy giảm khả năng bảo vệ thị trường nội địa
- Nguy cơ bị lép vế trong việc tìm kiếm các cơ hội, hợp đồng hợp tác với các DN thuộc các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển
- Bề dày văn hóa kinh doanh của các DN vừa và nhỏ Việt Nam nói chung
và của các DN SX-KD thuộc VICEM trong nền KTTT chưa hình thành một cách
rõ nét
1.2- Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng Việt Nam trong nền KTTT.
1.2.1- Đặc điểm của các DN SX-KD xi măng trong nền KTTT
Xi măng là loại vật liệu xây dựng cơ bản và thông dụng, được sử dụng rộng rãi với khối lượng lớn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng công nghiệp, dân dụng và các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội khác của đất nước Do vậy, các DN SX-KD xi măng có một số đặc điểm như sau:
Một là, ngành công nghiệp xi măng là ngành sản xuất chịu ảnh hưởng nhiều của nguồn tài nguyên thiên nhiên (nguồn đá vôi, đá sét), chỉ các doanh nghiệp đảm bảo được nguồn tài nguyên thiên nhiên mới có khả năng sản xuất kinh doanh xi măng vững chắc, lâu dài Trong thực tế, các đơn vị kinh doanh xi măng từ nguồn bán thành phẩm (clinker) nhập khẩu cho thấy tính cạnh tranh kém do nguồn bán thành phẩm nhập khẩu và chi phí vận tải quá cao Điều này
Trang 20cho thấy xi măng là ngành độc quyền nhóm – chỉ một Ýt doanh nghiệp có được nguồn tài nguyên tham gia thị trường xi măng.
Hai là, trong những năm qua, xi măng vẫn được coi là ngành tham gia bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô và giữ vai trò ổn định thị trường Các DN SX-KD xi măng còn là mét trong những đơn vị có tỷ trọng đóng góp cho nguồn thu ngân sách Nhà nước tương đối cao (khoảng 4 - 5 triệu USD cho một triệu tấn sản phẩm), góp phần làm tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm xã hội (theo số liệu thống kê trong nhiều năm, đóng góp GDP của ngành công nghiệp xi măng chiếm khoảng 10 - 12% GDP của toàn ngành công nghiệp của nước ta)
Ba là, các DN SX-KD xi măng chịu ảnh hưởng lớn bởi chi phí điện và than Hai ngành này còn mang nặng độc quyền, một mặt nó đảm bảo tính ổn định chi phí đầu vào cho SX-KD xi măng, một mặt lại hạn chế tính thị trường, tính cạnh tranh
Sản phẩm xi măng là vật liệu đầu vào tạo tài sản cố định cho nhiều ngành sản xuất khác, trên 50% sản lượng được các dự án đầu tư xây dựng của nhà nước
và các thành phần kinh tế tiêu thụ Điều này cho thấy, các DN SX-KD xi măng Việt Nam phát triển sẽ thúc đẩy và tạo đà cho nhiều ngành công nghiệp khác cùng phát triển như: năng lượng, giao thông vận tải, cơ khí chế tạo; kéo theo nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác như: xây lắp, chế tạo thiết bị phụ tùng, vật liệu chịu lửa, vật liệu bảo ôn, sản xuất bao bì, hoạt động tư vấn, thiết kế nghiên cứu khoa học công nghệ, khảo sát nguyên liệu cùng phát triển
Ba là, lao động trong ngành công nghiệp sản xuất xi măng mang tính đặc thù riêng, đặc biệt là lượng lao động trong dây chuyền sản xuất chính mang tính đồng bộ, công nghiệp hoá cao
Trang 21Các DN SX-KD xi măng Việt Nam phát triển đã thu hút được một lực lượng lớn lao động của xã hội Là nơi nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có đủ trình độ và kinh nghiệm vận hành những nhà máy hiện đại không phải thuê chuyên gia nước ngoài Từ năm 2006 trở đi các nhà máy xi măng trong toàn ngành khi được thành lập, đều có công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, hình thành các nhà máy xi măng cũng đồng thời tạo nên các khu dân cư tập trung là tiền đề cho việc hình thành các khu đô thị mới Quá trình phát triển của các DN SX-KD xi măng đều gắn với quá trình phát triển các đô thị bằng nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp Mọi hoạt động của việc hiện đại hoá kỹ thuật công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hay thay đổi cơ chế quản lý trong công nghiệp xi măng đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng, giá trị
và tốc độ xây dựng các công trình ở mọi khu vực của mọi thành phần kinh tế Đồng thời cũng có tác động ngược lại đến việc kìm hãm hoặc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các DN SX-KD xi măng
Do đặc điểm về vùng nguyên liệu, các nhà máy sản xuất xi măng thường được xây dựng ở vùng sâu, vùng xa, điều đó cũng góp phần vào việc đổi mới bộ mặt, đời sống nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, chưa có cơ hội phát triển của đất nước
Bốn là, sản phẩm của các DN SX-KD xi măng có khối lượng lớn nhưng thời gian sử dụng ngắn trong khi địa bàn tiêu thụ rộng Một nhà máy xi măng trung bình mỗi ngày sản xuất 5.000 tấn xi măng (cần khoảng 150 xe vận tải) cho địa bàn tiều thụ hàng ngàn kilômét, trong khi sản phẩm xi măng chỉ có thời hạn
sử dụng tốt nhất là 60 ngày
Do đặc điểm của ngành xi măng như vậy nên các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xi măng thường có quy mô lớn, thiết bị mang tính đồng bộ, phức tạp,
Trang 22hầu hết các thiết bị, phụ tùng đều phải nhập khẩu Do tính phức tạp của hệ thống thiết bị của ngành xi măng, tính đặc thù cao của thiết bị nên kèm theo đó dự trữ phụ tùng thay thế lớn Vốn đầu tư lớn, thời gian hoạt động dài, các dự án đầu tư cho xi măng thường có vốn đầu tư 150 USD/tấn công suất, một nhà máy công suất 1,4 triệu tấn năm có tổng vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng, thời gian hoạt động của một nhà máy xi măng thường là trên 50 năm Vì vậy, hiệu quả đầu tư xi măng thường được nhìn về dài hạn
Năm là, quá trình tiêu thụ xi măng mang tính chất thời vụ Ở Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng xi măng biến động mang tính thời vụ giữa các quý trong năm
và đã trở thành quy luật Do vậy, các DN SX-KD xi măng hay các thành phần tham gia thị trường xi măng đều phải có những đối sách, những giải pháp phù hợp theo quy luật để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ xi măng gắn liền với tăng trưởng kinh tế, nhất là đối với Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do vậy, tính co giãn trong cung cầu xi măng thấp, ngành xi măng có được sự bảo đảm ổn định cao trong tiêu thụ sản phẩm
Về mô hình tổ chức mạng lưới tiêu thụ xi măng của các DN SX-KD xi măng Việt Nam hiện nay được hình thành theo hai hệ thống:
+) Tiêu thụ thông qua hệ thống các công ty thương mại kinh doanh xi măng trực thuộc ngành
+) Tiêu thụ thông qua các nhà phân phối chính ngoài ngành Đây là mô hình tiêu thụ phổ biến của các nước trên thế giới
1.2.2- Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD trong nền KTTT
1.2.2.1- Chất lượng sản phẩm.
Trang 23Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, đáp ứng vai trò và phù hợp với tên gọi của sản phẩm Chất lượng sản phẩm thể hiện ở nhiều chỉ tiêu khác nhau như: tính chất cơ lý hóa, hình dáng, màu sắc, bao bì,… Đối với từng loại sản phẩm trên thị trường, các chỉ tiêu này có những đặc trưng riêng khác nhau Muốn bán được sản phẩm, các DN phải luôn giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Điều này có nghĩa, nâng cao chất lượng sản phẩm là một quy luật bắt buộc trong nền KTTT, là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất và là vấn đề sống còn đối với mỗi DN.
Chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất từ khâu thiết kế đến khâu nghiên cứu, thí nghiệm, sản xuất, bán hàng và các khâu dịch vụ sau khi bán hàng,… Do vậy, muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, một mặt phải nâng cao chất lượng tại các khâu của quá trình sản xuất, mặt khác phải coi trọng và kiểm tra chất lượng sản phẩm bằng các thiết bị, máy móc, cũng như bằng kinh nghiệm thực tiễn của các nhân viên phụ trách kỹ thuật Tùy theo đặc điểm của quá trình sản xuất mà DN lựa chọn phương pháp kiểm tra thích hợp Các nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm phải được đào tạo có chuyên môn,
có trách nhiệm và một điều tất yếu là phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan
Ngoài ra, chất lượng sản phẩm còn phải được coi trọng ở các khâu dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hiểu là phải thật tốt, thật bền, thật
đẹp mà còn được hiểu: Chất lượng sản phẩm phải do khách hàng quy định Đây
là một quan niệm rất mới và cũng là hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh gay gắt để dành dật khách hàng giữa các DN Về mặt lý luận, quản trị chất lượng sản phẩm là nhân tố chủ quan của DN Điều này đưa các DN tiếp cận gần hơn tới thị trường và cạnh tranh ngày một gay gắt hơn Việc nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh Bởi vì, nhờ nâng cao chất lượng
Trang 24sản phẩm nên các sản phẩm bán được nhiều hơn, các DN có uy tín cao hơn và có
cơ hội để mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng thị phần
Tóm lại, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu của cạnh tranh và yếu tố này rất năng động, thay đổi theo nhu cầu của thị trường, của từng khu vực thị trường khác nhau và cho các nhóm đối tượng khác nhau Cạnh tranh làm cho các DN không ngừng tìm kiếm con đường tự hoàn thiện mình và nâng cao chất lượng tối ưu cho sản phẩm của mình
1.2.2.2- Giá cả sản phẩm.
Với tư cách là công cụ cạnh tranh của các nhà sản xuất, giá cả được hiểu
là số tiền mà người bán dự kiến nhận được của người mua thông qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Giá cả được hình thành là do chi phí, nhu cầu của thị trường và do chính sách của các DN quyết định Giá cả có vai trò rất quan trọng, là khâu cuối cùng thể hiện kết quả hoạt động SX-KD của các DN Giá cả quyết định việc mua hàng hóa hay không của người tiêu dùng, mặt khác
nó còn quyết định tình hình biến động của thị trường Thông qua giá cả, các DN
có thể nhận biết được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng nh năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường
Giá cả của các DN có các nhân tố ảnh hưởng:
+) Chi phí sản xuất: Đây là các chi phí phát sinh trong quá trình SX-KD như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chí phí sản xuất chung, chi phí quản lý DN, chi phí bán hàng, …
+) Chi phí bán hàng và phân phối: Đây là các khoản tiền phải chi ra cho các dịch vụ bán hàng, bảo hành, vận tải và các chi phí khác có liên quan Trong nền KTTT, các chi phí này có xu hướng ngày càng tăng lên
+) Chí phí về hỗ trợ, xúc tiến bán hàng: Bao gồm các chi phí về triển lãm, hội chợ, hội thảo, tiếp thị quảng cáo sản phẩm và xúc tiến bán hàng
Trang 25+) Các mức thuế đối với DN và mức lợi nhuận cần phải có.
Mối quan hệ giữa bốn yếu tố trên với giá cả được thể hiện qua công thức sau: Giá cả = Chi phí các loại + Thuế + Lợi nhuận
+) Quan hệ cung – cầu: Sự biến động về cung – cầu sẽ làm thay đổi về giá
cả Nếu nh cầu tăng, cung giảm thì giá cả sẽ tăng cao và ngược lại
+) Tương quan của các lực lượng cạnh tranh trên thị trường: Cạnh tranh trên thị trường không chỉ diễn ra giữa các nhà sản xuất mà còn diễn ra giữa những người tiêu thụ với nhau, do vậy, cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp tới giá
cả, cạnh tranh càng gay gắt thì giá cả càng giảm
+) Sự điều tiết của nhà nước: Một số DN mà giá cả của nó ảnh hưởng tới hoạt động của các DN khác và của nền kinh tế (xi măng, điện, nước, xăng, dầu,
…), Nhà nước chủ trương can thiệp vào giá cả thông qua việc quy định các mức giá cụ thể hoặc mức giá trần Điều này đã làm giảm phần nào tính linh hoạt và năng lực cạnh tranh của các DN
1.2.2.3- Chủng loại sản phẩm.
Chủng loại sản phẩm là yếu tố có tính chất quyết định trong việc dành được thị trường khi DN đa dạng hóa sản phẩm, bởi vì sản phẩm có nhiều mức, cấp độ khác nhau về chất lượng, mẫu mã,… Người nhiều tiền có nhu cầu dùng loại sản phẩm có chất lượng tốt, thật hoàn hảo cho một công việc nào đó Những người có nhu cầu thiết yếu chọn những loại sản phẩm có chất lượng khác nhau Khi chủng loại sản phẩm đa dạng thì khiến các khách hàng khi bước khỏi nơi bán sản phẩm sẽ lựa chọn được một sản phẩm mà người ta mong muốn, vừa phù hợp với mục đích tiêu dùng vừa phù hợp với túi tiền mà mình hiện có
Cạnh tranh sẽ làm cho các DN luôn tìm tòi, nghiên cứu để tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng tối ưu cho sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và dịch
vụ đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng
Trang 261.2.3- Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng trong nền KTTT.
Để nâng cao được năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng trong nền KTTT cần phải xem xÐt đến những nhân tố ảnh hưởng sau:
1.2.3.1- Nhóm các nhân tố bên trong DN.
Bên trong DN có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh như: cơ sở vật chất kỹ thuật, khả năng tài chính của DN, bộ máy tổ chức quản lý DN, hoạt động xúc tiến tiêu thụ sản phẩm, chiến lược phát triển của DN, Tuy nhiên, ở đây các DN SX-KD xi măng cần quan tâm và tập trung phân tích sâu một số nhân tố:
• Thứ nhất là bộ máy tổ chức quản lý của DN
Bộ máy tổ chức quản lý của DN có tác động rất lớn tới sự thành công của
DN Mọi hoạt động của DN đều phải do sự thực hiện của con người Con người cung cấp số liệu đầu vào, thị trường, để hoạch định chiến lược, kế hoạch và mục tiêu; con người thực hiện phân tích bối cảnh môi trường và lựa chọn phương pháp nghệ thuật kinh doanh Cho dù những quan điểm, chiến lược, kế hoạch được đề ra đóng đắn, khả thi đến đâu thì vẫn không thể mang lại hiệu quả thực
Trang 27sự nếu không có những con người mẫn cán, trình độ cao, trung thành, chủ động
+) Cán bộ quản trị cấp trung gian
Đội ngò cán bộ quản trị cấp trung gian đứng trên cấp quản trị viên cơ sở
và dưới cấp quản trị cao cấp – chủ doanh nghiệp Họ vừa quản trị các quản trị cấp cơ sở thuộc quyền, vừa đồng thời điều khiển các nhân viên khác Ở cấp này, các quản trị viên có chức năng tham mưu thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức bằng cách phối hợp các công việc được thực hiện nhằm dẫn đến sự hoàn thành mục tiêu chung
+) Cán bộ quản trị cấp cơ sở
Đây là đội ngũ các nhà quản lý ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị của một DN Họ thường được gọi là đốc công, tổ trưởng, trưởng ca Đội ngũ quản trị này lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của DN trên các khía cạnh như chất lượng, sản lượng bán hàng,
+) Công nhân
Để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của DN cần có lãnh đạo đơn vị giỏi Song thế vẫn chưa đủ, mà còn có đội ngũ lao động với trình độ tay nghề chuyên
Trang 28sâu, có năng lực sáng tạo, trung thực trong công việc Họ chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của các DN.
Như vậy, nhân sự là yếu tố quan trọng, việc quản trị nhân sự và nguồn nhân lực hữu hiệu cần phải được quan tâm và đặt đúng vị trí của nó Nhiều DN
đã coi đây là một chức năng quản trị cốt lõi, quyết định sự thành bại của DN
• Thứ hai là hoạt động xóc tiến tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh của DN, đây cũng là giai đoạn bù đắp chi phí và thu về lợi nhuận Hoạt động đầu tiên xúc tiến tiêu thụ sản phẩm là lựa chọn kênh phân phối một cách hợp lý nhằm đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng nhanh chãng, thuận tiện và với chi phí chấp nhận được Mạng lưới tiêu thụ vững chắc có nghĩa là đã xây dựng được một nền mãng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần
Bên cạnh tổ chức mạng lưới bán hàng là các hoạt động xóc tiến hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến mại, các dịch vụ bảo hành sau bán hàng,… Đây là các hình thức cạnh tranh phi giá cả nhằm mục đÝch hướng vào khách hàng, thu hút thêm khách hàng mới đến với sản phẩm DN
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có được thực hiện tốt thì khối lượng hàng hóa bán mới lớn, mới nhanh chãng giải phóng được nguồn hàng, bù đắp chi phí sản xuất và thu hồi vốn nhanh chãng, doanh thu và lợi nhuận của DN mới cao, kích thích sản xuất phát triển Tiêu thụ tốt còn làm tăng uy tín của DN trên thị trường, từ đã mới giữ được các khách hàng truyền thống và lôi kéo các khách hàng mới tới với DN, mở rộng thị trường và tăng khả năng cạnh tranh cho DN
Hoạt động xúc tiến tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong quá trình kinh doanh nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh và hiệu quả trong kinh
Trang 29doanh của DN Sử dụng các hoạt động xúc tiến tiêu thụ sản phẩm thích hợp sẽ giúp cho DN chiếm giữ được vị trí trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh.
• Thứ ba là chiến lược phát triển của các DN
Bất kỳ hoạt động SX-KD của DN nào cùng đều phải có chiến lược phát triển DN Đó là hệ thống những ý tưởng kinh doanh tổng quát, giúp các DN cạnh tranh thành công và hiệu quả trước các đối thủ cạnh tranh Hình ảnh chiến lược cạnh tranh của các DN có thể nhìn thấy phần nào thông qua các mục tiêu phát triển dài hạn gắn với hoạt động kinh doanh của các DN khi lựa chọn khai thác thị trường mục tiêu nào, định vị nhóm khách hàng trọng điểm với những quy mô và đặc tính tiêu dùng nào để triển khai một loạt các danh mục đầu tư, lựa chọn công nghệ, lựa chọn các giải pháp phù hợp
Để phát triển một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả, dù là DN lớn hay nhỏ, cần hiểu rõ bản chất quyết định năng lực cạnh tranh và những nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược cạnh tranh và từ đó phát hiện, khai thác hiệu quả những ưu thế riêng của mình để tạo dựng chỗ đứng vững chắc cho tổ chức
Theo cách diễn đạt của nhiều chuyên gia kinh tế, nội dung của chiến lược bao gồm 5 thành tố: (1) Kế hoạch; (2) Mưu lược; (3) Mô hình, dạng thức; (4) Vị thế; (5) Tiền độ, triển vọng
1.2.3.2- Nhóm các nhân tố bên ngoài DN.
Nhóm các nhân tố bên ngoài DN bao gồm nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp và môi trường nội bộ ngành Trong đó, nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố: Kinh tế, chính trị
và pháp luật, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên, văn hoá -
xã hội, bối cảnh quốc tế, thị trường và trình độ phát triển kinh tế của đất nước Nhóm các nhân tố môi trường tác nghiệp gồm có các yếu tố: Đối thủ cạnh tranh
Trang 30hiện hữu, khách hàng, các nhà cung ứng, sản phẩm hàng hoá thay thế và đối thủ cạnh tranh tiềm Èn Nhóm các nhân tố thuộc môi trường nội bộ ngành gồm có các yếu tố: sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh, quản trị nhân sự và nguồn nhân lực, quản trị tài chính và kế toán, hệ thống thông tin nghiên cứu và phát triển.
Tuy nhiên, trong các nhóm nhân tố trên, các DN SX-KD cần quan tâm và chủ yếu tập trung phân tích nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:
• Thứ nhất là yếu tố kinh tế
Đó là các yếu tố tác động đến nhu cầu mua của khách hàng, đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và các yếu tố liên quan đến sử dụng nguồn lực của kinh doanh Các yếu tố kinh tế có tác động vô cùng to lớn đối với kết quả và hiệu quả kinh doanh của DN Nã tác động tới phương thức và cách thức DN sử dụng nguồn lực của mình Sự thay đổi các yếu tố kinh tế đều tạo ra nguy cơ hoặc cơ hội ở mức độ khác nhau đối với những DN khác nhau Do đã, DN phải nghiên cứu kỹ, lựa chọn và xác định những yếu tố có tác động lớn nhất đối với hoạt động và kết quả kinh doanh của DN mình từ đã DN phải tiến hành dự báo kinh tế
• Thứ hai là yếu tố chÝnh trị và luật pháp
Luật pháp là mét trong những công cụ chủ yếu và quan trọng mà Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý kinh tế – xã hội của mình
Việc Nhà nước ban hành hệ thống luật pháp và chính sách thích hợp sẽ tạo
ra môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các DN hoạt động Vì vậy, tính hợp lý, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của DN Các yếu tố chính trị – pháp luật rõ ràng, minh bạch và ổn định có thể tạo thuận lợi cho hoạt động SX-KD Ngược lại sự thay đổi biển động cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho DN, nhất là những thay đổi liên tục không dự báo được
Trang 31Với Việt Nam việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là một quá trình lâu dài vì chúng ta mới đang trong giai đoạn hình thành nền KTTT, nên các
bộ luật thường xuyên phải hoàn chỉnh và bổ sung
Một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là đảm bảo vững chắc cho sự vận hành bình thường của nền KTTT Nhờ đó mà khơi dậy các tiềm năng kinh tế, sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý các nguồn lực, phát huy tính tích cực sáng tạo của các DN, nâng cao sức cạnh tranh cho các DN
Để đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần cũng như hoạt động cạnh tranh, quốc gia nào cũng cần có hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Chính phủ để điều tiết thị trường, do đã để thành công trong kinh doanh, các DN phải nghiên cứu, phân tích chính sách và pháp luật cùng xu hướng vận động của nã
• Thứ ba là yếu tố khoa học công nghệ
Đây là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các DN, mỗi công nghệ mới ra đời sẽ thay thế công nghệ trước đã Việc tạo ra và cung ứng các sản phẩm mới chất lượng cao, giá thành hạ theo đời sản phẩm sẽ có ý nghĩa lớn tới các hoạt động của DN
Tuy nhiên, với giới hạn về nguồn vốn và để tính đến hiệu quả thực sự thì điều quan trọng hơn nữa là việc lựa chọn công nghệ sao cho phù hợp với từng giai đoạn khác nhau của DN, sao cho dễ tương thích với các công nghệ đã có hoặc dễ nâng cấp cũng như phù hợp với trình độ khai thác và vận hành của đội ngũ người lao động
• Thứ tư là yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên
Yếu tố cơ sở hạ tầng sẽ quyết định sự thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động kinh doanh của DN Đối với các DN SX-KD xi măng, đây là là một trong
Trang 32những yếu tố được quan tâm xem xét, cân nhắc rất kỹ trước khi quyết định đầu
tư
Ngoài ra, các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên còng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN, như là: Sự thiếu hụt các nguồn nguyên nhiên liệu, vật liệu; Sự gia tăng chi phí năng lượng; Ô nhiễm môi trường và chi phí để xử lý
ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ cảnh quan thắng cảnh; Sự thay đổi vai trò nhà nước trong bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
• Thứ năm là yếu tố văn hóa – xã hội
Yếu tố này có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu và hành vi của con người trong cả lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng cá nhân Những thay đổi trong các yếu tố văn hóa tạo ra những cơ hội và nguy cơ cho các DN Do vậy, các DN cần có những hiểu biết sâu rộng về truyền thống, phong tục tập quán của khách hàng, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh xi măng, người sử dụng thường mua hàng theo thãi quen hay nói cách khác theo thị hiếu của địa phương đó
• Thứ sáu là bối cảnh quốc tế
Hiện nay, nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Vào WTO để tăng thêm sức mạnh, ngoài việc phát huy mọi tiềm năng của bản thân là chủ yếu và có ý nghĩa quyết định, mỗi DN đang có nhiều cơ hội mới, nhiều nguồn lực mới về vốn, công nghệ, về nhân lực, kỹ năng quản lý, có thể tận dụng và một xu thế tất yếu tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đó là:
+) Khoa học và công nghệ tiếp tục có những bước nhảy vọt, càng ngày trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội Tri thức và cơ sở trí tuệ có vai trò càng quan trọng Trình độ làm chủ thông tin, tri thức có ý nghĩa quyết định sự phát triển chu trình luân chuyển
Trang 33vốn, đổi mới công nghệ và sản phẩm ngày càng được rút ngắn; các điều kiện kinh doanh trên thị trường thế giới luôn thay đổi đòi hỏi các quốc gia cũng như các DN phải rất nhanh nhạy nắm bắt, thích nghi Các nước phát triển trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu, xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để vươn lên.
+) Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức Ðp cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng trong kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các dịch bệnh, Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế Sự cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng
Đối với nước ta, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới được nâng lên một bước mới gắn với việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi các DN phải ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế
• Thứ bảy là trình độ phát triển kinh tế của đất nước
ĐÓ đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay thì trình độ phát triển của nền kinh tế là một trong những tiêu chí có ảnh hưởng, cần được quan tâm xem xét Đây cũng chính là một nhân tố có tác động rất lớn đến năng lực cạnh tranh của DN Thị phần của DN được mở rộng hay thu hẹp, tương quan lực lượng giữa DN với các đổi thủ cạnh tranh như thế nào một phần rất quan trọng phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế Trong điều kiện của nền kinh tế Việt Nam, với một điểm xuất phát khoảng 90% số lượng các DN là DN vừa và nhỏ, hạ tầng cơ sở kém, GDP bình quân đầu người của
Trang 34Việt Nam mới chỉ bằng 71,2% của Indonesia; bằng 55% của Philippines; bằng 32,8% của Thái Lan ; tính chung mới bằng 59,4% mức bình quân của khu vực
Như vậy, để cho các DN Việt Nam nâng cao được năng lực cạnh tranh đòi hỏi phải có sự thay đổi tư duy lãnh đạo đến cách thức điều hành quản lý nền kinh
tế, đồng thời đi kèm với một loạt các giải pháp đồng bộ ở cả tầm vĩ mô cũng như
vi mô
• Thứ tám là yếu tố thị trường:
Hình thành đồng bộ thể chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa dần
cơ chế bao cấp, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia đâu tư xây dựng, tăng năng lực SX-KD, cho phép cạnh tranh tạo động lực cho sự phát triển
là một chủ trương đổi mới hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, được các nghành các cấp và đa số nhân dân ủng hộ, triển khai thực hiện
Nhu cầu thị trường tăng làm giảm áp lực cạnh tranh và mỗi DN đều cã thể bán được hàng, đây là cơ hội kinh doanh cho các DN mở rộng thị phần Ngược lại khi nhu cầu thị trường giảm sút là một nguy cơ đối với DN và lúc đã mỗi DN đều phải tìm mọi cách giữ vững thị phần của mình, không làm giảm doanh thu
1.3- Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD ở một
số quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
1.3.1- Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD
xi măng ở Trung Quốc.
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp xi măng Trung Quốc lớn mạnh vượt bậc Năm 2006, sản lượng xi măng toàn quốc của Trung Quốc đã đạt
Trang 351,236 tỷ tấn, tăng 15,7% so với năm 2005 và năm 2007 đạt 1,350 tỷ tấn, tăng 9%
so với năm 2006, dự kiến năm 2008 sản lượng xi măng toàn quốc của Trung Quốc đạt 1,485 tỷ tấn, tăng khoảng 10% so với năm 2007 Để đạt được điều này, Trung Quốc đã có chiến lược phát triển phù hợp như tạo nên các tập đoàn mạnh bằng việc kết hợp các DN lớn, tập trung vốn đầu tư vào tài sản cố định, tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, nghiên cứu cải tiến thêm để có thể chế tạo, đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất 5000 tấn clinker/ngày, 8000 tấn clinker/ngày, 10.000 tấn clinker/ngày theo quy trình công nghệ sản xuất hiện đại Các hệ thống sản xuất theo công nghệ lò đứng và lò quay lạc hậu bị ngăn chặn lại, các DN vừa và nhỏ tổ chức lại, kết hợp tạo thành các DN lớn có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường
Công nghệ sản xuất xi măng đã tạo ra những ưu việt lớn trong bảo tồn năng lượng, giảm lãng phí, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng xi măng, tăng sản lượng, tiến hành sản xuất sạch và sản xuất tập trung Những tiến bộ chính đã đạt được về mặt nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất xi măng theo quy trình khô mới và trong việc xây dựng, thiết kế, chế tạo, lắp đặt Trên cơ
sở những kinh nghiệm đã qua về xây dựng và lắp đặt các nhà máy đóng bao có sản lượng từ 2000 tấn đến 4000 tấn, công nghệ của Trung Quốc đã đồng hoá công nghệ nhập khẩu, đã phát triển, nghiên cứu chế tạo thêm những dây chuyền sản xuất xi măng theo quy trình khô hiện đại có sản lượng từ 5000 tấn đến 10.000 tấn Điều này đã tạo nên lượng cung cấp đảm bảo đủ sức cạnh tranh trên thị trường một cách có hiệu quả
Mặt khác, ngành công nghiệp xi măng Trung Quốc thực hiện đều đặn, thường kỳ việc tổ chức lại tài sản trong các DN lớn Một vài công ty nhà nước tổ chức lại, các DN lớn hoạt động theo cơ chế thị trường hợp nhất lại Các công ty
xi măng nhỏ thiếu sự cạnh tranh lựa chọn biện pháp cải tạo lại, hợp nhất hoặc bỏ lại thị trường
Trang 36Qua những thay đổi về tổ chức, tổ chức lại tài sản và tăng vốn từ những giao dịch chứng khoán để xây dựng những dây chuyền sản xuất theo quy trình khô hiện đại, một tập đoàn các DN sản xuất xi măng đã phát triển thành một tập đoàn hợp nhất kích cỡ siêu lớn một cách nhanh chóng Trong quá trình hợp nhất các công ty lớn, sự kết hợp qua công việc tổ chức lại đã trở thành một hiện tượng thực tế phổ biến Ví dụ, các tập đoàn sản xuất xi măng Trung Quốc như Tập đoàn Conch, tập đoàn HuaXin, San Shi, Shan Shui, Hua Run Cement, tất cả đã đạt được sự mở rộng, tăng trưởng nhanh thông qua M&As và cơ cấu lại Trong suốt quá trình cơ cấu lại nhà nước đã chấp nhận một nguyên tắc trợ giúp Sự kết hợp quyết định các hoạt động của họ với tác động của thị trường như là một lực đẩy chính
Thị trường tiêu thụ xi măng của Trung Quốc là một thị trường khổng lồ, song Trung Quốc vẫn thực hiện chính sách xuất khẩu xi măng ra nước ngoài Năm 2006 ngành công nghiệp xi măng Trung Quốc đã xuất khẩu 19,41 triệu tấn
xi măng và 16,72 triệu tấn clinker, năm 2007 xuất khẩu hơn 14 triệu xi măng và hơn 20 triệu tấn clinker Những nhà sản xuất xi măng Trung Quốc rất quan tâm đến giá cả, vì vậy họ thường chú ý đến thị trường Mỹ và Hàn Quốc và ngừng xuất sang thị trường có giá thấp như Singapore
Bên cạnh đó, các DN xi măng lớn như Tập đoàn Holcim, Heidelberg Ciment, Chia Hsin, luôn quan tâm đến đầu tư vào những nhà máy mới hoặc
mở rộng những nhà máy cũ từ những thành tựu đạt được Tốc độ mở rộng của họ thực sự ngoạn mục và điều đó chỉ ra rằng môi trường tương lai đối với các nhà đầu tư sẽ rất cạnh tranh
1.3.2- Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD ở Nhật Bản.
Trang 37Để nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của các DN Nhật Bản, trong đó có lĩnh vực công nghiệp SX-KD xi măng, các DN Nhật Bản đã thực hiện bốn phương thức cạnh tranh có hiệu quả.
Thứ nhất, các DN Nhật Bản luôn tạo ra lợi thế và khai thác triệt để lợi thế
để cạnh tranh Ở thời kỳ đầu sau chiến tranh, lợi thế hàng đầu của các DN Nhật Bản là chi phí thấp dựa trên chế độ tiền công thấp Sau đó, khi tiền công tăng lên
và không còn là lợi thế, các DN Nhật Bản đã chuyển sang khai thác sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng hoá sản phẩm Các DN Nhật Bản đã sử dụng lợi thế này kết hợp với khả năng lựa chọn thị trường, sản phẩm để xâm nhập vào thị trường ngoài nước Làm được điều này, các DN Nhật Bản đã luôn đi theo quan điểm phát hiện và sử dụng đúng lợi thế cạnh tranh động Trong một vài năm gần đây, các DN Nhật Bản bắt đầu chuyển sang khai thế lợi thế cạnh tranh về kỷ thuật thông qua đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển
Thứ hai, các DN Nhật Bản xác định mục tiêu tăng trưởng thị trường để phát triển Ví dụ, hãng Honđa vào cuối thập kỷ 50, đã tăng sản xuất nhanh hơn thị trường đã có 50%, nhờ đó trong vòng 5 năm đã thay thế hãng Tohatsu trong địa vị dẫn đầu ngành sản xuất xe máy và khiến hãng sản xuất này cùng với nhiều hãng sản xuất khác bị phá sản hoặc phải rút khỏi ngành
Phương thức cạnh tranh bằng tăng trưởng nhanh nhằm đè bẹp đối thủ được sự hỗ trợ lớn từ xu hướng tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản sau thế chiến thứ 2 và của môi trường vĩ mô thuận lợi, trong đó Chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ tài chính mạnh mẽ cho các DN SX-KD thành đạt và truyền thống xã hội ủng hộ phương thức sử dụng lao động suốt đời
Ở đây, các DN Nhật Bản quan niệm rằng nếu DN không tăng trưởng nhanh thì trước hết sẽ bị DN khác vượt qua và đè bẹp, sau đó sẽ không có công
ăn việc làm cho người lao động làm thuê Ngược lại, người lao động được làm việc suốt đời cho mét DN (xóa bỏ được tâm lý mất việc làm từng đè nặng lên
Trang 38người lao động Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh và những năm sau chiến tranh) đã tạo nên đa phần công nhân trung thành, tận tuỵ cống hiến cho DN Đây chính là động lực quan trọng giúp các DN Nhật Bản có điều kiện tăng trưởng nhanh
Trong trường hợp thị trường của sản phẩm không mở rộng thêm được nữa thì các DN nhanh chóng tìm kiếm sản phẩm mới để tạo công ăn việc làm cho người lao động và duy trì sự phát triển Ở Nhật Bản có 3 Công ty sản xuất xi măng lớn: Taiheiyo, Ube – Mitsubishi và Sumitomo – Osaka Ba công này chiếm khoảng 80% thị phần của thị trường xi măng nội địa Bên cạnh đó, ở Nhật Bản có một số công ty hoá chất cũng sản xuất xi măng, đây là đặc thù ngoại lệ không có ở các nước khác Những công ty này trước đây dùng đá vôi (nguyên liệu chính để sản xuất xi măng) để sản xuất các sản phẩm hoá chất, nhưng sau đó
họ cho rằng phải quản lý mỏ đá vôi, thị trường hoá chất đến thời kỳ bão hoà nên
họ chuyển sang sản xuất xi măng, điều này làm cho chi phí vận hành giảm, tiếp tục tạo ra công việc mới cho người lao động
Ngoài ra, các DN Nhật Bản cũng linh hoạt trong thực hiện chiến lược tăng trưởng để cạnh tranh Một mặt, kiên quyết thực hiện chiến lược tăng trưởng đã
đề ra và chỉ điều chỉnh khi hoạt động DN bị đe doạ, mặt khác lựa chọn con đường tăng sản xuất đi trước sự tăng mức cầu của thị trường Điều này có thể thấy, các DN Nhật Bản rất giỏi trong việc tạo ra cầu cho sản phẩm của mình
Để chiếm lĩnh thị phần thị trường chưa phải của mình, DN Nhật Bản thường tiết kiệm tối đa chi phí và lựa chọn phương án bán giá thấp đi Khi cầu giảm xuống, các DN vẫn tăng đầu tư nhằm đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng mạng lưới bán hàng và giảm giá bán hơn nữa Tuy nhiên, hoạt động theo xu hướng tăng trưởng mạnh, các DN phải chịu hy sinh trong việc cổ đông phải chấp nhận tỷ lệ cổ tức thấp Người Nhật Bản cho rằng thà giảm lợi nhuận còn hơn
Trang 39thua kém đối thủ cạnh tranh, bởi vì thua kém đối thủ cạnh tranh thì cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cũng hết
Thứ ba, các DN Nhật Bản lựa chọn chính sách nhân sự và chính sách tài chính phù hợp, khai thác tối đa lợi thế và theo dõi chặt chẽ đối thủ cạnh tranh
Để thực hiện được việc này, các DN Nhật Bản thường phải vay vốn với số lượng lớn với sự hy sinh về phương diện lợi nhuận ban đầu thấp Họ được các tổ chức tài chính hỗ trợ không phải do chỉ thị của Nhà nước mà chủ yếu do các DN có tài sản đảm bảo và có khả năng tài trợ tốt nhờ sử dụng tiền với mục đích đầu tư khai thác lợi thế cạnh tranh và tăng trưởng Các cổ đông cũng không phải chịu thiệt nhiều vì cổ tức thấp mà họ được đền bù do giá vốn tăng nhanh Đây cũng chính
là điểm có sự khuyến khích thích đáng của nhà nước khi đánh thuế cổ tức mà không đánh thuế tăng vốn
Bên cạnh đó, chính sách nhân sự của các DN Nhật Bản cũng phục vụ cho chiến lược trên Các DN Nhật Bản rất hạn chế khi thuê thêm lao động và giãn thợ Trong mỗi DN thường xây dựng công đoàn mạnh để dùng hoà giữa chủ DN
và công nhân lao động Các DN đào tạo lao động của họ không chỉ một nghề mà còn chú trọng đào tạo lao động có thể chuyển đổi nghề linh hoạt Nét đặc trưng của các DN Nhật Bản là cố gắng duy trì tinh thần cộng đồng có trách nhiệm rõ ràng Chế độ tiền lương, thưởng, các DN đều áp dụng cơ chế linh hoạt theo năng lực và thành tích có gắn với thâm niên làm việc Khi DN gặp khó khăn, ban lãnh đạo cũng giảm lương như công nhân để tăng sự gắn bó của người lao động với
DN Vì vậy, khi DN hoạt động phát triển, người lao động vẫn cố gắng tăng năng suất và giảm chi phí
Có thể thấy rằng, với chính sách tài chính và chính sách nhân sự như vậy
đã hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động của DN Nhật Bản trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 40Thứ tư, các DN Nhật Bản thường xuyên theo dõi đối thủ cạnh tranh để nhanh chóng đưa ra các đối sách đối phó có hiệu quả Việc theo dõi này hướng tới mục tiêu nắm chắc đối thủ để làm khác đối thủ và làm tốt hơn đối thủ Sự khác biệt của các DN Nhật Bản là khi đối thủ có sáng kiến mới thì DN thường phản ứng nhanh bằng cách đua tranh về số lượng sản phẩm tương tự để giành thị phần trên thị trường hoặc tìm ra các sản phẩm mới thay thế Do vậy, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật liên tục được khai thác có hiệu quả, tạo ra sản phẩm đa dạng, giảm chi phí sản xuất và giá cả được cải thiện có lợi cho người tiêu dùng.
Tóm lại, qua hoạt động của các DN Nhật Bản, chúng ta có thể thấy bài học
đó là phải có ý chí tiến công, khai phá và liên tục mở rộng thị trường bằng cách khai thác tối đa lợi thế so sánh, theo sát đối thủ để vươn lên dẫn đầu, đồng thời
sử dụng chính sách tài chính, nhân sự hợp lý, có hiệu quả
1.3.3- Bài học rót ra để vận dụng trong nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các DN SX-KD xi măng ở Việt Nam.
Từ những kinh nghiệm thực tế nâng cao năng lực cạnh tranh của một số quốc gia trên thế giới, có thể rót ra được một số điểm để vận dụng nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN SX-KD xi măng ở Việt Nam như sau:
- Một là, DN cần có một chiến lược phát triển rõ ràng và có những mục tiêu cụ thể cần đạt tới Có như vậy, sức cạnh tranh của một DN mới được nâng cao một cách nhanh chóng nếu như DN mới có khả năng cạnh tranh và tồn tại trên thị trường trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Chiến lược kinh doanh của các DN có tính cạnh tranh cao gắn với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
- Hai là, đầu tư có hiệu quả các nguồn tiềm lực về nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất, các nguồn lực về thương hiệu hàng hoá, uy tín