Trang thông tin Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Thúy Vinh 1. Tên luận án:Phân tích chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An 2. Thông tin về nghiên cứu sinh Họ và tên NCS: Nguyễn Thị Thúy Vinh Năm quyết định công nhận NCS: 122009 Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 62 31 01 05 Người hướng dẫn: 1. PGS.TS. Trần Hữu Cường 2. TS. Dương Văn Hiểu Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam 3. Giới thiệu về luận án Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích chuỗi giá trị thuỷ sản của tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp để phát triển chuỗi giá trị thủy sản trên địa bàn nghiên cứu. Luận án tập trung nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị thủy sản vào các nội dung cơ bản: lập sơ đồ chuỗi, phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân, phân tích kinh tế chuỗi, phân tích quản lý chuỗi và phát triển chuỗi, từ đó luận án đề xuất một số giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An. 4. Đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án Luận án đã góp phần hệ thống và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về phân tích chuỗi giá trị thủy sản. Phân tích chuỗi giá trị thủy sản được xác định thông qua các nội dung cơ bản: lập sơ đồ chuỗi, phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân dọc theo chuỗi, phân tích kinh tế chuỗi, phân tích hoạt động quản lý chuỗi và phát triển chuỗi. Về kinh tế: xác định chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận được phát sinh và tạo ra trên chuỗi, để thấy được tính công bằng về chi phí và lợi ích giữa các tác nhân. Về quản lý: đề cập tới khả năng đáp ứng, tính linh hoạt và chất lượng sản phẩm của chuỗi. Luận án cũng đã hệ thống hóa được các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị thủy sản.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THÚY VINH
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ THỦY SẢN
CỦA TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THÚY VINH
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ THỦY SẢN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Vinh
Trang 4Tôi xin ghi nhận và biết ơn sự giúp đỡ quý báu của tập thể các thầy, cô giáo
Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo, Ban lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Luận án này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo địa phương và các tổ chức, đơn vị, cá nhân sản xuất kinh doanh thủy sản tham gia chuỗi giá trị thủy sản tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảo sát thực địa và nghiên cứu đề tài Tôi xin trân trọng cám ơn sự hỗ trợ quý báu này
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh, tập thể đồng nghiệp Khoa Nông Lâm Ngư đã tạo điều kiện về thời gian và tinh thần động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Tôi xin trân trọng cảm ơn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới người thân và bạn bè đã luôn kịp thời động viên, chia sẻ và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Vinh
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5 Những đóng góp mới của luận án về học thuật lý luận và thực tiễn 7
1.1 Cơ sở lý luận về phân tích chuỗi giá trị thủy sản 8 1.1.1 Chuỗi giá trị và một số khái niệm liên quan 8
1.1.3 Phân tích chuỗi giá trị thủy sản 23 1.1.4 Một số khía cạnh phân tích chuỗi giá trị 24 1.1.5 Nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản 28 1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi giá trị thủy sản 34 1.2 Cơ sở thực tiễn về phân tích chuỗi giá trị thủy sản 38 1.2.1 Kinh nghiệm về phát triển chuỗi giá trị thủy sản của một số nước 38 1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển chuỗi giá trị thủy sản của Việt Nam 43 1.2.3 Những bài học kinh nghiệm phân tích chuỗi giá trị thủy sản cho Việt Nam 46
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Nghệ An 49
Trang 62.1.2 Về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An 49 2.1.3 Ngành thủy sản của tỉnh Nghệ An 51
2.2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 53 2.2.2 Chọn sản phẩm và điểm nghiên cứu 55 2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 56 2.2.4 Xử lý thông tin và số liệu 60
3.2 Phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân dọc theo chuỗi
Trang 73.5 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chuỗi giá trị thủy sản của Nghệ An 115 3.5.1 Nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết của các tác nhân trong chuỗi 115 3.5.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của chuỗi 116 3.5.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chuỗi 121
3.6 Đánh giá chung về chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An 126
Chương 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
4.1 Quan điểm, định hướng phát triển chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An 130
4.1.2 Định hướng phát triển chuỗi giá trị thủy sản 131 4.2 Giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy sản của Nghệ An 133
Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 151
Trang 8ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
EU Liên minh Châu Âu (European Union)
GTTS Giá trị thủy sản
NTTS Nuôi trồng thủy sản
NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
RMA Đánh giá nhanh thị trường (Rapid Market Apprasal) THCS Trung học cơ sở
TSCĐ Tài sản cố định
UBND Ủy ban Nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Tổng giá trị sản phẩm của tỉnh Nghệ An (theo giá thực tế) 49 2.2 Sản lượng thủy sản vùng ven biển của tỉnh Nghệ An 51 2.3 Sản lượng đánh bắt hải sản của tỉnh Nghệ An 52 2.4 Số lượng mẫu điều tra tác nhân trong chuỗi 59 2.5 Phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận 61 2.6 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 62
3.2 Thông tin chung về hộ đánh bắt 71 3.3 Thông tin chung về hộ chế biến cá cơm 71 3.4 Thông tin chung về thương lái 72 3.5 Thông tin chung về người bán buôn 72 3.6 Thông tin chung về người bán lẻ 73 3.7 Thông tin chung về người tiêu dùng 74 3.8 Số lượng tác nhân tham gia và tỷ lệ khối lượng sản phẩm tiêu thụ 75 3.9 Năng suất tôm bình quân của các hộ 77 3.10 Số lượng và tỷ lệ cơ sở, trại nuôi và ươm giống tôm của tỉnh Nghệ An 78 3.11 Kết quả và hiệu quả hoạt động của hộ nuôi tôm 79 3.12 Kết quả và hiệu quả hoạt động của hộ đánh bắt 83 3.13 Kết quả và hiệu quả hoạt động của thương lái 86 3.14 Kết quả và hiệu quả hoạt động của hộ chế biến 87 3.15 Kết quả và hiệu quả hoạt động của người bán buôn 89 3.16 Kết quả và hiệu quả hoạt động của người bán lẻ 91 3.17 Mức độ tham gia liên kết của các tác nhân trong chuỗi 93 3.18 Tình hình thực hiện hợp đồng của các tác nhân trong chuỗi 95 3.19 Chi phí gia tăng của các tác nhân trong chuỗi tính bình quân trên 1 kg
Trang 103.20 Giá trị gia tăng tính bình quân trên 1 kg sản phẩm do các tác nhân
3.21 Lợi nhuận thu được của các tác nhân trong chuỗi tính bình quân trên 1
3.22 Mức độ hài lòng của người tiêu dùng về sản phẩm 104 3.23 Lý do người tiêu dùng hài lòng về sản phẩm 105 3.24 Lý do người tiêu dùng không hài lòng về sản phẩm 106 3.25 Mức độ hài lòng của người tiêu dùng về thái độ phục vụ 108 3.26 Thời gian đáp ứng của chuỗi 109 3.27 Mức độ trao đổi, chia sẻ thông tin của các tác nhân trong chuỗi 110 3.28 Phương thức trao đổi thông tin của các tác nhân trong chuỗi 111 3.29 Mức độ tin tưởng vào thông tin từ các tác nhân trong chuỗi 112 3.30 Đánh giá của người tiêu dùng về địa điểm bán sản phẩm 113 3.31 Số tác nhân liên kết ổn định được phân theo thời gian tham gia hoạt
3.32 Tỷ lệ tác nhân tham gia vào các tổ chức sản xuất, kinh doanh 116 3.33 Số tác nhân liên kết ổn định được phân theo sự tham gia vào nhóm tổ
3.34 Năng suất nuôi tôm của các hộ phân theo hình thức nuôi 117 3.35 Tỷ lệ tác nhân vay vốn từ các nguồn tín dụng 119 3.36 Khó khăn nhất của các tác nhân trong tiếp cận nguồn vốn của các tổ
3.37 Trình độ của các tác nhân trong chuỗi 122 3.38 Số lượng và tỷ lệ tàu theo nhóm nghề khai thác hải sản 123 3.39 Tỷ lệ tác nhân tham gia vào hoạt động khuyến ngư 124 3.40 Tỷ lệ nhu cầu hỗ trợ của các tác nhân trong chuỗi 125
Trang 11trong chuỗi tôm 1 và chuỗi tôm 2 101 3.7 Tỷ trọng chi phí gia tăng, giá trị gia tăng và lợi nhuận của các tác nhân
trong chuỗi cá cơm 1 và chuỗi cá cơm 2 103 3.8 Tỷ lệ tác nhân đánh giá hiện trạng công nghệ đang sử dụng 117 3.9 Tỷ lệ tác nhân tham gia chuỗi được đào tạo ở các cấp 121
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuỷ sản là ngành hàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 1998-2008 đạt 18%/năm Thuỷ sản được xem là ngành hàng hội nhập thương trường quốc tế từ rất sớm, mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước Năm 2008, xuất khẩu thuỷ sản đạt 4,5 tỷ USD đứng trong top
5 ngành hàng có kinh ngạch xuất khẩu cao nhất (Đặng Quang Thương, 2009) Đến năm 2013, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 156 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành nước đứng đầu thế giới về sản lượng cá tra, đứng thứ 3 về sản lượng tôm, với tổng giá trị kinh ngạch xuất khẩu đạt 6,7 tỷ USD (Đình Tăng, 2014) Tuy nhiên, để phát triển ngành thủy sản một cách bền vững và có hiệu quả, cũng cần phải nhận thức rõ những thách thức đang đặt ra cho toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng, đó là: ngành hàng thuỷ sản vẫn mới chỉ dừng lại ở phân khúc sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu sản phẩm thô; cạnh tranh bán - mua nguyên liệu giữa các DN và giữa DN với người nuôi chưa được lành mạnh, mối liên hệ và hợp tác lỏng lẻo của các tác nhân dọc theo chuỗi, chi phí sản xuất và rủi ro trong nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng cao, người sản xuất thường không chú ý tới thị trường và các yêu cầu của thị trường, chất lượng an toàn thực phẩm chưa được chú ý đầy đủ; ý tưởng sản phẩm, thương hiệu và phân phối, những mắt xích có giá trị gia tăng cao vẫn thuộc về các DN nước ngoài, các sản phẩm Việt Nam lại thường không được tiêu thụ dưới nhãn mác của Việt Nam Nghệ An là một tỉnh thuộc Bắc Trung bộ có bờ biển dài 82 km, với 6 cửa lạch, có nhiều làng cá truyền thống từ lâu, cũng không nằm ngoài thực trạng chung của đất nước Những năm gần đây, triển khai chương trình khai thác xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản, tỉnh đã có hướng đi mới trong phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho
Trang 13người lao động vùng biển Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thủy sản Nghệ An cũng đang gặp nhiều hạn chế trong từng mắt xích của chuỗi GTTS, cụ thể:
Một là, thủy sản Nghệ An chưa thoát khỏi tình trạng phát triển một cách tự phát, theo phong trào Chính điều này đã tạo nên sự khan hiếm các nguồn lực đầu vào Người nuôi sử dụng nguyên liệu không được bảo đảm chất lượng, không qua kiểm định, ảnh hưởng đến chất lượng, năng suất và tình hình dịch bệnh dễ xảy ra Bên cạnh đó, sự gia tăng quá nhanh của các loại tàu thuyền, tính đến năm 2012 số lượng tàu khai thác thủy sản trên địa bàn Nghệ An có đến 4263 tàu, trong đó số lượng tàu có công suất nhỏ khai thác ven bờ, vùng lộng chiếm chủ yếu đến 78,28% (Chi cục Nuôi trồng thủy sản Nghệ An, 2012), với nhiều nghề khai thác tận diệt đã làm cho nguồn lợi thủy sản đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng
Hai là, về chất lượng sản phẩm thủy sản, hầu hết sản phẩm tiêu thụ không theo các tiêu chuẩn về chất lượng, dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu truy xuất nguồn gốc, khó có thể xây dựng thương hiệu cho hàng thủy sản Nghệ An
Ba là, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn khá thô sơ Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu dưới dạng bảo quản và sơ chế nên chưa nâng cao được giá trị gia tăng cho sản phẩm Mặt khác, sản phẩm qua bảo quản chỉ sử dụng phương pháp bảo quản bằng đá lạnh vì vậy tổn thất sau thu hoạch chiếm tỷ trọng khá, làm giảm đáng
kể hiệu quả nuôi trồng và đánh bắt của người dân Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực của các cơ sở, doanh nghiệp còn yếu về vốn, về công nghệ và về khả năng tiếp cận thị trường, nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng
Bốn là, sản phẩm thủy sản hiện nay ở Nghệ An chưa thật sự khẳng định được
vị thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Nguyên nhân chủ yếu là do các mối liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi chưa chặt chẽ và sự chia sẻ lợi ích của các tác nhân chưa được bảo đảm công bằng Các cơ sở, các DN thuỷ sản cùng một mục tiêu chung nhưng chưa có sự liên minh, hợp tác với nhau cùng thảo luận và giải quyết vấn đề sao cho đạt hiệu quả cao nhất để tạo ra giá trị và giảm chi phí Cho nên tiềm năng thuỷ sản Nghệ An chưa được khai thác hiệu quả, chưa phát huy được lợi thế so sánh của vùng
Trên thế giới nghiên cứu về chuỗi giá trị đã được đề cập đến từ rất sớm
Trang 14Durufle et al (1988) đã áp dụng phương pháp filiére (chuỗi, mạch) nghiên cứu đánh
giá chuỗi về mặt kinh tế, tài chính Nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề tạo thu nhập
và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí và thu nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP
Porter (1985) đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để xem xét công ty, xác định vị thế công ty trong thị trường và mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh Chuỗi giá trị được sử dụng như khung giá trị để DN tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh của mình Tính cạnh tranh của công ty có thể phân tích bằng xem xét chuỗi giá trị bao gồm từ thiết kế sản xuất, mua vật tư đầu vào, hậu cần, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiêp cứu triển khai v.v.)
Gereffi and Korzenniewicz (1994), Kaplinsky (1999) sử dụng phương pháp tiếp cận toàn cầu về chuỗi giá trị, đưa ra khung phân tích để hiểu cách thức mà các công ty và quốc gia hội nhập toàn cầu, để đánh giá các nhân tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu thông qua việc lập sơ đồ chuỗi và phân tích chuỗi để làm sáng tỏ công ty, vùng, quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào
Có một nghiên cứu gần đây nhất, nghiên cứu Gudmundsson et al (2006) đã
nghiên cứu “Phân bổ thu nhập trong chuỗi giá trị hải sản” ở 4 nước Iceland, Tanzania, Moroccan, Đan Mạch đại diện 4 loại thủy sản khác nhau cho các nước phát triển và đang phát triển Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu dựa trên khái niệm chuỗi giá trị của Kaplinsky, đã mô tả chuỗi giá trị cho các loài thủy sản được chọn của từng nước (cá tuyết ở Iceland, cá rô ở Tanzania, cá cơm Moroccan,
cá trích ở Đan Mạch) và chi phí, giá trị gia tăng mỗi phân đoạn trong chuỗi giá trị được tính toán Và xem xét trên toàn bộ chuỗi giá trị hải sản xuất khẩu thì nước xuất khẩu kiểm soát bao nhiêu phần trăm và sự phân phối thu nhập được phân bổ như thế nào Sau đó so sánh chéo giữa các chuỗi giá trị thủy sản (GTTS) của các quốc gia Đối với Việt Nam, nghiên cứu về phân tích chuỗi giá trị nói chung được chú ý
từ sau năm 2000, đặc biệt khi Ngân hàng Phát triển châu Á triển khai một loạt các
Trang 15nghiên cứu của Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo, cụ thể:
Nghiên cứu về chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo (ADB, 2007) Tác giả đã cung cấp một số công cụ để phân tích chuỗi giá trị với trọng tâm giảm nghèo, hướng dẫn để kết nối khoảng cách giữa phân tích chuỗi giá trị và phát triển
vì người nghèo Các công cụ phân tích chuỗi giá trị thường được sử dụng bao gồm: (i) lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích; (ii) lập sơ đồ chuỗi giá trị; (iii) chi phí và lợi nhuận; (iv) phân tích công nghệ, kiến thức và nâng cấp; (v) phân tích thu nhập của các tác nhân trong chuỗi giá trị; (vi) phân tích việc làm trong chuỗi giá trị; (vii) quản trị và các dịch vụ; (viii) sự liên kết
Nghiên cứu về chuỗi giá trị đối với một số hàng nông sản cụ thể như sắn, chè, luồng và ảnh hưởng của chúng tới người nghèo đã làm rõ một số nội dung như: (i) Đánh giá các cơ hội thị trường cho người nông dân, nhất là nông dân nghèo tại miền núi, vùng sâu, vùng xa; (ii) Hội nhập theo chiều dọc của những người sản xuất vào chuỗi giá trị sản phẩm và tiềm năng đối với xoá đói giảm nghèo; (iii) Có những khuyến nghị chung đối với nông dân nghèo khi tham gia vào chuỗi
Chuỗi giá trị hàng nông sản trong thương mại hoá nông nghiệp (ADB, 2007) Nghiên cứu đã làm rõ việc người nghèo có thể thu được lợi từ thương mại hoá trong vai trò là những nhà sản xuất, người tiêu thụ Những DN kinh doanh có thể có những tác động tích cực lên sinh kế của người nghèo theo nhiều cách, trong đó bao gồm: (i) Tạo việc làm; (ii) Cung cấp những điều kiện làm việc thích hợp; (iii) Làm tăng hoặc bảo đảm sự tiếp cận của người nghèo đối với tài sản; (iv) Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ; (v) Phát triển vốn con người; (vi) Cung cấp các hàng hoá và dịch vụ thích hợp với giá hợp lý; (vii) Thúc đẩy một môi trường tự nhiên bền vững
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị của các tổ chức
Trang 16giá trị rau tại An Giang”, thực hiện từ tháng 1/2007 – 3/2009
Các dự án đã phân tích đánh giá chuỗi giá trị từng sản phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, từ đó xây dựng chuỗi giá trị từng sản phẩm nhằm khắc phục những điểm yếu trong chuỗi Kết quả của hoạt động phát triển chuỗi giá trị là những tác động hỗ trợ của dự án nhằm tăng cường năng lực cho các tác nhân trong chuỗi, những người đóng góp làm gia tăng giá trị sản phẩm cho chuỗi
Đặc biệt, Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Trường Đại học Cần Thơ năm 2008 công bố kết quả bước đầu “phân tích chuỗi giá trị cá tra ĐBSCL”, là công trình nghiên cứu nằm trong “dự án phân tích chuỗi giá trị cá vùng Mê Kông” với sự tài trợ của nước ngoài, nhằm đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và chính sách can thiệp để bảo đảm phát triển bền vững Nghiên cứu đánh giá lợi nhuận và thu nhập phân bổ chưa hợp lý giữa các tác nhân trong chuỗi, chủ yếu tập trung vào công ty chế biến Và với tỷ trọng lợi nhuận và thu nhập mất cân đối giữa các tác nhân đã thể hiện tính kém bền vững trong chuỗi Các nghiên cứu trên đã phân tích chuỗi giá trị nói chung và chuỗi GTTS nói riêng ở các khía cạnh khác nhau Chính vì vậy, để phát triển bền vững chuỗi GTTS cần được nhìn nhận một cách toàn diện để hướng tới nâng cao kết quả, hiệu quả không những của từng tác nhân tham gia mà còn cả toàn bộ chuỗi GTTS, bao gồm phân tích về kinh tế và quản lý chuỗi GTTS Về mặt kinh tế phân tích tính công bằng trong việc chia sẻ chi phí, lợi ích dựa trên đóng góp của từng tác nhân trên chuỗi; về mặt quản trị chuỗi phân tích đánh giá tính linh hoạt, khả năng đáp ứng và chất lượng sản phẩm được tạo ra từ chuỗi GTTS Và đây cũng là một vấn đề mới, mang tính thời sự cao đối với tỉnh Nghệ An nói chung và ngành thủy sản nói riêng đòi hỏi phải nghiên cứu để làm rõ
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn “Phân tích chuỗi giá trị thuỷ
sản của tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận án nghiên cứu sinh của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích chuỗi giá trị thuỷ sản của tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp phát triển chuỗi giá trị thủy sản trên địa bàn nghiên cứu
Trang 172.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phân tích chuỗi GTTS
- Phân tích chuỗi GTTS và các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An
3 Các câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau đây:
- Thực trạng hoạt động của các chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An diễn ra như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động của các chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An?
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động của các chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An là gì?
- Để phát triển chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An đề xuất những giải pháp nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng (tôm), đánh bắt (cá cơm) của tỉnh Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu phân tích chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An thông qua 2 sản phẩm lợi thế và đặc thù của tỉnh là tôm và cá cơm về phương diện: Phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân dọc theo chuỗi; Phân tích kinh tế của chuỗi (chi phí, lợi nhuận của chuỗi; tỷ trọng chi phí - lợi nhuận của chuỗi, phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi); Phân tích một số hoạt động quản lý chuỗi bao gồm khả năng đáp ứng, tính linh hoạt, chất lượng sản phẩm của chuỗi; Một số nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến mối liên kết của các tác nhân, ảnh hưởng đến kinh tế và quản lý chuỗi GTTS trên địa bàn nghiên cứu Trên cơ sở
đó luận án đề xuất một số giải pháp phát triển chuỗi
Trang 18- Không gian: Phân tích chuỗi giá trị thủy sản của tỉnh Nghệ An
- Thời gian: + Số liệu thứ cấp từ năm 2010 - 2012
+ Số liệu điều tra năm 2012 + Dự kiến các đề xuất đến năm 2020
5 Những đóng góp mới của luận án về học thuật lý luận và thực tiễn
b) Những đóng góp về thực tiễn
Thực tiễn phân tích chuỗi GTTS của tỉnh Nghệ An thông qua 2 sản phẩm lợi thế và đặc thù của tỉnh là tôm và cá cơm, cho thấy: i) Các tác nhân liên kết với nhau còn rời rạc, đứt đoạn từng khâu của chuỗi, theo hình thức liên kết thỏa thuận miệng nên chưa chặt chẽ và thiếu tính bền vững ii) Sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trên chuỗi chưa thực sự công bằng: Người nuôi, đánh bắt là tác nhân hưởng phần lợi nhuận chưa tương xứng với phần chi phí bỏ ra và người bán buôn, người bán lẻ là người hưởng phần lợi nhuận nhiều nhất Sự liên kết càng gần với người tiêu dùng thì lợi ích của người nuôi và người đánh bắt càng được nâng cao iii) Khả năng đáp ứng, tính linh hoạt của chuỗi còn hạn chế, chất lượng sản phẩm chưa đạt được các tiêu chuẩn để truy xuất được nguồn gốc Luận án cũng đã xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi như trình độ, công nghệ, kỹ thuật,…
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về phân tích chuỗi giá trị thủy sản
1.1.1 Chuỗi giá trị và một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị (Value chain)
Thuật ngữ chuỗi giá trị được Porter đưa ra lần đầu tiên vào năm 1985 (Porter, 1985) Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại
Porter (1985) cho rằng công cụ quan trọng của DN để tạo ra giá trị lớn hơn dành cho khách hàng chính là chuỗi giá trị Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của DN Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị dành cho khách hàng, trong đó, chia ra 5 họat động chính (cung ứng đầu vào, quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm, marketing - bán hàng và dịch vụ) và 4 hoạt động hỗ trợ (quản trị tổng quát, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và hoạt động thu mua)
Hình 1.1 Sơ đồ về chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Nguồn: Porter (2008)
Quản trị tổng quát
Quản trị nhân sự
Phát triển công nghệ Thu mua
Phần lời
Phần lời
Các hoạt động đầu
Trang 20Để doanh nghiệp tạo ra những giá trị lớn hơn dành cho khách hàng đầu tiên cần tiến hành tốt 4 hoạt động chính vì đây là những hoạt động đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng (hình 1.1) Các hoạt động chính bao gồm 5 loại hoạt động: i) Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; ii) Vận hành, sản xuất- kinh doanh; iii) Vận chuyển ra bên ngoài; iv) Marketing và bán hàng; v) Cung cấp các
dịch vụ liên quan Đó là một chuỗi công việc liên quan trực tiếp đến quá trình sản
xuất sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, từ việc đưa các yếu tố đầu vào về DN, chế biến chúng, sản xuất các thành phẩm, bán hàng và các hoạt động để phục vụ khách hàng Mục tiêu của các hoạt động này là cung cấp cho khách hàng một mức độ giá trị vượt quá chi phí của các hoạt động và thu được một mức lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hiệu quả của việc thực hiện các hoạt động này Vì vậy nếu các hoạt động này được quản lý tốt với chi phí thấp, giảm giá thành, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, có cơ hội để tạo ra giá trị vượt trội và tạo ra lợi thế cạnh tranh Một lợi thế cạnh tranh có thể đạt được bằng cách tham gia vào chuỗi giá trị để cung cấp chi phí thấp hơn hoặc tốt hơn sự khác biệt
Bên cạnh đó, DN cũng cần đầu tư cho những hoạt động hỗ trợ bao gồm: cơ
sở hạ tầng, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và mua sắm Đây là những hoạt động tuy không trực tiếp và đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị dành cho khách hàng nhưng lại có ý nghĩa trợ giúp cho tất cả các hoạt động chủ chốt nói trên
và thiếu chúng thì không thể tiến hành các hoạt động chủ chốt được Hai nhóm hoạt động này liên tục diễn ra cho đến khi sản phẩm được bán ra thị trường, thu lợi nhuận và tăng trưởng cho DN Để tạo ra giá trị tối đa dành cho khách hàng không chỉ yêu cầu hiệu quả của từng hoạt động, từng bộ phận riêng rẽ mà còn yêu cầu sự phối hợp tốt hoạt động của tất cả các bộ phận khác nhau của DN
Mặt khác, theo quan điểm của Porter (2008) chuỗi giá trị của một doanh nghiệp trong một ngành cụ thể phải được gắn vào một dòng chảy các hoạt động lớn hơn mà ông đặt tên là hệ thống giá trị (hình 1.2) Hệ thống giá trị bao gồm các nhà cung cấp (những người cung cấp đầu vào: như nguyên liệu thô, máy móc, dịch vụ) cho chuỗi giá trị của DN Đến người mua cuối cùng sản phẩm của một DN thường
Trang 21đi qua những chuỗi giá trị của các nhà phân phối hoặc bán lẻ Cuối cùng, các sản phẩm này lại trở thành đầu vào trong chuỗi giá trị của khách hàng, những người mua sản phẩm để thực hiện các hoạt động của chính họ Như vậy khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của DN Khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược
Một chuỗi giá trị cho bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ bao gồm các hoạt động từ nghiên cứu và phát triển, qua nguồn cung cấp nguyên liệu và sản xuất, đến người tiêu dùng cuối cùng và hơn thế nữa vứt bỏ và tái chế Tất cả những hoạt động này tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng và mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng Xem chuỗi giá trị như là một trình tự liên tiếp của các quá trình dịch chuyển từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể sản xuất, chế biến và marketing một sản phẩm cho đến khi tiêu thụ
Như vậy, theo các quan điểm trên chúng ta có thể nhìn chuỗi giá trị ở góc độ rộng hơn, chi tiết hóa các hoạt động và các khâu, chuỗi giá trị là một phức hợp
Chuỗi giá trị của người mua
Chuỗi giá trị
của bên cung
cấp
Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Chuỗi giá trị của kênh phân phối (những nhà phân phối or bán lẻ)
Trang 22những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ, ) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ (ADB, 2007) Mức độ chi tiết càng cao, càng cho thấy rõ nhiều bên tham gia, nhiều DN tham gia và mức độ liên quan đến chuỗi giá trị khác nhau Đồng thời còn cho thấy các hoạt động trong chuỗi không phải do một
DN duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược xuôi giữa các tác nhân tham gia chuỗi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và được kết nối với
người tiêu dùng cuối cùng
Ngoài ra khái niệm chuỗi giá trị còn bao hàm cả các vấn đề về tổ chức, điều phối, chiến lược và quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia khác nhau trong chuỗi
Tóm lại, có thể khái quát, chuỗi giá trị là tập hợp một chuỗi các hoạt động để
chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các sản phẩm đầu ra và tại mỗi hoạt động sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm
1.1.1.2 Phân biệt các khái niệm kênh marketing, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
a) Kênh Marketing và chuỗi giá trị
- Kênh Marketing
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kênh marketing Theo quan điểm tổng quát, kênh marketing (kênh phân phối) là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng Đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và người sản xuất
Nếu nhìn từ góc độ người sản xuất có thể xem kênh marketing như các hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau Người trung gian như nhà bán buôn, nhà bán lẻ xem kênh marketing là dòng chảy quyền sở hữu hàng hóa Còn người tiêu dùng có thể xem kênh marketing đơn giản như là có nhiều người trung gian giữa họ và người sản xuất sản phẩm Nhưng nếu xét về mặt tổ chức quan
hệ kênh marketing gồm các công ty hay tổ chức, những người có tham gia vào quá trình đàm phán về việc đưa hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Họ có chức năng đàm phán, mua bán, chuyển quyền sở hữu hàng hóa và dịch vụ Thông thường chỉ những công ty hay những tổ chức nào tham gia
Trang 23thực hiện các chức năng này mới là thành viên của kênh Các công ty, tổ chức khác làm thuận lợi cho việc phân phối như công ty vận tải, kho hàng, ngân hàng, bảo hiểm, thực hiện các chức năng khác bổ trợ không phải là thành viên của kênh
Như vậy, kênh marketing có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ
người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, tạo nên dòng chảy hàng hóa từ người sản xuất qua hoặc không qua các trung gian tới người mua cuối cùng Nó cũng được coi như dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hóa khi chúng được mua bán qua các
tổ chức khác nhau
- Kênh marketing và chuỗi giá trị
Theo các quan điểm trên có sự phân biệt giữa kênh marketing và chuỗi giá trị Kênh marketing quan tâm đến việc di chuyển sản phẩm từ các nhà sản xuất đến người tiêu dùng Kênh cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn trong cùng loại sản phẩm, hoặc cung cấp đi kèm những sản phẩm phụ thuộc Kênh được hình thành để cân đối giữa những người có nhu cầu lớn và những người có nhu cầu ít về số lượng Kênh cũng được hình thành để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của những nhóm khách hàng khác nhau (các phân khúc khác nhau) Và cuối cùng là kênh được hình thành để đáp ứng nhu cầu rất năng động và ngày càng phức tạp của thị trường Trong khi đó chuỗi giá trị nghiên cứu kênh marketing từ góc độ giá trị, là một xâu chuỗi các hoạt động của các thành phần tham gia trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng (giá trị hữu hình và vô hình) và thu lại giá trị cho mình Còn từ góc độ khách hàng thì chuỗi giá trị là nơi khách hàng nhận và trả tiền cho những giá trị mà mình tìm kiếm Việc phân tích chuỗi giá trị giúp cho ta biết khách hàng tìm kiếm những giá trị gì, từ đó ta có thể hoạch định chiến lược kênh phù hợp, hiệu quả
b) Chuỗi cung ứng (supply chain) và chuỗi giá trị
- Chuỗi cung ứng
Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX Khi
đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, chưa có sự kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu, với việc phân phối sản phẩm Đến những năm 90, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty
Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ
Trang 24vào thị trường (Lambert et al., 1998) Như vậy, chuỗi cung ứng bao gồm mọi công
đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất hay nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng (Sunil and Meindl, 2001) Có thể xem chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành phẩm,
phân phối chúng cho khách hàng (Ganeshan et al., 1995)
Theo các định nghĩa này thì một chuỗi cung ứng về cơ bản có ba phần chính
là cung cấp, sản xuất và phân phối Cung cấp tập trung vào cách thức, nơi mà từ khi nguyên liệu được mua và cung cấp cho sản xuất Sản xuất là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu đến thành phẩm Phân phối là các sản phẩm này đã hoàn thành đưa đến khách hàng cuối cùng thông qua một mạng lưới các nhà phân phối, nhà kho và nhà bán lẻ
Tóm lại, một chuỗi cung ứng là một hệ thống các hoạt động được khâu nối
với nhau bởi các dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tiền đi qua các tổ chức
- Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Theo các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu thuật ngữ chuỗi cung ứng
giống như chuỗi giá trị Bởi vì, thứ nhất, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đều có
những đặc điểm chung cơ bản như đối tượng tham gia chuỗi, quá trình vận chuyển
và lưu giữ các sản phẩm, quá trình tạo giá trị, quá trình trao đổi thông tin, quá trình chi trả Những thành phần này sẽ tác động qua lại với nhau để kết nối tài nguyên và
sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng Thứ hai, mục đích cuối cùng và quan
trọng nhất của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị là quá trình tạo giá trị thông qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối
Như vậy, chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng đều được dùng để miêu tả cho một
chuỗi các hoạt động có quan hệ chặt chẽ, với nhiều tác nhân tham gia từ nhà cung ứng nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng Và một chuỗi giá trị, hay một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm tất cả các giai đoạn để thoả mãn nhu cầu của khách hàng (hình 1.3)
Trang 25Hình 1.3 Sơ đồ về chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị
Một chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như người chế biến, người bán buôn, người bán lẻ nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính Trong đó, người tiêu dùng không tạo ra giá trị gia tăng như các tác nhân khác, đơn thuần chỉ là người mua hàng của người bán lẻ Người bán lẻ là tác nhân cuối cùng tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi
Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng là khi nói đến chuỗi cung ứng người ta nhấn mạnh quá trình biến đổi các yếu tố vật chất thành sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Còn khi nói chuỗi giá trị người ta nhấn mạnh giá trị của một sản phẩm (dịch vụ) được tăng lên khi đi qua các tác nhân khác nhau để đến tay người tiêu dùng
1.1.2 Chuỗi giá trị thủy sản
1.1.2.1 Khái niệm chuỗi giá trị thủy sản
Áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào trong ngành thủy sản, có thể hiểu chuỗi GTTS là tập hợp các hoạt động từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng gồm các tác nhân sau: (i) Người sản xuất (người nuôi trồng thủy sản; người đánh bắt thủy sản); (ii) Người chế biến; (iii) Người kinh doanh Đây là những tác nhân
Nông dân Người chế
Thông tin
Tài chính Tạo giá trị
Trang 26trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị Quan hệ của các tác nhân này dựa trên dòng thông tin, dòng hàng hóa (dịch vụ) và dòng tiền trên chuỗi Sự vận động của chuỗi giá trị còn chịu tác động bởi các tác nhân và yếu tố bên ngoài chuỗi như hệ thống cung ứng, hoạt động marketing, hệ thống luật pháp, cung cầu hàng hóa
Chuỗi giá trị thủy sản tiêu biểu
Một chuỗi GTTS điển hình bao gồm sản xuất (đánh bắt, hoặc nuôi trồng thuỷ sản, hoặc kết hợp cả hai), sơ chế, chế biến, phân phối, tiếp thị và tiêu dùng cuối cùng (hình 1.4)
Hình 1.4 Chuỗi giá trị thủy sản tiêu biểu
Như vậy, một chuỗi GTTS tiêu biểu có năm bước (hình 1.4) Tuy nhiên cũng
có thể có nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào việc chi tiết hóa các hoạt động và các khâu của chuỗi
Chuỗi giá trị thủy sản giản mở rộng
Hình 1.5 Chuỗi giá trị thủy sản mở rộng
Sản
xuất
Sơ chế
Chế biến
Bán buôn
Bán
lẻ
Người tiêu dùng
Ngư dân Sơ chế Người Chế biến Người Người bán lẻ
bán lẻ
Thương lái thu gom
Ngư dân
Người bán lẻ
Người thu gom
Người
sơ chế
Người tiêu dùng
Người bán buôn
Ngư dân thu gom Người sơ chế, chế Người
biến
Xuất Khẩu
Trang 27Một chuỗi GTTS mở rộng bao gồm nhiều cấp hay nhiều khâu khác nhau Mỗi một cấp của sản phẩm thủy sản thực hiện các chức năng khác nhau như: thu gom, vận chuyển, chế biến, bảo quản sản phẩm, Qua đó mà giá trị của sản phẩm thủy sản được tăng thêm ở mỗi cấp hay mỗi hoạt động Như vậy, mỗi một hoạt động là một chức năng làm tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng và đảm bảo sự sống còn đối với toàn bộ chuỗi giá trị Người tiêu dùng cuối cùng của một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản phải có chức năng hoàn trả toàn bộ chi phí sản xuất và dịch vụ sản phẩm từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của chuỗi
1.1.2.2 Đặc trưng của chuỗi giá trị thủy sản
Chuỗi cung ứng là một góc nhìn của chuỗi giá trị cho nên chuỗi giá trị cũng
là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân (Vorst et al., 2001) Theo
Lambert and Cooper (2000) một chuỗi giá trị có bốn đặc trưng cơ bản: thứ nhất, chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc Thứ hai, một chuỗi bao gồm nhiều DN độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức Thứ ba, một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình
Nếu xem chuỗi GTTS là một chuỗi giá trị nông sản, thì theo Bijman (2002), chuỗi GTTS là một chuỗi bao gồm các tác nhân cung cấp đầu vào, sản xuất và phân phối thủy sản Chuỗi này chứa đựng đồng thời dòng vật chất và dòng thông tin Chuỗi GTTS nói chung khác với chuỗi giá trị của các ngành khác ở các điểm (1) bản chất của quá trình sản xuất thường dựa vào quá trình sinh học, do vậy làm tăng tính biến động và rủi ro; (2) bản chất của sản phẩm có những đặc trưng tiêu biểu như dễ hư hỏng và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau; (3) thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm
an toàn và vấn đề môi trường
Tác giả Vorst (2000) và Spiegel (2004) tóm tắt các đặc trưng cơ bản của chuỗi
Trang 28cung ứng thủy sản-thực phẩm nói chung như sau:
1 Hạn sử dụng nhất định đối với nguyên liệu và các loại như thủy sản, sản phẩm dở dang và sản phẩm cuối cùng dễ thối nát, cũng như sự thay đổi chất lượng sản phẩm khi chuyển dịch trên chuỗi cung ứng
2 Quá trình thời gian sản xuất dài
3 Có tính mùa vụ trong sản xuất
4 Cung cấp sản phẩm theo mùa vụ và đòi hỏi nguồn cung ở nhiều vùng
5 Đòi hỏi điều kiện nhất định khi vận chuyển và bảo quản
6 Biến động cả số lượng và chất lượng do sự thay đổi điều kiện sinh thái, tính mùa vụ, các yếu tố liên quan đến thời tiết, dịch bệnh và thiệt hại về sinh thái khác
7 Các ràng buộc về khả năng bảo quản, ví dụ vật tư hoặc sản phẩm chỉ có thể giữ trong những công ten nơ đặc biệt
8 Luật lệ của nhà nước về môi trường và người tiêu dùng (phát tán CO2, ATTP)
9 Yếu tố vật lý của sản phẩm như các yếu tố cảm quan, ví dụ mùi, vị, hình thức, màu sắc, kích thước
10 Các yếu tố khác như sự thuận tiện cho bữa ăn
11 An toàn sản phẩm: quan tâm của người tiêu dùng ngày càng tăng về sản phẩm và cách thức sản xuất sản phẩm: không gây rủi ro cho người tiêu dùng
12 Chất lượng nhận thức, phù hợp với đúng chất lượng sản phẩm Ví dụ quảng cáo, nhãn hiệu (marketing) có thể có ảnh hưởng đến nhận thức về chất lượng Trong một chuỗi, sự phối hợp có thể dưới nhiều hình thức: hợp nhất dọc, hợp đồng dài hạn hoặc giao dịch trực tiếp trên thị trường Các nghiên cứu gần đây đã chỉ
ra rằng chuỗi GTTS nói riêng và thủy sản-thực phẩm nói chung, các giao dịch đang
có sự thay đổi (Bijman, 2002) Hầu hết các lĩnh vực trong ngành thủy sản-thực phẩm đang dịch chuyển gần hơn tới liên kết dọc Theo Zuurbier (2000), phối hợp dọc là một quá trình phối hợp các giao dịch thị trường giữa nhà cung cấp và khách hàng Phối hợp dọc trong kinh doanh thủy sản và ngành thực phẩm bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch trao đổi các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp giống hoặc vốn tới người nông dân, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa nông dân và người chế biến hoặc
Trang 29sản phẩm tươi sống giữa nhà bán buôn với người bán lẻ hoặc giữa người bán lẻ và người tiêu dùng
Một số ngành (ví dụ như ngành gia cầm) đã phát triển liên kết dọc chặt chẽ vài năm trở lại đây, trong khi những ngành khác xem khái niệm này còn tương đối mới (Hobbs and Young, 2000) Sự thay đổi căn bản là chuyển dịch từ sản xuất định hướng sang thị trường định hướng trong chiến lược của người sản xuất Sự thay đổi này dẫn đến làm tăng sự trao đổi thông tin giữa các tác nhân Một trong những thay đổi khác liên quan đến đổi mới sản phẩm, đây là một sự thay đổi rất quan trọng trong chuỗi thủy sản-thực phẩm Tất cả sự thay đổi đó dẫn đến kết quả làm tăng cầu của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm cao hơn và chủng loại sản phẩm cũng nhiều hơn Hơn nữa, các vấn đề như ATTP và điều kiện sản xuất cũng là những vấn
đề được nhiều người tiêu dùng quan tâm hiện nay Những thay đổi về sở thích của người tiêu dùng, cũng làm thay đổi quá trình chế biến và bán lẻ thủy sản-thực phẩm Các nhà chế biến và nhà bán lẻ cũng mở rộng lớn hơn và có tính quốc tế hóa hơn
1.1.2.3 Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị thủy sản
Trong chuỗi GTTS, các bên tham gia chính là các tác nhân hoạt động trên mọi cấp độ của chuỗi thủy sản, bao gồm những người sản xuất, người sơ chế, người thu mua, các công ty chế biến, các đại lý vận tải, người phân phối, tiêu thụ, và đại diện của các đơn vị hỗ trợ, các trường, viện… những người đóng vai trò thúc đẩy chuỗi Quá trình vận hành của chuỗi giá trị thuỷ sản từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng bao gồm một tập hợp liên tiếp các hoạt động kinh tế của các tác nhân, hay là
sự luân chuyển liên tục các luồng vật chất qua từng tác nhân, mà ở từng khâu, mỗi tác nhân lại tạo ra giá trị và những sản phẩm khác nhau và sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng là sự hợp thành của tất cả những hoạt động kinh tế đó Như vậy, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình Trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng, sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của chuỗi
mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế, là đầu ra của quá trình sản xuất của từng tác nhân Mỗi tác nhân có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi Một tác nhân có thể có một vài chức năng Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng kề nó hay sản phẩm của các tác nhân trước là chi phí trung gian của các tác nhân kề sau nó (Phạm
Trang 30Thái Thủy, 2008) Và giá trị hàng hóa của các tác nhân kế tiếp ngày càng tăng Chỉ
có sản phẩm của tác nhân cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng mới là sản phẩm cuối cùng của chuỗi và khi đó chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng khâu kết thúc
Nói chung các tác nhân có thể tham gia vào khâu đầu cũng như khâu cuối cùng của chuỗi, nghĩa là có thể tham gia cả vào lĩnh vực nghiên cứu, phát triển sản phẩm, sản xuất ra sản phẩm, cung cấp một số bộ phận nào đó của sản phẩm và tham gia phân phối và tiêu thụ
Tuỳ theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất và lưu thông hàng hóa, tính chất của sản phẩm (có thể tiêu dùng ngay hay phải qua chế biến), vị trí của người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường (trong vùng hay ngoài vùng, trong nước hay ngoài nước) mà số lượng các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị của sản phẩm đó có khác nhau Sản phẩm thủy sản có thể trực tiếp tới tay người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay các ngư trại NTTS, ở các làng cá trên bờ biển hoặc bán lẻ trực tiếp ở các chợ nông thôn, thành phố; và cũng có thể phải trải qua nhiều tác nhân như: thu gom sản phẩm, chế biến, người bán buôn, người bán
lẻ, người tiêu dùng,
Mặt khác trong chuỗi GTTS, sự tham gia trực tiếp vào chuỗi có thể ở công đoạn sản xuất, tạo ra các sản phẩm thô (tươi sống) hoặc công đoạn chế biến (Lưu Đức Khải, 2009) Quá trình tạo ra giá trị gia tăng ở hai công đoạn này rất khác nhau Sản phẩm mỗi một lần trải qua một công đoạn trong chuỗi là một lần thay đổi quyền sở hữu Mỗi lần thay đổi quyền sở hữu đi theo nó là một lần bổ sung thêm giá trị vào sản phẩm Nếu chỉ dừng lại ở công đoạn tạo ra sản phẩm thô (tươi sống) thì giá trị gia tăng rất thấp và thấp hơn nhiều so với sản phẩm qua công đoạn chế biến Do trong hoạt động sản xuất thủy sản (nuôi trồng, đánh bắt) đều cần vốn lớn như hoạt động NTTS: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tảo đầm nuôi thủy sản ở ven biển, cửa sông, Hoạt động đánh bắt, nhất là hoạt động đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng thuyền lên tới hàng tỷ đồng Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn vượt quá khả năng tự tích lũy và đầu tư của từng ngư dân Mặt khác, do đặc điểm của ngành thủy sản, đối tượng sản xuất là sinh vật chịu ảnh hưởng của quy luật sinh học (quá trình sinh
Trang 31trưởng và phát triển) và quy luật tự nhiên (môi trường nguồn nước, khí hậu, ) nên
có nhiều rủi ro Đặc biệt đối với những nước như Việt Nam có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại cho nghề NTTS của cả một vùng hay một địa phương Chính vì vậy, kết quả sản xuất không ổn định, năng suất lao động rất thấp, khả năng đầu tư rất hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả của sản xuất thủy sản
Trong khi đó, tham gia công đoạn chế biến là những nhà đầu tư có vốn và mục đích sản xuất kinh doanh làm sao tối đa hóa được lợi nhuận Họ có thể quan hệ với rất nhiều ngư dân sản xuất nguyên liệu và thường quan hệ theo hình thức “mua đứt, bán đoạn” Nghĩa là thuận mua vừa bán và họ luôn nằm ở vị thế có lợi, có quyền định giá sao cho phần lợi thuộc về họ Sự chia sẻ lợi ích giữa hai công đoạn sản xuất với công đoạn chế biến là rất khó khăn và luôn mang những mâu thuẫn, đôi khi là đối kháng, bất hợp tác, đặc biệt phổ biến hầu hết các chuỗi giá trị nông sản nói chung, chuỗi GTTS nói riêng
Sự hợp nhất giữa hai nhóm công đoạn nói trên tạo ra mối liên kết dọc, là điều kiện tiên quyết của sự hình thành và phát triển chuỗi GTTS Trong trường hợp chuỗi GTTS mang tính toàn cầu thì hai công đoạn này phải được tổ chức rất chặt chẽ để tạo nên mối liên kết dọc giữa sản xuất với chế biến công nghiệp, điều này
là vô cùng khó vì nhà chế biến thủy sản thường không quan tâm tới sự hài lòng hay không hài lòng của người ngư dân đã cung cấp nguyên liệu cho mình Sự tham gia trực tiếp vào chuỗi GTTS sẽ gặp phải trở ngại lớn về khả năng liên kết với các tác nhân ở công đoạn chế biến Chính vì vậy, cùng với việc nâng cao hiệu của từng tác nhân tham gia vào chuỗi GTTS thì vấn đề chính cần xác định là những hoạt động và thành phần nào của chuỗi được phối hợp và gia tăng giá trị cho hàng hoá Điều quan trọng là phải xác định được ai đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi GTTS, ai sẽ phối hợp và thúc đẩy toàn bộ chuỗi (Lưu Đức Khải, 2009)
Tóm lại, Các tác nhân tham gia chuỗi GTTS là các tác nhân thực hiện những
chức năng cơ bản của chuỗi giá trị điển hình là ngư dân, các DN chế biến nhỏ và vừa, các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ, các nhà xuất khẩu, có một điểm chung là tại một khâu nào đó trong chuỗi giá trị, họ sẽ trở thành người chủ sở hữu của sản
Trang 32phẩm (nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm); Và các DN, các cơ quan nhà nước, các cơ quan chuyên biệt của ngành như các viện thủy sản, viện công nghệ, có quan hệ với một chuỗi GTTS như các nhà cung cấp dịch vụ vận hành và những nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ
1.1.2.4 Sự cần thiết tham gia vào chuỗi giá trị thủy sản
Thủy sản là một ngành sản xuất vật chất bao gồm nhiều hoạt động sản xuất
cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản xuất cụ thể nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau Trong điều kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nhỏ hẹp Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao Các hoạt động chuyên môn hóa khai thác, nuôi trồng, chế biến
và dịch vụ thủy sản có trình độ và quy mô phát triển tùy thuộc nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chuyên môn hóa hẹp có tính chất độc lập tương đối như: công nghiệp đánh bắt biển, cơ khí chế tạo và sữa chữa tàu thuyền, công nghiệp sản xuất thức ăn cho chăn nuôi thủy sản, công nghiệp chế biến thủy sản Tuy vậy, do đặc điểm của sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản lại đòi hỏi phải gắn bó các ngành chuyên môn hóa hẹp đó trong một thể thống nhất,
ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành Chính vì vậy các ngành, các DN muốn thành công phải phối hợp với nhau, phải tham gia vào chuỗi giá trị Sự phối hợp các hoạt động kinh doanh trong chuỗi giá trị là rất cần thiết để cung cấp đúng chất lượng và số lượng của sản phẩm cho các khách hàng cuối cùng
Đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế, sự tùy thuộc và tương tác lẫn nhau giữa các hoạt động kinh doanh và các DN khác nhau đã ngày càng trở nên quan trọng Một mặt toàn cầu hóa làm tăng áp lực cạnh tranh về các sản phẩm có chất lượng cao, tươi mới Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia không chỉ là vấn
Trang 33đề về năng lực của các DN đơn lẻ mà còn là vấn đề về mức độ hợp tác có hiệu quả của các DN này với nhau, bao gồm cả các DN lớn và các DN nhỏ
Lợi thế chính đối với người tham gia chuỗi giá trị hiệu quả thể hiện ở chỗ có thể giảm được chi phí trong kinh doanh, tăng doanh thu, tăng thế mạnh, cải thiện sự tiếp cận công nghệ, thông tin, vốn, và qua đó đổi mới quá trình sản xuất và marketing
để đạt được giá trị cao hơn, cung cấp giá trị cao hơn cho khác hàng (Porter, 2008) Đặc biệt thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng
Cùng với mở cửa và hội nhập, quá trình phân công lao động đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, việc bố trí các công đoạn sản xuất cũng diễn ra rộng khắp trong nền kinh tế toàn cầu Trong bối cảnh đó, tính cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn Điều đó làm cho tính hiệu quả trong sản xuất chỉ là điều kiện cần cho khả năng thâm nhập vào nền kinh tế toàn cầu Do đó, để thu lợi một cách bền vững từ việc tham gia vào nền kinh
tế toàn cầu cần phát huy tính năng động của từng tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị Để tiêu thụ được sản phẩm với giá cả có lợi thì phải tiếp cận được người tiêu dùng cuối cùng và để tham gia tốt nhất vào quá trình phân phối lợi ích thì cách duy nhất là tham gia vào chuỗi giá trị
Khi nghiên cứu sự tham gia chuỗi giá trị hàng nông sản nói chung tác giả Nguyen and Tran (2005) đưa ra ưu nhược điểm sau:
Về ưu điểm:
- Giảm tính phức tạp của trao đổi
- Giảm thời gian tìm kiếm người cung ứng
- Cải thiện chất lượng
- Tăng cường sự ổn định, bảo đảm tiến độ
- Chia sẻ thông tin và tin cậy giữa các bên tham gia
- Tăng cường chất lượng
- Giảm dự trữ
- Giá cung ứng ổn định
Nhược điểm:
- Tăng sự phụ thuộc
Trang 34- Giảm cạnh tranh
- Phát sinh chi phí mới cho chuỗi
Như vậy, các tổ chức thủy sản tham gia vào chuỗi GTTS là sự cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.3 Phân tích chuỗi giá trị thủy sản
Chuỗi GTTS sẽ bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các DN khác trong kinh doanh, chế biến Phân tích chuỗi GTTS xác định mối liên kết giữa các bên tham gia Phân tích chuỗi GTTS cho biết những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau Mỗi một thành viên của chuỗi GTTS là người mua hàng của người trước và
là nhà cung cấp cho người sau Họ có thể hoạt động độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau bởi vì họ có những mục tiêu chung và hoạt động để đạt được điều đó Một sự hợp tác tạo ra giá trị và giảm chi phí Và mỗi thành viên góp thêm giá trị tại cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào sự thỏa mãn của khách hàng
Để hiểu rõ hơn về các hoạt động dẫn đến một lợi thế cạnh tranh, có thể bắt đầu với chuỗi giá trị chung và sau đó xác định các công ty có liên quan đến cụ thể từng hoạt động và liên kết giữa các hoạt động phải được xác định Một liên kết tồn tại nếu hiệu suất hoặc chi phí của một trong những hoạt động mà ảnh hưởng đến các hoạt động khác Lợi thế cạnh tranh có thể thu được bằng cách tối ưu hóa và điều phối các hoạt động liên kết Hiểu biết về các mối liên kết giữa các hoạt động có thể
sẽ tìm được cách thức tiết kiệm chi phí hoặc tạo sự khác biệt
Mặt khác, phân tích chuỗi GTTS sẽ giúp các DN thủy sản xác định cách thức
mà doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và tiến tới tối đa hóa giá trị thông qua việc cung cấp sản phẩm với chi phí thấp và tạo sự khác biệt Các phân tích chuỗi giá trị cho biết liên kết các giá trị của các hoạt động của các tổ chức với các
bộ phận chức năng chính của nó Sau đó đánh giá sự đóng góp của mỗi phần trong giá trị gia tăng tổng thể của DN được thực hiện (Lynch, 2003)
Xét về vĩ mô, phân tích chuỗi giá trị thủy sản cho ta thấy một cách nhìn tổng thể và một bí quyết sản xuất về các thực tiễn kinh tế cụ thể Kết quả của các phân tích này được sử dụng để chuẩn bị cho các quyết định về mục tiêu và chiến lược
Trang 35Dựa trên một phân tích chuỗi được chia sẻ, các doanh nghiệp có thể xây dựng một tầm nhìn chung và xác định các chiến lược nâng cấp phối hợp Các cơ quan chính phủ sử dụng phân tích chuỗi giá trị thủy sản để định dạng và lập kế hoạch
về các hoạt động hỗ trợ cũng như để giám sát các tác động có thể xẩy ra Ngoài
ra phân tích chuỗi giá trị thủy sản không chỉ được sử dụng trong bối cảnh phát triển mà còn giúp các doanh nghiệp tư nhân đưa ra các quyết định kinh doanh Phân tích chuỗi giá trị thủy sản giống như phân tích ngành hàng, đặc biệt là
về mặt phương pháp luận Tuy nhiên, khác với phân tích ngành hàng – vốn chỉ xem xét cấu trúc các thị trường hợp nhất, thì phân tích chuỗi giá trị thủy sản chỉ tập trung vào các sản phẩm thủy sản cụ thể
Phân tích chuỗi GTTS sẽ hỗ trợ cho phân tích ngành hàng thủy sản đưa ra các yếu tố mới tăng cường khả năng phân tích ngành hàng và dựa trên bộ khung của phân tích ngành hàng Phân tích ngành hàng thủy sản là phân tích xu hướng và đặc điểm thị trường; quan hệ giữa các bên tham gia; cơ hội và thách thức của ngành hàng thủy sản; vẽ sơ đồ xác định mối liên kết giữa các bên tham gia Còn phân tích chuỗi giá trị thủy sản là phân tích cấu trúc phân bổ giữa các bên tham gia; so sánh khả năng cạnh tranh; quan hệ giữa các bên tham gia; quản trị thị trường
Như vậy, phân tích chuỗi GTTS là quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm thủy
sản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy được bức tranh về dòng chảy sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan hệ của các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích Từ đó có thể khám phá và xác định một cách đầy đủ những hạn chế và khó khăn cản trở đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh của các DN tham gia vào chuỗi
1.1.4 Một số khía cạnh phân tích chuỗi giá trị
Một số nhà nghiên cứu đã phân tích chuỗi giá trị nông sản thực phẩm theo các cách khác nhau và phân tích ở các khía cạnh các nhau Với các ưu nhược điểm của mỗi cách làm cơ sở lựa chọn nội dung phân tích chuỗi GTTS
a) Mô hình SCOR: là mô hình tiêu chuẩn về quá trình phân tích chuỗi giá trị được thiết kế để đáp ứng tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Supply-Chain Council, 2004) Ưu điểm của mô hình SCOR® phân tích được kết quả thực hiện
Trang 36của toàn bộ chuỗi; đề xuất cách tiếp cận cân đối bằng việc miêu tả kết quả thực hiện của chuỗi giá trị theo nhiều khía cạnh (về hiện vật, giá trị, thời gian, độ tin cậy, khả năng phản hồi, tính linh hoạt, chi phí, hiệu quả sử dụng tài sản) Nhược điểm của
mô hình: (i) Mới miêu tả theo quá trình tác nghiệp, mà chưa miêu tả đầy đủ các quá trình hoạt động kinh doanh khác, chẳng hạn như tiêu thụ và marketing, nghiên cứu
và phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng; (ii) Không đánh giá về đào tạo, chất lượng, công nghệ thông tin và quản trị điều hành
Dựa trên mô hình SCOR® (Stephens, 2000; Lai et al., 2002) xác định ba khía
cạnh đề cập tới kết quả thực hiện chuỗi giá trị trong hậu cần cung ứng ngành vận tải, đó là kết quả thực hiện dịch vụ vận chuyển, hiệu quả hoạt động sản xuất và kết quả dịch vụ gửi hàng Và Wang (2003) đã dựa trên mô hình mô hình SCOR®để quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu
b) Phiếu cho điểm cân đối (Balanced Scorecard): là cách đánh giá chuỗi giá
trị được Kaplan và Norton (1992) giới thiệu và phát triển Bằng việc phối hợp phân tích các khía cạnh về tài chính, khách hàng (ví dụ phân phối đúng thời gian, và tỷ lệ đáp ứng được các đơn hàng), quá trình kinh doanh (như quá trình sản xuất và phân phối phù hợp với kế hoạch), đổi mới và triển vọng công nghệ (ví dụ thời gian cho một chu kỳ phát triển sản phẩm mới) đã giúp cho nhà quản lý hiểu được mối quan
hệ qua lại và lựa chọn cách đánh giá kết quả thực hiện và từ đó thúc đẩy cải tiến quá trình ra quyết định Cũng giống như mô hình SCOR® đây là cách dùng cho phân tích theo quá trình tác nghiệp Ưu điểm của phương pháp này là đã đánh giá kết quả thực hiện cả tài chính và phi tài chính, để bảo đảm rằng quản lý đã đề cập tới các lĩnh vực chính trong hoạt động của chuỗi Nhược điểm của phương pháp này là rất tốn kém về thời gian và nhân lực để đánh giá được toàn bộ hoạt động của chuỗi
c) Tính toán theo chi phí hoạt động (ABC-Activity-Based Costing): Đây là
cách dựa trên phương pháp hạch toán chi phí chi tiết cho các hoạt động riêng lẻ hoặc định mức chi phí khi sử dụng nguồn lực (ví dụ, về thời gian và chi phí) cần thiết cho mỗi hoạt động Phương pháp này cho phép đánh giá đúng về năng suất và chi phí của chuỗi giá trị Tuy nhiên phân tích ABC không thay thế công việc hạch toán tài chính truyền thống (Lapide, 2000) Ưu điểm của phương pháp ABC phản ánh chủ yếu thông tin tài chính và xác định rõ sự thay đổi chi phí theo các hoạt động
Trang 37khi nó phát sinh và tăng lên Nhược điểm của phương pháp ABC cũng giống như thẻ cho điểm cân đối Phương pháp này ngay từ đầu không được phát triển để phân tích chuỗi giá trị nhưng sau đó được áp dụng cho phân tích chuỗi Hơn nữa, phương pháp ABC chủ yếu tập trung vào phân tích chi phí, nên việc thu thập dữ liệu có thể tốn kém công sức và thời gian Khi việc lập định mức chi phí thích hợp là rất khó khăn, thì đây cũng là một thách thức lớn khi phân tích chuỗi giá trị
d) Tính giá trị gia tăng (EVA - Economic Value-added): là cách phân tích
giá trị gia tăng của một tác nhân của chuỗi khi biết doanh thu và chi phí hoạt động
Ưu điểm của phương pháp EVA là xem xét đầy đủ chi phí và có thể đánh giá được từng phương án khác nhau Nhược điểm của EVA là khó khăn trong việc tính toán
và phân bổ giá trị gia tăng theo bộ phận trong một đơn vị sản xuất kinh doanh, không đánh giá đầy đủ về chuỗi giá trị
e) Phân tích đa chỉ tiêu (MCA-Multi-Criteria Analysis): là phân tích dựa trên
xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá của người ra quyết định Cách này được thiết kế để giúp đỡ người ra quyết định phải đối mặt những vấn đề phức tạp, đa mục tiêu bao gồm cả định tính và định lượng (Romero and Rehman, 2003), được tiến hành theo các bước: 1) Xác định phương án khả khi hoặc các kết quả dự kiến; 2) Xác định các tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện; 3) Xác định tầm quan trọng của từng tiêu chí Một ưu điểm lớn nhất của MCA đó là thúc đẩy có
sự tham gia trong quá trình ra quyết đinh Ưu điểm nữa là tạo điều kiện trao đổi lẫn nhau giữa những người tham gia như người phân tích và người ra quyết định
để hiểu rõ hơn bản chất vấn đề Và cách này thích hợp cho những vấn đề mà ở
đó khó lượng hóa bằng giá trị bằng tiền
f) Phân tích chu kỳ sống (LCA -Life-Cycle Analysis): Là phân tích chi tiết
việc sử dụng các yếu đầu vào và nguồn lực trong chuỗi với việc phân tích tác động của yếu tố môi trường ngoài chuỗi Ưu điểm của cách này cho phép thiết lập một cơ
sở dữ liệu thông tin tổng hợp về nguồn lực cho một sản phẩm hoặc một nhà sản xuất và xác định phạm vi vòng đời sản phẩm mà ở đó chịu tác động động bởi các
yếu tố môi trường (Azapagic and Clift, 1999; Carlsson et al., 2003; Hagelaar and
Vorst, 2002) Tuy nhiên LCA có hai nhược điểm: thứ nhất, đòi hỏi việc thu thập
Trang 38thông tin phức tạp; thứ hai, việc lựa chọn yếu tố phân tích dựa vào các yếu tố điều kiện bên trong và bên ngoài của chuỗi như cạnh tranh, luật pháp, sở thích người tiêu dùng (yếu tố bên ngoài) và ngân sách, kiến thức, công nghệ, hợp tác (yếu tố bên trong) Do vậy việc phân tích tổng hợp từ LCA khác nhau trên cùng một chuỗi sẽ đưa ra một cấu trúc chuỗi khác nhau Nhược điểm này được thể hiện khi Hagelaar and Vorst (2002) sử dụng phương pháp LCA để tạo dựng chuỗi giá trị môi trường
g) Phân tích gói dữ liệu (DEA -Data Envelopment Analysis): Là phân tích
hiệu quả của một doanh nghiệp (một chuỗi) liên quan đến hiệu quả của đối thủ cạnh tranh Khi phân tích hiệu quả của chuỗi giá trị, ngoài việc đề cập tới các sản phẩm trực tiếp được phân phối ra thị trường, còn đề cập tới vấn đề một tác nhân khi tạo ra sản phẩm nhưng đó lại là đầu vào của tác nhân khác ở giai đoạn tiếp theo Các sản phẩm trung gian này là đầu vào trung gian của các doanh nghiệp nằm trong giai đoạn liền kề Đóng góp của Zhu (2003) trong lĩnh vực này là bước đầu hướng tới việc đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị Phương pháp cho phép đề cập nhiều góc độ khác nhau, ví dụ kết quả kinh tế và kết quả môi trường Khó khăn đặt ra khi phân tích hiệu quả chuỗi giá trị khi sử dụng DEA đòi hỏi nguồn số liệu lớn, trong khi việc thu thập thông tin là một vấn đề phức tạp nhất trong điều kiện của một chuỗi giá trị Ưu điểm của DEA là sử dụng thông tin định lượng Mô hình DEA gắn với cách tiếp cận hệ thống, có nghĩa là miêu tả mối quan hệ đồng thời giữa các yếu tố
đầu vào và đầu ra DEA cung cấp thông tin chi tiết về chuỗi giá trị Talluri et al
(1999) nghiên cứu tầm quan trọng của quá trình lựa chọn một đối tác trong việc thiết kế một chuỗi giá trị hiệu quả Họ đã đưa ra một khung phân tích hai giai đoạn, giai đoạn đầu liên quan đến việc xác định các ứng cử viên hiệu quả cho mỗi quá trình kinh doanh (sản xuất, phân phối…) bằng việc sử dụng mô hình DEA và giai đoạn thứ hai kết hợp việc sử dụng mô hình qui hoạch mục tiêu tổng quát (integer goal-programming model) để lựa chọn việc phối hợp tốt các quá trình kinh doanh
có hiệu quả Talluri and Baker (2002) đề xuất một phương pháp qui hoạch toán đa bước (multiphase mathematical programming approach) cho việc thiết kế chuỗi cung ứng hiệu quả Họ xây dựng tổ hợp các mô hình hiệu quả đa chỉ tiêu dựa trên lý thuyết trò chơi và phương pháp qui hoạch tuyến tính tổng quát Mô hình này trước
Trang 39tiên phân tích đánh giá nhà cung cấp, người sản xuất và nhà phân phối về hiệu quả của họ trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm Bước hai bao gồm việc áp dụng mô hình quy hoạch tổng quát, xác định tối ưu ứng viên cho hệ thống chuỗi cung ứng bằng việc tổng hợp các điểm số hiệu quả ở bước thứ nhất, với cầu hàng hóa, yêu cầu năng lực và địa điểm là yếu tố ràng buộc của bài toán Bước thứ
ba xác định đường tối ưu cho tất cả các tác nhân trong hệ thống bằng việc sử dụng
mô hình vận chuyển tối thiểu hóa chi phí (minimum-cost transhipment model)
Như vậy, mỗi một cách tập trung đánh giá chuỗi ở một khía cạnh hoặc nội
dung phức tạp của chuỗi Dựa vào các quan điểm trên chúng tôi nhìn nhận và lựa chọn các nội dung để phân tích đánh giá chuỗi GTTS phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, thời gian, nguồn lực cho nghiên cứu và đặc thù của chuỗi GTTS
1.1.5 Nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản
Theo phân tích các quan điểm về chuỗi giá trị, chuỗi GTTS và phân tích chuỗi GTTS, nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản bao gồm phân tích đánh giá từng tác nhân tham gia và toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản từ nhiều khía cạnh, cụ thể:
- Các bên tham gia chuỗi giá trị thủy sản hay còn gọi là các nhà vận hành chuỗi giá trị thủy sản
Xác định ai là người tham gia vào chuỗi GTTS, mô tả ai thực hiện các hoạt động (chức năng) này ví dụ ai tham gia thực hiện hoạt động nuôi trồng: chuẩn bị ao nuôi, mua đầu vào: công cụ, giống…; chăm sóc; thu hoạch; vận chuyển; bán buôn; bán lẻ Tuy nhiên, một hoạt động có thể được thực hiện bởi nhiều thành viên tham gia chuỗi và một thành viên của chuỗi có thể thực hiện nhiều hoạt động
Trang 40- Xác định những dòng chảy trong một chuỗi giá trị thủy sản bao gồm dòng chảy về thông tin, tiền, tín dụng, sản phẩm
Trong mỗi chuỗi giá trị thủy sản có rất nhiều dòng chảy, có thể là hữu hình hoặc vô hình: các sản phẩm, hàng hóa, tiền, thông tin, dịch vụ… Mục tiêu của bất
kỳ một phân tích chuỗi giá trị nào cũng phải tìm ra có những dòng chảy nào
Dòng hữu hình như tiền, tín dụng thì xác định theo các giai đoạn mà một sản phẩm thủy sản trải qua từ lúc nguyên liệu thô đến khi thành thành phẩm Dòng vô hình như thông tin thường hai chiều Và năng lực của các khâu trong chuỗi cung ứng là có hạn Do vậy họ cần có được thông tin tốt về thị trường và nhu cầu sản phẩm để có những phản ứng và giải pháp kịp thời Nếu bộ phận xuất khẩu có thể cung cấp những thông tin chính xác về nhu cầu thị trường, bộ phận chế biến sẽ có thời gian chuẩn bị năng lực để sản xuất và bộ phận cung cấp nguyên liệu sẽ có thời gian để chuẩn bị nguồn nguyên liệu tốt hơn Nếu thông tin không tốt có thể xảy ra hai tình huống tại bộ phận cung cấp nguyên liệu: khi nhu cầu nguyên liệu tăng cao khâu đánh bắt không thể đáp ứng được; ngược lại, khi nhu cầu giảm nhưng đánh bắt quá nhiều sẽ làm cho giá nguyên liệu sụt giảm gây thiệt hại cho khâu cung cấp nguyên liệu Cả hai tình huống đều dẫn đến thiệt hại Thông tin tốt sẽ giúp các mắt xích trong chuỗi phối hợp đồng bộ hơn, và từ đó giảm được rất nhiều lượng dự trữ/ tồn kho không mong muốn trong chuỗi Đối với chuỗi giá trị các sản phẩm thủy sản, điều này càng quan trọng hơn vì các sản phẩm này không thể dự trữ được lâu
1.1.5.2 Phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân dọc theo chuỗi
- Các hoạt động được thực hiện trong toàn chuỗi giá trị thủy sản
Xem xét các hoạt động trong chuỗi, hoạt động nào được thực hiện ví dụ như hoạt động nuôi trồng bao gồm chuẩn bị ao nuôi, mua đầu vào, chăm sóc, thu hoạch, lưu kho Mỗi hoạt động sẽ tạo ra chi phí, hiểu được chi phí của mỗi hoạt động và tỷ trọng trong tổng chi phí có thể giúp cải thiện hiệu suất Điều này đòi hỏi phải có những hiểu biết chi tiết về quá trình thực hiện của chuỗi
Các hoạt động được các tác nhân thực hiện, để biết được hoạt động thực hiện
có hiệu quả cần phân tích đánh giá kết quả hoạt động của từng tác nhân tham gia bao gồm phân tích đánh giá các vấn đề về chi phí bỏ ra, giá trị sản xuất kinh doanh,