1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ văn

33 894 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 761 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua từng tiết dạy vẫn còn nhiều em chưa hàohứng, đặc biệt qua các bài kiểm tra, bài thi có thể nhận thấy nhiều học sinh học theo kiểuđối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, không

Trang 1

Phần A: MỞ ĐẦU *************************

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết

Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học vàcông nghệ Do đó không quá khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến ngoạingữ, tin học và các môn khoa học tự nhiên như một sự bảo đảm cho tương lai Điều đó

đã dẫn đến một thực trạng đáng buồn là một bộ phận học sinh coi nhẹ môn Ngữ văn vàmột số môn xã hội nhân văn nói chung, dẫn đến thiếu đầu tư, yếu kém về năng lực cảmthụ Từ năm học 2006-2007, tôi được nhà trường phân công dạy môn Ngữ văn khối lớp

9 Trong những năm học này, mặc dù tôi đã rất cố gắng trong công tác giảng dạy, tìmnhiều biện pháp để đưa chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao, song hiệu quảmang lại vẫn chưa đạt như mong muốn Qua từng tiết dạy vẫn còn nhiều em chưa hàohứng, đặc biệt qua các bài kiểm tra, bài thi có thể nhận thấy nhiều học sinh học theo kiểuđối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, không chú ý đến khả năng diễn đạt, dùngcâu, từ thiếu sự sáng tạo…Kết quả điểm môn ngữ văn những lớp tôi được phân công đạtkhông cao.Cuối năm học chỉ đạt 75% trung bình trở lên, còn 25% nữa là yếu kém Trongkhi đó chỉ tiêu nhà trường bàn giao từ đầu năm là phải đạt 85% trở lên

2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới

Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã quyết tâm tìm ra những nguyên nhân dẫn đếntình trạng học yếu môn Ngữ văn của học sinh, để có những giải pháp phù hợp nâng caochất lượng bộ môn Sau đây là 5 nhóm giải pháp tôi đã áp dụng kể từ năm học 2009-2010:

- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh không chịu tiếp xúc tác phẩm và đọcsai

- Giải pháp khắc phục tình trạng học vẹt, không có khả năng vận dụng kiếnthức

Trang 2

- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh chưa xem trọng văn hóa đọc

- Giải pháp khắc phục tình trạng học sinh thiếu năng lực cảm thụ

Có thể nói đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã chắc lọc, chiêm nghiệm,

là tâm huyết của những ngày tháng đứng trên bục giảng, vì vậy nó có ý nghĩa vô cùnglớn và bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực Trong từng tiết dạy học sinh học hứngthú hơn, kết quả bài làm cũng cao hơn Tôi vô cùng phấn khởi và muốn đem những kinhnghiệm của bản thân nhân ra diện rộng cho bạn bè đồng nghiệp cùng tham khảo Đó

chính là lí do mà tôi lựa chọn và viết đề tài “Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Ngữ văn”.

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với đề tài này, tôi đã áp dụng thực nghiệm trên các lớp 9 mà tôi đã được phâncông giảng dạy tại trường THCS Thị trấn Phù Mỹ trong hai năm học 2009-2010 và2010- 2011 Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là triển khai các giải pháp thiên vềđổi mới phương pháp dạy học trên đối tượng học sinh Nhưng không chỉ đơn thuần lànhững giải pháp mang tính lí luận mà là những giải pháp bắt nguồn từ thực tiễn giảngdạy, được soi chiếu bởi những tư tưởng tiến bộ và sự thôi thúc giải quyết những vấn đềnội tại của thực tiễn

II Phương pháp tiến hành:

1 Cơ sở lí luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài:

*Cơ sở lí luận

M Go - rơ - ki từng nói“Văn học là nhân học”, văn học có vai trò quan trọng

trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.Văn học là nghệ thuật củacuộc sống, là quà tặng tinh thần của con người, có khả năng khơi nguồn sáng tạo mãnhliệt cho con người và tiếp tục làm phong phú cho tâm hồn bao thế hệ Ngữ văn là mônhọc chính yếu trong nhà trường phổ thông nhằm trau dồi kiến thức cũng như rèn luyện

kĩ năng nói, viết cho học sinh Ngoài ra, môn Ngữ văn còn góp phần hình thành nhâncách đạo đức và nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc trong mỗi học sinh Nó cung cấpnhững kiến thức về văn học, tiếng Việt, tập làm văn Rèn luyện năng lực tư duy cho học

Trang 3

sinh theo hướng rèn luyện nhận thức, lí giải và tự đề ra được những quyết định, nhằmgiải quyết có hiệu quả các tình huống có vấn đề trong học tập và đời sống Giúp các emhọc tập tốt các bộ môn khác, tiếp thu kiến thức ở các lĩnh vực đời sống khác để học sinhtrở thành những người có năng lực thực hành.

* Cơ sở thực tiễn

- Về phía học sinh: Thực tế hiện nay số lượng học sinh học yếu môn Ngữ vănkhông phải là nhỏ Cụ thể: khả năng nói, nghe, đọc, viết nhiều em còn chưa thật thànhthạo, khả năng diễn đạt rất yếu, viết câu không đúng ngữ pháp, chưa biết cách dùng từ,dựng đoạn, đặc biệt là tạo lập văn bản

- Về phía giáo viên: Vấn đề này được các nhà trường và các tổ chuyên môn đặc

biệt quan tâm tìm mọi biện pháp để tháo gỡ những khó khăn về phương pháp giảng dạytheo hướng đổi mới để giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp

Xuất phát từ thực tế chung trong quá trình giảng dạy của thực trạng học sinh họcyếu môn ngữ văn nói chung, ở trường Trung học cơ sở nói riêng, với 9 năm trực tiếpđứng lớp giảng dạy, tôi xin mạnh dạn trao đổi cùng bạn bè đồng nghiệp một số kinhnghiệm, giải pháp của bản thân đã áp dụng với mong muốn góp phần khắc phục tìnhtrạng học sinh học yếu môn văn trong trường phổ thông để từng bước nâng cao chấtlượng của việc dạy và học bộ môn ngữ văn trong tình hình hiện nay

2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp :

Khi đi vào nghiên cứu vấn đề này, mỗi người có một hướng tiếp cận riêng Trong khuôn khổ phạm vi đề tài này tôi đã sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:

1 Phương pháp thực hiện bài tetx:

- Tôi tiến hành lập ra các phiếu trắc nghiệm với những thông tin cần thiết, phát cho học sinh để các em tự ghi

- Sau đó dựa vào những thông tin các em trao đổi trên phiếu, tôi phân loại

nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh học yếu kém môn Ngữ văn

2 Phương pháp tìm kiếm giải pháp:

- Tìm đọc những tài liệu liên quan đến tâm sinh lí học sinh THCS, kĩ năng

Trang 4

- Lựa chọn giải pháp áp dụng cho từng đối tượng để khắc phục triệt để những yếu kém của học sinh.

* Thời gian nghiên cứu:

- Hè năm học 2008-2009: tìm kiếm thông tin, xác định nguyên nhân, xây dựng

giải pháp

- Đầu năm học 2009 -2010 áp dụng giải pháp trên một số lớp thực nghiệm

- Từ năm học 2010-2011 áp dụng trên toàn khối 9

- Tháng 9/2011 đăng ký đề tài; tháng 12/2011 xây dựng đề cương; tháng 2/2012 viết thô sáng kiến; tháng 4/1012 hoàn thiện công trình

cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức bị hỏng, có thói quen độc lập suy nghĩ, ýthức tự giác trong việc học tập của bản thân, khắc phục những hạn chế còn tồn tại để

Trang 5

vươn lên trong học tập, biết viết văn, làm văn, cảm nhận văn học và hướng đến nhữnggiá trị chân - thiện - mỹ do văn chương mang lại.

II Mô tả giải pháp của đề tài:

1 Thuyết minh tính mới:

Như chúng ta đã biết, muốn giải quyết triệt để một vấn đề gì cũng cần tìm ranguyên nhân của nó Và việc muốn khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Ngữ văncũng không là một ngoại lệ Chính vì vậy, khi có ý định làm đề tài này việc đầu tiên tôiphải đi tìm là nguyên nhân vì sao có nhiều học sinh học yếu môn Ngữ văn Sau đây làmột số nguyên nhân cơ bản mà tôi đã tổng hợp được:

- Đối với học sinh yếu kém hầu như các em không chịu đọc tác phẩm, không

tiếp cận tác phẩm,.không soạn bài hoặc chép đối phó trước khi đến lớp, có em đọc chưađúng với yêu cầu: phát âm sai, đọc không đúng với ngữ điệu, đọc thêm hoặc bớt từ

- Phần lớn các em học yếu là do các em thiếu năng lực cảm thụ, không hề có

sự rung động trước các hình tượng văn học, trước cái hay, cái đẹp của văn chương

- Do một bộ phận không nhỏ học sinh lười suy nghĩ, học vẹt, không có khả

năng vận dụng kiến thức, không rèn từ, rèn câu, rèn viết mà chỉ học thuộc lòng văn mẫu,bài mẫu và sao chép một cách rập khuôn máy móc theo một bài mẫu hoặc dàn ý có sẵn.Khả năng viết bài, tạo lập văn bản giống như việc làm bài của các môn khoa học lịch sử,địa lí

- Kiến thức xã hội và đời sống thực tế, khả năng cảm nhận cuộc sống thực

tiễn của học sinh còn nghèo nàn, chủ yếu các em tranh thủ những lúc rảnh rổi để chơigame hoặc xem tivi Điều đó đã tác động không nhỏ đến thực trạng tâm lí học tập vàcảm thụ văn học của học sinh, khiến các em không có hứng thú học môn này

- Một bộ phận học sinh ham chơi, lười biếng, chưa ham thích học tập Trong

giờ học, các em còn thụ động,chưa mạnh dạn trao đổi, hỏi han do chưa hiểu sâu, chưanắm được kiến thức, thiếu tự tin, thiếu sự tư duy trước những câu hỏi, những vấn đề màgiáo viên đặt ra mà chủ yếu trông chờ vào bài giảng của thầy cô

- Một thực trạng cũng khá phổ biến hiện nay là văn hóa đọc đang bị lấn sân

Trang 6

quen đọc sách, đọc tài liệu tham khảo hoặc đọc không đúng hướng Theo một điều tragần đây cho thấy lớp trẻ mất dần thói quen đọc sách, 70% thanh thiếu niên thích nghenhạc, xem phim hơn là đọc sách Số thanh thiếu niên yêu sách chiếm khoảng 57% nhưngtrong số đó chủ yếu là thích đọc truyện tranh Đặc biệt đối với bộ môn ngữ văn thì việctìm tòi tài liệu, đọc sách tham khảo là rất cần thiết Điều đó cũng làm ảnh hưởng tớiviệc cảm thụ văn học của các em.

- Do tâm lí chung của một bộ phận học sinh và phụ huynh bị ảnh hưởng bởi xu

thế phát triển của nền kinh tế hiện đại nên chỉ hướng con cái của mình vào việc học một

số môn khoa học tự nhiên, ngoại ngữ , tin học để có lợi cho công việc, cho việc chọnnghề sau này mà ít hoặc không chú trọng đến môn Ngữ văn Theo số liệu thống chungcho thấy có đến 63% học sinh không thích học môn văn

Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu lớn nhất tồn tại trong những học sinh yếu kém.Với mong muốn từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ văn cần phải có những giải pháp mới thiết thực và hiệu quả để giải quyết vấn đề này

Trước những thực trạng và nguyên nhân trên, qua nhiều năm giảng dạy ở khốilớp 9, tôi thật sự trăn trở, lo lắng về chất lượng của bộ môn – đặc biệt là chất lượng thituyển sinh vào lớp 10 hệ A công lập Vì vậy, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm khắcphục và nâng cao chất lượng học văn của học sinh Tính mới của đề tài được thể hiệnqua từng thực trạng:

* Đối với thực trạng học sinh không chịu tiếp xúc tác phẩm và đọc sai:

- Sau mỗi giờ học, trong phần: “Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp theo” đối với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên thường bỏ qua khâu này khi

thời gian tiết học đã hết, hoặc làm nhưng chỉ nói sơ qua Nhưng theo tôi, đây là một khâuquan trọng trong tiến trình của một tiết dạy Giáo viên nên dành một khoảng thời giancần thiết để yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới của tiết học tiếp theo đó bằng cách: tómtắt ngắn gọn tác phẩm, nội dung cốt truyện hoặc phát hiện những hình ảnh đẹp trong thơvăn cho các em nắm bắt để tạo được sự chú ý Từ đó các em có thể về nhà tự giác đọctác phẩm Mặt khác, giáo viên cần phải hướng cho các em đọc cái gì? Đọc như thế nào?

Trang 7

Cần chú ý điều gì trong tác phẩm đó? Có như vậy các em mới phần nào cảm nhận nộidung, nghệ thuật tác phẩm một cách dễ dàng hơn.

- Đối với thực trạng đọc sai, giáo viên cần đọc mẫu, uốn nắn cách đọc cho học

sinh Hướng dẫn các em phát âm chuẩn, chính xác; sử dụng từ ngữ toàn dân, đọc chậmrãi và đúng ngữ điệu Đối với thực trạng này, muốn khắc phục được thì vai trò của ngườigiáo viên là vô cùng quan trọng Bởi tác phẩm văn học không phải là những con chữ hồnnhiên trên trang giấy mà muốn cảm nhận được chúng ta phải tiếp cận tác phẩm Giáo sư

Lê Trí Viễn đã từng nói “Nói nhập thân vào nhân vật, chẳng qua cũng là nói một khía

cạnh của việc bản thân mình phải sống trong bài thơ mà thôi, sống như nhà thơ đã sống

để dựng dậy các cảm xúc đang ngủ yên trong chữ nghĩa”.Và để thực hiện được

việc“dựng dậy các cảm xúc đang ngủ yên trong chữ nghĩa” thì phải đọc Trước hết giáo

viên phải đọc đúng và đọc hay, phải có giọng đọc truyền cảm Bởi phương pháp đọctrong dạy học ngữ văn là vô cùng quan trọng, nó như một khúc nhạc dạo đầu để dẫn dắthọc sinh đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng, phù hợp với quy luật cảm thụvăn học, để đưa các em tiếp cận với tác phẩm và bước đầu giúp các em cảm nhận cáihay, cái đẹp của tác phẩm Đọc văn chính là đọc cho sáng tỏ từng ý nghĩa, tình cảm, thái

độ, tâm trạng mà nhà văn định gửi gắm cho người nghe, người đọc Tùy theo yêu cầu,giáo viên có thể cho các em đọc một đoạn, đọc cả bài, đọc để minh chứng cho lời giảng,đọc ở đầu giờ hoặc cuối giờ Người giáo viên đọc hay sẽ tác động lớn đối với các em,kích thích được trí tưởng tượng, tái hiện hình ảnh hay duy trì cảm xúc Hơn nữa đểkhắc phục thực trạng này giáo viên cần phải có thời gian và lòng kiên nhẫn Khi các emđọc sai phải tận tình uốn nắn, tuyệt đối không la mắng các em sẽ sợ sệt và giáo viên cũngmất hứng thú trong giờ giảng văn

Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh đọc đoạn văn sau đây giáo viên cần hướng dẫn:Đoạn văn:

“Chúng nó đánh cháu vì cháu cháu không có bố không có bố

- Sao thế - bác ta mỉm cười bảo- ai mà chẳng có bố

- Em bé nói tiếp một cách khó khăn, giữa những tiếng nấc buồn tủi:

Trang 8

- Bác công nhân bỗng nghiêm lại; bác nhận ra thằng bé con nhà chị Blăng- sốt,

và tuy mới đến vùng này, bác cũng đã mong manh biết chuyện của chị

- Thôi nào- bác nói - đừng buồn nữa , cháu ơi, và về nhà mẹ cháu với bác đi Người ta sẽ cho cháu một ông bố”

( Trích “ Bố của Xi- mông “– G Đơ Mô-pa-xăng)

Khi đọc đoạn văn này các em phải thể hiện được trước hết giọng đọc phải rõràng, mạch lạc Ngoài ra còn phải thể hiện được diễn biến tâm trạng đau đớn, buồntủi,chán chường,tuyệt vọng của Xi – mông vì biết mình sinh ra trên cõi đời mà không có

bố Tâm trạng ấy được thể hiện qua những tiếng nấc không nói nên lời “Cháu ”, lời nói

bị ngập ngừng đứt quãng thể hiện qua những dấu chấm lửng ( ) hoặc sự lặp đi lặp của

điệp khúc “không có bố” Thể hiện được sự ôn tồn, tấm lòng vị tha đầy yêu thương của bác Phi- líp qua câu nói động viên Xi- mông “ Thôi nào- bác nói - đừng buồn nữa ,

cháu ơi, và về nhà mẹ cháu với bác đi Người ta sẽ cho cháu một ông bố” Đối với

những học sinh yếu, giáo viên cần tăng cường rèn cho các em đọc, luyện cho các em đọcnhững đoạn phân vai và hướng dẫn, uốn nắn cho các em nhiều hơn

Ngoài ra, khi áp dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên có thể cho các emnghe giọng đọc mẫu từ các sản phẩm băng đĩa của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc đọcminh họa những tác phẩm truyện, thơ để tạo được sự hứng thú cho các em

* Đối với thực trạng học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức

- Giáo viên rèn luyện, uốn nắn giúp các em khắc phục những hạn chế của bản

thân từng em Tăng cường rèn luyện cho các em cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt và dầndần đưa mức độ yêu cầu lên cao hơn Mức độ bài tập từ dễ, khả năng nhận biết rồi sau đónâng dần lên khả năng thông hiểu, vận dụng

Ví dụ sau khi dạy xong kiến thức lí thuyết về Liên kết câu và liên kết đoạn văn,

giáo viên có thể cho một đoạn văn ngắn và dễ yêu cầu các em phân tích các biểu hiệnliên kết Giáo viên hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng biểu hiện, chẳng hạn đâu là liên kết nộidung, đâu là liên kết hình thức Sau đó yêu cầu học sinh làm bài tập Hoàn thành bàitập này, đấy là cơ sở để giáo viên đưa ra bài tập cao hơn ( bài tập vận dụng) bằng cách:

“Em hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu , có nội dung tự chọn, trong đó có thể

Trang 9

hiện sự liên kết câu” Từ đó giáo viên tiếp tục hướng dẫn các em viết đúng câu, đúng

ngữ pháp, đúng bố cục của một đoạn văn và cứ thế rèn luyện dần dần

- Phân tích cho các em hiểu rằng cùng một câu thơ, một hình ảnh thơ có thể cảmnhận bằng nhiều cách khác nhau tùy theo cảm xúc và khả năng cảm nhận của từng em

Chẳng hạn như hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ “Đồng chí” của Chính

Hữu có thể cảm nhận bằng nhiều cách miễn sao đúng được nội dung và tinh thần củavăn bản:

Cách 1: Đây là một hình ảnh vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa

biểu tượng Nghĩa tả thực: những người lính ôm súng chiến đấu nơi rừng sâu, đêm khuya

vầng trăng xuống treo lơ lửng nơi đầu súng Nghĩa biểu tượng: Súng tượng trưng cho chiến tranh khốc liệt, trăng tượng trưng cho hòa bình Khi ôm súng chiến đấu, người lính

mơ về hòa bình

Cách 2: Đầu súng trăng treo là một hình ảnh vừa thực, vừa mơ, vừa xa lại vừa

gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình, vừa chiến sĩ, vừa thi sĩ Đây làhình ảnh đẹp, tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ Mối tình đồng chívươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây cảm xúc bấtngờ, thú vị cho người đọc Hình ảnh ấy đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích

lí tưởng chiến đấu và mối tình đồng chí thiêng liêng của những người lính

Cách 3: .Về khuya trăng tà, trăng lơ lửng trên không như đang treo vào đầu

súng Vầng trăng là biểu tượng của đất nước đẹp, thanh bình Súng mang ý nghĩa của

cuộc chiến đấu gian khổ hi sinh Đầu súng trăng treo là một hình ảnh thơ mộng, nói lên

trong chiến đấu gian khổ hi sinh, anh bộ đội vẫn yêu đời, tình đồng chí thêm keo sơn gắn

bó, họ cùng mơ ước một ngày mai đất nước thanh bình

- Cần dành thời gian cho việc chữa lỗi dùng từ, lỗi diễn đạt một cách cụ thể và

tỉ mỉ.Giáo viên chỉ cho các em chỗ viết sai, viết chưa hay và cách sửa lại cho hay và chođúng Công việc này được tiến hành nhiều nhất là trong các tiết trả bài kiểm tra

- Việc ra đề kiểm tra, đề thi phải phù hợp với yêu cầu và chuẩn kiến thức, chú ýkết hợp những dạng đề thông thường và đề mở để tránh lối học vẹt, học thuộc lòng Đặc

Trang 10

biệt việc ra đề kiểm tra theo hướng đề mở là một điểm mới, điểm quan trọng trong giaiđoạn hiện nay đối với bộ môn ngữ văn.

Ví dụ: Trong sách Ngữ văn 9, ở kiểu bài nghị luận xã hội, các em lại được tiếp

xúc với các đề mở như: Đạo lí :Uống nước nhớ nguồn; Đức tính khiêm nhường; Có chí

thì nên; Đức tính trung thực; Tinh thần tự học; Hút thuốc có hại; Lòng biết ơn thầy, cô giáo

Thời gian qua, dạng đề “mở” đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiết kiểmtra môn Ngữ văn ở các cấp học, nhất là bậc THCS và THPT Đặc biệt, đề thi “mở” đã

“góp mặt” trong những kỳ thi quan trọng như: Thi tuyển vào lớp 10, Thi tốt nghiệpTHPT Bên cạnh việc phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, một

ưu điểm khác cần được nói đến của dạng đề “mở” là có thể phân hoá được học lực củahọc sinh Cùng với các dạng đề nghị luận văn học, những đề văn nghị luận xã hội theohướng “mở” sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình đối vớinhững vấn đề khác nhau của xã hội Từ đó, góp phần hình thành kỹ năng sống, kỹ năngứng xử phù hợp đối với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống thường nhật Cũng là cách

để “kéo” văn chương về gần hơn với cuộc sống Điều cần lưu ý là, đáp án đối với dạng

đề “mở” cũng cần được soạn theo hướng “mở” Nghĩa là, không nên ràng buộc ngườiviết vào một số ý nào có sẵn, cho trước mà chỉ cần định hướng về cách giải quyết Chấtlượng của bài viết cũng không nên quá câu nệ vào dung lượng ngắn, dài Điều quan trọng

là học sinh phải xác định đúng trọng tâm vấn đề cần trình bày và thể hiện nó một cách rõràng, minh bạch, logic, có chủ kiến, có sức thuyết phục Giáo viên khi chấm thi cũngphải thật sự “vững tay” để không bỏ qua những suy nghĩ độc đáo, sáng tạo của học sinh(có thể không có trong đáp án) thể hiện trong bài viết

* Đối với thực trạng học sinh thụ động trong giờ học:

- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này nhưng bản chất là do các em thiếu

tư duy suy nghĩ trong giờ học, lười học, thờ ơ trước những câu hỏi, những vấn đề đặt racủa thầy cô, không chịu khó Để khắc phục tình trạng này giáo viên cần vận dụngphương pháp kể chuyện, có thể kể những câu chuyện liên quan đến nội dung bài học,phần đang học để tạo sự lôi cuốn cho các em đối với bài học Ví dụ khi dạy văn bản

Trang 11

“Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của G Mác- két, giáo viên có thể kể những câu

chuyện về chiến tranh và hậu quả của chiến tranh cho các em nghe để tạo sự lôi cuốn hơn

cho các em vào nội dung bài học Hoặc khi dạy “Các phương châm hội thoại” cứ mỗi

phương châm , giáo viên lại minh họa bằng một câu chuyện

Ví dụ: Dạy phương châm về lượng lại kể chuyện “Giấu đầu hở đuôi” Câu

chuyện như sau : “Một ông nọ sai người hầu đi mua thịt chó nhưng dặn không được nói

cho ai biết Người hầu xăm xăm đi mua Gần về đến nhà thì gặp khách Khách thấy anh

ta cầm cái gói, mới hỏi:

- Chú cầm gói gì trong tay đấy?

Người hầu nhớ lời chủ dặn, không dám nói thật nhưng lại giơ cao cái gói và đố:

- Ông đoán đi Ông mà đoán đúng thì tôi xin biếu ông cả gói thịt chó này!” ( Theo Tuyển tập văn học dân gian Việt

Nam)

Qua câu chuyện trên, giáo viên giúp các em vừa cảm thấy vui, hài hước vừanhận biết được chuyện có tuân thủ phương châm hội thoại hay không.Và khi nhớ đếncâu chuyện, các em sẽ nhớ đến nội dung bài học

Vận dụng phương pháp kể chuyện vào bài giảng không phải là việc làm mớinhưng nó cũng đem lại những hiệu quả nhất định trong tiết dạy

- Ngoài ra giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, các kĩ thuậtdạy học mới trong các tiết dạy của mình một cách phù hợp để làm tăng hiệu quả giảngdạy.Trong các tiết dạy của mình, tôi luôn cố gắng cụ thể nội dung của tiết học bằng sơ đồ

để học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu Bởi các em nhìn vào

sơ đồ sẽ dễ nắm ý, dễ nhớ và mau thuộc bài hơn so với cách ghi bình thường Ví dụ khi

dạy “ Sự phát triển của từ vựng” giáo viên có thể cung cấp sơ đồ sau:

Trang 12

Giáo viên có thể cụ thể nội dung bài học bằng sơ đồ không chỉ phần tiếng Việt mà cả

phần dạy văn bản, phần dạy phương pháp tập làm văn

Hoặc khi phân tích tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong văn bản ”Làng” của Kim Lân cũng có thể cụ thể bằng sơ đồ: (Ghi chú : đây chỉ là một ví dụ có tính chất tượng trưng)

Tình yêu làng , yêu nước của ông Hai Trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc Khi nghe được tin cải chính Sự phát triển của từ vựng Phát triển nghĩa Phát triển số lượng Phương thức ẩn dụ Phương thức ẩn dụ Tạo từ ngữ mới Mượn từ Phương thức ghép Phương thức láy Gốc Hán Gốc Châu Âu

Trang 13

- Đặc biệt trong năm học 2011-2012, việc dạy học và hệ thống kiến thức bằng

sơ đồ tư duy được ứng dụng rộng rãi đã mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảng

dạy Dạy học theo phương pháp này nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của người học,giúp các em dễ nhớ, dễ nhìn, dễ thuộc,dễ ghi Rèn luyện xác định chủ đề và phát triển ýchính, ý phụ một cách lôgic thông qua hệ thống hình ảnh, màu sắc, các cụm từ diễnđạt Giúp các em sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn, nhìn thấy bức tranhtổng thể và phát triển nhận thức tư duy của các em

Ví dụ khi dạy xong tiết 117- văn bản : Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

có thể vẽ sơ đồ tư duy như sau:

Hoặc sau khi dạy xong một đơn vị kiến thức nào đó trong bài học, từng phần của bàihọc cũng có thể vẽ sơ đồ tư duy:

Ví dụ khi dạy tiết 118- văn bản: Viếng lăng Bác của Viễn Phương, xong khổ thơ

thứ nhất có thể vẽ:

Trang 14

Ví dụ như khi dạy xong tiết 120 tập làm văn 9 bài : Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, có thể cho học cụ thể hóa nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy:

- Hướng dẫn phương pháp học trên lớp: học sinh phải biết phối hợp nhịp nhàngcác kĩ năng cùng một lúc: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, tham gia xây dựng bài; kết hợp

Trang 15

nghe giảng với quan sát sách giáo khoa Đối với phân môn tiếng Việt, yêu cầu phải nắmđược khái niệm và những kiến thức trọng tâm để vận dụng làm bài tập Đối với phần vănbản: Thơ phải học thuộc lòng; truyện phải tóm tắt được cốt truyện Ngoài ra phải nắmđược những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm, nội dung chính và đặc sắc nghệ thuật Đốivới phân môn tập làm văn phải nắm được phương pháp cơ bản nhất của từng kiểu bài vàcách làm kiểu bài đó.

- Hướng dẫn cách viết bài tập làm văn phải rõ ràng bố cục ba phần, đoạn văn cânđối mạch lạc, viết đúng ngữ pháp và chuẩn chính tả Để viết được một bài tập làm văntương đối đảm bảo về nội dung và hình thức cần phải:

Ví dụ: Muốn làm được một bài văn nghị luận văn học (nghị luận về một bài thơ)chẳng hạn, thì trước hết về cơ bản các em phải nắm được những kiến thức về tác giả,hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, nội dung của bài thơ, những nét đặc sắc nghệ thuật Đểnắm được kiến thức phải thông qua việc tìm hiểu nội dung phần đọc hiểu trong nhữnggiờ giảng văn Vì vậy tất cả các kĩ năng học và làm văn phải liên quan mật thiết với nhau.Nắm được những yêu cầu ấy mới chỉ là bước đầu Sau đó mới tiến hành xây dựng dàn ý.Giáo viên cần rèn cho học sinh lập được dàn ý cơ bản và kĩ năng này phải được tiến hànhthường xuyên, liên tục trong những giờ làm văn

Ví dụ khi cho đề bài: “Những cảm nhận của em về bài thơ “Ánh trăng” của

Nguyễn Duy” thì điều đầu tiên học sinh phải nắm được là những luận điểm chính cần

thể hiện trong bài văn là gì? Đó là:

+Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ

+ Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại

+ Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng

Từ những luận điểm chính ấy, các em phải tạo lập thành những đoạn văn tương ứng vớinội dung luận điểm dựa vào mạch cảm xúc của bài thơ và các hình ảnh thơ, các câuthơ

- Việc viết mở bài và kết bài cũng rất quan trọng, đôi khi chúng ta nghĩ rằng đấy làđiều đơn giản, các em sẽ làm được Nhưng đối với những học sinh học yếu, giáo viên

Trang 16

bản nhất về tác giả, hoàn cảnh sáng tác và nội dung tác phẩm Chú ý rèn các em viếtđúng và tạo thành thói quen để hình thành được những bước khởi đầu tốt đẹp tiếp theo.

- Ví dụ mở bài trực tiếp: Nguyễn Duy là một nhà thơ trưởng thành trong kháng

chiến chống Mĩ “Ánh trăng” là một trong những bài thơ hay của ông, viết vào 1978 tại

thành phố Hồ Chí Minh Bài thơ như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ tâm tình với chínhmình, với mọi người về lẽ sống chung thủy, nghĩa tình

Còn đối với kết bài, có thể hướng dẫn một phương pháp chung đó là : Khẳng địnhlại nội dung và liên hệ, suy ngẫm

- Ví dụ kết bài nên yêu cầu viết ngắn gọn : Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật

mình” của Nguyễn Duy về sự vô tình trước thiên nhiên, với những kỉ niệm nghĩa tình củamột thời đã qua Nó gợi trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cáchlàm người và sự ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ

Sau nhiều lần rèn các em viết đúng, giáo viên có kế hoạch nhận xét sửa chữa vàđộng viên kịp thời thì các em sẽ tiến bộ hơn

Mặt khác, giáo viên cần nhấn mạnh : để viết một bài văn tốt em cần chú ý cácđiểm sau:

Nắm chắc phương pháp để viết bài văn theo trình tự nào Bên cạnh đó, em cần suynghĩ tìm tòi, huy động những kiến thức đã học liên quan đến nội dung đề bài yêu cầu.Hơn thế nữa, sự suy nghĩ, sáng tạo của cá nhân là rất quan trọng Không nên lệ thuộc bàivăn mẫu một cách rập khuôn máy móc Bởi vì quá trình tiếp nhận văn học là em tiếpnhận những tri thức, cái hay, cái đẹp của tác phẩm Cho nên khi các em diễn đạt thìngoài yếu tố câu cú, ngữ pháp, lời văn phải trong sáng còn yêu cầu là thể hiện tình cảmcủa người viết Bởi giáo viên luôn trân trọng và đánh giá cao vai trò sáng tạo trong tiếpnhận của học sinh Vì vậy yêu cầu các em mạnh dạn nêu những suy nghĩ, ý kiến, nhữngcảm nhận của cá nhân mình, có thể những ý kiến đó chưa hay, chưa đúng nhưng sẽ đượcthầy cô giáo dạy văn định hướng và từ đó các em lại tiếp tục bày tỏ ý kiến cá nhân trên

cơ sở định hướng thẩm mỹ của thầy cô Hướng dẫn các em nên dựa trên những địnhhướng về nội dung, về kiểu bài, để có những sáng tạo nho nhỏ của chính mình, và mình

Ngày đăng: 02/12/2014, 21:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy được ứng dụng rộng rãi đã mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảng - skkn một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn ngữ văn
Sơ đồ t ư duy được ứng dụng rộng rãi đã mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảng (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w