KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỂ LỰC HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS: Ở Việt Nam từ những năm 1991, với chương trình học thể dục 2tiết/tuần, áp dụng cho tất cả các học sinh phổ thông
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nhằmtiến tới “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích
và tạo điều kiện để phát triển mọi mặt trong đời sống xã hội
Trong đó việc tập luyện thể dục thể thao là một trong những vấn đềkhông kém phần quan trọng trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giaiđoạn hiện nay Cho nên ngành thể dục thể thao nói chung và thể dục thể chấtnói riêng luôn luôn tiếp thu, bổ sung, đổi mới và ngày càng hồn thiện để cóthể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Hồn thiện về thể chất để có thểphát triển một cách tồn diện, nhịp nhàng, hài hòa kể cả về hình thái và chứcnăng thể lực Vì thể lực cường tráng mới có khả năng thích ứng tốt nhất vớiđiều kiện sản xuất, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc Nhà nước ta luôn quan tâmđến sức khỏe của nhân dân, ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công,Bác Hồ đã ra lời kêu gọi tồn dân tập thể dục ngày 27/03/1946 “Giữ gìn dânchủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần đến sức khỏe mớithành công Mỗi một người dân yếu ớt tức là cho cả nước yếu ớt một phần;Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là góp phần làm cho đất nước mạnh khỏe.Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một ngườidân yêu nước”
Giáo dục thể chất là một nhân tố quan trọng không thể thiếu được trong
hệ thống giáo dục con người mới, phát triển tồn diện Nhiệm vụ chiến lượccủa công tác thể dục thể thao ở nước ta hiện nay là phải tập trung thực hiệncông tác giáo dục thể dục thể chất trong trường học các cấp có chất lượngngày càng cao, từng bước hồn thiện chương trình giảng dạy nội khóa cho phùhợp, tăng cường tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa …
Trang 2Các môn thể thao nói chung và Điền kinh nói riêng là phương tiện củacông tác giáo dục thể chất Việc nâng cao thành tích ở các môn thể thao nóichung và Điền kinh nói riêng sẽ góp phần cho công tác giáo dục thể chất cóhiểu quả và chất lượng Điền kinh là môn học nội khóa trong các trường phổthông các cấp, Cao đẳng, Đại học và nó là môn thi đấu chính thức các kỳ Đạihội thể dục thể thao từ cấp quận (huyện) cho đến Trung Ương, Hội khỏe phùđổng trong nước và các giải thi đấu trong khu vực – Quốc tế Do vậy nângcao thành tích trong tập luyện thi đấu môn Điền kinh là điều mong muốn.
* Lý do chọn đề tài:
Trên thực tế việc giảng dạy và huấn luyện ở các địa phương, các vùngchưa đồng đều, đặc biệt là các vùng nông thôn – miền núi còn gặp nhiều khókhăn Cụ thể như ở trường chúng tôi: Là một trường mới thành lập nằm ở khuvực miền núi cơ sở vật chất thiếu thốn về nhiều mặt, những phương tiện phục
vụ cho việc dạy và học môn giáo dục thể chất còn hạn chế, đội ngũ giáo viênphụ trách môn học chủ yếu là kiêm nghiệm hoặc chưa qua đào tạo chuyênngành, cho nên hiệu quả và công tác giảng dạy và huấn luyện chưa cao
Vì vậy việc học hỏi, tìm kiếm những phương tiện, phương pháp mớitrong công tác giảng dạy là việc làm cần thiết Do đó chúng tôi mạnh dạnchọn đề tài
“Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ ở nội dung chạy 60m với nam học sinh lớp 8 trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước”.
* Mục đích nghiên cứu:
Trang 3Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh tốc
độ có hiệu quả nhằm nâng cao kết quả học tập ở nội dung chạy 60m cho namhọc sinh lớp 8 trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh BìnhPhước Đồng thời qua kết quả nghiên cứu trên làm cơ sở tham khảo cho côngtác giảng dạy và huấn luyện đội tuyển của trường
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu những bài tập phát triển sức mạnh tốc độ
ở nội dung 60m cho nam học sinh lớp 8 trường THCS Minh Thành – huyệnChơn Thành – tỉnh Bình Phước
- Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá trong thực tiễn hiệu quả sử
dụng cá bài tập phát triển sức mạnh tốc độ ở nội dung chạy 60m của nam họcsinh lớp 8 trường THCS Minh Thành – huyện Chơn Thành – tỉnh BìnhPhước
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT:
“Đảng và nhà Nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu Giáo dục tồn diện chothế hệ trẻ, trong đó Đức – Trí – Thể – Mỹ được coi là vấn đề quan trọng nhằmGiáo dục, hình thành nhân cách học sinh, sinh viên – những người chủ nhântương lai của đất nước, có phẩm chất cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,phong phú về thinh thần, trong sáng về đạo đức” (Nghị quyết TW4 khóa VII).Trong văn kiện Đại hội Đảng khóa VII có nêu rõ “Giáo dục đào tạo cùngvới khoa học và công nghệ phải thực sự thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bịtốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ 21” và khẳng định “Sự cường tráng
về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ratài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất làtrách nhiệm của tồn xã hội, các cấp, các nghành, các đồn thể”
Tiếp theo tại Đại hội Đảng khóa IX, Đảng lại một lần nữa khẳng định :
“Phát triển Giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng, thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lựccon người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh vàbền vững” Trong đó Đảng đưa ra chủ trương: Phát động phong trào tồn dântập luyện TDTT nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam; Phổ biếnrộng rãi kiến thức về tự bảo vệ sức khỏe Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vậnđộng viên thể thao có thành tích cao Đưa thể thao Việt Nam lên trình độchung trong khu vực Đông Nam Á và có nhiều thành tích cao trong nhiềumôn thi đấu
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng: “Thực hiện Giáo dục thểchất trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp
Trang 5sống hằng ngày cho hầu hết học sinh, sinh viên và các tầng lớp dân cư trong
cả nước”
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992cũng nêu rõ: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường” Tóm lại:qua những chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục – Đào Tạo, chúng tathấy rằng các cấp chính quyền rất quan tâm đến công tác Giáo dục thể chấtnói riêng, của học sinh và của nhân dân nói chung, tạo những điều kiện thuậnlợi nhất để các em phát triển tồn diện về Đức – Trí – Thể – Mỹ, góp phần cảitạo nòi giống, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã Hội ChủNghĩa
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỂ LỰC HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS:
Ở Việt Nam từ những năm 1991, với chương trình học thể dục 2tiết/tuần, áp dụng cho tất cả các học sinh phổ thông và những hoạt độngTDTT khác đã phần nào nâng cao được tầm quan trọng của Giáo dục thể chấttrong nhà trường, so với một số nước trên thế giới thì: Riêng ở nước Xã HộiChủ Nghĩa anh em CUBA, người ta rất đề cao thể dục thể thao Hiến phápNhà nước CUBA cũng quy định: “Thể thao với tất cả hình thức của nó, Giáo
Trang 6dục thể chất và nghỉ ngơi là sự nghiệp quan trọng hàng đầu của dân tộc” chonên CUBA là một trong những cường quốc thể thao.
Theo đó thì ở nhiều nước, giờ học thể dục coi như là một bộ phận khôngthể thiếu được trong nhà trường và nó được tiến hành không dưới 3 tiết / tuần.Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nước như Nga, Nhật, Đức,Trung Quốc… thì kết quả cho thấy sự phát triển về thể lực trong nhân dân cókhuynh hướng ngày càng phát triển Đó là những kết quả của những điều kiệnthuận lợi về dinh dưỡng, yếu tố môi trường, tập luyện TDTT…, và ngược lạinếu như những điều kiện đó yếu đi thì thể lực có khuynh hướng ngược lại.Qua nhiều năm nghiên cứu thực nghiệm, một số cán bộ khoa học việcnghiên cứu khoa học TDTT Liên Xô (cũ) do X.X Giosbenkốp phụ trách đãđưa ra kết quả: “Kết quả học tập của nhóm học sinh tham gia tập luyện TDTTtăng 12%, trong khi đó kết quả học tập của các em khác chỉ tăng 6% Đángchú ý là hiện tượng mệt mỏi nhiều và kết quả học tập thường giảm sút ở cuối
kỳ và cuối năm học, không biểu hiện ở các em có tập luyện TDTT thườngxuyên và đầy đủ” Người ta cũng nghiên cứu ảnh hưởng của từng môn thểthao đối với năng lực trí óc của học sinh – sinh viên Về mặt này, kết quảnghiên cứu của V.M Smirnốp (năm 1968-1969) đã cho thấy các môn bóng,sau đó là điền kinh và thể dục dụng cụ là những môn có hiệu quả tốt nhất(giảm mệt mỏi, tăng năng lực lao động) Các môn khác cũng có tác dụng tốtđối với năng lực lao động trí óc Nhiều công trình nghiên cứu khoa học củacác tác giả nước ngồi đã chứng minh rằng nguyên nhân chủ yếu gây ra họctập kém của 100 học sinh thì 85 em là do sức khỏe kém và thể lực không đủ
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu khoa học của giáo sư Trịnh TrungHiền, Nguyễn Ngọc Can và bác sĩ Đinh Kỷ tại các trường cấp I, II, III TánThuật – Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình cũng có kết quả tương tự như trên vàđiều lý thú hơn được khẳng định là các trường trên liên tục được công nhận là
Trang 7trương tiên tiến tồn diện của cả tỉnh thì ngồi việc trò ngoan và giỏi thì còn lànhờ có phong trào thể dục thể thao và vệ sinh tốt Chính vì có thể dục thể thao
đã làm khởi sắc cho mọi hoạt động khác của trường Ngồi việc đạt thành tíchtrong học tập, học sinh ở đây có nhiều em khi tham gia quân đội đã được bốtrí vào các binh chủng đặc biệt như: Đặc Công, Tăng Thiết Giáp, Hải Quân,Không Quân Trường Tán Thuật đã được Nhà nước tạng huân chương laođộng vì có thành tích xuất sắc về giáo dục TDTT, trở thành lá cờ đầu của cảnước
Rất nhiều đề tài nghiên cứu trong những năm qua ở nước ta cũng đã đềcập tới sự phát triển thể lực ở học sinh như :
- Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và thể lực của học sinhphổ thông ở tỉnh phía Bắc ( vụ TDTT – Bộ giáo dục năm 1968-1970)
- Đánh giá tình hình sức khỏe của học sinh (Cao Quốc Việt, Vũ Việt Bắcnăm 1972)
- Theo dõi và đánh giá tình hình phát triển thể lực của học sinh (Lê Đình
Du và cộng sự năm 1973)
- Điều tra thể chất của học sinh THPT (Lê Bửu, Lê Văn Lẫm, Bùi ThịHiếu và cộng sự năm 1975)
- Nghiên cứu về sự phát triển thể chất của học sinh Việt Nam từ 07 đến
17 tuổi (Phan Hồng Minh năm 1980)
Nghiên cứu về năng lực thể chất của người Việt Nam từ 05 đến 18 tuổi(Nguyễn Kim Minh năm 1981-1986)
- Những đề tài nghiên cứu xây dựng và hồn thiện chương trình, nội dung,phương pháp giáo dục thể chất trong nhà trường THCS, đặc biệt là công trìnhnghiên cứu về chương trình giảng dạy thể dục của Trần Đình Lâm, TrịnhTrung Hiếu, Vũ Huyến năm 1978-1985
Trang 81.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GDTC ĐỐI VỚI HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS:
Phát triển thể chất là một trong những nhân tố quan trọng trong hệ thốnggiáo dục con người phát triển tồn diện Với học sinh phổ thông đây là giaiđoạn chuẩn bị về mặt thể lực, trí tuệ, tinh thần để các em bước vào cuộc sống.Mục đích của giáo dục thể chất ở lúa tuổi này là nhằm hồn thiện về cấutrúc và chức năng cơ thể để các em phát triển thành con người tồn diện Mặtkhác, giáo dục thể chất còn giáo dục các em về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, bồidưỡng tinh thần tập thể, ý thức tổ chức, kỷ luật và tác phong làm việc, giáodục thể chất còn tạo điều kiện để các em hăng hái tập luyện từ dó phát triểnnhân tài thể thao
Tác dụng của giáo dục thể chất là rất lớn, nó không những đem lại sứckhỏe cho học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển tồn diện.Cho nên giáo dục thể chất không thể thiếu trong nhà trường phổ thông
Ở lứa tuổi lớp 8 khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chínhxác hoạt động vận động được nâng cao, hệ thống thần kinh trung ương đã kháhồn tồn thiện, nhưng hoạt động phân tích của não về tri giác có định hướngsâu sắc hơn Đặc biệt là cảm giác bản thân Trong điều khiển động tác, khảnăng nhận biết chính xác về không gian của học sinh nam đạt mức cao nhất.Các em học sinh đã có thể thực hiện những bài tập khá đầy đủ, chỉ qualời nói của giáo viên, biết xác định những khâu then chốt, quyết định trong
Trang 9một bài tập, chỉ ra khá rõ những sai sót của bạn khác hoặc chính bản thânmình Ngồi ra các em còn chịu khó tìm sách báo có liên quan đến bộ mônmình ưa thích, về thể lực ở lứa tuổi này đã phát triển tương đối hồn chỉnh,chức năng sinh lý tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộphận cơ thể cũng được nâng lên cao hơn.
Vì vậy trong việc giáo dục thể chất cần phải phân biệt tính chất, cường
độ, khối lượng tập luyện sao cho phù hợp để tạo điều kiện cho cơ thể pháttriển một cách tồn diện và cân đối
Về mặt tâm lý thì các em muốn tỏ ra mình là người lớn, muốn được mọingười tôn trọng mình, đã có những hiểu biết nhất định, có khả năng phân tíchtổng hợp hơn, muốn hiểu biết nhiều, ưa hoạt động, có nhiều hồi bão, nhưngcũng có nhiều nhược điểm, thiếu kinh nghiệm …
Việc giáo dục đã phát triển các tố chất thể lực cho các em, đòi hỏi phải
có phương pháp sư phạm nghiêm khắc, bởi vì các tố chất thể lực phát triểnđúng đắn ở thời kỳ này sẽ ảnh hưởng tốt đến sức khỏe lâu dài và khả năngvận động sau này của các em là chủ nhân tương lai của đất nước
Tố chất thể lực là năng lực cơ bản của cơ thể con người như: sức mạnh,sức nhanh, sự khéo léo, mềm dẻo, sự phát triển thể lực thay đổi tùy theo lứatuổi
Vấn đề phát triển sức mạnh, ở lứa tuổi này khá thuận lợi vì các cơ dễbiến đổi, hệ thần kinh điều hòa tốt, khả năng co duỗi và khả năng thả lỏng cơcao, các cơ quan vận động có thể chịu đựng được những vận động tĩnh, hoạtđộng khá lớn
Nếu được tập luyện đầy đủ, có hệ thống thì các em có thể tập cử tạ đượcnhững bài tập có khối lượng tạ nặng hơn bản thân nên trong khi tập luyện cóthể dùng những bài tập tương đối lớn cho các bài tập về mang vác, có sức đốikháng của đồng đội hay các bài tập khắc phục trọng lượng của bản thân, tuy
Trang 10nhiên cần lưu ý đến nguyên tắc vừa sức và được khởi động tốt trước khi tậpluyện.
Trong các bài tập mang vác nặng, đòi hỏi phải tăng tốc độ để có hiệu quảcao nhất, tuy nhiên vẫn cần những bài tập phát triển trọng lượng cho các cơ
nở nang, tập với tốc độ nhịp điệu đều
Khi rèn luyện sức mạnh, ở lứa tuổi này cần chú ý đến nhóm cơ bụng,lưng hông và cách thở hợp lý lúc gắng sức Nên tránh tập với dụng cụ cótrọng lượng quá nặng và các hoạt động gây chấn động quá mạnh, phải tập chocác em biết thả lỏng cơ bắp để dần dần có khả năng tập trung sức mạnh khicần thiết, vừa tiết kiệm sức, vừa nhanh chóng hồi phục
Sức mạnh lớn hay bé phụ thuộc vào tiết diện ngang sinh lý của cơ Ở lứatuổi này, sức mạnh của nam tăng lên nhanh chóng, do đó việc giảng dạy vàhuấn luyện cần chú ý đến tố chất phát triển sức mạnh
Vấn đề phát triển sức nhanh, ở lứa tuổi này phát triển rất khó và chậmhơn so với tuổi thiếu niên, nhi đồng Ngồi vấn đề sức nhanh, trong phản ứngphụ thuộc rất nhiều đến hệ thần kinh mang tính di truyền, nên phải tập với cácbài tập riêng biệt mới mong phát triển sức nhanh được Cách có hiệu quả nhất
là tập chạy xuất phát, tập các môn bóng và những trò chơi vận động có nhiềuđộng tác khác nhau
Phát triển độ dẻo, khéo léo, linh hoạt cho các em cũng là vấn đề quantrọng, nhưng ở lứa tuổi này đã chựng lại, mức phát triển cao nhất của tố chấtnày là ở lứa tuổi từ 11 – 13, tuy nhiên nếu không tập luyện các bài tập pháttriển tố chất này thì sẽ bị giảm sút nhanh chóng làm ảnh hưởng đến các tốchất khác
* Tóm lại: Ở lứa tuổi này chúng ta cần nhớ là quá trình tăng trưởng cơ
thể của các em còn chưa kết thúc, ở đa số các em thì quá trình hưng phấnmạnh hơn ức chế, cần phải biết khuyên nhủ, góp ý, giải thích để các em hiểu
Trang 11biết, tránh tình trạng lúc thì tích cực, hăng hái, lúc thì tiêu cực, chán nản,lượng vận động áp dụng cho những buổi tập kéo dài không nên quá 80 – 85%mức thi đấu trung bình.
1.4 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỂ LỰC HỌC SINH THCS:
* Chế độ dinh dưỡng:
- Các chất bột:
+ Cung cấp từ 55- 60% tổng năng lượng hằng ngày
+ Bao gồm chủ yếu là các chất bột, đường hấp thụ chậm như các loại tráicây, khoai củ và các chất bột như: Cơm, bánh mì, đậu,… Các loại đường hấpthụ chậm giữ vài trò “năng lượng dự trữ” khi cần gắng sức với cường độ cao.Trong khi gắng sức kéo dài nếu nguồn nước và đường đều đặn mỗi 20 phút
sẽ giúp duy trì lượng đường huyết và giảm được sự huy động Glycogen từ các
cơ Sau khi gắng sức, các loại đường hấp thụ chậm sẽ hiệu quả, khả năng làmtiết Isolin ít
+ Cách sử dụng đường trong giai đoạn hoạt động TDTT:
Trước khi gắng sức: các loại đường hấp thụ chậm từ 2 – 3 giờ trước đó.Trong khi gắng sưc kéo dài: Nước, các loại đường đơn, đường fructose.Sau khi gắng sức: Các đường hấp thụ chậm sau 36 – 48 giờ
- Chất đạm:
+ Hoạt động thể lực thường cần thêm một lượng đạm để tổng hợp các
mô của cơ bắp do tăng sự chuyển hóa và ra nhiều mồ hôi
+ Cung cấp từ 10 – 15% tổng năng lượng trong ngày
+ Nhu cầu: Từ 1,2% - 1,5% kg/ngày, có thể tăng lên trong các loại hìnhthể thao nặng (đẩy tạ…)
+ Nên có sự cân bằng giữa các chất đạm động vật và các chất đạm thựcvật
Trang 12- Các chất béo:
+ Cung cấp từ 25 – 30% tổng năng lượng trong ngày
- Nhu cầu nước:
+ Nhu cầu nước: 1ml/Kcal tiêu hao Do đó nếu nhu cầu là 3500 kcal,lượng nước cần thiết phải là 3.5l (3/4 là nước uống, 1/4 là nước trong thứcăn)
+ Nếu uống từng lượng nhỏ, 150ml mỗi 15 – 30 phút trước, trong và saukhi gắng sức dưới dạng nước thiên nhiên có ít đường
- Các chất khống:
+ Dinh dưỡng cân bằng sẽ đáp ứng đủ các nhu cầu về chất khống:Sodium, Potassium, Chlore, Caleium Vì trong mồ hôi chỉ chứa ít Sodium nênvới cường độ gắng sức trung bình, không cần bổ sung các chất điện giải.Ngược lại, cần phải bù trong các cuộc thi đấu kéo dài trong môi trường nóngbức
- Các vitamin và các chất dinh dưỡng:
+ Các nhu cầu các vi chất dinh dưỡng có tăng lên Có nhiều nguyên nhânlàm tăng nhu cầu các vitamin và các vi chất dinh dưỡng, chế độ ăn mất cânđối, ăn nhiều chất bột đường và chất đạm hơn, sự phát triển của các khối cơ
…
+ Có thể bổ sung bằng các viên Multivitamin Nhưng cần phải giải thíchcho các em hiểu rõ là việc bổ sung vitamin không có nghĩa là thành tích thểthao sẽ tăng lên nếu các em không tập luyện
+ Chất sắt: Nhu cầu 15 -20 mg/ ngày, hơi cao hơn các em không chơi thểthao (10 - 12 mg/ ngày)
+ Kẽm: 5 mg/ngày trong 15 ngày
Trang 13+ Selenium: 100 mg/ngày trong 15 ngày.
* Tóm lại: Các em học sinh cần có một chế độ ăn cân bằng cả về chất
lẫn về lượng phân bố một cách hợp lý trong ngày
* Tập luyện thể dục thể thao:
Tập luyện TDTT giúp ta duy trì và phát triển thể lực, phòng chống cácloại bệnh khác nhau
Tập luyện TDTT phải dựa trên những nguyên tắc về giáo dục nói chung
và giáo dục TDTT nói riêng
- Nguyên tắc hệ thống:
Tập luyện thường xuyên, đúng mức bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt
so với việc tập luyện thất thường
Khi ngừng luyện tập trong một thời gian các mối liên hệ phản xạ có điềukiện vừa xuất hiện sẽ bị dập tắt, mức độ phát triển các hệ thống cơ quan và cơbắp cũng giảm xuống Trong điều kiện này khi tham gia tập luyện trở lạingười tập thường xuyên cảm thấy khó khăn và dễ xảy ra chấn thương, hoặcmệt mỏi quá độ khi gắng sức Tập luyện liên tục và có hệ thống sẽ góp phầncủng cố các động tác cũ, phát triển và hồn thiện các bài tập mới sẽ dễ dànghơn Đây là nguyên tắc quan trọng nhất đối với các em học sinh
Không tuân thủ theo nguyên tắc tập luyện này sẽ không thể hình thành vàcủng cố chắc chắn các động tác cũng như phát triển các tố chất thể lực
- Nguyên tắc tập luyện tăng dần:
Giáo dục thể chất là một quá trình luôn luôn vận động Trong quá trìnhvận động đó các tố chất thể lực được phát triển dần dần từ buổi tập này sangbuổi tập khác thông qua các bài tập được thực hiện từ dễ đến khó, từ đơn giảnđến phức tạp Từ nhẹ đến nặng Tập luyện theo nguyên tắc này nhằm mụcđích để cơ thể dần dần tiếp thu được các kỹ thuật và khối lượng, cường độvận động
Trang 14- Nguyên tắc tập luyện theo đặc điểm cá nhân:
Thực hiện tốt và chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc này tạo ra nhữngtiền đề cần thiết cho từng cá nhân để động viên và thúc đẩy họ tập luyện theokhả năng, nhằm phát triển thể lực, nâng cao thành tích của bản thân Để thựchiện tốt nguyên tắc này cần:
+ Căn cứ vào tình trạng sức khỏe người tập
+ Căn cứ vào đặc điểm giới tính: lứa tuổi từ 12 – 15 tuổi về mặt sinh lýgiải phẫu có sự khác nhau rõ rệt, vì vậy trong tập luyện cần phải có các nộidung phù hợp hơn
+ Căn cứ vào tuổi tác: Ở lứa tuổi thiếu niên cần áp dụng các bài tập giúp
cơ thể phát triển một các tồn diện, thể lực, kỹ thuật, và ý chí
* Tóm lại: Tập luyện TDTT thường xuyên và có khoa học sẽ làm cho
các bộ máy, cơ quan trong cơ thể vững vàng hơn, từ đó chức năng sinh lý củatừng bộ phận trong cơ thể sẽ được nâng cao
* Yếu tố môi trường:
Điều kiện khí hậu khắc nghiệt thường có những ảnh hưởng nhất định đốivới hiệu quả luyện tập TDTT
Tập luyện trong điều kiện khí hậu nóng ẩm làm căng bộ máy điều nhiệtcủa cơ thể Do cường độ tạo nhiệt và thải nhiệt lớn dẫn đến hoạt động căngthẳng của hệ thống tuần hồn Trong điều kiện nóng ẩm, sự phân bổ máu trong
cơ thể sẽ có những thay đổi Dẫn các mạch máu của da làm tăng khối lượngmạch máu vùng ngoại biên và kết quả là tăng quá trình giải nhiệt bằng conđường mồ hôi
Tập luyện trong điều kiện này, hệ thống tuần hồn bị quá tải do phải cungcấp một lượng máu lớn cho các cơ hoạt động và da Tập luyện dễ gây mệtmỏi và cứ tiếp tục duy trì tập luyện cơ thể xuất hiện tình trạng kiệt sức donhiệt Trong trạng thái này, do mất nhiều nước và muối khống, người tập cảm
Trang 15thấy yếu với các biểu hiện như: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu, mạch nhanh,tình trạng yếu ớt, có thể mạch cấp Da sờ thấy lạnh và ướt, mồ hôi ra nhiều,giảm huyết áp Trầm trọng hơn có thể xuất hiện tình trạng say nóng với cácbiểu hiện như: da khô và nóng, ngừng tiết mồ hôi, nhiệt độ cơ thể cao, có thể
co giật hoặc ngất
Tập luyện trong điều kiện khí hậu lạnh thường là dễ chịu hơn so vớinóng ẩm do hệ thống tạo nhiệt hoạt động mạnh và hiệu quả, quá trình điềunhiệt diễn ra dễ dàng
* Sân bãi và dụng cụ tập luyện:
Sân bãi, dụng cụ TDTT là phương tiện tập luyện của học sinh tham giahoạt động TDTT TDTT càng phát triển thì tính hiện đại, khoa học về sân bãi,dụng cụ càng phát triển và đa dạng
Dụng cụ sân bãi TDTT là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quảtập luyện, nâng cao thành tích, mặt khác ảnh hưởng trực tiếp tới thể lực họcsinh
1.5 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở VIỆT NAM:
Trong nhiều năm qua, Nhà nước luôn luôn phát động phong trào chămsóc sức khỏe cho học sinh đã thu được một số kết quả nhất định, nhưng vẫncòn hạn chế so với yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng đất nước tronggiai đoạn hiện nay có nhiều nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề tư tưởng văn hóa, là quan trọng cònTDTT chỉ là vấn đề thứ yếu “đầu óc ngu si tứ chi phát triển”
- Quan niệm về “giáo dục tồn diện” chưa được hiểu đúng và vì vấn đềhọc văn hóa ngày càng nặng cho học sinh, nhất là lý thuyết làm cho học sinhkhông còn thời gian để tham gia các hoạt động TDTT ngồi giờ và cả trong giờhọc, học sinh chỉ học thể dục là để đối phó mà thôi, điều kiện cơ sở vật chấtlàm ảnh hưởng một phần đến tinh thần và thái độ tập luyện của học sinh
Trang 16CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để giải quết các nhiệm vụ trên, chúng tôi áp dụng các phương phápnghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp tham khảo và tổng hợp tài liệu có liên quan:
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiêncứu mang tính lý luận và sư phạm Ngồi nguồn tài liệu ghi chép trong quátrình học tập và thu thập có liên quan trong các tạp chí, ấn phẩm…, chúng tôicòn nghiên cứu một số sách chuyên môn có liên quan đến đề tài như:
Sách kỹ thuật và luật điền kinh, thống kê tốn, hình thái học, lý luận vàphương pháp giáo dục thể chất, sinh lý TDTT…
Áp dụng phương pháp này nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận của đềtài, chọn phương pháp nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu, bài tập cho phù hợpvới đề tài
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn mục đích tổng hợp các kiến thức vàkinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy và huấn luyện của giáo viên, huấn luyệnviên, các nhà chuyên môn thông qua phỏng vấn bằng phiếu hỏi, các câu hỏiđược phân loại theo mức độ quan trọng của từng test đánh giá, từng bài tập(thường xuyên sử dụng, có sử dụng và ít sử dụng) nhằm tìm hiểu thực trạngviệc sử dụng các bài tập trong giảng dạy sức mạnh tốc độ ở nội dung chạy60m cho nam học sinh lớp 8
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm:
Trang 17Dựa trên kết quả xử lý từ phiếu phỏng vấn gián tiếp chúng tôi đã chọnđược các test có khả năng đánh giá sức nhanh ở đối tượng nghiên cứu Đó làcác test sau:
2.1.3.1 Chạy 30m tốc độ cao (giây):
Trang 18- Phương pháp kiểm tra và công nhận thành tích: Người thực hiện đứngsau vạch giậm nhảy, hai châm rộng khoảng bằng vai, 2 tay để thả lỏng, hơikhuỵu gối, sau đó hai tay vung lên cao, xuống dưới, ra sau để tạo đà và bậtnhảy về phía trước càng xa càng tốt, rơi hai chân xuống hố cát và đổ người vềphía trước (không đổ hoặc bước về phía sau) Thành tích được tính là khoảngcách từ vạch giậm nhảy đến điểm gót chân chạm đất gần vạch giậm nhảynhất Người kiểm tra được thực hiện 2 lần, lấy thành tích ở lần bật xa nhất.Người kiểm tra được nghỉ đầy đủ giữa 2 lần bật.
2.1.3.3 Chạy 60 mét xuất phát cao :
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm :
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm mục đích đưacác nhân tố mới cần nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục, qua thực nghiệm gópphần làm sáng tỏ những yếu tố tác động trực tiếp (yếu tố thực nghiệm) tới kếtquả tập luyện của đối tượng trong nghiên cứu Đây chính là điều kiện cầnthiết để giải quyết nhiệm vụ 3 và mục đích cuối cùng do đề tài đặt ra
- Để kiểm nghiệm trong thực tiễn hệ thống bài tập phát triển sức mạnhtốc độ ở nội dung chạy 60m cho đối tượng nam học sinh, chúng tôi tiến hànhthực nghiệm trên 2 nhóm đối tượng theo qui ước sau:
Trang 19+ Nhóm thực nghiêm (A):Gồm các nam học sinh được chọn ngẫu nhiên.
Ở nội dung chạy 60m các em học theo chương trình do chúng tôi biên soạn,các môn khác của chương trình các em học bình thường như nam học sinh ởnhóm đối chứng, thời gian tập luyện giống như nhóm đối chứng mỗi tuần 2buổi, mỗi buổi 1 tiết
+ Nhóm đối chứng (B): Cũng gồm các nam học sinh được chọn ngẫu
nhiên, ở nội dung chạy 60m các em học theo chương trình hiện hữu do ngànhbiên soạn, thời gian tập luyện mỗi tuần 2 buổi, mỗi buổi 1 tiết
Trước thực nghiệm cả hai nhóm đều được kiểm tra để xác định trình độban đầu
Sau 16 tuần học tập chúng tôi tiến hành khảo sát các chỉ tiêu trên để tìmhểu mức độ phát triển các tố chất thể lực cơ bản và thành tích nhảy xa ở hainhóm đối tượng nghiên cứu nhằm xác định tác dụng của hệ thống bài tập pháttriển sức nhanh ở nội dung chạy 60m, bằng cách so sánh kết quả trước và sauthực nghiệm của hai nhóm để làm sáng tỏ hiệu quả của các bài tập đã đượclựa chọn
2.1.5 Phương pháp thống kê tốn:
Các phương pháp tính tốn trong đề tài được xử lý bằng chương trình xử
lý bản tính Microsoft Excel Các phương pháp ước lượng một số tham số đặctrưng tính chất của luật phân phối chuẩn thường dùng như:
- Số trung bình cộng ( X ): Trung bình cộng là tỷ số giữa tổng lượng trị
số các cá thể với tổng số các cá thể của đối tượng quan sát, được tính theocông thức:
1
n
i i