Tiểu luận môn Quản trị doanh nghiệp Đề tài Chuyển Giá Ngày nay, hội nhập quốc tế đã và đang là xu hướng chung của mọi quốc gia, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực thông tin. Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa là cách hiệu quả giúp cho các nước chậm tiến thực hiện con đường phát triển rút ngắn và từng bước đuổi kịp các nước kinh tế phát triển.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CHUYỂN GIÁ
Trang 2NHÓM : 7 LỚP : TCDN Đêm 4 – K21
TP.HCM, tháng 11.2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 41.1 Khái niệm 2
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá 4
1.3 Phạm vi chuyển giá 4
1.4 Tác động của chuyển giá 5
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia 5
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư 6
1.4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư 6
1.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến 7
PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 10
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua 10
2.1.2 Thực trạng chung về hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 11
2.2 Một số hình thức chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam 13
2.2.1 Chuyển giá qua khâu xác định giá trị vốn góp trong các liên doanh 13
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ 14
2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 15
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất 17
2.3 Đánh giá hoạt động chống chuyển giá tại Việt Nam 18
2.3.1 Những nỗ lực của ngành thuế trong công tác chống chuyển giá ở nước ta 18
2.3.2 Những khó khăn và bất cập trong công tác chống chuyển giá tại Việt Nam 20
PHẦN III ĐỂ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG 23
3.1 Đối với cơ quan thuế 23
3.1.1 Biện pháp hành chính 23
3.1.2 Biện pháp cưỡng chế 24
3.2 Đối với nhà nước: 26
Trang 53.2.2 Nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý nhà nước 27 3.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu giá cả cho các giao dịch 27 3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu vực 28 đầu tư nước ngoài
Trang 6Ngày nay, hội nhập quốc tế đã và đang là xu hướng chung của mọi quốc gia, trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế và lĩnhvực thông tin Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa là cách hiệu quả giúp chocác nước chậm tiến thực hiện con đường phát triển rút ngắn và từng bước đuổi kịp cácnước kinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó còn đem lại nhiều vấn đề tiêu cực,điển hình là việc trốn thuế của các công ty đa quốc gia thông qua hoạt động chuyển giá.Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều khai báo kinh doanh thua lỗ nhưng thực tế vẫn cókhoản lợi nhuận chuyển về công ty mẹ.
Trước tình hình đó, và theo Bộ trưởng tài chính Vũ Văn Ninh đánh giá trong phiênhọp Quốc hội Việt Nam ngày 05 tháng 10 năm 2008 là tình hình chuyển giá “không kiểmsoát được”, thì việc nghiên cứu để tìm giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá là cấpthiết, khi mà luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều
Vì vậy, nhóm đã tiến hành tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng vànhững giải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn
mở cửa hội nhập hiện nay Trong quá trình phân tích có những sai sót mong được sự góp
ý của thầy Nhóm xin chân thành tiếp nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện bài nghiên cứu
Trang 7PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ
1.1 Khái niệm
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tàisản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thịtrường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company)trên toàn cầu
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thayđổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành vi ấy có đốitượng tác động chính là giá cả Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch nhưthế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn
có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bánhàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự
khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi íchkhông làm thay đổi lợi ích toàn cục
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi
bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốcgia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất,cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu Chênh lệch mức độđiều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủthể có mối quan hệ liên kết Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở
đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từnhững giao dịch như thế Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giaodịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanhtoán đầy đủ theo giá thỏa thuận Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ khôngphải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch
Trang 8cao Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữacác quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp.Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo
ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh
Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá Vấn
đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho mộtnhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao Chẳng hạn, giá muađầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả là thunhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) tăng; hoặc giảnhư giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế
mà nhà nước thu được Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuếcủa doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phầnnghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này
Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệliên kết Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá Nhưng giao kết về giá chưa đủ đểkết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thựchiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thìkhông có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích Như vậy, ta có thể xem chuyểngiá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụthanh toán hay chưa
Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Chúng ta cũng chỉ có thể đánhgiá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị trường.Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luậnrằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá
Ví dụ chuyển giá từ bên ngoài, qua giá thiết bị, máy móc, giá nguyên liệu và hợpthức từ công ty mẹ chuyển sang
Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2009 của Chính phủ cùng kết quả kiểm toán chothấy giữa dự toán và quyết toán còn khoảng cách lớn Chẳng hạn dự toán thu từ dầu thô
có 63.400 tỷ đồng nhưng thực thu tới hơn 83.300 tỷ đồng, vượt 31,6%
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 3
Trang 91.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủthể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thểriêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết Với môitrường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luônđược đặt ra với các chủ thể kinh doanh Chuyển giá được xem là một lời giải cho bài toánlợi ích mà ở đó nhà đầu tư không cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất Đơn giản vìphương cách này giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế Từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.Tuy nhiên vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn hết sức mới mẻ Trong xu thế mở rộngcửa chào đón các tập đoàn kinh tế quốc tế, phát huy nội lực với các công ty cha - mẹ -anh - chị - em , thì chuyển giá sẽ là công cụ dễ được các chủ thể kinh doanh sử dụngnhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước Sự mới mẻ và chứađựng những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưutâm, được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanhnghiệp lên chương trình hành động cho mình
1.3 Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi phảiđược xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết Điều 9 Công ước mẫu củaOECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem là liên kết(associated enterprises) khi:
Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kiamột cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities) kháctham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thôngqua trung gian
Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnh hưởng, sựgiao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xác định mối quan hệliên kết Tính chất của những biểu hiện này không mang tính quyết định Như thế cácdoanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một quốc gia hoặc có thể ởnhiều quốc gia khác nhau Từ đó, chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc
tế mà có thể cả trong những giao dịch quốc nội
Trang 10Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịch quốc tếhơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn Trong khi
đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên các nghĩa vụ thuế hình thành từ cácgiao dịch trong nước ít có sự cách biệt Vì thế, phần lớn các quốc gia hiện nay thường chỉquy định về chuyển giá đối với giao dịch quốc tế.1 Theo đó, giao dịch quốc tế được xácđịnh là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh nghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượngtham gia là chủ thể không cư trú (non-residents).2 Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cáchbiệt về mức thuế suất thuế TNDN của các quốc gia Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá
từ doanh nghiệp liên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ởquốc gia có thuế suất thấp Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảmthu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao Trong hai trường hợp đều cho
ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhóm liên kết tănglên
Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễngiảm thuế Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ãihoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này
1.4 Tác động của chuyển giá
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia
Tác động tích cực
Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạođiều kiện cho các công ty đa quốc gia dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu tráchnhiệm ở quốc gia các công ty đa quốc gia đang đầu tư
Thực hiện chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư,nhanh chóng thu hồi nguồn vốn cho các cơ hội đầu tư khác
Thực hiện chuyển giá sẽ giúp các công ty đa quốc gia nhanh chóng chiếm lĩnh thịtrường ở các nước đang đầu tư
Trang 11hưởng nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽhơn của các cơ quan thuế ở những nước mà các công ty đa quốc gia đi đầu tư sau đó.
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, họ là người được hưởng lợi từhoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, họ phải đương đầu với cáckhó khăn tài chính khi các công ty đa quốc gia thoái vốn do các thu nhập không bềnvững trước đây trong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế
Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nướctiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh
tế vĩ mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển
Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh tếcủa các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn tới
lệ thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị
1.4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư
Tác động tích cực
Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cânthương mại, cán cân thanh toán quốc tế Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn vềhình thức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuếhơn cho nhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu tư
Tác động tiêu cực
Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc, sẽ làmcho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này doviệc thất thu một khoản thu nhập từ thuế
Trang 12 Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhấtđịnh do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chínhphủ.
1.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến
Qua nghiên cứu thực tế thì nhận thấy các MNC thường áp dụng các phương thứcchuyển giá sau:
Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm haythành phẩm Các thành viên của MNC có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDNcao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm với giá cao và bán
ra cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa thuế TNDN Giá mua vào
và giá bán ra cho các thành viên trong MNC bị áp đặt nhằm tối thiểu hóa thu nhập phảinộp thuế.Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các MNC cũng thulợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế củaMNC
Ví dụ:
Cụ thể, Thanh tra Cục Thuế phát hiện, từ tháng 1.2006 Bat-Vinataba ký hợp đồng vớiCty Bat Marketing-Singapore (Bat MS) về cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ như: Quản lýcấp loại, chất lượng và tính ổn định của nguyên liệu thuốc lá; kế hoạch nhu cầu và thaythế lá thuốc lá (bao gồm cả việc quản lý nguyên liệu lá thuốc và gia liệu từ nhà cung cấptrong nội bộ Tập đoàn Bat hay các bên cung cấp thứ ba) Duy trì công thức pha trộn Giá
cả chi phí được thanh toán là: 0,25USD/1 kg thuốc lá sợi để sản xuất các loại thuốc lámang nhãn hiệu BAT 9 trong 2 năm đầu) và 0,50USD/kg cho các năm tiếp theo
Bat-Vinataba đã hoạch toán chi phí này vào giá vốn hàng bán để giảm thu nhập chịuthuế thu nhập DN trong 4 năm (từ năm 2002 đến 2008) tổng cộng hơn 217 tỉ đồng.Nhưng Cty đã không chứng minh được các chứng từ thể hiện Bat-MS đã thực hiện cácdịch vụ này Đồng thời khoản chi phí này đã làm gia tăng thêm khoản chi cho nhà cungcấp nguyên liệu nước ngoài là Bat-MS ngoài giá bán nguyên liệu thuốc lá nhập khẩu.Đây là khoản Cty cố tình chuyển thu nhập từ Cty chịu thuế suất cao sang Cty liên kết cóthu nhập chịu thuế suất thấp ở nước ngoài, nên không thể chấp nhận là khoản chi phí hợp
lý.3
3 http://laodong.com.vn/Kinh-doanh/BatVinataba-chuyen-gia-khong/10159.bld
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 7
Trang 13Chuyển giá thông qua các TSCĐ hữu hình như định giá thật cao các TSCĐ chuyểngiao cho các công ty thành viên tại các quốc gia có thuế suất cao Giá chuyển giao đượcxác định cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của tài sản đó Thông qua hoạt động chuyểngiao tài sản này thì các MNC đã chuyển một phần thu nhập ra nước ngoài, các DN sẽtăng chi phí khấu hao làm giảm thu nhập chịu thuế TNDN và dần thôn tính hết các tài sảnnày Vì vậy mà thu nhập chịu thuế sẽ bị giảm Khi thực hiện hành động này thì các MNCmột mặt tiết kiệm được chi phí thanh lý các TSCĐ lỗi thời, một mặt lại chuyển được thunhập về quốc gia có thuế suất thấp từ đó có thể tối đa hóa lợi nhuận của MNC.
Ví dụ: Dây chuyền sản xuất bia của liên doanh BGI ở Tiền Giang do BGI định giá là
30,85 triệu USD, nhưng Công ty SGS thẩm định lại chỉ còn 23,55 triệu USD.4
Chuyển giá thông qua việc mua các TSCĐ vô hình với giá thật cao hay chi trả các chiphí bản quyền, các chi phí để xây dựng thương hiệu sản phẩm, các chi phí nghiên cứu vàphát triển sản phẩm Các MNC sẽ xây dựng các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩmtại các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, tất cả các chi phí nghiêncứu phát triển sản phẩm sẽ do thành viên MNC tại quốc gia có thuế suất cao này gánhchịu Nhưng kết quả của việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm thì các thành viên khácvẫn được áp dụng như nhau Hoặc một chương trình quảng cáo nhằm xây dựng thươnghiệu cho sản phẩm trên phạm vi khu vực, nhưng chi phí lại được phân bổ hết về chothành viên có trụ sở tại quốc gia có thuế suất cao Các hoạt động trên đều nhằm tối thiểuhóa số thuế phải nộp và việc phân bổ chi phí trên hoàn toàn là hành động chủ quan củacác nhà quản lý của MNC vì vậy đây cũng là hình thức chuyển giá Các thành viên trongMNC có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp lý với giá cả cao hơn nhiều lần
so với giá cả thị trường Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn vớilãi suất cao hơn mức thị trường Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản nhưnhân sự, vật chất Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiềnlương, chi phí nhà ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làmviệc
Chuyển giá thông qua việc hỗ trợ tài chính: Qua thực tế kiểm tra cho thấy, đa phầncác MNC ở Việt Nam vay vốn của các công ty mẹ ở nước ngoài với lãi suất rất cao Lãi
4 http://tapchithue.com.vn/dien-dan-nghiep-vu/159-dien-dan-nghiep-vu/711-chong-chuyen-gia-chi-rieng-nganh-thue-la-chua-du.html
Trang 14suất tiền vay cao đồng nghĩa với việc giá thành cao, giảm lợi nhuận, thuế TNDN giảm.Cũng có trường hợp, công ty mẹ ở nước ngoài đứng ra bảo lãnh cho MNC ở Việt Namvay vốn với chi phí bảo lãnh rất cao.
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 9
Trang 15PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua
Với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, trong những năm qua, Việt Nam đãthực hiện nhiều chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhờ đó,các dự án đầu tư nước ngoài đã không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn quy mô, gópphần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước tăng trưởng và phát triển
Biểu đồ 1: Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam từ năm 1988 - 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1988 – 2010) – Cục Đầu tư nước ngoài (2011 – 2012) 5
Sau gần 25 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, Việt Nam đã đạt được nhiềuthành công trong thu hút FDI Đỉnh điểm của giai đoạn này là năm 2008 với 64 tỷ USDvốn đăng ký đạt được6 Bước sang năm 2010 và 2011, lạm phát cao cũng như nền kinh tếtụt hạng năng lực cạnh tranh đã khiến nhà đầu tư bớt hứng thú đầu tư vào Việt Nam, năm
2011 tổng lượng vốn đăng ký chỉ đạt 14,7 tỷ USD Bảy tháng đầu năm 2012, vốn FDIđăng ký đạt 8,03 tỷ USD, bằng 66,9% so với cùng kỳ năm 2011.7
Lượng vốn FDI vào Việt Nam đã có nhiều đóng góp nổi bật trong quá trình phát triểnđất nước Từ năm 2001 đến năm 2011, thông qua các loại thuế, các doanh nghiệp FDI đãnộp hơn 15,5 tỷ USD vào ngân sách nhà nước; tổng sản phẩm của doanh nghiệp FDIchiếm tới 20% GDP; trung bình mỗi năm từ 2000 đến 2010 giải quyết việc làm chokhoảng hơn 1 triệu lao động Ngoài ra, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu (mặc dù tăngtrưởng kinh tế chậm lại trong 6 tháng đầu 2012, với GDP chỉ tăng 4,38%, thấp hơn 1,25
5 http://tapchikinhtedubao.mpi.gov.vn/p0c303n14723/25-nam-thu-hut-fdi-con-nhieu-viec-phai-lam.htm
6 http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/CHDAGJ/25-nam-thu-hut-fdi-thanh-cong-va-vap-vap.html
Trang 16điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, nhưng các doanh nghiệp FDI đã góp phầnquan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 22,2%8).
Như vậy, cho đến nay, không còn nghi ngờ gì nữa về vai trò quan trọng của FDI đốivới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Tuy nhiên, lý thuyết và thực tiễnđều cho thấy mục tiêu của FDI là lợi nhuận nên có nhiều khác biệt với các mục tiêu pháttriển của nước chủ nhà Chính sự khác biệt này đã làm phát sinh nhiều vấn đề - mà nếuchúng ta không có những giải pháp phòng chống thì hiệu quả của dòng vốn FDI có thể sẽkhông còn Một trong số đó là vấn đề chuyển giá
2.1.2 Thực trạng chung về hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
Dấu hiệu nghi ngờ doanh nghiệp chuyển giá được nhìn nhận qua hai đặc điểm: doanhnghiệp lỗ mất vốn chủ sở hữu và doanh nghiệp liên tục lỗ trong nhiều năm nhưng vẫntiếp tục mở rộng quy mô Tại Việt Nam, tình trạng các doanh nghiệp FDI mặc dù liên tục
kê khai kinh doanh thua lỗ nhưng lại đầu tư kinh doanh diễn ra rất phổ biến
Hơn 50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ trong nhiều năm qua
Theo thống kê về hoạt động khối doanh nghiệp FDI, khoảng 50% tổng số doanhnghiệp FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tụctrong 3 năm, thậm chí báo cáo lỗ suốt từ khi hoạt động đến nay Cụ thể, năm 2009, có56% doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ Con số này trong năm 2011 là 60% Tuy nhiên,trên thực tế, các doanh nghiệp này đều có công ty mẹ tại nước ngoài và hàng sản xuất ra99% là xuất khẩu sang nước thứ ba.9
Thực trạng này diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương thu hút FDI lớn, như HàNội, Hồ Chí Minh, Bình Dương,… Điển hình tại Bình Dương, số doanh nghiệp FDI kêkhai lỗ năm 2010 là 754/1.490 DN, chiếm tỷ trọng 50,6%, trong đó có tới 200 doanhnghiệp lỗ quá vốn chủ sở hữu; tại Đồng Nai, tỷ lệ số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lần lượt
là 52,2%; tại TP Hồ Chí Minh, số lượng doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 3% tổng sốdoanh nghiệp trên địa bàn nhưng số tiền mà khối doanh nghiệp này khai báo lỗ chiếmđến hơn 20% tổng số tiền mà các doanh nghiệp trên địa bàn khai báo lỗ; số doanh nghiệpFDI khai báo lỗ trên 4 năm chiếm trên 50%
8 http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/fdi-nua-dau-nam-2012-diem-sang-va-van-de-0120706101333344ca33.chn
9 http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1372&Style=1&ChiTiet=57088
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 11