Môi trường Marketing của doanh nghiệp là tập hợp những tác nhân và những lực lượng hoạt động ở bên ngoài chức năng quản trị Marketing của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng” (Philip Kotler)Môi trường Marketing là những yếu tố, lực lượng mà bộ phận Marketing không thể kiểm soát được. Những diễn biến của các lực lượng và các yếu tố đó không phải do bộ phận Marketing gây ra hay bộ phận Marketing có quyền làm thay đổi. Do đó, việc phân tích môi trường Marketing có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động Marketing cũng như sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp.Doanh nghiệp cũng như một cơ thể sống hoạt động trên một lãnh thổ và trong nền kinh tế hàng ngày tác động vào môi trường, đồng thời cũng chịu những tác động của môi trường.Để có thể thích ứng và phát triển doanh nghiệp cần phải tiến hành các hoạt động phù hợp với điều kiện môi trường bằng cách đưa ra những giải pháp chiến lược và những điều chỉnh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. Phân tích môi trường Marketing là những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược Marketing cho doanh nghiệpMôi trường Marketing được cấu thành bởi môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.Bài thảo luận, sẽ gồm hai phần chính:
Trang 1PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ Ở VIỆT NAM CHỌN MỘT DOANH NGHIỆP MÀ NHÓM YÊU THÍCH, PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SWOT
‘Môi trường Marketing của doanh nghiệp là tập hợp những tác nhân và những lực lượng hoạt động ở bên ngoài chức năng quản trị Marketing của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng” (Philip Kotler)
Môi trường Marketing là những yếu tố, lực lượng mà bộ phận Marketing không thểkiểm soát được Những diễn biến của các lực lượng và các yếu tố đó không phải do
bộ phận Marketing gây ra hay bộ phận Marketing có quyền làm thay đổi Do đó, việc phân tích môi trường Marketing có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động
Marketing cũng như sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp
Doanh nghiệp cũng như một cơ thể sống hoạt động trên một lãnh thổ và trong nền kinh tế hàng ngày tác động vào môi trường, đồng thời cũng chịu những tác động của môi trường Để có thể thích ứng và phát triển doanh nghiệp cần phải tiến hành các hoạt động phù hợp với điều kiện môi trường bằng cách đưa ra những giải pháp chiến lược và những điều chỉnh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp Phân tích môi trường Marketing là những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược
Marketing cho doanh nghiệp
Môi trường Marketing được cấu thành bởi môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.Bài thảo luận, sẽ gồm hai phần chính:
• Nghiên cứu môi trường vĩ mô Việt Nam những yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nghiên cứu
• Sử dụng hình Swot để phân tích môi trường kinh doanh của một doanh nghiệp
SWOT là mô hình “điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – đe dọa” cho phép phân tích môi trường kinh doanh cả từ bên trong và bên ngoài dưới trạng thái động Nhờ đó cho phép doanh nghiệp đưa ra cách xử lý kịp thời và nhạy bén hơn, nhưng đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải bám sát thị trường để cập nhật thông tin một cách hữu hiệu
Trang 2• Thế mạnh và điểm yếu: là những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp hay còn gọi là yếu tố bên trong
• Cơ hội và đe dọa là những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp
Doanh nghiệp mà nhóm chúng tôi chọn là May Việt Tiến Là doanh nghiệp là hình thành và phát triển lâu dài ở Việt Nam Ứng dụng mô hình SWOT vào phân tích sẽgiúp đưa ra một số giải pháp phát triển bền vững và lâu dài cho doanh nghiệp
1. PHÂN TÍCH 6 YẾU TỐ VĨ MÔ CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM
1.1. Yếu tố dân số
1.1.1.Quy mô và tốc độ tăng dân số
2h45 sáng 1/11/2013 Việt Nam đón công dân thứ 90 triệu
Với quy mô dân số như vậy, Việt Nam là quốc gai đông dân thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhiều song quy mô dân số còn khá lớn, đồng thời là nước nằm trong nhóm các nước có mật độ dân số cao nhất thế giới
Dân số Việt Nam sẽ đạt đỉnh vào năm 2050 và sẽ giảm dần sau đó Đến năm 2025, dân số Việt Nam đạt con số 100 triệu và sẽ đạt tối đa vào năm 2050 với 104 triệu Dự báo cho thấy sau năm 2050, dân số sẽ giảm dần đến năm 2100 là khoản 83 triệu tương đương với dân số năm 2005
Trang 31.1.2.Cơ cấu dân số: Theo độ tuổi giới tính
Theo tổng cục dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2012
Nhìn vào tháp dân số ta thấy dân số Việt Nam đang già hóa, tỉ lệ nam từ15-28 cao hơn các nhóm tuổi còn lại của nam
Năm 2012 số nam 43,92 triệu người tăng 1,09%; dân số nữ 44,86 triệu người tăng 1,04%
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so với năm 2011, trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm
2012 là 51,69 triệu người, tăng 2,7% so với năm 2011
Số người trong độ tuổi lao động lớn
1.1.3.Sự di chuyển chỗ ở trong dân cư: dân cư chuyển dịch từ nông thôn ra thành thị tập trung ở phía bắc
Dân cư thành thị là 25.436.896 người (29,6%) khu thôn có 60.410.101
người (70,4%) Trong thời kì 1999-2009, dân số thành thị đã tăng lên với tỷ lệ tăng bình quân 3,4% năm, trong khi ở khu vực nông thôn, tỷ lệ tăng dân số chỉ có 0,4% Dân số khu vực thành thị tăng nhanh chủ yếu
do di dân và quá trình đô thị hóa
Các điểm đô thị có mặt trên khắp lãnh thổ đất nước Tuy nhiên quá trình
đô thị hóa diễn ra không đồng đều Các vùng phía Bắc có tỷ lệ dân số đôthị ít hơn hẳn so với vùng phía Nam Mức độ đô thị hóa tăng lên ở việt
Trang 4Nam trong thập niên đầu của thế kỷ 21 gắn liền với quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế và xã hội của xã hội Việt Nam trong thời kỳ này Theo Tổng Điều tra Dân số 2009, các trung tâm đô thị được phân bố theo quy
mô như sau: loại có từ 2.000.000 dân đô thị trở lên có 2 thành phố (33,9% tổng số dân đô thị); các đô thị có từ 500.000 dân - < 2.000.000 dân chiếm 12% tổng dân số đô thị, với 4 thành phố; số đô thị có từ 200.000 - 500.000 dân là 9 (8,7% tổng dân số đô thị); và số đô thị có từ 100.000 - < 200.000 dân là 17 (10,2% tổng dân số đô thị) So với các TĐTDS trước đây, số lượng đô thị có quy mô dân số như vừa nêu đều tăng thêm và tỷ trọng dân số đô thị của các đô thị lớn đã tăng lên rõ rệt, cho thấy một xu hướng tập trung dân cư ở các đô thị lớn (TCTK, 2011).1.1.4.Chính sách dân số: nâng cao trình độ cho người dân, phát triển đô thị
• Nâng cao trình độ cho người dân
Các chính sách phát triển cũng hướng mạnh đến tạo việc làm, nâng cao chất lượng hoạt động đa dạng ngành nghề, chuyển đổi
cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghệ và dịch vụ Thực hiện tốt việc điều chỉnh quy mô dân số trên phạm vi toàn quốc cũng như từng vùng, miền, bao gồm KHHGD, di cư và đẩy mạnhxuất khẩu lao động
• Về đại thể, Việt Nam vẫn là mảnh đất “tam nông” nông thôn, nông nghiệp và nông dân Quá tình công nghiệp hóa và di dân sẽ kéo theo đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, đô thị sẽ mở rộng và dân sổ tích tụ trong khu vực đô thị sẽ tăng lên Bộ mặt lãnh thổ, không gian sẽ thay đổi mạnh mẽ
Do đó, nhà nước luôn chú trọng mở rộng phát triển đô thị lớn để chủ động đón dòng di cư đến nhưng cũng cần tránh sự hình thànhcác siêu đô thị với những thảm họa về môi trường và các vấn đề
xã hội bằng cách xây dựng đô thị vừa và nhỏ, tạo điều kiện phân
bổ hợp lý Tính đế các dự báo dân số trong quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội, nhất là quy hoạch xây dựng các côngtrình như đường xá, cầu cống để tránh những tổn thất do quy hoạch g
Trong những năm tới, đô thị hoá tiếp tục phát triển nhanh Theo Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 7/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát
Trang 5triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, Năm 2015 tổng số đô thị cả nước đạt khoảng trên 870
đô thị, trong đó, đô thị đặc biệt là 02 đô thị; loại I là 9 đô thị, loại
II là 23 đô thị, loại III là 65 đô thị, loại IV là 79 đô thị và loại V là
687 đô thị Năm 2025, tổng số đô thị cả nước khoảng 1000 đô thị,trong đó, đô thị từ loại I đến đặc biệt là 17 đô thị, đô thị loại II là
20 đô thị; đô thị loại III là 81 đô thị; đô thị loại IV là 122 đô thị, còn lại là các đô thị loại V” Các loại hình đô thị vừa và nhỏ ở Việt Nam sẽ vẫn chiếm ưu thế
Hội nghị phát triển đô thị hợp nhất – hướng tới thành phố xanh vàbền vững
• Dự án “phát triển các thành phố loại 2 tại Quảng Nam, Hà Tĩnh
Từ những phân tích về yếu tố dân số ở Việt Nam, ta rút ra được những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp như sau:
Cơ hội
1. Nhu cầu lớn ( quy mô dân số lớn)
2. Nguồn lao động dồi dào, chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao ( tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao, nhà nước chú trọng phát triển trình độ nguồn nhân lực)
3. Dân số tập trung chủ yếu ở các thành thị và ngày càng có xu hướng gia tăng
Thách thức
1. Dân số Việt Nam đang già hóa
2. Thị trường Việt Nam hấp dẫn thu hút nhiều doanh nghiệp trong
và ngoài nước khiến cho sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt
cạnh tranh sản phẩm: thách thức lớn nhất: có rất nhiều nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này, sẽ có rất nhiều cạnh tranh từ cá nước xuất khẩu mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ Nhiều đối thủ cạnh tranh trong nước đang rất phát triển như công ty TNHH dệt may Thái Tuấn, dệt may Thành Công
Cạnh tranh giá: tình hình dệt may Việt Nam sẽ còn gặp rắc rối
hơn nữa khi gái hàng hóa thị trường nhập khẩu chủ chốt như
Mỹ, châu Âu cắt giảm 20%
Trang 6Môi trường kinh tế không thuận lợi gây khó khăn cho doanh nghiệp
1.2.1.Tốc độ tăng trưởng kinh tế chững lại
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này
có xu hướng chững lại
Kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng trong năm
2009 vẫn trong thời kì khó khăn do hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu Tuy nhiên chính phủ Việt Nam đã có những chính sách hiệu quả để kiềm chế sự suy thoái và dần dần phục hồi nền kinh tế Năm
2011 do những bất ổn vĩ mô cuối năm 2010 và những tác động phụ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa nên tốc độ tăng trưởng kinh
tế giảm Đến nay, với những gì đã trải qua trong 2013, “tinh thần” tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu 5,5% dường như đã sẵn sàng
1.2.2.Lãi suất tăng cao
Cuộc khủng hoảng nổ ra, Việt Nam nhanh chóng có ứng xử mà điển hình là gói kích cầu 1 tỷ USD qua bù lãi suất Gói hỗ trợ này là tác độngchính đối với lãi suất cho vay khá mềm trong năm 2009 Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay liên tục leo thang, đặc biệt là sự ngột
Trang 7ngạt năm 2011.
Do những khó khăn của nền kinh tế lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều có xu hướng giảm; trong 6 tháng đầu năm 2013 NHNN có 3 lầnđiều chỉnh lãi suất: lãi suất huy động ngắn dao động từ 5%-7%/năm, lãi suất huy động dài hạn 7,1%-10%/ năm; lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại cũng giảm mạnh, với lãi vay trung, dài hạn dao động
từ 13%-14%/ năm, lãi suất vay ngắn hạn chỉ còn từ 9,5%-11,5%/ năm.Lãi suất giảm tạo điều kiện doanh nghiệp phát triển sản xuất, mở rộng quy mô nhưng đồng thời khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệpgặp nhiều khó khăn do các điều kiện ngân hàng đặt ra Mức lãi suất này vẫn là khá cao so với lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể tạo ra được
Nguồn dữ liệu: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt Nam
Trang 8Lạm phát tăng cao, người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng
1.2.4.Thu nhập tăng nhưng chủ yếu do yếu tố lạm phát
Thu nhập của người dân đang tăng, ước tính con số này sẽ lên tới 1.900USD vào năm 2013 Thu nhập tăng có khiến cho chi tiêu tăng trong tìnhhình kinh tế hiện nay hay không? Theo một nghiên cứu tổng quan về cuộc sống người dân Việt Nam năm 2013 chỉ ra rằng: Thu nhập cá nhântăng nhưng tăng là do ảnh hưởng của lạm phát vì vậy người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu hơn
Trang 9Thu nhập tăng mạnh ở một số ngành
Lao động làm công ăn lương trong các ngành dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ có mức thu nhập trung bình tăng tương ứng là 6,4%, 4,4%
và 11,8% trong 6 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012, và đạt
tương ứng là 3,6 triệu; 4,1 triệu và 3,7 triệu đồng/tháng trong 6 tháng
đầu năm 2013
1.2.5.Thất nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp chung của Việt Nam tăngnhẹ từ 1,71% trong 6 tháng đầu năm 2012 lên mức 2.01%
Trang 10Từ các phân tích về yếu tố kinh tế, ta rút ra được những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp
Thách thức
1. Môi trường kinh tế không thuận lợi
2. Chi phí lao động ngày càng tăng, nhất là chi phí cho lao động lành nghề và cạnh tranh tìm lao động lành nghề do tỉ lệ lao động lành nghề và có kĩ năng chiếm tỉ lệ nhỏ
1.3. Yếu tố chính trị pháp luật
1.3.1.Môi trường chính sách chưa thuận lợi
Môi trường chính sách còn chưa thuận lợi Bản thân các văn bản pháp lýcủa Việt Nam đang trong quá trình hoàn chỉnh, trong khi năng lực của các cán bộ xây dựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộ tham gia xúc tiến thương mại còn yếu, đặc biệt là hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, và kỹ năng
Chính sách thuế ảnh hưởng đối với ngành dệt may
Không ân huệ thuế
Theo dự thảo luật sủa đổi, bổ sung Luật quản lý thuế, hàng nhập khẩu nói chung phải nộp thuế ngay trước khi thông quan, không phân biệt mục đích nhập khẩu ( không ân hạn 275 ngày hoặc 30 ngày như trước
Trang 11kia) Trước thông tin trên, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã gửi kiến nghịlên Bộ tài chính không nên gỡ bỏ quy định ân hạn thuế và đề xuất giữ nguyên mức ân hạn thuế như hiện nay
Chính sách hỗ trợ ngành may mặc
Trong quyết định 36/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 về phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Việt Nam đặt mục tiêu phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm mũi nhọn về xuất khẩu Do đó, ngành may Việt Nam được ưu tiên phát triển
Nhà nước hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách, vốn ODA đối với các dự án quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu, trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm,đầu tư các công trình xử lý nước thải, quy hoạch các cụm công nghiệp dệt, xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các cụm công nghiệp mới, đào tạo
và nghiên cứu của các viện, trường, trung tâm nghiên cứu chuyên ngànhdệt may
1.3.2.Hợp tác trong khu vực và toàn cầu
• Gia nhập WTO
Mang lại nhiều lợi thế đó là: xuất khẩu không bị khống chế quota,một số thị trường đang đối xử phân biệt về thuế, sẽ đưa thuế nhậpkhẩu xuống mức bình thường, được hưởng những lợi ích từ môi trường đầu tư
• Hiệp định TPP “hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương”
điểm nổi bật của TPP là tự do hóa rộng rai về hàng hóa, thuế nhậpkhẩu được xóa bỏ hoàn toàn Việc tham gia hiệp định TPP là việclàm cần thiết trong bối cảnh ngành dệt may đang phải phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và thị trường tiêu thụ tạicác nước Đối với thị trường xuất khẩu sang Hoa Kì, thuế suất lênđến 17,5%, thị trường châu Âu 9,6%
• Vốn đầu tư nước ngoài:
Vốn đầu tư tăng: Chỉ tính trong 4 tháng đầu năm 2010, đã có 18
dự án FDI đầu tư vào ngành dệt may được cấp phép, với vốn đăng ký hơn 20 triệu USD
Khi tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế ngoài những cơ hội còn có nhiều thách thức với các doanh nghiệp trong nước:
Trang 12Hàng rào bảo hộ dệt may trong nước không còn
Khi vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện đúng cam kết theo hiệp định dệt may với mức giảm thuế suất lớn
Cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép, ngành
dệt may không còn đươc hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây như các hình thức hỗ trợ XK và thường XK từ quỹ hỗ trợ XK; các biện pháp miễn giảm thuế hoặc tiền thuê đất gắn với điều kiện XK; các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển
Các rào cản thương mại được vận dụng ngày càng linh hoạt và tinh vi hơn, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
• Trong bối cảnh XK hàng dệt may đang có những diễn biến khôngthuận lợi nhất là từ 2/2009, tất cả sản phẩm dệt may XK vào thị trường Hoa Kỳ sẽ phải tuân thủ theo những quy định mới cực kỳ nghiêm ngặt Đi kèm là những mức phạt lỗi vi phạm rất cao, có thể lên tới 15 triệu USD, trong khi trước đây mức phạt tối đa là vài triệu USD Các nhà xuất khẩu tại Hoa Kỳ sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính an toàn của hàng dệt may
• Nguy cơ bị kiện chống bán giá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các thị trường xuất khẩu
• Các quy định về xuất sứ của hàng hóa có thể ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập thị trường của sản phẩm dệt may
1. những thách thức khi gia nhập WTO, TPP
1.4. Yếu tố văn hóa xã hội
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng chú trọng đến sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo Thêm vào
đó, xu hướng và thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩmmay mặc cũng có sự biến đổi liên tục Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng đầu tư đúng mực cho công tác thiết kế sễ nhanh chóng tụt hậu