Kỳ vọng lạm phát của công chúng đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng đến lạm phát thực tế và khả năng của FED để đạt được sự ổn định giá cả. Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả bằng việc sử dụng cách đo lường khảo sát kỳ vọng lạm phát của công chúng từ 1953 đến 2007, sử dụng mô hình VAR cấu trúc để xác định các yếu tố kinh tế quyết định kỳ vọng lạm phát của công chúng và đưa ra bằng chứng cho thấy tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến lạm phát kỳ vọng qua các thời kỳ mẫu khác nhau là không hoàn toàn giống nhau. Bài viết này sử dụng mô hình VAR cấu trúc được đề xuất bởi LSS (2007) (dùng phương pháp khảo sát trực tiếp những kỳ vọng lạm phát của công chúng, đại diện bởi khảo sát trung vị Livingston về dự báo chỉ số lạm phát CPI tám tháng tới; các biến khác trong mô hình VAR này là chỉ số CPI thực tế, chỉ số giá hàng hóa, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất danh nghĩa ngắn hạn và một biến cú sốc giá dầu. LSS (2007) cho thấy chính sách tiền tệ phản ứng với những thay đổi ngoại sinh trong lạm phát kỳ vọng có thể giải thích cho lạm phát cao liên tục trong những năm 1970 và sự khác biệt trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Nếu LSS (2007) tập trung vào việc giải thích nguồn gốc của lạm phát cao liên tục trong những năm 1970, nghiên cứu của các tác giả lại tập trung vào việc giải thích nguồn gốc của những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng của công chúng đại diện ở đây bởi thước đo khảo sát Livingston về lạm phát kỳ vọng. Nhóm tác giả quan tâm đến việc xác định vai trò của các biến vĩ mô khác có thể gây ra sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Sử dụng những hàm phản ứng đẩy để kiểm tra về phản ứng của lạm phát kỳ vọng đối với những thay đổi bất ngờ tạm thời trong các biến kinh tế vĩ mô và thực hiện phân rã phương sai sai số dự báo của lạm phát kỳ vọng, chúng tôi kiểm tra những thay đổi trong tầm quan trọng tương đối của các biến vĩ mô khác nhau trong việc giải thích sự thay đổi của lạm phát kỳ vọng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG THAY ĐỔI TRONG KỲ VỌNG LẠM PHÁT: MỘT VÀI NHÌN NHẬN TỪ MÔ HÌNH VAR
10 Trần Triệu Anh Khoa
11 Lưu Thúy Phượng
Trang 22
Trang 3MỤC LỤC
1 TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU 1
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
4 MỞ RỘNG NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM 20
Trang 41 TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU
Kỳ vọng lạm phát của công chúng đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng đếnlạm phát thực tế và khả năng của FED để đạt được sự ổn định giá cả Trong bài nghiêncứu này nhóm tác giả bằng việc sử dụng cách đo lường khảo sát kỳ vọng lạm phát củacông chúng từ 1953 đến 2007, sử dụng mô hình VAR cấu trúc để xác định các yếu tố kinh
tế quyết định kỳ vọng lạm phát của công chúng và đưa ra bằng chứng cho thấy tác độngcủa các biến kinh tế vĩ mô đến lạm phát kỳ vọng qua các thời kỳ mẫu khác nhau là khônghoàn toàn giống nhau
Bài viết này sử dụng mô hình VAR cấu trúc được đề xuất bởi LSS (2007) (dùngphương pháp khảo sát trực tiếp những kỳ vọng lạm phát của công chúng, đại diện bởikhảo sát trung vị Livingston về dự báo chỉ số lạm phát CPI tám tháng tới; các biến kháctrong mô hình VAR này là chỉ số CPI thực tế, chỉ số giá hàng hóa, tỷ lệ thất nghiệp, lãisuất danh nghĩa ngắn hạn và một biến cú sốc giá dầu LSS (2007) cho thấy chính sách tiền
tệ phản ứng với những thay đổi ngoại sinh trong lạm phát kỳ vọng có thể giải thích cholạm phát cao liên tục trong những năm 1970 và sự khác biệt trong việc điều hành chínhsách tiền tệ Nếu LSS (2007) tập trung vào việc giải thích nguồn gốc của lạm phát cao liêntục trong những năm 1970, nghiên cứu của các tác giả lại tập trung vào việc giải thíchnguồn gốc của những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng của công chúng đại diện ở đây bởithước đo khảo sát Livingston về lạm phát kỳ vọng
Nhóm tác giả quan tâm đến việc xác định vai trò của các biến vĩ mô khác có thểgây ra sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng Sử dụng những hàm phản ứng đẩy để kiểm tra
về phản ứng của lạm phát kỳ vọng đối với những thay đổi bất ngờ tạm thời trong các biếnkinh tế vĩ mô và thực hiện phân rã phương sai sai số dự báo của lạm phát kỳ vọng, chúngtôi kiểm tra những thay đổi trong tầm quan trọng tương đối của các biến vĩ mô khác nhautrong việc giải thích sự thay đổi của lạm phát kỳ vọng
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) có khung cơ sở bao gồm các biến lạm phát
kỳ vọng, lạm phát thực tế, chỉ số giá hàng hóa, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất ngắn hạn, và giá dầu đểxem xét phản ứng của lạm phát kỳ vọng với những cú sốc khác nhau từ đó xác định ảnh hưởngcủa các yếu tố kinh tế vĩ mô này lên kỳ vọng lạm phát của công chúng từ 1953 đến 2007 Bên
1
Trang 5cạnh đó sử dụng phân rã phương sai để xác định phần đóng góp của các cú sốc đối với sự thayđổi của lạm phát kỳ vọng qua thời gian.
So sánh kết quả của quá trình trên qua thời kỳ mẫu lạm phát cao (GI – Great Inflation)
và thời kỳ mẫu lạm phát ổn định (GM – Great Moderation) để xem xét độ lớn và độ dài của các
cú sốc này đối với kỳ vọng lạm phát có khác nhau hay không
Xem xét các kết quả qua 2 giai đoạn mà FED tiến hành 2 chính sách tiền tệ khác nhau
để xem vai trò của chính sách tiền tệ có làm thay đổi phản ứng của kỳ vọng lạm phát đối với các
- Lãi suất tín phiếu Kho bạc ba tháng (πsr t ).
Biến ngoại sinh: 1 biến
- Cú sốc giá dầu (oil t)
Bài nghiên cứu tập trung vào một mô hình đơn giản cho phép giá trị trễ một kỳ của biến nội sinh
như trong phương trình (1):
B X t=Γ0+Γ1X t −1+ε t (1)
Trong đó,
X là vector 5 x 1 của các biến [π t e π t e , π t , cp t , ur t , sr t];
B, Γ0, và Γ1 là ma trận các hệ số cấu trúc
εt là một vector của những cú sốc cấu trúc [ε1t, ε2t, ε3t, ε4tt, ε5t]
Có thể hình dung dưới dạng thức ma trận như sau:
2
Trang 6Chúng tôi giả định rằng những cú sốc cấu trúc có trung bình bằng không và không
tương quan với nhau B là ma trận 5x5, trong đó có những yếu tố dọc theo đường chéo
chính là bằng 1, và các yếu tố ngoài đường chéo là các hệ số cấu trúc cho phép sự hiệndiện của những phản ứng đồng thời giữa các biến Chúng ta có thể thấy rõ điều này nếuchúng ta viết một cách rõ ràng các phương trình trong cấu trúc VAR, như thể hiện trongphương trình (1.1) đến (1.5):
Nếu chúng ta nhân (1) với B -1, chúng ta có được mô hình SVAR dạng thu gọn(reduced-form SVAR) dưới hình thức mô hình VAR tiêu chuẩn (4t):
Trang 7b12= b13= b14t= b15= 0.0b23= b24t= b25= 0.0 (2)b34t= b35= 0.0
1 Khá đơn giản, vấn đề xác định được đưa ra bởi vì số lượng các thông số chúng ta quan tâm trong khôi phục thường nhiều hơn số lượng các thông số rút gọn mà chúng ra quan sát sử dụng mô hình VAR rút gọn Do đó, chúng ta phải áp đặt đủ các hạn chế/ràng buộc, do đó giảm số thông số cấu trúc cần được khôi phục Nhìn chung, với một VAR n x 1 chiều và các cú sốc cấu trúc có trung bình bằng 0 và không tương quan, cần (n 2 – n)/2 các hạn chế để xác định các thông số và các cú sốc cấu trúc Mô hình VAR sử dụng ở đây có 5 biến, vì vậy chúng ta cần 10 hạn chế để xác định các thông số và các cú sốc cấu trúc.
4
Trang 8Cách xác định đệ quy được đưa ra trong phương trình (2) đặt ra 10 hạn chế và các cú sốc cấu trúc
có thể được phục hồi bằng cách sử dụng mối quan hệ ε t = Be t
Cơ sở hợp lý cho “Thứ tự định chuẩn” (Benchmark Ordering):
Như được chỉ ra ở trên, lý do chủ yếu cho cơ chế xác định định chuẩn là thời điểm
và thiết kế khảo sát Livingston, và cách mà các biến khác trong mô hình VAR cấu trúcđược xác định và đo lường cho phép giả định rằng những người tham gia khảo sát mà dự
đoán lạm phát CPI tại thời điểm t không biết lạm phát thực tế thời điểm t và các biến khác Dưới những giả định đó, ràng buộc b 12 = b 13 = b 14 = b 15 = 0.0 và cú sốc kì vọng (ε 1t)
có thể được xem như được xác định trước trong cùng thời kì Như nói ở trên, sai số rútgọn (shock) trong phương trình lạm phát kì vọng là một ước lượng cho cú sốc cấu trúc đối
với lạm phát kì vọng e 1 t=ε 1 t.
Để phân tích độ vững chúng tôi xem xét một “thứ tự định chuẩn” khác Trong “thứ
tự định chuẩn”, kì vọng lạm phát của công chúng không được cho phép phản ứng vớithông tin đồng thời về các biến khác của mô hình VAR, bởi vì công chúng không quan sátcác giá trị đồng thời của các biến này Tuy nhiên, điều hợp lý rằng công chúng có thể tiếpcận các biến khác mà truyền tải thông tin về giá trị hiện tại của các biến này Bởi vì rấtkhó để biết các biến nào khác mà công chúng có thể tiếp cận, chúng tôi xem xét độ nhạycác kết luận của chúng tôi đối với một “thứ tự định chuẩn” khác trong đó lạm phát kì
vọng được được xếp cuối cùng theo thứ tự {ππ t ,cp t ,ur t ,sr t ,π e
t }, vì vậy cho phép lạm phát
kì vọng phản ứng với thông tin đồng thời từ các biến khác của mô hình VAR Như đượctrình bày sau này, thứ tự định chuẩn thay thế này dẫn đến kết quả tương tự như thứ tựđịnh chuẩn được sử dụng
2.3 Dữ liệu nghiên cứu
Đo lường các biến
- Lạm phát kỳ vọng ( π e t )π t e
¿
Lấy theo dữ liệu khảo sát Livington khảo sát trực tiếp kỳ vọng lạm phát của công chúng.Người tham gia khảo sát là các chuyên gia dự báo chứ không phải là công chúng nói chung Bởi
vì khảo sát Livingston được thực hiện 2 lần 1 năm, dữ liệu đại diện thường xuyên 6 tháng, tháng
5 tới 10 và 11 tới tháng 4t Thời điểm khảo sát và cách thứ dữ liệu được đo lường làm lạm phát kì vọng trở thành các biến được xác định trước trong thời kì đồng thời như được giải thích bên
dưới
5
Trang 9mười hai, đó là một dự báo tám tháng Do đó, dự báo lạm phát CPI được thực hiện trong thời kỳ t
được tính là:2
- Các biến nội sinh khác (πt, cpt, urt, srt ): Các biến khác của VAR trong thời kỳ t này thì
được xác định như sau:
+ Lạm phát thực tế trong thời kỳ t :
logmứ c CPI thá ng 10
m ứ c CPI th á ng 4
+ Chỉ số giá hàng hóa, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất tín phiếu Kho bạc ba tháng
trong thời kỳ t là số trung bình sáu tháng của dữ liệu hàng tháng (tháng 5 - tháng 10)
Hơn nữa những quan sát này có nghĩa là những người tham gia cuộc khảo sát, khi đưa ra dự báo
lạm phát tại thời điểm t (cụ thể là, tháng 5), chưa biết lạm phát thực tế và các biến khác thực hiện tại thời điểm t trong mô hình VAR.
- Biến ngoại sinh giá dầu ( oil t)
Như đã nói ở trên, các cú sốc giá dầu được bao gồm như một biến giả, do đó mặcnhiên chúng được giả định là xác định trước Cú sốc giá dầu được đo bằng hai cách khácnhau:
+ Phương pháp đầu tiên tập trung vào việc giá dầu tăng có thể là do giảm sản lượngdầu thế giới do các sự kiện chính trị ở Trung Đông, như trong Hamilton (2003) Hamiltonxác định các sự kiện tiếp sau liên quan đến giảm ngoại sinh (trong ngoặc đơn) nguồn cungdầu trên thế giới: tháng 11 năm 1956, khủng hoảng kênh đào Suez (10,1 %); tháng 11năm 1973 Chiến tranh Ả Rập-Israel (7,8%); tháng 12 năm 1978, Cách mạng Iran (8,9 %);tháng 10 năm 1980 Chiến tranh Iran-Iraq (7,2%), và tháng 8 năm 1990, Vịnh Ba Tư chiến
2 Những người tham gia nhận một bảng câu hỏi khác trong tháng 11 và được yêu cầu dự đoán mức CPI trong tháng 6 của năm tiếp
theo, tạo ra một dự báo lạm phát CPI được thực hiện trong thời kỳ t+1 Lạm phát thực tế cho thời kỳ giữa tháng 10 và tháng 4t và
được xây dựng là log của tỷ số mức CPI tháng 4t năm tới trên mức CPI tháng 10 CPI, tỷ lệ thất nghiệp, và lãi suất T-bill 3 tháng
trong thời kỳ t+1 là trung bình 6 tháng của dữ liệu hàng tháng (tháng 11 đến tháng 4t).
6
Trang 10tranh (8,8%) Biến cú sốc giá dầu do đó là biến sốc cung dầu, bao gồm như là một biến giả định lượng mà có giá trị bằng sự sụt giảm sản xuất trên thế giới do các sự kiện lịch sử
này, và ngược lại bằng 0
+ Trong thời kỳ gần đây nhất, 1985:1-2007:1, chỉ có một sự kiện làm giảm sảnlượng dầu thế giới Tuy nhiên, có vài sự kiện làm tăng mạnh trong giá dầu mà không phải
là do sự giảm trong sản xuất dầu thế giới mà là do tăng cầu dầu của các nền kinh tế đangtăng trưởng như Ấn Độ, Trung Quốc, và các nền kinh tế Châu Á đang phát triển khác Đểxem xét sự kiện như vậy, chúng ta xem xét một thước đo khác của Hamilton, sự tăng giádầu ròng, là thước đo của giá dầu ròng tăng tương đối so với đỉnh hai năm qua Chúng tôibao gồm thước đo này của giá dầu ròng tăng lên như là một biến giả trong mô hình VAR,
xử lý nó như được xác định trước đối với các biến trong nước bao gồm trong VAR Đặcđiểm kỹ thuật này giả định rằng giá dầu tăng lên do giảm trong nguồn cung dầu thế giới
và gây ra bởi sự gia tăng trong nhu cầu dầu mỏ thế giới là như nhau, có các kết quả tương
tự như các hành vi của các biến số kinh tế vĩ mô.3
Cái nhìn trực quan dữ liệu
Dữ liệu biến trong mô hình VAR
3 Tuy nhiên, Kikian (2007) lập luận ngược lại, cho rằng có thể rất quan trọng để tách biệt các ảnh hưởng của các cú sốc cung – cầu dầu lên nền kinh tế.
7
Trang 11Figure 1 là đồ thị của bốn biến: lạm phát kỳ vọng, lạm phát thực tế, log của chỉ số giá hàng hóa,
và lãi suất thực kỳ vọng (lãi suất T-bill 3 tháng – lạm phát dự kiến) Bảng bên trái trong Figure 1
là đồ thị cho các dữ liệu từ 1950:1 đến 1979:1 và bảng bên phải là đồ thị cho dữ liệu từ 1979:2đến 2007:1 Một số quan sát nổi bật:
Đầu tiên, mặc dù chuỗi lạm phát thực tế và kỳ vọng di chuyển cùng nhau theo thời
gian, người tham gia khảo sát Livingston dự đoán thấp hơn lạm phát thực tế khi lạm phátđang gia tăng và dự đoán cao hơn lạm phát thực tế trong suốt thời kỳ giảm lạm phát giảmđầu những năm 1980
Thứ hai, sự tăng tốc của lạm phát thực tế không xuất hiện trùng với sự tăng lên
trong giá cả hàng hóa Tuy nhiên, sự tăng tốc của lạm phát xuất hiện mờ nhạt trong thời
kỳ mẫu sau 1985
Thứ ba, Figure 1 cũng cho thấy rằng chính sách tiền tệ là thích nghi trong những
năm 1970 Lãi suất thực âm từ năm 1974t đến năm 1977 Ngược lại, chính sách tiền tệ trở
8
Trang 12nên rất thắt chặt trong suốt đầu những năm 1980, nhưng lại một lần nữa nó có vẻ thíchnghi từ năm 2001 đến năm 2004t, khi lãi suất thực trở nên âm.
Thước đo cú sốc giá dầu
Figure 2 vẽ đồ thị hai thước đo cú sốc dầu: một thước đo đo lường sự sụt giảm trong sản xuất dầuthế giới và một thước đo khác, sự tăng giá dầu ròng Lạm phát thực tế và lạm phát kỳ vọng cũngđược biểu thị Hai quan sát nổi bật:
Đầu tiên, cú sốc nguồn cung dầu có vẻ liên quan đến sự tăng vọt trong lạm phát
thực tế trong giai đoạn trước năm 1979, sự liên kết này có vẻ biến mất sau năm 1979 Hơnnữa, sự tăng tốc trong lạm phát bắt đầu trong thời gian cuối những năm 1960 xảy ra trướckhi các cú sốc dầu mỏ của đầu những năm 1970, cho rằng giá dầu tăng cao không phải làmột lời giải thích có thể có của lạm phát lớn của năm 1970
Thứ hai, trong thời kỳ mẫu 1979:2-2007:1, chỉ có một sự kiện sụt giảm trong
nguồn cung dầu liên quan đến chiến tranh xảy ra trong năm 1990, dẫn đến giá dầu tăng
9
Trang 13cao được đo bằng tăng giá dầu ròng Tuy nhiên, sự gia tăng gần đây nhất của giá dầu,
được đo bằng tăng giá dầu ròng, đã xảy ra mà không có giảm sản lượng dầu thế giới, chorằng giá dầu tăng gần đây cũng có thể là do sự gia tăng trong tổng nhu cầu toàn cầu đốivới dầu Khi so sánh phản ứng của lạm phát kỳ vọng với những cú sốc dầu giữa các giai
đoạn mẫu, VAR sử dụng thước đo thứ hai về cú sốc dầu mỏ, cụ thể là, sự tăng giá dầu ròng được đo lường tương đối với đỉnh của 2 năm qua.
Thuộc tính nghiệm đơn vị
Như thể hiện trong phần tiếp theo, các cú sốc tạm thời đối với một số nhân tố cơbản (ví dụ , lạm phát thực tế, giá cả hàng hóa) có tác động lâu dài đối với lạm phát kỳvọng trong thời kỳ mẫu trước năm 1979, nhưng không trong các thời kỳ mẫu sau năm
1979 Nhưng cú sốc tạm thời có thể ảnh hưởng lâu dài trên lạm phát kỳ vọng chỉ khi thời
kỳ sau đó là một tiến trình nghiệm đơn vị (không dừng), cho thấy các thuộc tính chuỗithời gian của lạm phát kỳ vọng đã thay đổi trước và sau năm 1979 Đặc biệt, chuỗi lạmphát kỳ vọng phải có một nghiệm đơn vị trong thời kỳ mẫu trước 1979 (không dừng).Quan sát này được xác nhận bởi kiểm định Dickey-Fuller cho nghiệm đơn vị, cụ thể, kếtquả kiểm định cho thấy cả hai chuỗi lạm phát kỳ vọng và thực tế có nghiệm đơn vị trongthời kỳ mẫu trước năm 1979 nhưng dừng trong các thời kỳ mẫu sau 1979.4t Để xác địnhcác yếu tố cơ bản mà có thể là nguồn gốc tạo ra những thay đổi lâu dài trong động lực lạmphát kỳ vọng, chúng tôi sử dụng mô hình VAR bao gồm những yếu tố cơ bản tiềm năng
đó chứ không phải là lạm phát kỳ vọng
4 Kết quả kiểm định trong LSS (2007) cũng chỉ ra rằng các chuỗi lạm phát kỳ vọng và thực tế có nghiệm đơn vị trong thời kỳ mẫu trước 1979, nhưng dừng trong thời kỳ mẫu sau 1979 (1979:1-2001:1).
10
Trang 143 KẾT QUẢ NGHIÊN CƯU
Trong phần này, chúng ta sẽ kiểm tra phản ứng của lạm phát kỳ vọng trước những
cú sốc khác nhau Chúng ta tập trung vào những cú sốc của lạm phát thực tế, giá cả hànghóa và chính lạm phát kỳ vọng, bởi vì ba cú sốc này cùng nhau giải thích cho phần lớnnhững thay đổi trong lạm phát kỳ vọng
3.1 Phản ứng của lạm phát kỳ vọng với các cú sốc riêng lẻ
Chúng ta xem xét về phản ứng của lạm phát kỳ vọng đối với từng cú sốc riêng lẻ
trong lạm phát thực tế, lạm phát kỳ vọng, giá cả hàng hóa, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất và giádầu (hình 3+hình 4t)56
Với hình 3, ta tập trung vào những phản ứng của lạm phát kỳ vọng trước các cú sốc kỳvọng, lạm phát thực, giá cả hàng hóa trong hai thời kỳ GI và GM, sau đó so sánh kết quả tronghai thời kỳ Nhìn tổng quan, ta thấy lạm phát kỳ vọng đều tăng để phản ứng với sự tăng bất ngờcủa mỗi ba biến này, nhưng có sự khác biệt đáng kể trong độ dài và độ lớn giữa hai thời kỳ mẫu
GI và GM Nếu trong giai đoạn GI, sự gia tăng bất ngờ trong lạm phát thực tế, giá cả hàng hóa vàchính lạm phát kỳ vọng dẫn đến sự tăng kéo dài trong lạm phát kỳ vọng, thì trong giai đoạn GM,những gia tăng bất ngờ này chỉ có tác động trong thời gian ngắn lên lạm phát kỳ vọng
Cụ thể hơn:
- Phản ứng với một cú sốc trong kỳ vọng, trong giai đoạn GI, lạm phát kỳ vọng đãkhông quay trở lại mức trước cú sốc, thậm chí là sau 12 năm, tuy nhiên nó đã quay trởlại trong vòng bốn năm sau cú sốc trong giai đoạn GM
- Với cú sốc trong giá cả hàng hóa, lạm phát kỳ vọng cũng đã không quay trở lại mứctrước cú sốc trong giai đoạn GI , nhưng nó đã quay trở lại trong vòng một năm tronggiai đoạn GM
- Cú sốc lạm phát thực cũng có kết quả tương tự
5 Để tiết kiệm không gian, tác giả trình bày kết quả hai giai đoạn 1953:1 -1979:1(thời kỳ lạm phát cao – GI) và 1985:1 –
2007:1(thời kỳ ổn định cao – GM) trong hình 3, còn giai đoạn 1979:2 – 2001:1 được trình bày trong hình 4t
6 Giai đoạn 1953:1-1979:1, cú sốc dầu là cú sốc với biến giả nguồn cung dầu Hamiton và giai đoạn 1985:1-2007:1, cú sốc dầu là
cú sốc trong sự gia tăng giá dầu ròng Tất cả các phản ứng đều theo tỷ lệ phần trăm Cú sốc giá hàng hóa là cú sốc tăng 100 %, những cú sốc còn lại là cú sốc tăng 1 % Trong mỗi biểu đồ, đường màu đen thể hiện ước lượng điểm, khoảng bóng tối thể hiện ước lượng khoảng với độ tin cậy là 68%, khoảng bóng mờ thể hiện ước lượng khoảng với độ tin cậy 90% Trục x biểu thị các thời
kỳ 6 tháng.
11
Trang 15Tuy nhiên, trong cả hai thời kỳ GI và GM , cú sốc kỳ vọng có ảnh hưởng nhiều lên kỳ vọng lạmphát của công chúng hơn là ảnh hưởng của cú sốc lạm phát thực tế Thật vậy, trong giai đoạn GI,trước cú sốc tăng 1% trong lạm phát kỳ vọng, sau 12 năm, lạm phát kỳ vọng vẫn còn ở mức caohơn 0,8 % so với mức ban đầu, trong khi nó chỉ còn ở mức khoảng hơn 0,2% trước cú sốc tăng1% trong lạm phát thực tế Trong giai đoạn GM, khoảng hai năm sau cú sốc, lạm phát kỳ vọngvẫn còn cao hơn khoảng 0,4t% so với mức trước cú sốc lạm phát kỳ vọng, trong khi nó đã trở lạimức trước cú sốc khi phản ứng với cú sốc lạm phát thực tế
Đối với cú sốc tăng 1% trong tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát kỳ vọng chỉ giảm trong thời kỳ mẫu
GM Còn đối với cú sốc tăng 1% trong lãi suất danh nghĩa ngắn hạn, lạm phát kỳ vọng phản ứng
12
Trang 16tăng trong cả hai thời kỳ GI, GM, nhưng những phản ứng này lại không có ý nghĩa thống kê Tuynhiên với cú sốc nguồn cung dầu ngoại sinh (làm giá dầu tăng 1%), lạm phát kỳ vọng đã tăng và
có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn GI Nhưng trong thời kỳ mẫu GM, giá dầu tăng cao hơnkhông gây ra một phản ứng tăng trong lạm phát kỳ vọng Chúng ta sẽ thảo luận nhiều hơn vềnhững cú sốc giá dầu trong phần sau
Hình 4t cho thấy phản ứng của lạm phát kỳ vọng với từng cú sốc trong thời kỳ mẫu1979:2-2001:1 là tương tự như trong thời kỳ GM 1985:1-2007:1, nghĩa là sự phản ứng của lạmphát kỳ vọng rất yếu và ngắn ngủi
13
Trang 17Lạm phát kỳ vọng vẫn tăng trước cú sốc lạm phát thực tế hay của chính lạm phát kỳ vọng Tuynhiên, lạm phát kỳ vọng dường như không phản ứng trước cú sốc trong giá cả hàng hóa, giá dầu,hoặc thất nghiệp Ngược lại, lạm phát kỳ vọng đã giảm trước cú sốc trong lãi suất danh nghĩangắn hạn, và sự giảm này trong lạm phát kỳ vọng là có ý nghĩa thống kê, điều này cho thấy hànhđộng của chính sách tiền tệ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát của công chúng.
Trang 18Chúng ta tập trung vào phân rã phương sai trong tám kỳ đầu (tương ứng với bốn năm) Ta thấyrằng, bộ ba cú sốc lạm phát thực tế, giá cả hàng hóa và chính lạm phát kỳ vọng cùng nhau giảithích khoảng 95% trong thay đổi của lạm phát kỳ vọng trong giai đoạn mẫu trước năm 1979,nhưng chỉ giải thích khoảng 80% trong các thời kỳ mẫu sau 1979 Sự suy giảm này một phần do
sự suy giảm trong sự đóng góp tương đối của giá cả hàng hóa: những cú sốc giá hàng hóa chỉ giảithích khoảng 11% - 22% sự thay đổi của lạm phát kỳ vọng trong các giai đoạn sau 1979, trongkhi ở giai đoạn mẫu trước 1979 nó đã giải thích tới 4t0% - 50% của sự thay đổi
3.3 Sự thay đổi trong phản ứng động của lạm phát trước các cú sốc thông qua chính sách tiền tệ
Hình 5, hình 6 và hình 7 trình bày các phản ứng động của lạm phát thực tế, lạmphát kỳ vọng, lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa (đại diện cho chính sách tiền tệ củaFED) trước các cú sốc riêng rẽ.7
Đầu tiên, hình 5 trình bày các phản ứng động với cú sốc tăng 1% trong kỳ vọng
lạm phát.Ta thấy lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế đã tăng đáng kể để phản ứng vớimột cú sốc kỳ vọng trong thời kỳ mẫu 1979:2-2001:1, trong khi nó không phản ứng như
thế trong thời kỳ mẫu trước 1979 Điều này cho thấy FED đã cho phép lạm phát tăng trước 1979, tuy nhiên lại không cho phép lạm phát tăng trong đầu những năm 1980.
Trong thời kỳ mẫu gần đây nhất (1985:1-2007:1), phản ứng của lãi suất danh nghĩa trước
cú sốc kỳ vọng có phần yếu ớt so với thời kỳ mẫu 1979:2-2001:1, lãi suất danh nghĩa tăngrất thấp (0.5%) so với sự gia tăng trong lạm phát kỳ vọng (1%), do đó lãi suất thực banđầu giảm (-0.5%), nhưng chỉ một kỳ (6 tháng) sau cú sốc nó đã trở về với mức ban đầu
Vì trong suốt thời kỳ mẫu này lạm phát chỉ ở mức thấp, ổn định và kỳ vọng lạm phát cũng
ổn định, nên phản ứng của lãi suất trước cú sốc kỳ vọng không mạnh mẽ như trong giaiđoạn 1979-2001 Tuy nhiên, thực tế là lạm phát kỳ vọng đã bị đảo ngược và không còndẫn đến một sự gia tăng liên tục trong lạm phát thực tế do công chúng tin rằng FED sẽtiếp tục không cho phép lạm phát tăng, do đó, sẽ giữ lạm phát thấp và ổn định
7 Các phản ứng được tạo ra từ mô hình VAR Trong đó, mẫu 1953:1-1979:1 và 1979:2-2001:1 với biến giả là cú sốc cung dầu Hamilton (Panel A và Panel B), mẫu mở rộng 1985:1-2007:1 với biến giả là sự tăng giá dầu ròng Hamilton (Panel C) Phản ứng lãi suất thực là sự khác biệt giữa phản ứng lãi suất danh nghĩa và phản ứng lạm phát kỳ vọng.
15