1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận

72 744 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 902,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bạch tùng (Thông lông gà, Thông nàng, White pine) là một trong những loài cây có giá trị cao về kinh tế. Gỗ có màu vàng nhạt hay hơi nghệ, sáng màu, không có ống tiết, thớ thẳng mịn, mềm, gỗ nhẹ, tỷ trọng 0,46 – 0,57, dễ gia công nên rất được ưa chuộng để dùng làm đồ gia dụng trong gia đình, làm nhà, đóng hòm.Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích mối liên hệ giữa sinh trưởng của Bạch tùng với những yếu tố khí hậu và những yếu tố môi trường khác để giúp cho việc xác định đặc tính sinh thái của Bạch tùng.Từ mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra hai mục tiêu sau đây: Xây dựng chuỗi niên đại chỉ số vòng năm của Bạch tùng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đến sinh trưởng của Bạch tùng. Phân tích và xác định những yếu tố khí hậu và những yếu tố môi trường khác có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Bạch tùng ở khu vực Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp Sự cân bằng và ổn địnhcủa rừng được duy trì bởi nhiều yếu tố mà sự hiểu biết của con người còn rất hạnchế Nhưng con người trong quá trình sống đã vô tình hoặc cố ý hủy hoại nhữngnguồn tài nguyên thiên nhiên, những giá trị này đôi khi không thể hoàn trả lại được.Kết quả đã làm cho nhiều loài cây gỗ quí hiếm, cây bản địa, cây có giá trị cao vềkinh tế bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy trước khi nhữngtài nguyên bị cạn kiệt không thể phục hồi, cần phải nghiên cứu về thiên nhiên, tính

đa dạng sinh học của thiên nhiên để có thế bảo vệ, quản lý, sử dụng một cách bềnvững

Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận (tiền thân là Ban quản

lý rừng phòng hộ Trị An, trước đây là một khu rừng tự nhiên tương đối giàu có vàtính đa dạng sinh học cao,có nhiều loài cây quý hiếm và những loài có giá trị kinhté Một trong những loài thực vật giá trị kinh tế cần được nghiên cứu bảo vệ ở Banquản lý rừng phòng hộ La Ngà là loài cây Bạch tùng.Nhưng hiện nay, diện tích,chất lượng, trữ lượng rừng cũng như dự đa dạng sinh học đã giảm sút do nhiềunguyên nhân gây ra

Bạch tùng (Thông lông gà, Thông nàng, White pine) là một trong nhữngloài cây có giá trị cao về kinh tế Gỗ có màu vàng nhạt hay hơi nghệ, sáng màu,không có ống tiết, thớ thẳng mịn, mềm, gỗ nhẹ, tỷ trọng 0,46 – 0,57, dễ gia côngnên rất được ưa chuộng để dùng làm đồ gia dụng trong gia đình, làm nhà, đónghòm

Để bảo tồn và phát triển loài Bạch tùng có hiệu quả cao, cần phải có nhữnghiểu biết tốt về đặc tính sinh thái học của loài cây này Trước đây các nghiên cứu vềrừng ở Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà Bình Thuận chỉ tập trung vào thống kêtài nguyên rừng, nghiên cứu thành phần loài cây Cho đến nay còn rất ít nghiên cứu

về vai trò của các yếu tố khí hậu đến với sinh trưởng và phát triển của Bạch tùng.Dovậy, chúng tôi xin được thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí

Trang 2

hậu đến sinh trưởng của Bạch tùng (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng

phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận”

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích mối liên hệ giữa sinh trưởngcủa Bạch tùng với những yếu tố khí hậu và những yếu tố môi trường khác để giúpcho việc xác định đặc tính sinh thái của Bạch tùng

Từ mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra hai mục tiêu sau đây:

- Xây dựng chuỗi niên đại chỉ số vòng năm của Bạch tùng để làm cơ sở choviệc nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đến sinh trưởng của Bạch tùng

- Phân tích và xác định những yếu tố khí hậu và những yếu tố môi trườngkhác có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Bạch tùng ở khu vực Ban quản lýrừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là loài cây Bạch tùng mọc trong kiểu rừngthường xanh trên núi cao của lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, huyệnTánh Linh, tỉnh Bình Thuận

Ý nghĩa của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của đề tài đưa lại những ý nghĩa sau đây:

- Về lý luận, đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu để xây dựng chuỗi niên đại vòngnăm và đánh giá tác động của khí hậu đến sinh trưởng của rừng Bạch tùng

- Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ khoa học để

dự đoán điều kiện khí hậu thuận lợi và không thuận lợi đối với sinh trưởng củaBạch tùng; đồng thời áp dụng những biện pháp lâm sinh thích hợp để cải thiện môitrường sống của rừng Bạch tùng

Chương 1

Trang 3

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về cây Bạch tùng

Bạch tùng, tên khoa học: Dacrycarpus imbricatus Blume

Thuộc họ Kim giao: PODOCARPACEAE

Bạch tùng là cây gỗ lớn cao 35 m, đường kính 50 – 70 cm Thân thẳng, tròn,cành nhiều, xòe rộng Vỏ màu nâu đỏ, gồ ghề, có nhựa màu nâu nhạt, thịt vỏ màu dacam

có 2 hàng khí khổng, khi mới mọc chỉ có 7 – 10 lá dạng vảy xếp xoắn ốc Nón đực

và cái đều mọc thẳng đứng đầu cành, quả nón chín sau một năm hình trụ dài 12 –20cm khi chín màu hạt dẻ, ra nón tháng 3, 4 nón chín tháng 10 Vảy (lá noãn) quảhình trứng rộng mỏng mép cong ra ngoài hạt dài 0,6 cm có cánh màu vàng

Bạch tùng là một trong những loài cây có giá trị về kinh tế Gỗ có màu vàngnhạt hay hơi nghệ, sáng màu, không có ống tiết, thớ thẳng mịn, mềm, gỗ nhẹ, tỷtrọng 0,46 – 0,57, dễ gia công nên rất được ưa chuộng để dùng làm đồ gia dụngtrong gia đình, làm nhà, đóng hòm trang trí nội thất (bàn, ghế, giường, tủ…)

Trong tự nhiên, Bạch tùng thường mọc Bạch tùng thường mọc rải rác trongrừng thường xanh, là loài cây ưa sáng, tái sinh hạt tốt Cây mọc rải rác trong rừngthường xanh ở Quảng bình, Hà Tỉnh, Nghệ An, Ninh Bình, Hòa Bình, Tuyên

Trang 4

Quang, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Bình Thuận Riêng ở Bìnhthuận, Bạch tùng phân bố ở độ cao từ 800 m trở lên tại một số nơi như Tánh Linh

và Bắc Bình Hiện nay, do khai thác và sử dụng không hợp lý, nên môi trường sống

của Bạch tùng đang bị thu hẹp (Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ)

1.2 Khái quát về khí hậu – thực vật

Theo Douglass (1936, 1937)[18, 19], Bitvinskas (1974)[17] và Fritts, H C

(1971)[20], khoa học về khí hậu thực vật (Dendroclimatology) là khoa học khôi

phục lại khí hậu quá khứ bằng cách sử dụng các lớp vòng năm Đây là một phânmôn của khoa học về tuổi thọ của cây gỗ hay khoa học về niên đại của cây gỗ

(Dendrochronology) Tiếp đầu ngữ Dendro xuất phát từ tiếng Hylạp, Dendron, có

nghĩa là cây gỗ (Tree) Từ chronology là tên của một ngành khoa học nghiên cứu về

thời gian và xác định niên đại cho các sự kiện đặc biệt

Tuổi của cây gỗ có thể được xác định gần đúng nhờ những vòng năm ở phầndưới của gốc cây Bằng cách so sánh vòng năm của những đoạn gỗ chưa biết tuổivới những vòng năm trên cây sống, chúng ta có thể tìm được năm mà đoạn gỗ này

đã hình thành Vì thế, các vòng năm có thể được sử dụng để xác định năm mà các

sự kiện làm cho cây bị khuyết tật hoặc chết [2, 3, 10, 15, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 24].Theo Bitvinskas (1974)[17] và Fritts (1971)[23, 24], sở dĩ chúng ta có thể xác địnhchính xác thời gian mà những sự kiện (khí hậu, lửa, sâu hại…) đã ảnh hưởng đếncây gỗ là vì, tăng trưởng của cây gỗ được ấn định bởi khí hậu, địa hình-đất, lửa, sâuhại… Những năm có khí hậu thuận lợi và không thuận lợi (năm ẩm và năm khô,năm nóng và năm lạnh) được các loài cây gỗ ghi lại đầy đủ bằng các vòng năm rộng

và hẹp Vì thế, những cây gỗ được xem như những “nhà biên niên sử” (Annalist orChronicler)

Thuật ngữ “Khoa học về niên đại thực vật (Dendrochronology)” chỉ việc sử

dụng lớp vòng năm của cây gỗ để ghi lại các sự kiện Tuy vậy, thuật ngữ “Khoa học

về niên đại thực vật” cũng có thể được sử dụng cho những nghiên cứu về môitrường và khí hậu Khoa học về niên đại thực vật bao gồm một số phân môn khácnhau như khí hậu thực vật (Dendroclimatology), lập bản đồ khí hậu thực vật

Trang 5

(Dendroclimatography), sinh thái cây gỗ (Dendroecology), thủy văn thực vật(Dendrohydrology), địa chất thực vật (Dendrogeomorphology)… Khí hậu thực vật(Dendroclimatology) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu khí hậuquá khứ (Paleoclimate) và hiện tại Lập bản đồ khí hậu thực vật(Dendroclimatography) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để lập bản đồ khí hậuquá khứ và hiện tại Sinh thái cây gỗ (Dendroecology) biểu thị việc phân tích cáclớp vòng năm để nghiên cứu các quần xã sinh học trong quá khứ Thủy văn thực vật(Dendrohydrology) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu các dòngchảy của sông - hồ và lịch sử lũ lụt Địa chất thực vật (Dendrogeomorphology) biểuthị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu các quá trình địa chất (Bitvinskas,1974)[17].

Theo Bitvinskas (1974)[17] và Fritts (1971)[24], những kiến thức của khoahọc về niện đại thực vật có thể cung cấp những thông tin có giá trị về khí hậu quákhứ (Paleoclimate) Nguyên nhân là vì, bề rộng vòng năm được đo dễ dàng chonhiều năm liên tục và chúng có thể được dùng để kiểm tra tài liệu khí hậu Các vòngnăm ghi lại chính xác các hiện tượng thời tiết của những năm mà chúng hình thành

Số liệu vòng năm cũng có thể được sử dụng để truy tìm những biến động của khíhậu xuất hiện định kỳ (hay theo chu kỳ) theo một số năm nhất định Ngoài ra, nócòn giúp chúng ta dự đoán những biến đổi của khí hậu trong tương lai

1.3 Lịch sử nghiên cứu khí hậu – thực vật

Theo Bitvinksas (1974)[17], vòng năm của thân cây gỗ là nguồn cung cấpthông tin về điều kiện tự nhiên diễn ra trong thời gian hình thành nó Bằng việcnghiên cứu vòng năm, các nhà khoa học có thể truy tìm trở lại lượng mưa, gió,tuyết, lửa rừng và các hoạt động của núi lửa cách đây hàng trăm năm Bitvinksascũng nhận thấy rằng, khi xác định được tuổi vòng năm cây gỗ và tăng trưởng hàngnăm của vòng năm trong mối liên hệ với các biến động của khí hậu, chúng ta có thểkhôi phục và dự báo được các hiện tượng và quá trình tự nhiên khác Kohler (1949)[22] và Kozlowski (1962)(Dẫn theo 15) cho rằng, các phương pháp sinh khí hậuhọc (phương pháp dựa trên mối liên hệ giữa vòng năm với các nhân tố khí hậu) có

Trang 6

thể được sử dụng rộng rãi để xác lập mối liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra trên tráiđất với hoạt động của mặt trời, khôi phục và dự báo biến động của các quá trình tựnhiên Phương pháp sinh khí hậu học còn được sử dụng không chỉ trong các nghiêncứu về động thái nguồn nước, chế độ thủy văn, qui luật biến động của khí hậu và dựbáo khí hậu, mà còn về sinh thái cá thể và quần thể cây rừng, dự báo năng suất vàdiễn thế rừng, dự báo sâu bệnh, đánh giá hiệu quả các biện pháp kỹ thuật lâm sinh

và ảnh hưởng của con người tới rừng (Bitvinksas, 1974)[17]; Koerber, 1970)[21]

Nhiều nhà nghiên cứu (Bitvinksas, 1974[17]; Fritts, 1971[24]; Kozlowski,1971[25]) cho rằng, hiện nay những nghiên cứu về khí hậu ngày càng được đẩymạnh hơn Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm xây dựng những dãy sốbiểu hiện sự biến động của vòng năm trong thời gian dài, xây dựng những thangchuẩn của biến động vòng năm đối với từng vùng địa lý riêng biệt Kết quả củanhững nghiên cứu đó sẽ làm sáng tỏ những ảnh hưởng định lượng của các nhân tốsinh thái, đặc biệt là hoạt động của mặt trời, đến sinh trưởng và năng suất của rừng

Những nghiên cứu về sinh khí hậu còn được áp dụng để phân tích ảnh hưởngcủa các nhân tố khí hậu đến sinh trưởng của các loài cây gỗ Khi sử dụng phươngpháp sinh khí hậu để phân tích biến động của tăng trưởng và phân hóa cây rừng của

các lâm phần thông Pinus sylvestris ở Varônhezơ (Russia), Vương Văn Quỳnh

(1990)(Dẫn theo [15]) đã nhận thấy rằng, những cây thuộc cấp sinh trưởng khácnhau có phản ứng không giống nhau với các điều kiện khí hậu Ở những lâm phầnnon, tăng trưởng cây rừng phụ thuộc rõ rệt vào khí hậu Hoạt động của mặt trời ảnhhưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng cây rừng Sinh trưởng của những câythuộc cấp sinh trưởng kém phụ thuộc rất ít vào hoạt động của mặt trời Khi nghiêncứu tương quan giữa nhiệt độ và lượng mưa với biến thiên của chỉ số vòng năm của

loài Pinus longaeva, Oberhuber (2002)(Dẫn theo [15]) nhận thấy bề rộng vòng năm

nhỏ là do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp Fritts (1972) đã phát hiện thấy sự sinh

trưởng của loài Picea glauca dọc theo các con kênh đào và các dòng suối phụ thuộc

vào lượng mưa hàng năm Vào những năm khô hạn, sự tăng trưởng của vòng nămkém hơn nhiều so với những năm có lượng mưa lớn

Trang 7

Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng, sinh trưởng của các loài cây gỗ

có mối liên hệ rõ rệt với các nhân tố khí hậu Khi nghiên cứu hai loài Abies lasiocarpa và Pseudotsuga menziesli, Fritt (1980) đã nhận thấy rằng sinh trưởng

của chúng có mối liên hệ rõ rệt với nhiệt độ và lượng mưa Chỉ số tăng trưởng

đường kính của loài Pseudotsuga menziesli có mối quan hệ tuyến tính dương với

lượng mưa từ tháng 7 năm trước đến tháng 1, 2, 6 và tháng 7 năm sau Ngược lại,

chỉ số tăng trưởng đường kính của loài Abies lasiocarpa có quan hệ tuyến tính

dương với lượng mưa của các tháng 11 và 12 năm trước và tháng 2, 3 và 6 năm sau

Lượng mưa lớn giúp cho loài Abies lasiocarpa tăng trưởng trong một thời gian dài

từ tháng 11 đến tháng 2 Nghiên cứu của Fritt và Mayer cũng cho thấy chỉ số tăngtrưởng của cả hai loài trên đều có tương quan dương với nhiệt độ tháng 8 (thángcuối mùa tăng trưởng)(Dẫn theo [15])

Theo Eklund (1957)(Dẫn theo [15]), chỉ số tăng trưởng của loài Picea excelsa ở phía bắc Thụy Điển từ năm 1900 – 1944 có quan hệ rõ rệt với một số yếu

tố khí hậu theo dạng: Y = 99,41 + 0,9188x1 – 3,129x2 – 2,405x3 – 0,4282x4; trong

đó x1 là số ngày mưa từ 16 tháng 5 đến 31 tháng 7 cho những năm t có nhiệt độ bìnhquân cao nhất là 16C, x2 là sản lượng hạt giống của năm t, x3 là sản lượng hạt giốngcủa năm t-1, x4 là nhiệt độ hàng ngày cao nhất của năm t-1 Lượng mưa cũng đượcđưa vào phân tích nhưng do hệ số hồi qui của nó không có ý nghĩa thống kê nên đã

bị loại bỏ

Khi nghiên cứu loài Pinus halepensis ở miền nam nước Pháp, Serre (1966)

nhận thấy chỉ số vòng năm (Y) có quan hệ rõ rệt với số năm liên tục từ năm 1 đếnnăm 21 (x1), số ngày sau ngày 1 tháng giêng khi mùa hè khô bắt đầu (x2), số ngày

có tuyết rơi từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau (x3), tổng lượng mưa trongmùa khô (x4), tổng lượng mưa trong mùa mưa (x5) và độ dốc của các lâm phầnnghiên cứu (x6) Phương trình mối quan hệ có dạng: Y = 3,070–0,5965x1–0,01811x2+0,00208x3-0,00018x4–0,233392x5+0,01199x6 Bằng phương trình hồi quituyến tính, Schulman và Bryson (1965) đã dự đoán được vòng năm của loài

Quercus rubra đạt tối đa khi thỏa mãn các điều kiện sau: lượng nước bốc hơi trong

Trang 8

tháng 6 thấp, tổng lượng mưa trong tháng 5 và tháng 7 cao, nhiệt độ bình quântháng 5 của năm trước thấp và lượng nước bốc hơi tháng 4 năm trước cao (Dẫn theo[15])

Những nghiên cứu của Phạm Trọng Nhân (2003)[5] và Nguyễn Văn Thêm(2003)[12] cho thấy, thông ba lá ở Lâm Đồng có quan hệ tuyến tính âm khá rõ rệtvới nhiệt độ không khí trung bình tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng 9, tháng 10 và tậphợp 3 tháng 2 – 4 Sự gia tăng số giờ nắng của các tháng đầu mùa khô (2-3) và giữamùa mưa (7-10) đều có khuynh hướng làm giảm khá rõ rệt chỉ số tăng trưởngđường kính của thông ba lá Biến động của chỉ số độ ẩm không khí hàng tháng cũngnhư cả năm có ảnh hưởng không rõ rệt đến biến động chỉ số tăng trưởng đường kínhcủa thông ba lá Sự gia tăng chỉ số thuỷ nhiệt trong các tháng 1 và 2, 6 và 10 – 12 sẽkéo theo sự suy giảm chỉ số tăng trưởng đường kính của thông ba lá Ngược lại, sựgia tăng chỉ số thuỷ nhiệt của tháng 3 – 5 và tháng 9 lại có khuynh hướng kéo theo

sự nâng cao chỉ số tăng trưởng đường kính của thông ba lá Biến động chỉ số tăngtrưởng đường kính thông ba lá phụ thuộc rất rõ rệt vào biến động của tổ hợp chỉ sốnhiệt độ tháng 2, chỉ số lượng mưa tháng 2 và chỉ số giờ nắng tháng 2 Biến độngchỉ số tăng trưởng đường kính thông ba lá cũng có mối quan hệ rất rõ rệt với biếnđộng của tổ hợp chỉ số nhiệt độ tháng 9, chỉ số lượng mưa tháng 9 và chỉ số giờnăng tháng 9 Giữa biến động chỉ số tăng trưởng đường kính thông ba lá và tổ hợpchỉ số nhiệt độ, chỉ số lượng mưa và chỉ số giờ nắng của các tháng 2,3 và 9 cũng tồntại mối quan hệ rất rõ rệt

1.4 Thảo luận chung

Từ những thông tin tóm lược về phương pháp nghiên cứu khí hậu thực vật,nhận thấy cần thảo luận thêm những vấn đề sau:

- Phương pháp niên đại thực vật và khí hậu thực vật cho phép xác định ảnhhưởng của khí hậu đến tăng trưởng của cây gỗ Nội dung cơ bản của hai phươngpháp này là phân tích mối liên hệ giữa biến động của chỉ số vòng năm trên thân cây

gỗ với biến động của chỉ số khí hậu Kết quả nhận được cho phép suy đoán ảnhhưởng của các yếu tố khí hậu đến tăng trưởng của cây gỗ, d8ồng thời còn có thể dự

Trang 9

đoán khuynh hướng tăng trưởng của cây gỗ và biến động của các yếu tố khí hậu Vìthế, để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả cũng sẽ ứng dụng phươngpháp niên đại thực vật và khí hậu thực vật để làm rõ mối quan hệ của Bạch tùng vớikhí hậu

- Cho đến nay, ngoài những thông tin về khu vực phân bố và phân loại Bạchtùng, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về Bạch tùng ở Bình Thuận Vì thế,hiện nay khoa học và thực tiễn vẫn chưa thể hiểu rõ vai trò của các yếu tố khí hậuđối với sinh trưởng và phát triển của Bạch tùng Vì lý do đó, đề tài này dự kiến tậptrung nghiên cứu làm rõ ba vấn đề sau đây:

+ Tình trạng phân bố cây Bạch tùng trên lâm phận Ban quản lý rừngphòng hộ La Ngàm huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận

+ Đặc điểm khí hậu trên lâm phận Ban quản l rừng phòng hộ La Ngà; + Đặc điểm bề rộng vòng năm và chỉ số vòng năm của Bạch tùng;

+ Mối quan hệ giữa biến động chỉ số vòng năm của Bạch tùng với biếnđộng nhiệt độ không khí, lượng mưa, số giờ nắng và độ ẩm không khí của nhữngtháng trong năm Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất những mô hình phân cấp điều kiệnkhí hậu thuận lợi và không thuận lợi đối với sinh trưởng của Bạch tùng

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Trang 10

2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của đơn vị

Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà được thành lập theo Quyết định số1934/QĐ-UBND ngày 26 tháng 07 năm 2006 của UBND tỉnh Bình Thuận trên cơ

sở chia tách một phần lâm phận từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Trị An cũ Diện tíchrừng được giao quản lý nằm trên địa bàn các xã La Ngâu, Huy Khiêm, Đồng Kho,Bắc Ruộng thuộc huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận

Theo Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 13/03/2007 về việc điều chỉnh quyhoạch 03 loại rừng của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010 và định hướng quyhoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 – 2020 thì tổngdiện tích tự nhiên quy hoạch ổn định cho Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà giaiđoạn 2011 – 2015 là 19.228ha bao gồm 21 tiểu khu

2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý – Phạm vi ranh giới – Tổng diện tích

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Tọa độ VN 2000 – Bình Thuận múi 3 :

0414000 - 0430000

1231000 - 1259000Phía Bắc giáp: Tỉnh Lâm Đồng

Phía Nam giáp: Đất sản xuất của dân và cách sông La Ngà khoảng 1kmPhía Tây giáp: Ban Quản lý rừng phòng hộ Trị An

Phía Đông giáp: ranh giới huyện Hàm Thuận Bắc và Ban Quản lý rừng HàmThuận - Đa Mi

Trụ sở của Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà nằm trên địa bàn thôn 3 – xãBắc Ruộng cách Thị trấn Lạc Tánh về hướng Đông Nam khoảng 20km

2.2.1.2 Diện tích

Trang 11

Theo Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 13/03/2007 về việc điều chỉnh quyhoạch 03 loại rừng của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010 và quy hoạch Bảo vệ

và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 – 2020 thì tổng diện tích tự nhiênquy hoạch ổn định cho Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà là 19.228ha bao gồm 21tiểu khu

* Rừng phòng hộ: 8.169ha gồm 9 tiểu khu: 330(330A(59ha), 330B(432ha)),

324(324A(972ha), 324B(23ha)), 312(1.053ha), 318(1.032ha), 314(1.133ha),313(931ha), 332(332A(273ha), 332B(743ha)), 325(813ha), 333(705ha)

* Rừng sản xuất: 11.060ha gồm 12 tiểu khu: 329(944ha), 323(323A(554ha),

323B(57ha)), 331(565ha), 335(934ha), 334( 334A(371ha), 334B(1.042ha)),342(342A(689ha), 342B(13ha)), 336(336A(781ha), 336B(429ha)),341(341A(740ha), 341B(479ha), 337(659ha), 338(1.063ha), 339(1.157ha),340(583ha)

Tổng trữ lượng lâm sản theo kết quả kiểm kê rừng năm 1999: 1.503.427,3m3,

và 18.833.688 cây tre, nứa, lồ ô

2.2.1.3 Những đặc điểm tự nhiên

Địa hình:

Toàn bộ lâm phận của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà nằm trên địa hìnhtương đối phức tạp, về phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng được bao bọc bởi các dãy núicao, có độ cao từ 300-1600m, độ dốc từ 10-350, địa hình nghiêng từ Đông bắcxuống Tây nam, độ cao giảm dần từ Đông bắc xuống Tây nam, điểm thấp nhất vềphía nam cao 150m so với mực nước biển

Thổ nhưỡng: Có các loại đất chính như sau:

- Feralít đỏ vàng: Có thành phần cơ giới trung bình, cấu tượng viên, cục nhỏ,tầng đất mặt dày trên 100cm Đây là nhóm đất phản ảnh rõ rệt của đất nhiệt đới ẩm

Trang 12

- Đất đen Luvisols: Hình thành trên đá mẹ giàu kiềm, thành phần cơ giới từthịt trung bình đến thịt nặng pha sét Có 2 loại đất đen gồm: đất đen tầng mỏng vàđất nâu thẩm trên đá Ba Zan.

- Đất mùn vàng đỏ trên núi Alisols: có màu xám đen ở tầng mặt, tầng dưới

có màu đỏ vàng hoặc màu vàng đỏ Thành phần cơ giới từ thịt pha cát đến thịt nặngpha sét tầng dày 70- 100 cm

- Đất xói mòn trơ sỏi đá Leptosol

Khí hậu thời tiết:

Huyện Tánh Linh chịu ảnh hưởng khí hậu của hai vùng Đông Nam bộ và caonguyên Lâm Đồng, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 2 mùa mưa nắng

- Lượng mưa : 1877-2479mm/năm

- Số ngày mưa trung bình/năm: 149ngày/năm

- Số giờ nắng trung bình: 5,9giờ/ngày

- Độ ẩm tương đối trung bình: 76-83%

- Tốc độ gió trung bình: 2-3,2m, có 2 hướng gió chính; gió mùa Đông bắcthổi từ tháng 11 đến tháng 03 mang theo không khí khô, gió mùa Tây nam thổi từtháng 04 đến tháng 10 mang theo không khí ẩm

- Lượng hơi nước bốc hơi: trung bình trên 900mm/năm, trong đó lượng bốchơi nước trong những tháng mùa khô(tháng 11 đến tháng 04 năm sau) chiếm trên50% lượng bốc hơi nước cả năm, sự bốc hơi nước kết hợp với vận tốc gió trên 3m/s

sẽ gây nên hiện tượng thiếu ẩm ở mùa khô

Trang 13

Thuỷ văn:

Về phía nam ranh giới quản lý của đơn vị là sông La Ngà, đây là con sônglớn nhất của huyện Tánh Linh và là nơi cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sảnxuất nông nghiệp trong vùng Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Bảo Lộc caotrên 1300m chảy từ thượng nguồn về Tánh Linh theo hướng Bắc Nam, sau đó bịchắn bởi hai ngọn núi Ông và núi Dang Suin nên đổi hướng Đông tây chảy quahuyện Tánh Linh Trong lâm phận quản lý có rất nhiều suối nhỏ chảy xiết vào mùamưa, dễ gây ra lũ quét cục bộ

4.1.3 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng

Theo Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 13/03/2007 về việc điều chỉnh quyhoạch 03 loại rừng của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010 và quy hoạch Bảo vệ

và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 – 2020 thì tổng diện tích tự nhiênquy hoạch ổn định cho Ban Quản lý rừng phòng hộ La Ngà là 19.228ha bao gồm 21tiểu khu Trong đó:

- Diện tích có rừng: 17.819,3ha, chiếm 92,67%

- Diện tích đất LN không có rừng: 1.409,7ha, chiếm 7,33%

Phân theo hiện trạng như sau:

- Rừng gỗ lá rộng: 11.753,7ha

+ Rừng giàu IIIA3: 886,5ha+ Rừng trung bình ( IIIA2): 1854,7ha+ Rừng nghèo (IIIA1): 2022,8ha+ Rừng non (IIA.IIB): 6989,7ha

- Rừng hổn giao: 6065,6ha

+ Rừng gỗ + Tre nứa: 3.389,6ha

Trang 14

+ Rừng tre nứa + gỗ: 870,3ha+ Rừng tre nứa: 1805,7ha

- Hiện trạng IA: 199,4ha

- Hiện trạng IB: 534,5ha

-Hiện trạng IC: 558ha

-Đất khác: 117,8ha

Theo kết quả kiểm kê rừng thì hiện nay tổng trữ lượng gỗ toàn lâm phận:1.503.427,3m3, Trong đó trữ lượng gỗ đối tượng rừng IIIA3: 182.619m3, M/ha:206m3; rừng trung bình IIIA2: 337.555.4m3, M/ha: 182m3; rừng nghèo IIIA1:161.824m3, M/ha: 80m3 ; rừng non phục hồi IIA, IIB: 587.134,8m3, M/ha: 84m3 ;rừng hỗn giao: 234.294,5m3, M/ha: 55m3

Diện tích rừng hỗn giao tre nứa và thuần tre nứa: 6.065,6ha, tổng trữ lượng18.833.688cây, bình quân: 3.105cây/ha.( phân bố chủ yếu tại các tiểu khu: 331, 334,

335, 339, 332, 333, 336, 312,318, 324 )

Theo quyết định số 40/2005/ QĐ- BNN-PTLN ngày 07 tháng 07 năm 2005,các đối tượng rừng nói trên có thể đưa vào thiết kế khai thác lâm sản phụ: 6065,5hatrong phương án điều chế rừng giai đoạn 2011-2015 tại đơn vị

Riêng diện tích đất lâm nghiệp không có rừng ( Hiện trạng Ia, Ib, Ic và đấtkhác) với tổng diện tích 1409,7ha thì tiến hành đưa vào trồng rừng đối với nhữngdiện tích đất trống tập trung, diện tích đất trống còn lại nằm da beo ít diện tích thìtiến hành đưa vào khoanh nuôi phục hồi rừng

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu là loài cây Bạch tùng mọc trong kiểu rừng thườngxanh ở khu vực Ban quản lý rừng phòng hô La Ngà, tỉnh Bình Thuận Những lâmphần này mọc trên địa hình trên 800 m so với mực nước biển Thời gian nghiên cứu

từ tháng 12/2010 đến tháng 12 năm 2011

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu bao gồm:

- Đặc điểm khí hậu ở khu vực nghiên cứu

- Đặc điểm chung của kiểu rừng thường xanh ở khu vực nghiên cứu

- Phân bố loài cây Bạch tùng trên lâm phần Ban quản lý rừng phòng hô LaNgà, tỉnh Bình Thuận

- Đặc điểm bề rộng vòng năm và chỉ số vòng năm của Bạch tùng

- Mối quan hệ giữa chỉ số bề rộng vòng năm của Bạch tùng với các yếu tố khíhậu

- Phân cấp mức độ thuận lợi của khí hậu đối với sinh trưởng của Bạch tùng

gỗ khác nhau về tính chất Tập hợp các lớp gỗ hình thành trong thời gian một nămđược gọi là vòng năm (Tree – rings)

Trang 16

Như vậy, sinh trưởng và phát triển của thực vật là tấm gương phản ánhnhững biến đổi của khí hậu và các yếu tố khác của môi trường Nói một cách khác,mọi sự biến đổi của môi trường đều được ghi lại trên cấu trúc và bề rộng của cáclớp vòng năm Do đó bằng việc phân tích mối liên hệ giữa biến động bề rộng vòngnăm với biến động của các yếu tố khí hậu, có thể xác định được những nhân tố khíhậu và thời gian mà chúng ảnh hưởng rõ rệt đến cây gỗ Mặt khác, vì những biếnđổi của các hiện tượng tự nhiên thường mang tính qui luật, nên có thể thông quahiện tượng biến đổi các lớp vòng năm để dự báo những hiện tượng tự nhiên sẽ xảy

ra Sau cùng, khi biết được những nhân tố khí hậu và thời gian ảnh hưởng củachúng đến thực vật, có thể chủ động phân cấp mức độ thuận lợi của thời tiết đối vớisinh trưởng của cây gỗ, đồng thời đề ra những biện pháp gây trồng, nuôi dưỡng vàkhai thác rừng sao cho có lợi nhất

3.3.2 Thu thập số liệu vòng năm và khí hậu

3.3.2.1 Thu thập tài liệu khí hậu

Chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm nhiệt độ không khí, lượng mưa, độ ẩm khôngkhí và số giờ nắng của 12 tháng trong năm Do đặc điểm khu vực nghiên cứu nằm

xa trung tâm tỉnh Bình Thuận mà lại nằm giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng (gần thị xãBảo Lộc) nên chúng tôi sử dụng chuỗi khí hậu được thu thập ít nhất là 20 năm tạiTrạm khí tượng - thủy văn Bảo Lộc cách khu vực nghiên cứu khoảng 20 - 22 kmđường chim bay

3.3.2.2 Thu thập những đặc trưng của rừng hỗn hợp lá rộng lá kim

Đặc trưng của rừng hỗn hợp lá rộng lá kim được mô tả khái quát thông qua 3

ô tiêu chuẩn điển hình với kích thước 2000m2 Những ô tiêu chuẩn này được bố trí ởnhững nơi xuất hiện quần thể Bạch tùng Nội dung thống kê trong mỗi ô tiêu chuẩnbao gồm:

- Thành phần loài cây,

- Mật độ lâm phần (N, cây/ha),

- Đường kính thân cây ngang ngực (D, cm),

- Chiều cao toàn thân (H, m),

Trang 17

- Độ tàn che tán rừng,

- Tiết diện ngang lâm phần (G, m2/ha),

- Trữ lượng gỗ của lâm phần (M, m3/ha)

Phương pháp thu thập số liệu: Đường kính thân cây ở vị trí ngang ngực được đo đạcbằng thước kẹp kính với độ chính xác 0,5 cm Chiều cao thân cây độ tàn che tánrừng được mục trắc bằng mắt Địa hình và đất được xác định dựa theo bản đồ địahình, máy định vị GPS và bản đồ đất với tỷ lệ 1/25.000 – 1/50.000 Nói chung, kiểurừng được nhận biết theo chỉ dẫn của Thái Văn Trừng (1998)[6] Nội dung đo đạctrong ô tiêu chuẩn được thực hiện theo chỉ dẫn chung của lâm học

3.3.2.3 Điều tra tình trạng phân bố loài cây Bạch tùng trên lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà

- Thực hiện phỏng vấn những người dân sống bằng nghề rừng lâu năm ở khuvực núi cao trên 800m so với mặt biển, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số từng đilấy trầm những năm 1980 ở khu vực trên Phỏng vấn lực lượng bảo vệ rừng của Banquản lý rừng phòng hộ La Ngà Xem xét các tài liệu điều tra rừng trước đấy

- Tiến hành mở các tuyến điều tra trên khu vực núi cao 800 m so với mựcnước biển, Các tuyến được thực hiện dựa vào các đường mòn và hệ thống đường behiện có Sử dụng máy định vị xác định vị trí các cây Bạch tùng, đo đường kính 1,3m; ước lượng chiều cao vút ngọn

- Xây dựng sơ đồ phân bố loài cây Bạch tùng trên lâm phận Ban quản lýrừng phòng hộ La Ngà

3.3.2.4 Thu thập mẫu vòng năm của cây Bạch tùng

- Chọn cây mẫu: Để xác định mối liên hệ giữa tăng trưởng Bạch tùng với cácyếu tố khí hậu, trước hết cần phải loại trừ những ảnh hưởng của các yếu tố môitrường khác như đất, tuổi cây, biện pháp tác động Việc loại trừ ảnh hưởng của đất

và biện pháp tác động được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu tăng trưởng đườngkính của Bạch tùng trên cùng một dạng địa hình và loại đất Ở đây những lâm phầnđược đưa vào đo đếm mẫu là rừng tự nhiên, phân bố ở độ cao trên 800 m so với mặtbiển

Trang 18

Dự kiến số lượng cây mẫu để nghiên cứu tăng trưởng vòng năm dao động

từ 08-15 cây Những cây tiêu chuẩn phải đảm bảo một số tiêu chuẩn như tuổi trên

15 năm, sinh trưởng bình thường đến tốt, thân thẳng và tròn đều, không bị cụt ngọnhay hai thân, tán lá tròn đều, không bị sâu hại hay cháy Ngoài ra, những cây mẫuđược ưu tiên chọn khi chúng mọc trên địa hình dốc, tầng đất mỏng, nhiều đá lộđầu…

Lấy mẫu vòng năm:

Sử dụng khoang tăng trưởng để đo đếm vòng năm

Chọn cây mẫu: Để xác định mối liên hệ giữa tăng trưởng Bạch tùng với các

yếu tố khí hậu, trước hết cần phải loại trừ những ảnh hưởng của các yếu tố môitrường khác như đất, tuổi cây, biện pháp tác động Việc loại trừ ảnh hưởng của đất

và biện pháp tác động được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu tăng trưởng đườngkính của Bạch tùng trên cùng một dạng địa hình và loại đất Ở đây những lâm phầnđược đưa vào đo đếm mẫu là rừng tự nhiên, phân bố ở độ cao trên 800 m so với mặtbiển

Sau khi xác định được đối tượng nghiên cứu, tiến hành chọn những cây mẫu

để thu thập mẫu vòng năm Căn cứ kết quả điều tra phân bố loài cây Bạch tùng,chúng tôi chọn 15 cây để khoan lấy mẫu Những cây này đạt một số tiêu chuẩn nhưsinh trưởng bình thường đến tốt, thân thẳng và tròn đều, không bị cụt ngọn hay haithân, tán lá tròn đều, không bị sâu hại hay cháy và mọc trên địa hình dốc, …

Ở mỗi cây vòng năm được thu thập theo 2 hướng đối với nhau tại vị trí 1,3 mtrên thân cây bằng khoan tăng trưởng Các mẫu gỗ được bảo quản trong ống plastic

Các mẫu khoan đem về tiến hành thực hiện các bước sau:

- Cắt ống nhựa đựng mẫu khoan và đưa mẫu khoan vào máng gỗ có rãnh vớikích thước của rãnh tương ứng với kích thước mẫu khoan

+ Xác định chiều dài của mỗi mẫu khoan

+ Cưa máng gỗ với chiều dài lớn hơn chiều dài mỗi mẫu khoảng 4 cm,chừa hai đầu, mỗi đầu 2 cm

Trang 19

+ Cho keo dán gỗ vào rãnh của máng gỗ dọc theo chiều dài tương ứngvới chiều dài mẫu khoan.

+ Cho mẫu khoan vào rãnh đã trét keo cho chiều dọc của sợi gỗ vuônggóc với rãnh của máng gỗ để hình dạng vòng năm được thể hiện đúng theo mặt cắtngang thân cây và ấn nhẹ để mẫu khoan dính vừa chặt vào rãnh của máng gỗ

+ Sau đó, ghi chú những thông tin cần thiết vào máng gỗ như: ngày lấymẫu, địa điểm lấy mẫu, thứ tự mẫu trên cùng một cây, vị trí mẫu trên cây (hướngdốc – trên dốc hay dưới dốc) từ thông tin đã ghi trên ống nhựa đựng mẫu gỗ

+ Dùng băng keo dán cố định mẫu khoan vào máng gỗ từ 2 – 3 vị trí tùytheo chiều dài và độ cong của mẫu khoan

- Tất cả máng gỗ đã được cố định mẫu khoan được xếp theo thứ tự, sát nhau,

để ở nhiệt độ phòng và bề mặt có mẫu khoan hướng lên trên, sau đó dùng vật tươngđối nặng có mặt phẳng tiếp xúc đè lên các mẫu để mẫu khoan cố định vào máng gỗ

- Để sau 2 – 3 ngày cho keo dán gỗ khô, tiến hành lấy vật nặng và bóc băngkeo dán giấy khỏi các mẫu, kiểm tra loại bỏ 02 mẫu bị nứt, hỏng.0

- Dùng máy chà dọc theo mẫu khoan sao cho mặt phẳng được chà vuông gócvới sợi gỗ (lượng mất đi khoảng 1/4 – 2/5 tiết diện ngang của mẫu khoan)

- Để vòng năm được hiện rõ trên mặt chà phục vụ cho việc đo đếm bề rộngđược chính xác, các bước thực hiện như sau:

+ Dùng giấy nhám 300 chà lên bề mặt của mẫu khoan cho mất đi các vụn

gỗ còn lại sau khi chà bằng máy để làm bóng

+ Tiếp theo dùng giấy nhám mịn 400 tiếp tục chà làm bóng bề mặt mẫukhoan, lúc này vòng năm thể hiện tương đối rõ trên mẫu khoan

+ Sau đó dùng giấy nhám mịn 600 tiếp tục chà lên mẫu khoan cho đếnkhi vòng năm thể hiện rất rõ trên mẫu khoan

- Sắp xếp và bó các mẫu trên cùng một cây để tránh nhầm lẫn mẫu giữa cáccây với nhau

- Trước tiên xác định số năm của mẫu (bề rộng mỗi vòng – gỗ sớm + gỗmuộn – tương ứng với một năm) Do bởi cây có kích thước to lớn ở rừng tự nhiên,

Trang 20

mẫu được khoan ở vị trí 1,3 m, không biết tuổi chính xác của cây và thời điểm lấymẫu là tháng 5/2011 nên xác định năm trên mẫu được thực hiện từ ngoài vào (vỏ)tức là từ 2010 trở về trước.

- Khi xác định được năm của mẫu khoan, tiến hành đo bề rộng các vòng nămtrên mỗi mẫu từ trong ra ngoài (bắt đầu từ năm đã được xác định trước)

3.3.2.5 .Xác định ảnh hưởng của khí hậu đến sinh trưởng của Bạch tùng

Để xác định tỷ lệ đóng góp (tính theo phần trăm) của của khí hậu và nhữngyếu tố phi khí hậu trong biến động tăng trưởng vòng năm của Bạch tùng, đề tài sửdụng kỹ thuật phân tích thành phần biến động Ở đây chỉ giới hạn nghiên cứu ảnhhưởng phối hợp của khí hậu, tuổi cây và hướng dốc Để đạt được mục tiêu này,phương pháp thu thập số liệu như sau:

Chọn 08 cây đặc trưng để đánh giá tăng trưởng vòng năm Để đánh giá biếnđộng do ảnh hưởng của hướng dốc, thực hiện thu thập hai chuỗi vòng năm ở haihướng khác nhau trên mỗi cây Hướng khoan mẫu thứ 1 và mẫu thứ 2 trên một câytương ứng là hướng cây mọc chậm (hướng lên dốc) và hướng cây mọc nhanh(hướng xuống dốc)

Làm rõ ảnh hưởng của khí hậu: sử dụng 29 vòng năm ngoài cùng của cácmẫu thu thập từ 8 cây được chọn, tương ứng với khoảng thời gian từ năm 1980d0đến năm 2008

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

3.3.4.1 Tính toán và tổng hợp đặc trưng lâm phần

Trước hết, tập hợp những số liệu điều tra lâm phần trên những ô tiêu chuẩn

Kế đến, tính những đặc trưng thống kê mô tả (trung bình, nhỏ nhất, lớn nhất,sai tiêu chuẩn, phạm vi biến động, hệ số biến động…) cho những nhân tố điều tranhư mật độ, tiết diện ngang thân cây, trữ lượng gỗ, tổ thành hay độ ưu thế củaloài…Độ ưu thế của loài được tính trung bình từ ba tham số mật độ, tiết diện ngang

và trữ lượng thân cây

Tiếp đến, tập hợp và sắp xếp thành bảng để thuyết minh đặc trưng lâm phần.Sau đó dựa vào số liệu tổng hợp để phân tích những đặc trưng sau đây:

Trang 21

+ Điều kiện hình thành rừng (dạng địa hình và đất).

+ Thành phần loài cây theo chi và họ

+ Vai trò của các loài trong sự hình thành quần xã Vai trò của loài đượcđánh giá thông qua độ ưu thế trung bình của nó

Nói chung, những đặc trưng lâm phần được mô tả, phân tích so sánh và tổnghợp theo chỉ dẫn chung của lâm học

3.3.4.2 Tính những đặc trưng khí hậu

Các bước thực hiện:

Tập hợp chuỗi số liệu khí hậu theo năm

Tính những đặc trưng thống kê mô tả như trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất,phương sai, sai tiêu chuẩn, hệ số biến động…

Xây dựng biểu đồ Gaussen – Walter để mô tả tổng quát khí hậu ở BìnhThuận

Tổng hợp và thuyết minh những đặc trưng khí hậu

3.3.4.3 Xác định những đặc trưng của bề rộng vòng năm và chỉ số vòng năm

Trình tự xử lý số liệu như sau:

+ Bước 1 Xử lý mẫu gỗ để đo đạc vòng năm Trước khi đo đạc bề rộng các

vòng năm, các mẫu gỗ được xử lý bằng giấy nhám mịn Sau đó thực hiện đối chiếuthời gian để xác định các vòng năm tương ứng với các năm lịch, bắt đầu từ vòngnăm ngoài cùng gần nhất với năm nghiên cứu (2009-2010) Bề rộng vòng năm được

đo lặp lại 3 lần bằng kính lúp với độ chính xác đến 0,10mm; kết quả lấy trung bình

+ Bước 2 Biến đổi số liệu Để nhận được kết quả nghiên cứu đáng tin cậy,

trước hết loại bỏ một số vòng năm ở trung tâm lõi gỗ và vòng năm ở ngoài cùng(tương ứng với năm lịch 2010) Sở dĩ chúng bị loại bỏ là vì, những vòng năm gầnruột gỗ rất nhỏ, còn vòng năm ngoài cùng phát triển chưa hoàn chỉnh

+ Bước 3 Tính chỉ số tăng trưởng đường kính thân cây Bề rộng của lớp

vòng năm biến động tùy thuộc vào tuổi cây, hướng khoan trên thân cây, vị trí câytrong lâm phần, lập địa, tình trạng tăng trưởng của lâm phần và những tác độngkhác (lửa, sâu bệnh, biện pháp lâm sinh…) Vì thế, để loại trừ ảnh hưởng của tuổi

Trang 22

cây và các yếu tố khác, đã biến đổi bề rộng vòng năm thành chỉ số tăng trưởng bềrộng vòng năm Tùy theo đặc tính vòng năm ở những hướng khoan và cây mẫukhác nhau, chỉ số vòng năm có thể được tính theo hai phương pháp sau đây:

+ Phương pháp thứ nhất Trước hết, mô tả khuynh hướng biến đổi bề rộngvòng năm theo tuổi bằng hàm số mũ theo dạng:

trong đó a, b và k là các hệ số, e là cơ số logarít tự nhiên, Yt là lượng tăng trưởngvòng năm kỳ vọng ở năm t Các giá trị a, b và k thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm (độdốc) của từng chuỗi vòng năm Giá trị t thay đổi từ 1 đến n năm

Kế đến, tính chỉ số vòng năm bằng cách chia bề rộng vòng năm thực tế (Idtt,cm) cho bề rộng vòng năm lý thuyết (Yt, cm), nghĩa là:

+ Phương pháp thứ hai Chỉ số vòng năm được tính theo phương pháp bìnhquân trượt ba năm Theo phương pháp bình quân trượt, tất cả các số liệu về dãyvòng năm được tính bình quân trượt 3 năm với bước nhảy 1 năm theo công thức:

trong đó, Kdi là dãy biến động vòng năm được tính bình quân trượt 3 năm với bướcnhảy 1 năm; Xi - bề rộng vòng năm ở năm thứ i

+ Bước 4 Xây dựng chuỗi niên đại chỉ số bề rộng vòng năm Sau khi đã xác

định được chỉ số vòng năm của từng hướng khoan trên một cây mẫu và những câymẫu khác nhau, thực hiện xây dựng chuỗi niên đại chỉ số bề rộng vòng năm trungbình tương ứng với những năm lịch khác nhau Sau đó chuỗi niên đại chỉ số bề rộngvòng năm được sử dụng để nghiên cứu quan hệ giữa chỉ số vòng năm với các yếu tốmôi trường (khí hậu và phi khí hậu) Trình tự xây dựng chuỗi niên đại chỉ số bềrộng vòng năm cho Bạch tùng như sau:

Trước hết, xây dựng chuỗi niên đại chỉ số bề rộng vòng năm trung bình chocây mẫu Để đạt mục đích này, đầu tiên kiểm định tính tương đồng giữa chỉ số bềrộng vòng năm trên những hướng khoan khác nhau của một cây mẫu bằng hệ sốtương quan hạng của Spearman Nếu chúng không có sự tương đồng với nhau, thì

Trang 23

thực hiện đo đạc lại vòng năm và đối chiếu lại thời gian chính xác ở các hướngkhoan khác nhau Ngược lại, khi chúng có sự tương đồng với nhau, thì tính giá trịchỉ số bề rộng vòng năm trung bình đại diện cho từng cây mẫu.

Xây dựng chuỗi niên đại chỉ số bề rộng vòng năm trung bình đại diện chonhững cây mẫu Đầu tiên kiểm định tính tương đồng giữa những chỉ số bề rộngvòng năm trung bình trên những cây mẫu khác nhau bằng hệ số tương quan hạngcủa Spearman Nếu chỉ số bề rộng vòng năm của những cây mẫu không có sự tươngđồng nhau, thì thực hiện kiểm tra lại chỉ số vòng năm và đối chiếu lại thời gian trêntừng cây mẫu Ngược lại, những cây mẫu nào có chỉ số bề rộng vòng năm tươngđồng với nhau, thì gộp chung và tính giá trị chỉ số bề rộng vòng năm trung bình

+ Bước 5 Tính các chỉ số khí tượng Những chỉ số nhiệt độ không khí, chỉ số

mưa và chỉ số thủy nhiệt theo tháng và thời kỳ nhiều tháng được tính toán theophương pháp trung bình di động 3 năm tương tự như chỉ số vòng năm Ở đây hệ sốthủy nhiệt (k) của các tháng trong năm được tính theo công thức:

trong đó R là tổng lượng mưa tháng hoặc nhiều tháng (M, mm), T là tổng lượngnhiệt của tháng hoặc nhiều tháng tương ứng (T0C)

+ Bước 6 Tính những đặc trưng thống kê cơ bản của chuỗi vòng năm.

Những đặc trưng thống kê cơ bản của chuỗi bề rộng vòng năm và chỉ số bề rộng

vòng năm được mô tả bằng những tham số thống kê sau đây: giá trị trung bình (X),giá trị lớn nhất (Max), giá trị nhỏ nhất (Min), phương sai (S2), sai tiêu chuẩn (S), sai

số chuẩn của số trung bình (Se), hệ số biến động (V%) Ngoài ra, đặc trưng thống kêvòng năm còn bao gồm:

+ Hệ số tự tương quan thứ nhất Đó là tương quan giữa bề rộng vòng năm(hoặc chỉ số bề rộng vòng năm) của năm hiện tại t và bề rộng vòng năm (hoặc chỉ số

bề rộng vòng năm) của năm trước (năm t – 1) Chỉ tiêu này dùng để thuyết minhảnh hưởng của tuổi đến tăng trưởng các vòng năm

Trang 24

+ Tính nhạy cảm trung bình (msx) Chỉ tiêu này đo đạc sự khác biệt tươngđối trong bề rộng vòng năm từ năm này đến năm khác Tính nhạy cảm trung bìnhđược tính theo công thức:

trong đó: Xt là bề rộng vòng năm của năm t, Xt+1 là bề rộng vòng năm của năm t+1,

n là số vòng năm nghiên cứu, dấu gạch đứng biểu thị giá trị tuyệt đối Giá trị củatính nhạy cảm trung bình thay đổi từ 0 đến 2 Giá trị zero cho biết không có sự khácbiệt tương đối trong bề rộng vòng năm từ năm này đến năm khác Giá trị 2 cho biếtgiá trị zero xuất hiện bên cạnh giá trị khác zero trong chuỗi thời gian

Quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành tính chỉ số tăng trưởng bềrộng vòng năm của Bạch tùng theo phương pháp bình quân trượt

3.3.4.4 Xác định quan hệ giữa chỉ số bề rộng vòng năm với chỉ số khí hậu

Mối quan hệ giữa biến động chỉ số tăng trưởng vòng năm của Bạch tùng vớibiến động của các chỉ số khí hậu được xử lý theo ba bước sau đây:

+ Bước 1 Xác định quan hệ giữa chỉ số vòng năm với những biến khí hậu.

Khuynh hướng và cường độ quan hệ giữa chỉ số tăng trưởng vòng năm của Bạchtùng với những chỉ số khí hậu của các tháng trong năm được phân tích thông qua

ma trận tương quan đơn Từ kết quả ở bước này, phân tích và giải thích mối quan hệgiữa chỉ số tăng trưởng vòng năm của Bạch tùng với những chỉ số khí hậu

+ Bước 2 Xây dựng những mô hình mô tả quan hệ giữa chỉ số tăng trưởng vòng năm của Bạch tùng với những chỉ số khí hậu Để đạt được mục đích này, trước

hết từ những biến khí hậu của các tháng trong năm có quan hệ rõ rệt với bề rộngvòng năm, thực hiện xây dựng những mô hình hồi quy tương quan đơn và hồi quytương quan đa biến để tìm dạng liên hệ giữa chúng Mô hình hồi quy đơn có dạngtuyến tính: Y = a + bX Mô hình hồi quy đa biến có dạng tuyến tính: Y = a + bX1 +cX2 + + kXk Ở đây Y là chỉ số vòng năm, còn Xi là các biến khí hậu (nhiệt độ,lượng mưa hàng tháng trong năm ) Cuối cùng tập hợp kết quả tính toán thànhbảng và đồ thị để thuyết minh và phân tích

2.3.4.5 Xác định tỷ lệ ảnh hưởng của khí hậu và những yếu tố khác

Trang 25

Ảnh hưởng phối hợp của khí hậu, tuổi cây và hướng dốc đến biến động chỉ

số tăng trưởng bề rộng vòng năm của Bạch tùng được xử lý theo phương pháp phântích thành phần biến động Kết quả phân tích trả lời những câu hỏi sau đây:

(a) Khi hậu đóng góp bao nhiêu phần trăm trong biến động tăng trưởng vòngnăm của Bạch tùng ?

(b) Sự khác nhau về niên đại của những cây mẫu trong cùng một nhóm tuổiđóng góp bao nhiêu phần trăm trong biến động vòng năm của Bạch tùng? Biến độngnày phản ánh tính phức tạp của lập địa và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến tăngtrưởng vòng năm của Bạch tùng

2.3.4.6 Xây dựng bảng phân cấp điều kiện khí hậu

Bảng phân cấp điều kiện khí hậu thuận lợi và không thuận lợi đối với sinhtrưởng của Bạch tùng được xây dựng từ những mối liên hệ rõ rệt nhất giữa chỉ sốtăng trưởng bề rộng vòng năm của Bạch tùng với ba biến nhiệt độ, lượng mưa và sốgiờ nắng hàng tháng trong năm Căn cứ vào phạm vi biến động của ba biến khí hậunày, thực hiện phân chia mức độ thuận lợi của khí hậu thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trungbình, xấu và rất xấu

3.3.5 Công cụ xử lý số liệu

Tất cả số liệu phân tích đặc trưng lâm phần, xác định quan hệ giữa sinhtrưởng của Bạch tùng với khí hậu được xử lý bằng phần mềm Excel, SPSS 10.0 vàStatgraphics Plus Version 5.1 Việc xử lý số liệu, phân tích tương quan và hồi quyđược thực hiện theo các chỉ dẫn của thống kê toán học và các tài liệu tham khảokhác [2, 3, 4, 6, 8, 9, 13, 15, 16, 27, 28]

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

4.1.1 Đặc trưng lâm phần

Trước hết, tập hợp những số liệu điều tra lâm phần trên những ô tiêu chuẩn.của rừng hỗn hợp lá rộng lá kim

Trang 26

Đặc trưng của khu vực nghiên cứu là rừng hỗn hợp lá rộng lá kim được mô

tả khái quát thông qua 3 ô tiêu chuẩn điển hình với kích thước 2000m2 Những ôtiêu chuẩn này được bố trí ở những nơi xuất hiện quần thể Bạch tùng Nội dungthống kê trong mỗi ô tiêu chuẩn bao gồm:

- Thành phần loài cây,

- Mật độ lâm phần (N, cây/ha),

- Đường kính thân cây ngang ngực (D, cm),

- Chiều cao toàn thân (H, m),

- Độ tàn che tán rừng,

- Tiết diện ngang lâm phần (G, m2/ha),

- Trữ lượng gỗ của lâm phần (M, m3/ha)

Kế đến, tính những đặc trưng thống kê mô tả (trung bình, nhỏ nhất, lớn nhất,sai tiêu chuẩn, phạm vi biến động, hệ số biến động…) cho những nhân tố điều tranhư mật độ, tiết diện ngang thân cây, trữ lượng gỗ, tổ thành hay độ ưu thế củaloài…Độ ưu thế của loài được tính trung bình từ ba tham số mật độ, tiết diện ngang

và trữ lượng thân cây

Từ số liệu điều tra thu thập trên 3 ô tiêu chuẩn được bố trí điển hình tại tiểukhu 279, Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, đề tài tiến hành phân loại trạng tháihiện tại của rừng làm cơ sở cho việc nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc rừng

Phân loại trạng thái hiện tại của lâm phần là việc làm đầu tiên trong công tácnghiên cứu cũng như trong kinh doanh rừng nhằm xác định rõ đối tượng nghiên cứucũng như đối tượng kinh doanh nhằm định hướng cho việc đề xuất các biện pháp kỹthuật lâm sinh phù hợp

Từ kết quả tính toán ở các ô tiêu chuẩn, đề tài tóm tắt các đặc trưng địnhlượng của trạng thái rừng hiện tại như sau:

- Độ tàn che : 0,88

- D1 , 3 : 23,9 cm

- G/ha : 14,75 m2

Trang 27

đó trong lâm phần Tổ thành còn là chỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học,tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng Cấu trúc tổ thành của một lâm phầnrừng nói lên toàn bộ giá trị của lâm phần

Trong điều tra lâm học, để biểu thị tổ thành rừng người ta thường sử dụng dướidạng công thức tổ thành Việc nghiên cứu cấu trúc tổ thành loài cây được xem làcông việc đầu tiên quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc rừng, từ đó đề xuấtmột số biện pháp kinh doanh rừng phù hợp Cấu trúc tổ thành khác nhau sẽ dẫn đến

sự khác biệt tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng

Từ những số liệu điều tra và thu thập ở 3 ô tiêu chuẩn được tổng hợp và tínhtoán theo công thức tính tổ thành Kết quả về tổ thành các loài cây chủ yếu đượctrình bày cụ thể trong bảng 4.1 và hình 4.1; 4.2 sau:

Bảng 4.1 Tổ thành loài thực vật tham gia kết cấu tầng cây gỗ

tại khu vực nghiên cứu

Trang 29

Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu

Nhận xét:

Từ kết quả tính toán ở bảng 4.1 và hình 4.1; 4.2 cho thấy: ở giai đoạn này sốlượng các loài thực vật bắt gặp tại khu vực nghiên cứu là 31 loài, trong đó có 10 loài

có số lượng cá thể quan sát trong 03 ô tiêu chuẩn khá lớn (từ 9 cá thể trở lên) và có tỷ

lệ tổ thành Iv > 3%), đó là các loài: Giẻ (Quercus sp) thuộc họ Sồi giẻ (Fagaceae)

có số lượng cá thể cao nhất là 27, chiếm 11,02 % tổng số cây xuất hiện, nhưng tỷ lệ

tổ thành Iv chỉ có 7,9 %; Giổi (Talauma Gioi) thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

có số lượng cá thể xuất hiện là 16 chiếm tỷ lệ 6,53 % nhưng có tổ thành Iv là =

9,97 %; Xoan đào (Prunus ceylanica) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) với 23 cá thể

chiếm 9,39 % tổng số cây xuất hiện, tỷ lệ tổ thành Iv = 8,35 %; Trường

(Xerospernum noronhianum) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) có số lượng cá thể

xuất hiện là 25, chiếm tỷ lệ 10,20% cây xuất hiện nhưng chỉ chiếm tỷ lệ tổ thành Iv

= 6,67 %; Huỷnh (Tarrietia javanica) thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) có số lượng cá

thể xuất hiện là 19, chiếm tỷ lệ 7,76 % cây xuất hiện nhưng có tỷ lệ tổ thành Iv khá

cao = 9,01 %; Trâm (Syzygium sp) thuộc họ Sim (Myrtaceae) với 16 cá thể chiếm 6,53 % tổng số cây xuất hiện, tỷ lệ tổ thành Iv = 5,63 %; Bùi (Ilex cochinchinensis)

Trang 30

thuộc họ Bùi (Aquifoliaceae) chiếm tỷ lệ tổ thành Iv = 4,24 %; Xoài (Prunus ceylanica) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) với 23 cá thể chiếm 9,39 % tổng số cây xuất hiện, tỷ lệ tổ thành Iv = 8,35 %; Dầu(Prunus ceylanica) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) với 10 cá thể chiếm 4,08 % tổng số cây xuất hiện, tỷ lệ tổ thành

Iv = 3,22 % Đáng chú ý là loài Bạch tùng tuy chỉ có 06 cá thể xuất hiện (2,45)nhưng do các cây đều có đường vượt trội nên có tỷ lệ Iv% cao nhất là 11,64%, đóngvai trò quan trọng đối với quần thể cây rừng ở khu vực cả về đường kính, chiều cao.Tổng mức độ quan trọng của các loài trên là 77,02 %

Nhìn vào thành phần loài cho thấy, rừng này trước đây đã bị tác động (khaithác) tuy nhiên rừng đã có thời gian dài phục hồi Về thành phần loài cây, bên cạnhmột số loài cây gỗ quý, tốt như: Giổi, Bạch Tùng, Đinh thối, Huỷnh … còn lại chủ yếu

là những loài ít có giá trị về mặt kinh tế, giá trị phòng hộ thấp, thường vẫn chỉ lànhững cây ở nhóm 5, 6, 7, 8 Hiện tượng một số loài như Xoan đào, Giẻ, Trường,Giổi đã tạo nên những ưu hợp thực vật đặc trưng, đồng thời chúng cũng đóng vaitrò quan trọng trong việc hình thành kiểu trạng thái rừng ở khu vực nghiên cứu hiệntại Điểm đặc biệt dễ nhận thấy ở khu vực này là có sự xuất hiện của các loài cây lákim như: Giổi, Bạch Tùng, do bởi khu vực nghiên cứu tiếp giáp với tỉnh Lâm Đồng.Chính điều này đã tạo nên nét đặc trưng trong cấu trúc tổ thành loài thực vật và tạo sựkhác biệt với một số khu vực khác trong tỉnh; đây cũng là ưu thế về loài cây Bạch tùng

ở khu vực giáp ranh Biện pháp kỹ thuật áp dụng ở đây là phải loại bỏ dần những câyphi mục đích (Cò ke, Ngái, Bời lời, ), nuôi dưỡng hoặc trồng bổ sung những loài cây

có giá trị kinh tế hơn, khả năng phòng hộ bền vững hơn

4.1.3 Tình hình tái sinh dưới tán rừng

Để đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng, đề tài sử dụng số liệu từ 12 ôdạng bản (S = 5 m x 5 m) trong mỗi ô tiêu chuẩn Kết quả thu được như sau:

Trang 31

Bảng 4.2 Tình hình tái sinh dưới tán rừng

Tổng H < 0,5 0,6 – 2,0 m 2,1 – 3,0 m H > 3,0 mKhỏe Yếu Khỏe Yếu Khỏe Yếu Khỏe Yếu Khỏe Yếu

Trang 32

H > 3,0 m Khỏe

H > 3,0 m Yếu

Hình 4.3 Biểu đồ mô tả tỷ lệ % cây tái sinh dưới tán rừng

Nhận xét:

Tái sinh dưới tán rừng tương đối nhiều ở những cây mạ có chiều cao H < 0,5

m, và từ 2,1 – 3 m gồm nhiều cây như: Bình Linh, Giẻ, Bạch tùng, Trâm, Ngái vàmột số loài khác như: Hu đay, Lim xẹt, Kháo Tuy nhiên, so với tổ thành tầng câycao, tổ thành tầng cây tái sinh tại đây nhiều loài có mặt trong tầng tán chính củarừng, nhìn chung khá đồng nhất, khẳng định vai trò kế tiếp của các thế hệ nhữngloài cây có mục đích Các cây gỗ có giá trị ít xuất hiện dưới tán rừng, chỉ có một vàicây gỗ nhóm 2 và 3 như: Đinh thối, Giổi Do vậy cần xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặclàm giàu rừng bằng cách trồng thêm các loài cây gỗ như: cây thuộc họ Dầu, họ Đậu, và các loài có giá trị khác Mật độ tái sinh hiện tại là 5633 cây/ha, trong đó cây táisinh khỏe chiếm 79,3 %, cho thấy tình hình tái sinh dưới tán rừng tại đây bước đầu

có nhiều triển vọng Để nâng cao chất lượng cây tái sinh, cần phải thực hiện cácbiện pháp lâm sinh cụ thể là chặt bớt dây leo, cây bụi, cây bị sâu bệnh, mở tánrừng để cung cấp đủ ánh sáng cho cây tái sinh phát triển, do bởi dưới chiều cao < 2

m, cây tái sinh chịu sự cạnh tranh mạnh giữa chúng với cây bụi, thảm tươi, giữa câytái sinh với cây tái sinh Qua điều tra thực địa nhận thấy, chiều cao trung bình củatầng cây bụi, thảm tươi dưới 2m, chủ yếu là các loài: Chìa vôi, Mây, Chạc chiều,

Trang 33

Sim, Thuốc dấu, Đủng đỉnh … khi vượt qua chiều cao này cây tái sinh phát triển ổnđịnh hơn.

*Nhận xét chung về tình hình tái sinh

Sau một thời gian phục hồi, số lượng và chất lượng cây tái sinh đảm bảo chorừng đủ khả năng hồi phục, mặc dù các loài cây kém giá trị còn nhiều, song bêncạnh chúng vẫn tồn tại nhiều loài cây quý và có giá trị

Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng (khỏe) cao, chất lượng chủ yếu tập chung vàocấp chất lượng trung bình, cây bụi thảm tươi phát triển mạnh, cần có biện phápchăm sóc lớp cây tái sinh để chúng có điều kiện tham gia vào tầng tán rừng trongtương lai

Nhận thấy tình hình phân bố cây tái sinh không đồng đều đã tạo cho rừngnhiều chỗ có quá nhiều tái sinh, có chỗ lại ít tái sinh Vấn đề đặt ra là phải điều tiếtmật độ cây tái sinh và phân bố của chúng trên bề mặt đất cho thích hợp

Đặc biệt đối với loài cây nghiên cứu là Bạch tùng, tỷ lệ cây tái sinh trên ôđiều tra ở cấp chiếu cao <1m là 6,72%; và trên tuyến điều tra cũng bắt gặp khánhiều; tuy nhiên cây tái sinh có chiều cao trên 1m rất ít thấy xuất hiện, còn đối vớicác cây có đường kính trung bình (đường kính 20 – 40 cm) không thấy xuất hiệntrên tuyến điều tra Và theo phỏng vấn người dân địa phương cũng như các nhânviên bảo vệ rừng của ban quản lý trước nay cũng chưa được phát hiện

4.1.4 Độ tàn che của rừng

Độ tàn che (ký hiệu bằng chữ C) là tỷ lệ phần mười hay phần trăm diện tíchhình chiếu nằm ngang của tán rừng (St, m2) trên mặt phẳng nằm ngang của lô đất córừng (S, m2), nghĩa là C = St/S Giá trị của C thay đổi trong giới hạn nhỏ hoặc bằng

1 Độ tàn che là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ thiếu hụtánh sáng dưới tán rừng, mức độ che bóng của cây tái sinh, mức độ tỉa thưa quần thụtrong khai thác chính và khai thác trung gian (chặt nuôi dưỡng, hay tỉa thưa rừng),tình trạng lâm phần …

Trang 34

Đề tài xác định độ tàn che của lâm phần IIIA3 tại khu vực nghiên cứu theophương pháp trắc đồ của David và Richards Biểu đồ trắc diện được vẽ sau khi đã

đo chính xác vị trí tọa độ, chiều cao (Hvn), đường kính (D1.3), đường kính tán (DT) vàchiều dài tán lá (L tán) của tất cả các cây trong ô hình chữ nhật có diện tích 20 m x

10 m lên giấy kẻ ly Sau đó tính độ tàn che thông qua việc xác định tỷ lệ giữa tổngdiện tích các hình chiếu tán của các cây với diện tích trắc diện là 20 m x 10 m

Qua biểu đồ phẩu diện và chiếu tán, đề tài xác định được độ tàn che của rừng

tự nhiên tại khu vực nghiên cứu ở 3 ô tiêu chuẩn đo đếm của tiểu khu 314 lần lượtlà: 85,3 %; 89,2 %; 89,6 % Độ tàn che bình quân cho lâm phần là 88 % Độ tàn chekhá cao chứng tỏ lâm phần đang phục hồi mạnh, công tác quản lý và bảo vệ, rừng ít

bị tác động

Trong mỗi ô Richard and Davids tuy Bạch tùng chỉ xuất hiện 01 cá thểnhưng do có đường kính tán khá lớn (9,5* 9,7; 16,5*14,5; 14,5*13,5) nên góp phầnche phủ mặt đất khá lớn 7,75%/ 85,3%; 28,85%/ 89,2%; 18,5 %/ 89,6% so với tỷ lệche phủ chung của tán rừng

4.2 Điều tra thống kê loài cây Bạch tùng trên lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà

4.2.1 Điều tra cây Bạch tùng ở khu vực DaS`Rang - Ban quản lý rừng phòng hộ

La Ngà

- Thực hiện phỏng vấn những người dân sống bằng nghề rừng lâu năm ở khuvực núi cao trên 800m so với mặt biển, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số từng đilấy trầm những năm 1980 ở khu vực trên Phỏng vấn lực lượng bảo vệ rừng của Banquản lý rừng phòng hộ La Ngà Xem xét các tài liệu điều tra rừng trước đấy

Qua điều tra sơ bộ cho thấy Bạch tùng chủ yếu xuất hiện ở Tiểu khu 314,khu vực có hiện trạng IIIA2, IIIA3, rừng còn khá nguyên vẹn, độ tàn che cao Đây

là khu vực có độ cao trên 800 m so với mực nước biển Qua các tài liệu quy hoạchrừng của tỉnh Bình Thuận chúng tôi được biết Tiểu khu 314 trước đây thuộc địa giớihành chính tỉnh Lâm Đồng đã được chuyển về huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận

từ năm 2002 Điều này cũng giống như loài Thông 2 lá và Thông 3 lá theo điều tra

Trang 35

trước đây không có trên địa giới tỉnh Bình Thuận mà chỉ có tại các Tiểu khu 57, 58,

59 – Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, thuộc địa giới hành chính huyện BắcBình, tỉnh Bình Thuận, vốn cũng được chuyển từ dịa giới tỉnh Lâm Đồng về chotỉnh Bình Thuận cùng thời điểm năm 2002

- Dựa trên kết quả phỏng vấn nhân dân địa phương và đơn vị chủ rừng,chúng tôi tiến hành mở các tuyến điều tra trên khu vực núi cao trên 800 m so vớimực nước biển, Các tuyến được thực hiện dựa vào các đường mòn và hệ thốngđường be sẵn có Sử dụng máy định vị xác định vị trí các cây Bạch tùng, dùng thướcdây đo đường kính 1,3 m; mục trắc để ước lượng chiều cao vút ngọn, căn cứ bản đồđịa hình của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà để xây dựng

- Kết quả điều tra được 54 Cây Bạch tùng tại Tiểu khu 314

Các cây này có đường kính tại vị trí 1,3 m từ 62 cm đến 143 cm Chiều caovút ngọn từ 21 m đến 40 m

Đường kính bình quân tại vị trí 1,3 m là 101,19 cm

Chiều cao vút ngọn bình quân là 30,39 m

Bảng 4.3: Biểu điều tra loài cây Bạch tùng

Trang 36

(Hình phụ biểu)

4.3 Thu thập mẫu vòng năm của cây Bạch tùng

Chọn cây mẫu: Để xác định mối liên hệ giữa tăng trưởng Bạch tùng với các

yếu tố khí hậu, trước hết cần phải loại trừ những ảnh hưởng của các yếu tố môitrường khác như đất, tuổi cây, biện pháp tác động Việc loại trừ ảnh hưởng của đất

và biện pháp tác động được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu tăng trưởng đườngkính của Bạch tùng trên cùng một dạng địa hình (dốc núi) và một loại đất (Feralít đỏvàng phát triển trên đá granit) Ở đây những lâm phần được đưa vào đo đếm mẫu làrừng tự nhiên, phân bố ở độ cao trên 800 m so với mặt biển

Sau khi xác định được đối tượng nghiên cứu, tiến hành chọn những cây mẫu

để thu thập mẫu vòng năm Căn cứ kết quả điều tra phân bố loài cây Bạch tùng,chúng tôi chọn 15 cây để khoan lấy mẫu Chọn ra được 08 cây cho mẫu tốt nhất

Ở mỗi cây vòng năm được thu thập theo 2 hướng đối với nhau tại vị trí 1,3 m

Ngày đăng: 01/12/2014, 15:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tổ thành loài thực vật tham gia kết cấu tầng cây gỗ  tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.1. Tổ thành loài thực vật tham gia kết cấu tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu (Trang 27)
Hình 4.1. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Hình 4.1. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu (Trang 28)
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 4.2. Tình hình tái sinh dưới tán rừng - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.2. Tình hình tái sinh dưới tán rừng (Trang 31)
Hình 4.3. Biểu đồ mô tả tỷ lệ % cây tái sinh dưới tán rừng - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Hình 4.3. Biểu đồ mô tả tỷ lệ % cây tái sinh dưới tán rừng (Trang 32)
Bảng 4.3: Biểu điều tra loài cây Bạch tùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.3 Biểu điều tra loài cây Bạch tùng (Trang 35)
Bảng 4.4. Đặc trưng thống kê nhiệt độ 12 tháng trong năm ở khu vực Da S`Rang, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008)  (*) - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.4. Đặc trưng thống kê nhiệt độ 12 tháng trong năm ở khu vực Da S`Rang, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) (Trang 37)
Hình  4.5.  Biểu  đồ  mô  tả  lượng  mưa  trung  bình  năm  (a)  và  trung  bình  tháng trong năm (b) ở khu vực DaS`Rang . - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
nh 4.5. Biểu đồ mô tả lượng mưa trung bình năm (a) và trung bình tháng trong năm (b) ở khu vực DaS`Rang (Trang 39)
Bảng 4.6. Đặc trưng thống kê độ ẩm không khí 12 tháng trong năm ở khu vực DaS`Rang, huyện Tánh Linh - Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008)  (*) - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.6. Đặc trưng thống kê độ ẩm không khí 12 tháng trong năm ở khu vực DaS`Rang, huyện Tánh Linh - Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) (Trang 41)
Bảng 4.7. Đặc trưng thống kê số giờ nắng 12 tháng trong năm  ở khu vực Da S`Rang, huyện Tánh Linh - Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.7. Đặc trưng thống kê số giờ nắng 12 tháng trong năm ở khu vực Da S`Rang, huyện Tánh Linh - Bình Thuận (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) (Trang 42)
Bảng 4.8. Đặc trưng thống kê hệ số thủy nhiệt 12 tháng trong năm ở khu vực DaS`Rang (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.8. Đặc trưng thống kê hệ số thủy nhiệt 12 tháng trong năm ở khu vực DaS`Rang (Số liệu thống kê 29 năm từ 1980 – 2008) (*) (Trang 43)
Bảng 4.9. Chuỗi bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng từ 1927-2009 Năm lịch Giá trị Zr(mm) của Bạch tùng theo năm lịch: - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.9. Chuỗi bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng từ 1927-2009 Năm lịch Giá trị Zr(mm) của Bạch tùng theo năm lịch: (Trang 45)
Bảng 4.10. Những đặc trưng thống kê bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.10. Những đặc trưng thống kê bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng (Trang 46)
Bảng 4.11. Chuỗi chỉ số tăng trưởng bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng từ 1928-2009 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của cây Bạch tùng  (Dacrycarpus imbricatus Blume) ở khu rừng phòng hộ La Ngà, tỉnh Bình Thuận
Bảng 4.11. Chuỗi chỉ số tăng trưởng bề rộng vòng năm của các cây mẫu Bạch tùng từ 1928-2009 (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w