Xin chào các Bạn Tôi tên Trịnh. Nhật Bản và VN là 2 nước đều có những nét văn hóa nổi bật của phương đông. Trong thời gian 2 nước đã và đang mở rộng quan hệ tầm chiến lược cả về văn hóa cũng như chính trị. Với nét văn hóa đặc trưng và mang đầy tính nhân văn của đất nước mặt trời mọc, nhiều bạn trẻ Việt Nam khám phá, sau đó là yêu thích và có nhu cầu muốn sang Nhật Bản để học và trải nghiệm đất nước mặt trời mọc. Đây là 1 bài báo cáo tốt nghiệp của 1 người Bạn của mình, đã sang Nhât cách đây 3 năm. Hi vọng giúp ích cho các bạn đang có nhu cầu
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGOẠI NGỮ - CÔNG NGHỆ VIỆT NHẬT
KHOA: TIẾNG NHẬT
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP VIỆT NAM – NHẬT BẢN
ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Bích Liên Sinh viên : Vũ Thị Lan
Khoa : Tiếng Nhật Lớp : CĐ Tiếng Nhật 1 – K4
Mã ID : 0910040026
Niên khoá : 2009 – 2012
Bắc Ninh, tháng 5 năm 2012
Trang 2NGOẠI NGỮ -CÔNG NGHỆ VIỆT NHẬT
- Ban Giám Hiệu Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật
- Phòng Đào tạo; Hội đồng Khoa học và Ban giám khảo Chấm Đề cương
Báo cáo thực tập Tốt nghiệp và Khóa luận Tốt nghiệp
Họ và tên sinh viên: Vũ Thị Lan Giới tính: Nữ
Nơi cấp: CATP Tuyên Quang Điện thoại: 0976869369
Nguyên quán: Tân Long – Yên Sơn – Tuyên Quang
Tên đề tài: Nghệ thuật thư pháp Việt Nam – Nhật Bản.Điểm
tương đồng và sự khác biệt Tôi xin cam kết đây là Báo cáo, khóa luận do tôi tự thực hiện, không sao chép copy của người khác Danh mục những tài liệu tham khảo phục vụ cho việc hoàn thành nội dung và hình thức được ghi rõ cuối văn bản
Kính mong nhà trường và các ban liên quan tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
hoàn thành nhiệm vụ của mình
Người cam kết Sinh viên
Vũ Thị lan
Trang 3Nói đến Thư pháp là nói đến một loại hình nghệ thuật độc đáo, hình tượng mỗi chữ viết ra nói lên được hồn người, diễn tả dụng ý của ngôn từ bằng chính chữ viết của mình, do đó, mỗi ký tự viết ra là một nét bút đặc trưng khác nhau tùy theo vị trí và dụng ý của người viết, cũng như tùy thuộc vào lời văn được viết Tiếng Việt của chúng ta khác với các ngôn ngữ khác, vì chúng ta có dấu
Ở Việt Nam thủa xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những
“Thầy Ðồ” hay những người “hay chữ” để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần Thư pháp
là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Bích Liên
và sự nỗ lực của bản thân,tôi đã hoàn thành chuyên đề này với đề tài “ Nghệ thuật thư pháp Việt Nam – Nhật Bản.Điểm tương đồng và sự khác biệt”Tôi
hy vọng đề cương này sẽ giúp mọi người có một cái nhìn rõ ràng hơn về nghệ thuật thư pháp.Với thời gian có hạn, khả năng nắm bắt lý thuyết cũng như thực tế chưa nhiều nên chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo hướng dẫn thực tập để chuyên đề trở nên phong phú và thiết thực.Tôi xin chân thành cảm ơn
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Lan
Trang 4PHẦN MỘT: PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: ĐẶT VẪN ĐỀ 1
1.1 Lý do chọn đề tài……….1
1.2 Giới hạn đề tài nghiên cứu 2
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 2
1.3.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra 3
1.5 Bố cục khoa học 3
PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THƯ PHÁP VIỆT NAM - NHẬT BẢN 4
2.1 Quan niệm về thư pháp .4
2.2 Đôi nét về thư pháp 5
2.2.1 Từ chữ viết đến nghệ thuật viết chữ 5
2.2.1.1 Nguồn gốc chữ viết 5
2.2.1.2 Nghệ thuật viết chữ 6
2.2.1.3 Thư pháp 6
2.3 Điểm nổi bật của thư pháp Nhật Bản 7
2.3.1 Thư pháp Nhật Bản 8
2.3.2 Phong cách viết thư pháp Nhật Bản 8
Trang 52.3.4 Gyousho……….………9
2.3.5 Sousho………9
2.4 Điểm nổi của thư pháp Việt Nam……… 9
2.4.1 Đặc điểm của thư pháp Việt Nam………10
2.4.1.1 Tính linh hoạt……… … 10
2.4.1.2 Tính biểu cảm, trữ tình……… ………12
2.4.1.3 Tính hài hòa……… …12
2.4.1.4 Tính tổng hợp……… 12
2.4.2 Thư pháp chữ viết trong đời sống của văn hóa dân tộc………… …12
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Sơ lược về phương pháp nghiên cứu 14
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 14
3.1.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.1.3.1 Phương pháp trực quan 14
3.1.3.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận 14
3.1.3.3 Phương pháp điều tra ………14
3.1.4 Kế hoạch nghiên cứu 14
3.2 Tiến hành nghiên cứu 15
3.3 Kết luận 15
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG CỦA THƯ PHÁP 16
4.1 Sơ lược thư pháp Đông - Tây 16
4.2 Thư pháp Việt Nam 17
4.2.1 Năm kiểu chữ chính trong thư pháp Việt Nam 18
4.2.1.1 Chữ Chân Phương……….…… 18
4.2.1.2 Chữ Cách Điệu……….………18
Trang 64.2.1.4 Chữ Mô Phỏng……….……….18
4.2.1.5 Chữ Mộc Bản……….…… 18
4.2.2 Nguyên tắc của thư pháp……….… 19
4.2.2.1 Chương pháp……….……19
4.2.2.2 Ấn chương……… ……… …19
4.2.2.3 Nguyên tắc khắc ấn triện……….… 19
4.2.2.4 Vị trí con dấu……….…20
4.2.3 Thư pháp Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại……….… 21
4.2.3.1 Quá trình hình thành thư pháp chữ Hán ở Việt Nam………… …21
4.2.3.2 Nghệ thuật thư pháp Quốc ngữ - Hiện đại………… …….………21
4.2.4 Thư pháp chữ Việt từ góc nhìn văn hóa……… …….………21
4.2.5 Sự hài hòa và nét đẹp trong thư pháp Việt Nam………22
4.2.5.1 Thư pháp chữ Hán Việt Nam………… ……… 22
4.2.5.2 Thư pháp Quốc ngữ - Hiện đại….………… ……….…24
4.2.5.3 Đôi nét về thư pháp Việt…… ………… ……….….24
4.2.5.4 Nhà chùa và thư pháp Việt ………… ……….….39
4.2.6 Thư pháp chữ Việt trong đời sống văn hóa của dân tộc……….… 50
4.3 Thƣ pháp Nhật Bản……… …51
4.3.1 Thư pháp đặc trưng……….………… …….…53
4.3.1.1 Thư pháp viết bởi Takahashi Deishu………… ……… …53
4.3.1.2 Thư pháp thời Nara……….……… … …54
4.3.1.3 Thư Pháp viết bởi Honda Tadamune ……… ………54
4.3.1.4 Thư pháp viết bởi Yamamoto Hokuzan……….………… ………55
4.3.2 Ba phong cách viết thứ pháp Nhật cơ bản….………… ………….58
4.3.2.1 Kaisho……….………… ………58
4.3.2.2 Gyousho……… ……….58
Trang 7PHẦN BA: PHẦN KẾT LUẬN 63
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 63
5.1 Kết luận chung 63
5.2 Ý nghĩa 63
5.2.1 Ý nghĩa lý luận……… …………63
5.2.2 Ý nghĩa thực tiễn……… ………… … …63
5.3 Đề xuất và kiến nghị……… …….64
5.3.1 Kiến nghị……….……… …64
5.3.2 Đề xuất……… ……… ……… 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO … … 65
Trang 8Hình 2.4.1.1: Chữ Ngộ - Trương Tuấn Hải 11
Hình 4.2.5.3.1: Cụ đồ xưa 23
Hình 4.2.5.3.2: Chữ nhẫn – Linh Lan 24
Hình 4.2.5.3.3: Chữ đồng triện 26
Hình 4.2.5.3.4: Chữ Tâm 27
Hình 4.2.5.3.5: Chữ cá biệt 27
Hình 4.2.5.3.6: Chữ cha mẹ 28
Hình 4.2.5.3.7: Khuôn mặt của đức phật 29
Hình 4.2.5.3.8: Chữ phật – Trần Bá Linh 29
Hình 4.2.5.3.9: Chữ Mẹ - Chính Văn 30
Hình 4.2.5.4.1: Sư Minh Đức triều tâm 30
Hình 4.3.2.3.2: Thư pháp viết bởi Honda Tadamune 50
H ình 4.3.2.3.3: Thư pháp viết bởi Gishi thời Heian 51
H ình 4.3.2.3.4: Thư pháp viết bởi Natsume Soseki………51
Trang 91
Vũ Thị Lan – CĐ Tiếng Nhật 1 – K4
PHẦN MỘT : PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
Nói đến Thư pháp là nói đến một loại hình nghệ thuật độc đáo, hình tượng mỗi chữ viết ra nói lên được hồn người, diễn tả dụng ý của ngôn từ bằng chính chữ viết của mình, do đó, mỗi ký tự viết ra là một nét bút đặc trưng khác nhau tùy theo vị trí và dụng ý của người viết, cũng như tùy thuộc vào lời văn được viết Tiếng Việt của chúng ta khác với các ngôn ngữ khác, vì chúng ta có dấu
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những
“Thầy Ðồ” hay những người “hay chữ” để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần Thư pháp
là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọ, thước, compa, êke… Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ
Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.Thư pháp tại Nhật Bản gọi
là thư đạo Theo các chuyên gia thư pháp Nhật Bản, chữ Hán được truyền
từ Trung Quốc sang Nhật Bản từ khoảng 2000 năm trước, được sử dụng phổ biến ở Nhật Bản từ khoảng thế kỷ 5 Sau đó, dựa trên cơ sở chữ Hán, người Nhật đã sáng tạo ra kiểu chữ của mình là chữHiragana và Katakana.Thư
Trang 10pháp Nhật Bản được hình thành từ hai kiểu chữ chính là kiểu chữ Hán từ Trung Quốc đến và kiểu chữ Hiragana, Katakana Hiện nay, ở Nhật Bản có
từ 8 đến 10 triệu người tham gia viết thư pháp, và thư pháp được coi là một trong những môn nghệ thuật đặc sắc của Nhật Bản
Tôi chọn đề tài “Nghệ thuật thư pháp Việt Nam – Nhật Bản.Điểm tương đồng và sự khác biệt” để làm đề tài báo cáo thực tập của mình với mục đích giúp cho mọi người có một cách nhìn hiểu rõ hơn về bộ môn nghệ thuật này
1.2 Giới hạn đề tài nghiên cứu
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nét đẹp trong thư pháp Việt Nam
Một số bức thư pháp đẹp của các nghệ sĩ
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thư pháp Việt Nam và Nhật Bản
1.3 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Qua đề tài này tôi muốn giúp bản thân và mọi người có thể hiểu thêm về nền thư pháp của Việt Nam - Nhật Bản, nhằm đẩy mạnh những vấn đề con người chưa biết rõ về môn nghệ thuật này sẽ trở nên biết rõ và hiểu về nó một cách sâu rộng hơn
1.3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về Thư pháp, gợi mở nhiều điều lý thú về Thư pháp chữ Việt cũng như tìm hiểu thêm về thư pháp của đất nước mặt trời mọc.Qua đó có cái nhìn sâu sắc về bộ môn nghệ thuật truyền thống cổ xưa.Có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần vào việc kế thừa và phát huy Di sản văn hóa truyền thống của dân tộc
Trang 111.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu trực quan
Tổng hợp những ý hay, những kết luận có liên quan.Phân tích từng ý nhỏ của nghệ thuật thư pháp.Sau đó tổng hợp thành một ý lớn, cô đọng toàn bộ nội dung đã phân tích và làm sáng tỏ vấn đề
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng lời lẽ mang tính chất thuyết phục cao, kết hợp với những dẫn chứng
cụ thể lấy từ thông tin đại chúng như: sách báo, internet,…để đi sâu vào vấn
đề làm sáng tỏ từng khía cạnh của vấn đề
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu điều tra
Tìm hiểu rõ ràng từng khía cạnh về môn nghệ thuật này để có số liệu cúng như thông tin chính xác để đi vào phân tích làm sáng tỏ vấn đề.Tìm tòi điều tra trên tất cả những thông tin hay sách báo viết về thư pháp
1.5 Bố cục khoa học
Đề tài của tôi gồm các chương như sau :
Chương I Đặt vấn đề
Chương II Tổng quan về thư pháp của Việt Nam và Nhật Bản
Chương III Phương pháp nghiên cứu
Chương IV Thực trạng của thư pháp
Chương V Phần kết luận
Trang 12PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THƯ PHÁP VIỆT NAM – NHẬT
BẢN 2.1 Quan niệm về thư pháp
Nói đến Thư pháp là nói đến một loại hình nghệ thuật độc đáo Nhìn chữ viết mà người ta biết được nhân cách của người viết Do đó, mỗi ký tự viết
ra là một nét bút đặc trưng khác nhau tùy theo vị trí và dụng ý của người viết, cũng như tùy thuộc vào lời văn được viết
Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoa vàngười Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật Về gốc Hán Việt, thư pháp có nghĩa là phép viết chữ Nhưng không đơn giản chỉ với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp, thư pháp, hay thư đạo trong hàm nghĩa sâu xa còn là phương tiện để biểu hiện tâm, ý, khí, lực của người dụng bút
Tại Việt Nam, nghệ thuật thư pháp thường theo phong cách thư pháp Trung Hoa, dùng bút lông và mực tàu
Thư pháp Việt Nam và thư pháp Nhật Bản nằm trong nhóm thư pháp Á
đông Thư pháp Á Đông là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc Người ta dùng bút lông, chấm mực tàu, viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa, theo những phong cách khác nhau Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân, Triện, Lệ, Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét, cách thức thể hiện
Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư, thừa tướng của triều đình nhà Tần, là người khởi đầu cho nghệ thuậtthư pháp vì ông là người được giao việc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thủy Hoàngthôn tính các nước nhỏ khác đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất Trải qua
Trang 13các triều đại sau đó, sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia nổi tiếng, như Vương Hy Chi hay Tề Bạch Thạch
Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch, kết thể, thần vận….Cùng với sự xâm lược và đồng hoá của văn hoá các triều đại Trung Quốc trong một khoảng thời gian dài, môn nghệ thuật này cũng trở nên phổ biến tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam
Thư pháp Việt Nam và thư pháp Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thư pháp Trung Quốc
2.2 Đôi nét về thƣ pháp
Nghệ thuật Thư pháp có nguồn gốc từ Trung Hoa.Thư pháp là một môn nghệ thuật xuất phát từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam đón nhận, kế thừa và phát triển theo bản sắc văn hóa của dân tộc mình Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọ, thước, compa, êke Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực
và tỷ lệ Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La tinh
2.2.1 Từ chữ viết đến nghệ thuật viết chữ
Trang 14dân tộc ở một số nước phương Đông Nghệ thuật chữ viết vừa tạo nên giá trị thẩm mỹ, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong cuộc sống của mọi người trên hành tinh của chúng ta
2.2.1.3 Thư pháp
Cách hiểu về nghệ thuật Thư pháp có thể khái quát thành hai nội dung : Một
là, nội dung gắn bó với cơ sở mỹ học của thư pháp ( các cách viết, kỹ thuật viết, những bút pháp, đường nét, màu sắc của người viết ) Hai là, gắn bó với tính cách, tâm tư, tình cảm, quan niện triết học, nhân sinh quan của người viết và phong khí của thời đại
Vì vậy, ta có thể hiểu thư pháp là : nghệ thuật thể hiện chữ viết và là phương tiện để bày tỏ tâm thức của con người Với ý nghĩa này, thư pháp trở thành một nghệ thuật biểu đạt mỹ cảm của mỗi dân tộc, chí hướng, tâm tư và tình cảm chủ quan, có giá trị đạo đức và giá trị mỹ học
2.3 Điểm nổi bật của thƣ phápNhật Bản
Thư pháp được coi là một trong những loại hình nghệ thuật độc tôn của xứ
sở Hoa Anh Đào Tuy nhiên, không có bất cứ tiêu chuẩn nào đối với những người muỗn trở thành nhà thư pháp, cũng không có sự phân biệt giữa nam
và nữ Vấn là là ở chỗ họ có khả năng, đủ kiên trì và cái tâm để theo đuổi loại hình nghệ thuật thanh tao này không? Nhà nữ thư pháp Kanagawa Michico khẳng định: "Không có sự phân biệt nào giữa nam và nữ, điểm khác biệt là ở chỗ mỗi người có cách thể hiện khác nhau”
Nhật Bản là một quốc gia rất coi trọng nghệ thuật thư pháp, lĩnh vực có ảnh hưởng rất lớn với nền mỹ thuật của nước này Trong số 127 triệu người, Nhật Bản có đến gần 10 triệu đang tham gia viết thư pháp bao gồm cả những nhà thư pháp nổi tiếng và người đang học viết thư pháp.“Nghệ thuật thư pháp Nhật Bản xuất hiện sau Trung Quốc và cũng bị ảnh hưởng bởi thư pháp nước này rất nhiều Có thể nhận thấy điều này qua phần lớn những tác
Trang 15phẩm được trưng bày trong triển lãm lần này Nếu như thư pháp Trung Quốc
có lịch sử hình thành và phát triển hơn 2000 năm thì thư pháp Nhật Bản mới chỉ xuất hiện từ thế kỷ 6 tức là cách đây khoảng 1500 năm Mặc dù đã có nhiều sự cách tân nhưng về cơ bản thư pháp Nhật Bản vẫn chịu ảnh hưởng tương đối lớn của Trung Quốc Tuy nhiên, người Nhật vẫn có sự sáng tạo riêng mà bằng chứng rõ ràng nhất là hệ thống chữ Ca-na, chữ đặc trưng chỉ xuất hiện trong thư pháp Nhật Bản Nếu như chữ Hán được viết trên giấy trắng thì chữ Ca-na được thể hiện trên nền giấy nhiều màu để phân biệt nét đặc trưng của nghệ thuật thư pháp Nhật Bản Các nhà thư pháp có cách thể hiện trên các chất liệu khác nhau, dùng mực viết trên giấy và khắc chữ trên
gỗ và đá sau đó phủ nhũ lên Hiện tại có một số tên tuổi nổi tiếng về thư pháp của Nhật Bản như: Mashiko Tetsushu, Miyake Soshu, Nagamori Soshu, Tanagi Hekien và Kanagawa Michiko ”
“Thư pháp là một môn nghệ thuật có xuất xứ từ Trung Hoa, du nhập vào các nước Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam rồi được các nước này phát triển theo những cách riêng Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt Với cây bút lông, mực và giấy, người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học và nghệ thuật cao Thư pháp cũng giống như hội họa của Trung Quốc, đều là bộ phận quan trọng nhất của nghệ thuật truyền thống Trung Hoa Có thể phân ra làm 3 thời
kỳ phát triển của thư pháp: Thời kỳ Tiên Tần (trước năm 221 TCN) - giai đoạn sơ kỳ của nghệ thuật thư pháp; Từ nhà Tây Hán đến cuối nhà Đường (từ 206 TCN - 907 SCN) - giai đoạn chín muồi của thư pháp; Từ thời Ngũ Đại đến cuối nhà Thanh (907-1911) - giai đoạn phát triển độc đáo”
2.3.1 Thư pháp tại Nhật Bản
Trang 16Ở Nhật Bản nơi mà khiếu thẩm mỹ luôn dựa vào sự giản dị cùng với tính trầm tư mặc tưởng của Thiên Đạo đã tiếp nguồn cho nghệ thuật thư pháp phát triển thành một phong cách rất đặc biệt Đó là sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa Thiên Đạo và nghệ thuật thể hiện Với ý nghĩa này, thư đạo của Nhật Bản không chỉ là môn nghệ thuật thể hiện, mà nó vượt ra ngoài hạn lượng của ý thức để truyền tải nội dung tâm pháp
2.3.2 Phong cách viết thư pháp Nhật Bản
2.3.3 Kaisho
Kaisho có nghĩa là “viết thư pháp kiểu vuông” Nói cách khác, đây là phong cách viết thư pháp mà mỗi nét chữ được viết ra trong sự cẩn thận và rõ ràng, tạo được kiểu thư pháp theo lối chữ in mà chúng ta có thể nhìn thấy trên các
tờ báo Đó cũng là kiểu viết thư pháp mà tất cả các học viên của thư pháp phải học đầu tiên, và họ trở nên quen dần khi luyện viết kiểu thư pháp này hàng ngày và chính điều đó tạo nên cơ hội tốt cho các học viên trong việc sử dụng bút lông để viết chính xác kiểu thư pháp này
2.3.4 Gyousho
Gyousho nghĩa đen là “viết thư pháp kiểu nhanh” muốn nói đến phong cách viết nửa chữ thảo trong thư pháp Nhật Cũng như cách viết chữ thảo bằng tay trong tiếng Hoa, cách viết mà hầu hết mọi người hay sử dụng nhiều trong ghi chú Hơn thế nữa, tương ứng với cách viết chữ thảo trong tiếng Hoa, thì trong phong cách Gyousho những nét chữ được viết rời rạc theo phong cách Kaisho được kết hợp với nhau tạo thành phong cách viết trôi chảy và lưu loát hơn Chữ viết theo kiểu này thường phổ thông và dễ đọc hơn cho đại đa
số tầng lớp tri thức ở Nhật
2.3.5 Sousho
Sousho là “kiểu thư pháp nhiều nét”, nói đến phong cách viết chữ thảo trôi chảy trong thư pháp Nhật Với kiểu thư pháp này, người đọc rất khó đọc vì
Trang 17các nhà thư pháp hiếm khi cho phép bút lông của mình rời khỏi giấy, để có được nét chữ thanh nhã và nhanh hơn Chỉ duy nhất những người nào học viết kiểu thư pháp này mới có thể dễ dàng đọc được nguyên bản thể thư của
nó
2.4 Điểm nổi của thƣ pháp của thƣ pháp Việt Nam
Thư pháp Việt Nam bao gồm hai dòng: Thư pháp Hán-Nôm và Thư pháp
Quốc ngữ.Xưa nay, trong lịch sử việt Nam không hoàn toàn có nhắc đến một cách chính danh một bộ môn nghệ thuật nào mang tên Thư Pháp và danh xưng chính thức như Thư pháp gia hay còn gọi là Nhà Thư pháp cho những người hoạt động trong lĩnh vực này, chỉ có khái niệm viết chữ đẹp và người viết chữ đẹp
Ưu điểm nổi bật của chữ Hán – Nôm là chúng sẵn có nhiều yếu tố tạo hình
và các yếu tố đó lại được sắp đặt trong một khuôn khổ vuông vức Vì vậy, chưa cần đến nghệ thuật cách điệu, mỗi chữ Hán – Nôm đã có dáng dấp một bức tranh
Đối với chữ Việt (theo hệ Latin), người ta khó tìm thấy các yếu tố tạo hình thuận lợi Mỗi từ trong tiếng Việt thường bao gồm nhiều chữ cái, được sắp xếp theo hàng ngang một cách đơn điệu Điều đó giải thích tại sao có một số người khẳng định: Không thể có cái gọi là thư pháp chữ Việt Các tác giả thư pháp chữ Việt muốn tạo nên một bức thư pháp đều phải cố gắng sắp xếp các nét chữ sao cho chúng có thể ở trong một khuôn khổ “vuông vức” như chữ Hán Nếu tài nghệ không cao, các nét chữ có thể bị biến dạng một cách tùy tiện gây phản cảm cho người xem Đó cũng là lý do khiến người ta chê bai thư pháp chữ Việt Người ta cho các tác giả đang làm “bẩn” chữ Việt Qua những gì đã thấy trong thời gian vừa qua, ta có cảm giác các tác giả rất lúng túng trong việc xử lý các yếu tố tạo hình (vốn rất ít ỏi) của chữ Việt để tạo nên các tác phẩm thư pháp có tính thuyết phục cao Nói cách khác họ đã
Trang 18thất bại Nguyên nhân thất bại có thể là họ chưa nắm được nghệ thuật tạo hình, cũng có thể do họ chưa tìm hiểu kỹ đặc điểm của chữ Việt, chưa phát hiện và khai thác tốt các yếu tố tạo hình của các chữ
2.4.1 Đặc điểm thư pháp Việt Nam
2.4.1.1 Tính linh hoạt
Sự linh hoạt là một trong những điểm quan trọng của nghệ thuật thư pháp và văn hóa Việt Nam nói riêng và có lẽ văn hóa nông nghiệp nói chung Đối với thư pháp chữ Việt tính linh hoạt thể hiện rất cao độ - nó cũng là một đặc tính điển hình của người Việt.Ta dễ dàng nhận thấy tính linh hoạt trong nghệ thuật này của dân tộc Việt Một trong những nguyên tắc trong khi viết, là rất mức tôn trọng tính phóng khoáng tự nhiên, hoàn toàn không câu nệ khuôn sáo, biểu lộ cách viếtõ linh hoạt Chính cái nét linh động đó làm cho tác phẩm thư pháp luôn có cái “hồn” của chữ Ví như là hình vẽ một cô đang lắc đầu có ý nghĩa dung tuyệt tác Ví dụ hay nhất cho loại chữ này là họa sĩ Lê
Vũ - ông đã “vẽ” chân dung các danh nhân bằng chữ Latinh – đây là sự sáng tạo rất đáng trân trọng Đối với chữ Hán vốn là chữ tượng hình nên bản thân mỗi văn tự với những chấm, phẩy, sổ, ngang, khung, mác… hợp thành đã trở thành bức tranh sinh động, hay hình tượng cụ thể nào đó là điều đương nhiên Nhưng đối với chữ Latinh không có sự mô phỏng như chữ Hán mà các nghệ nhân chúng ta vẫn có thể làm thư pháp hóa thành những hình tượng tuyệt vời quả thật là điều kỳ diệu của thư pháp Việt Nam hiện đại Mặc khác, tính linh hoạt còn thể hiện ở chất liệu làm nên bức tranh cũng như màu sắc thể hiện chữ viết
Trang 192.4.1.3.Tính hài hòa
Là một đặc điểm nổi bật của nền văn hóa Việt Nam và nó ảnh hưởng rất đậm nét trong nghệ thuật thư pháp chữ Việt Nó cũng là một trong những yếu tố tạo nên một tác phẩm thư pháp hoàn hảo
2.4.1.4 Tính tổng hợp
Sự giao hòa giữa văn hóa Đông - Tây ( bút lông_ sản phẩm của văn hóa phương Đông và chữ Latinh_ sản phẩm của văn hóa phương Tây )
2.4.2 Thư pháp chữ Việt trong đời sống của văn hóa dân tộc
Thực tế hiện nay, thư pháp chữ Việt đã hòa mạch sống nghệ thuật trong vườn hoa dân tộc và nó có ảnh hưởng lớn trên mặt trận văn hóa tư tưởng,
Trang 20đạo đức giáo dục, Sở dĩ nó đặc biệt như vậy vì nó đã nối mạch được truyền thống tôn trọng chữ, kính chữ đã có hàng ngàn đời trong lịch sử dân tộc Hơn nữa, nó mang thông điệp cho mọi người rằng: nếu biết khai thác và sáng tạo thì chữ Việt cũng rất đẹp và rất có hồn Hy vọng, việc chơi thư pháp, thưởng lanm4 thư pháp chữ Việt hiện nay không chỉ dừng lại ở tính phong trào mà là sự hiện diện có ý nghĩa của một môn nghệ thuật đặc thù mang tính cao cấp, phát huy được cái đẹp, cái hồn của mỗi chữ Việt trong lòng người dân nước Việt
Trang 21CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Sơ lược về phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nét đẹp trong thư pháp Việt Nam
và làm sáng tỏ vấn đề
3.1.3.2 Phương pháp lý luận
Sử dụng lời lẽ mang tính chất thuyết phục cao, kết hợp với những dẫn chứng
cụ thể lấy từ thông tin đại chúng như: sách báo, internet,…để đi sâu vào vấn
đề làm sáng tỏ từng khía cạnh của vấn đề
3.1.3.3 Phương pháp điều tra
Tìm hiểu rõ ràng từng khía cạnh về thư pháp Việt Nam và Nhật Bản để có số liệu cúng như thông tin chính xác để đi vào phân tích làm sáng tỏ vấn đề.Tìm tòi điều tra trên tất cả những thông tin hay sách báo viết về nghệ thuật thư pháp
3.1.4 Kế hoạch nghiên cứu
Khi bắt đầu nghiên cứu đề tài này, tôi đã chia quá trình nghiên cứu cho đề tài của tôi làm 2 lần như sau :
Trang 22Lần 1
Thời gian : Tôi nghiên cứu lần 1 của vấn đề này trong thời gian là vào ngày 15/01/2012
Địa điểm : Vì điều kiện và thời gian nên tôi chưa thể trực tiếp sang Nhật Bản
để tìm hiểu một cách rõ ràng về nghệ thuật thư pháp Nhật Bản, chính vì thế tôi đã tìm hiểu thông qua sách báo, internet
Nội dung : Tìm hiểu về nghệ thuật thư pháp Việt Nam – Nhật Bản có đặc điểm gì nổi bật
Lần 2
Thời gian : Để tiếp túc nghiên cứu vào ngày 31/01/2012
Địa điểm : Tìm hiểu thông qua sách báo và internet
Nội dung : Tìm hiểu về nghệ thuật thư pháp Việt Nam – Nhật Bản có đặc điểm gì nổi bật Từ đó so sánh làm sáng tỏ những khía cạnh đặc biệt của thư pháp Việt Nam – Nhật Bản
3.2 Tiến hành nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu trên đất nước Việt Nam, sách báo và internet về Nhật Bản với vấn đề thư pháp
Nghiên cứu, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng
Nghiên cứu không bỏ qua bất cứ vấn đề nào có liên quan
Trang 23CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG CỦA THƯ PHÁP 4.1 Sơ lược thư pháp Đông - Tây
Trong dòng chày văn hóa truyền thống của các nước phương Đông - Thư pháp được xem như một mạch ngầm, lặng lẽ tồn tại với thời gian nhưng thư pháp lại có vị trí đáng kể và hàm chứa nhiều giá trị nhân bản, đạo đức xã hội trong thế giới nghệ thuật
Thư pháp đối với người Trung Hoa : là linh hồn của mỹ thuật Trung Hoa,
là loại hình nghệ thuật có tính tổng hợp cao, có xu hướng vươn tới nghệ thuật biểu hiện tâm hồn chủ quan
Thư đạo Nhật Bản : Ở Nhật Bản nơi mà khiếu thẩm mỹ luôn dựa vào sự giản dị cùng với tính trầm tư mặc tưởng của Thiên Đạo đã tiếp nguồn cho nghệ thuật thư pháp phát triển thành một phong cách rất đặc biệt Đó là sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa Thiên Đạo và nghệ thuật thể hiện Với ý nghĩa này, thư đạo của Nhật Bản không chỉ là môn nghệ thuật thể hiện, mà nó vượt
ra ngoài hạn lượng của ý thức để truyền tải nội dung tâm pháp
Ở các nước phương Tây : ngày xưa, khi nghề in chưa có ( hoặc đã có mà chưa tinh vi ), những văn kiện quan trong hay tác phẩm thiêng liêng đầu cần những Nhà thư pháp ( calligrapher ) nắn nót, trau chút từng nét một Đặc biệt, với Kinh Điển của nhiều Tôn giáo, các nhà Thư pháp còn dốc lòng tôn trọng, giữ gìn trai giới và kiên tửu sắc trong suốt những ngày tháng tỉ mỉ chép Kinh thành những tác phẩm mỹ thuật, mà ngày nay một số kiệt tác còn may mắn giữ được đã trở thành tài sản văn hóa vô giá của các viện bảo tàng tên tuổi trên thế giới
4.2 Thư pháp Việt Nam
Thư pháp Việt Nam bao gồm hai dòng: Thư pháp Hán-Nôm và Thư pháp Quốc ngữ (hay thư pháp chữ Việt)
Trang 24Xưa nay, trong lịch sử việt Nam không hoàn toàn có nhắc đến một cách chính danh một bộ môn nghệ thuật nào mang tên Thư Pháp và danh xưng chính thức như Thư pháp gia hay còn gọi là Nhà Thư pháp cho những người hoạt động trong lĩnh vực này, chỉ có khái niệm viết chữ đẹp và người viết chữ đẹp
Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, dùng văn tự Hán nhưng lại
không chính danh được cho bộ môn này Các nhà nghiên cứu chưa tìm thấy các tư liệu lịch sử của suốt quá trình bị phương Bắc đô hộ và cả thời kỳ độc lập tự chủ nhắc đến bộ môn này Một vài từ liệu rất ít ỏi như trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn hay Vũ Trung Tùy bút của Phạm Đình Hổ cũng chỉ nhắc đến một cách sơ lược lối viết chữ của người phương Bắc mà thôi, ngoài ra không đề cập gì hơn
Thư pháp chữ Việt, hay thư pháp Việt ngữ được bắt đầu từ khoảng 30 năm gần đây Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp bằng bút sắt Sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh chơi thư pháp Quốc ngữ Đến nay, thư pháp chữ Việt đã được nhiều người quan tâm Một trong những tác phẩm thư pháp nổi bật nhất là cuốn thư pháp Truyện Kiều của Nguyễn Đình, tác phẩm này được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002
4.2.1 Năm kiểu chữ chính trong thư pháp Việt Nam
4.2.1.1.Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường
Trang 254.2.1.2.Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người
4.2.1.3 Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút "nhiếp tâm" giữa tư tưởng và quản bút Lối viết này thể hiện cá tính của người viết Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc
4.2.1.4 Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên
4.2.1.5 Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược
Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm
khoảng không gian lớn hơn phần chữ Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ
4.2.2 Nguyên tắc của thư pháp
Trang 26Các hàng đều và dài bằng nhau
Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân nửa chiều dài của hàng
Không dùng dấu chấm câu
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chánh
Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
Hình vuông (Ðấu phương)
Hình mặt quạt (Phiến diện) (coi hình dưới đâÿ)
4.2.2.2 Ấn chương
Là một nét văn hoá rất độc đáo của người Trung Quốc Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó Nghiên cứu kỷ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo
4.2.2.3 Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi
Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm
Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt
Loại nữa chìm nữa nổi
4.2.2.4 Vị trí đặt con dấu
Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có nhiều vị trí được qui ước để đóng dấu như :
Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân chương
Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu chương
Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh chương
Trang 27Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng của nó
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :
Khi tác giả vừa là tác giả nội dung vừa là tác giả hình thức hoặc tác giả hình thức nhưng nội dung lại là các câu văn thơ cổ thì con dấu ở vị trí dưới, phải Hoặc có thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo Như vậy được gọi là Toàn triện.Khi tác giả hình thức viết nội dung của tác giả khác (văn, thơ ) nhưng chưa có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả hình thức đặt bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả nội dung và người viết phải ghi
“thủ bút” hoặc “viết” Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện
Khi tác giả hình thức viết nội dung của tác giả khác (văn, thơ ) có sự đồng
ý của tác giả nội dung thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng phải
đề tên tác giả nội dung phía trên cao, bên trái và người viết phải ghi chữ “thủ bút” hoặc “viết” Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng triện
Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể sắp xếp được
vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác nhưng phải ghi rõ tác giả về nội dung Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện
4.2.3 Thư pháp Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
Nghệ thuật thư pháp chữ Hán - Việt Nam
4.2.3.1 Quá trình hình thành thư pháp chữ Hán ở Việt Nam
Quá trình phát triển của môn thư pháp chữ Hán tại Việt Nam, có lịch sử hình thành tương tự bộ môn thư pháp tại Trung Hoa : đều xuất phát từ tinh thần văn nghệ trong sáng lấy cảm hứng làm căn bản, lấy chủ đề tạo cảm hứng
Trang 28Tuy nhiên về biểu hiện mỹ cảm có những điểm tương đối khác biệt so với
nghệ thuật thư pháp ở Trung Hoa
2.3.2 Nghệ thuật thư pháp Quốc Ngữ - hiện đại
Sự linh hoạt là một trong những điểm quan trọng của nghệ thuật thư pháp và văn hóa Việt Nam nói riêng và có lẽ văn hóa nông nghiệp nói chung Đối với thư pháp chữ Việt tính linh hoạt thể hiện rất cao độ - nó cũng là một đặc
tính điển hình của người Việt
4.2.4 Thư pháp chữ Việt từ góc nhìn văn hóa
Trong những năm gần đây, ở nhiều nơi trên khắp đất nước, “thư pháp chữ Việt” “thư pháp Quốc ngữ” (chữ Latinh) đã bắt đầu khởi sắc và trở thành phong trào phát triển khá mạnh mẽ Hầu như chỗ nào ta cũng bắt gặp thư pháp chữ Việt Từ việc in trên sách báo, viết trên lịch, đến vẽ trên áo, thêu trên vải, cũng như những cuộc triển lãm lớn, nhỏ ở khắp mọi nơi được công chúng quan tâm
Bên cạnh đó, cũng có không ít các câu lạc bộ, các lớp giảng dạy thư pháp được hình thành Song, xung quanh “thư pháp chữ Việt” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, có người không đồng tình, có người chấp nhận ở mặt này, không tán thành ở mặt khác Các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã có
sự quan tâm và tham gia vào “mổ xẻ” bộ môn nghệ thuật này Có nhiều ý kiến đóng góp xây dựng, có ý kiến gợi ý dẫn dắt, cũng có ý kiến chê bai Vì vậy, có thể thấy rằng sự xuất hiện của “thư pháp chữ Việt” đã trở thành một hiện tượng văn hóa, và hơn nữa là cả vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội, rất cần thiết để tìm tòi và suy ngẫm
Trong dòng chảy văn hóa truyền thống của các nước phương Đông – thư pháp được xem như là một mạch ngầm, lặng lẽ tồn tại với thời gian nhưng thư pháp lại có vị trí đáng kể và hàm chứa nhiều giá trị nhân bản, đạo đức xã hội trong thế giới nghệ thuật Nó thực sự đã vượt khỏi chức năng thông tri
Trang 29của mình và đi thẳng vào thế giới tâm linh con người Chính vì thế cùng với hội họa, âm nhạc, thi ca….thư pháp được nhìn nhận là nghệ thuật đặc thù
“cao cấp” là biểu tượng thẩm mỹ của các nền văn hóa dân tộc ở Phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…
4.2.5 Sự hài hòa và nét đẹp trong thư pháp Việt Nam
4.2.5.1 Thư pháp chữ Hán Việt Nam
Ở nước ta thư pháp có tự bao giờ? Thắc mắc này đến nay vẫn chưa được giới chuyên môn xác định một cách cụ thể Tuy nhiên với một số di sản thư pháp chữ Hán do người Việt ta thủ bút, từ nhiều đời truyền lại được lưu giữ đến nay, có thể xem đây là một bằng chứng về nguồn sống sinh động của thư pháp chữ Hán trên đất Việt
Có thể nói rằng “khởi thuỷ của thư pháp Việt Nam là văn tự Hán mà người
có công truyền bá đầu tiên của nước ta là Vương Sĩ Nhiếp (thời nhà Hán những năm đầu công nguyên) Điều đặc biệt là ngay từ khi chữ Hán được tiếp nhận, cha ông ta đã sớm nhận thức được đặc trưng, bản chất của hệ văn
tự này và sớm coi trọng nghệ thuật thư pháp”.(1) Truyền thống yêu quí kính trọng chữ là truyền thống ngàn đời vừa sâu xa, vừa bền chắc Câu nói dân gian “Văn hay chữ tốt” đã trở thành thành ngữ dành để ca ngợi những tài năng văn học và thư pháp vốn không nhiều lắm ở mỗi thời
Xuôi theo dòng thời gian thư pháp chữ Hán tại Việt Nam cũng êm đềm lặng
lẽ như chính sự lặng lẽ của tự thân bộ môn thư pháp Mặc dù ở Việt Nam không có những bậc thư pháp kỹ tài đặc sắc như Trương Húc, Vương Hy Chi, (Trung Hoa), hay Bạch Aån, Thiết Chu, ( Nhật Bản), nhưng chúng ta cũng có những như danh sĩ tao nhân mặc khánh lừng danh thư pháp nào kém phương Bắc, như : đại tự của chuá Trịnh Sâm, hay nhà thơ Cao Bá Quát (1808 – 1855), Phan Bội Châu (1967 - 1940),… Họ thể hiện được những
Trang 30đường nét bút tài hoa, sống động có hồn Đó cũngù chính là bản thể đích thực, là tinh hoa, sức sống mạnh mẽ của thư pháp
Quá trình phát triển của môn thư pháp chữ Hán tại Việt Nam, có lịch sử hình thành tương tự bộ môn thư pháp tại Trung Hoa: đều xuất phát từ tinh thần văn nghệ trong sáng lấy cảm hứng làm căn bản, lấy chủ đề tạo cảm hứng” Tuy nhiên về biểu hiện mỹ cảm có những điểm tương đối khác biệt so với nghệ thuật thư pháp ở Trung Hoa Nhìn chung nghệ thuật viết chữ Hán ở người Việt luôn ở trong chừng mực Nét bút tuy bay bổng tài hoa nhưng luôn mô phạm, sâu lắng nhưng không trầm tích, mềm mại nhưng không yếu đuối, phóng nhưng không cuồng… Cõ lẽ vì vậy mà trong lịch sử thư pháp Việt Nam ta không có những bức cuồng thư như ở Trung Hoa, hay mặc tích như ở Nhật Bản – đây là sản phẩm của văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh, cái cảm thức thẩm mỹ của người Việt luôn hướng đến sự hài hòa, biểu cảm Trong khi so sánh văn hoá Trung Hoa và văn hoá Việt Nam GS Phan Ngọc
đã viết: “ Văn hoá Việt Nam là một văn hoá khiêm tốn, mộc mạc, không có cái gì cực đoan Nhưng không phải vì thế mà văn hoá Việt Nam thiếu cá tính… Trong học, trong thư pháp, họa, thơ văn, người Việt, không tìm cái kinh người, cái phi thường mà tìm cái bình dị, tìm cái gần gũi”(1) Và điều này là một sợi dây xuyên suốt trên con đường phát triển đầy sáng tạo của nghệ thuật thư pháp Việt Nam
4.2.5.2 Thư pháp Quốc ngữ – Hiện đại
Đến khi chữ quốc ngư ra đời với các mẫu tự Latinh được mở rộng khắp từ Nam chí Bắc những tưởng truyền thống thư pháp dân tộc phải dừng lại Nhưng không, thư pháp tiếng Việt cứ le lói, âm ỉ như một ngọn lửa nhỏ, bổng bùng lên mạnh mẽ từ đầu thiên niên kỷ này
4.2.5.3 Đôi nét về thư pháp Việt
Trang 31Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những
“Thầy Ðồ” hay những người “hay chữ” để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp Thư Pháp là phương pháp viết chữ (đẹp)
Hình 4.2.5.3.1: Cụ Ðồ xƣa
Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì