Nhân loại đã đi vào thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thời kỳ của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Ở mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, giáo dục luôn được xếp ở vị trí hàng đầu của sự phát triển. Nguồn lực con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó GDĐT giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới. Ở nước ta giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu”, là khâu đột phá trong sự nghiệp CNH, HĐH, luôn được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tếxã hội; nhân tố con người được coi là hạt nhân, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục của mỗi cấp học, bậc học luôn được quan tâm hơn bao giờ hết. Các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã khẳng định, chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục và đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tếxã hội trong mọi thời đại cũng như trong quá trình phát triển. Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến chất lượng của người dạy và chất lượng của người học. Chất lượng giáo dục là vấn đề then chốt trong chính sách phát triển GDĐT của Đảng và Nhà nước, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội; đồng thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá thương hiệu của mỗi cơ sở giáo dục. Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, GDĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”; “Phát triển GDĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”; “GDĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa GDĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước” 11. Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập và CNXH, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, sự nghiệp GDĐT của nước ta đã có những bước phát triển mạnh, chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo đã từng bước được nâng lên. Việc nâng cao chất lượng dạy học luôn được xác định là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu và quan trọng nhất của các cơ sở giáo dục, của mỗi nhà trường, đây chính là điều kiện để các nhà trường tồn tại và phát triển. Thực chất công tác quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học là nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo của trường đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đào tạo, yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên hệ thống giáo dục nước ta vẫn còn những tồn tại hạn chế, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng khóa 8 khóa XI đã khẳng định: “Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”; “Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp”; “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” 14. Để giải quyết những vấn đề trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm nhận thức về giáo dục, đồng thời phải chú trọng nâng cao ý thức trách nhiệm việc quản lý nhà trường của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy và học, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Trong hệ thống giáo dục nước ta thì giáo dục THCS có vai trò rất quan trọng, nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Điện Biên Đông là một huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Đông của tỉnh Điện Biên, kinh tếxã hội chậm phát triển, trình độ dân trí thấp và không đồng đều giữa các khu vực, là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành sự nghiệp GDĐT của huyện đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số thành tựu cơ bản: quy mô trường, lớp ngày càng được mở rộng, HS đến trường ngày một nhiều hơn; đội ngũ GV được bổ sung thêm hàng năm; chất lượng, hiệu quả giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực; CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy và học được quan tâm đầu tư và xây dựng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GDĐT của huyện vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: công tác quản lý của CBQL các nhà trường chưa khoa học; đội ngũ GV năng lực còn hạn chế, đặc biệt còn lúng túng trong việc đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá, dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng; CSVC, trang thiết bị dạy học còn thiếu dẫn đến chất lượng giáo dục của huyện còn thấp, thấp hơn chất lượng mặt bằng chung của tỉnh. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tếvăn hóaxã hội của địa phương, nhất là nguy cơ thiếu nguồn nhân lực có tri thức tại chỗ. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là chất lượng dạy học của huyện là vấn đề được các cấp lãnh đạo của địa phương rất quan tâm, trong đó phải có những giải pháp chiến lược và tìm ra các biện pháp hữu hiệu để đưa sự nghiệp giáo dục của huyện tiến kịp các huyện khác trong tỉnh là một vấn đề cấp thiết. Sau một thời gian được học tập, nghiên cứu, với vị trí công tác của bản thân, tôi chọn nghiêm cứu vấn đề: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng dạy học” làm đề tài luận văn của mình.
Trang 1DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cơ sở vật chấtĐại học, cao đẳngGiáo dục và Đào tạo Giáo sư
Giáo sư Tiến sĩGiáo viên
Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởngNhà xuất bản
Phó giáo sưPhó giáo sư Tiến sĩPhương pháp dạy họcSách giáo khoa
Trung học cơ sởTrung học phổ thông
Xã hội chủ nghĩa
Trang 2MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… i
Danh mục các chữ viết tắt………ii
Mục lục……… iii
Danh mục bảng …….………vi
Bảng 2.1 Quy mô mạng lưới trường, lớp và học sinh THCS 43
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ Hiệu trưởng cấp THCS năm học 2014-2015 43
Bảng 2.3 Tình hình đội ngũ giáo viên năm học 2014-2015 44
Bảng 2.4 Tình hình cơ sở vật chất bậc THCS năm học 2014-2015 45
Bảng 2.5 Kết quả 2 mặt giáo dục 3 năm 47
Bảng 2.14 Thực trạng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học 60
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp .101
8 Thực trạng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học 113
13 Kết quả đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 115
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã đi vào thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thời
kỳ của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt Ở mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, giáo dục luôn được xếp ở vị trí hàng đầu của sự phát triển Nguồn lực con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó GD&ĐT giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới Ở nước ta giáo dục được coi là "quốc sách hàng đầu”, là khâu đột phá trong sự nghiệp CNH, HĐH, luôn được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; nhân tố con người được coi là hạt nhân, là mục tiêu và động lực của sự phát triển Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục của mỗi cấp học, bậc học luôn được quan tâm hơn bao giờ hết.Các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã khẳng định, chất lượng giáo dục là
sự phù hợp với mục tiêu giáo dục và đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế-xã hội trong mọi thời đại cũng như trong quá trình phát triển Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến chất lượng của người dạy và chất lượng của người học Chất lượng giáo dục là vấn đề then chốt trong chính sách phát triển GD&ĐT của Đảng và Nhà nước, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội; đồng thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá thương hiệu của mỗi cơ sở giáo dục Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”; “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”; “GD&ĐT hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất
Trang 4lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa GD&ĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước” [11].
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập và CNXH, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, sự nghiệp GD&ĐT của nước ta đã có những bước phát triển mạnh, chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo đã từng bước được nâng lên Việc nâng cao chất lượng dạy học luôn được xác định là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu và quan trọng nhất của các cơ sở giáo dục, của mỗi nhà trường, đây chính là điều kiện để các nhà trường tồn tại và phát triển Thực chất công tác quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học là nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo của trường đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đào tạo, yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên hệ thống giáo dục nước ta vẫn còn những tồn tại hạn chế, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Nghị quyết Đại hội Đảng khóa 8 khóa XI đã khẳng định: “Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”; “Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới
và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề
Trang 5nghiệp”; “Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” [14].
Để giải quyết những vấn đề trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm nhận thức về giáo dục, đồng thời phải chú trọng nâng cao ý thức trách nhiệm việc quản lý nhà trường của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy và học,
để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
Trong hệ thống giáo dục nước ta thì giáo dục THCS có vai trò rất quan trọng, nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Điện Biên Đông là một huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Đông của tỉnh Điện Biên, kinh tế-xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí thấp và không đồng đều giữa các khu vực, là một trong 62 huyện nghèo của cả nước Trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành sự nghiệp GD&ĐT của huyện đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một
số thành tựu cơ bản: quy mô trường, lớp ngày càng được mở rộng, HS đến trường ngày một nhiều hơn; đội ngũ GV được bổ sung thêm hàng năm; chất lượng, hiệu quả giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực; CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy và học được quan tâm đầu tư và xây dựng Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GD&ĐT của huyện vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: công tác quản lý của CBQL các nhà trường chưa khoa học; đội ngũ GV năng lực còn hạn chế, đặc biệt còn lúng túng trong việc đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá, dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng; CSVC, trang thiết bị dạy học còn thiếu dẫn đến chất lượng giáo dục của huyện còn thấp, thấp hơn chất lượng mặt bằng chung của
Trang 6tỉnh Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của địa phương, nhất là nguy cơ thiếu nguồn nhân lực có tri thức tại chỗ.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là chất lượng dạy học của huyện là vấn đề được các cấp lãnh đạo của địa phương rất quan tâm, trong đó phải
có những giải pháp chiến lược và tìm ra các biện pháp hữu hiệu để đưa sự nghiệp giáo dục của huyện tiến kịp các huyện khác trong tỉnh là một vấn đề cấp thiết Sau một thời gian được học tập, nghiên cứu, với vị trí công tác của bản thân, tôi chọn nghiêm cứu vấn đề: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng dạy học” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS đối với hoạt động dạy học, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học các trường THCS của huyện
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học và chất lượng dạy học các trường THCS thuộc huyện Điện Biên Đông
Đề xuất những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng dạy học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học của trường THCS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học
5 Giả thuyết khoa học
Trang 7Chất lượng dạy học ở các trường THCS của huyện Điện Biên Đông trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục Nếu đề xuất và được áp dụng một cách khoa học, linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn thì
sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học của Huyện đáp ứng tốt yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành GD&ĐT; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động dạy học (hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS) ở các trường THCS
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng phiếu hỏi, nghiên cứu về biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Phỏng vấn, tham khảo ý kiến cán bộ quản lý, GV của 15 trường THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu khác
Trang 87.2.4 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về mức độ cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.5 Phương pháp thống kê
Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý các số liệu thu được qua khảo sát
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục; luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí của Hiệu trưởng các trường THCS đối với hoạt động dạy học
Chương 2: Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học các trường THCS huyện Điện Biên Đông
Chương 3: Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Điện Biên Đông nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
CÁC TRƯỜNG THCS ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy và học, góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã trình bày
về đối tượng, phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, khái niệm, các chức năng quản lý giáo dục, thống nhất mục tiêu quản lý và tính đặc thù quản lý nhà trường phổ thông; ông quan niệm rằng: “Quản lý trường học chủ yếu là quản lý quá trình dạy học” [35] Tác giả Hà Thế Ngữ đã nêu lên mục tiêu, nguyên tắc quản lý giáo dục; bước đầu tìm hiểu quy luật quản lý giáo dục [33] Tác giả Hà Sỹ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo việc quản lý chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường” [22] Biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho GV và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực chuyên môn cho đội ngũ GV cũng là biện pháp được tác giả Nguyễn Văn Lê chú trọng trong các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng [27] Tác giả Trần Kiểm đã trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, có phần hiện đại về cách tiếp cận, mô hình quản lý, đồng thời chỉ ra một số tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà trường của Hiệu trưởng, các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy và học….[24]. Vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường được nghiên cứu có hệ thống trong nhiều công trình của các tác giả như: Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc…Các tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, việc đổi mới PPDH, các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học…Bên cạnh đó, một số giáo trình của Trường đại học Giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam …cũng đã trình bày những vấn đề
cơ bản của hoạt động quản lý dạy học Trong các chương trình đào tạo Thạc sỹ
Trang 10quản lý giáo dục cũng có luận văn của một số tác giả đã nghiên cứu trực tiếp về công tác quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khái quát hoá được bản chất của quá trình dạy học và phân tích một cách biện chứng các yếu tố tác động đến quá trình dạy học nói chung và nêu lên được thực trạng cùng các biện pháp cụ thể phù hợp với thực tiễn hoạt động quản lý giáo dục ở địa phương Do đó các công trình thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và nghiên cứu thực tiễn đối với hoạt động quản lý giáo dục trên từng địa phương, đồng thời cũng đóng góp vào việc xây dựng nên nền tảng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục trong cả nước Dù vậy, trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, cùng với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thông tin, đòi hỏi GD&ĐT cần phải có những đổi mới căn bản, toàn diện: là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong đó đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý của người Hiệu trưởng là hết sức quan trọng, mà trọng tâm là các biện pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học Có thể thấy, quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đang được nhiều người quan tâm,
có nhiều luận văn đã và đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề này Các luận văn đều đưa ra thực trạng quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường, các địa phương, từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, mỗi địa phương, mỗi nhà trường có những đặc điểm riêng nên các biện pháp quản lý hoạt động dạy học cũng có những sự khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tuy
Trang 11không phải là mới, song sẽ là mới thể hiện ở những nét riêng về đặc điểm, về cách quản lý, về biện pháp và về cách áp dụng các biện pháp.
1.2 Các khái niệm cơ bản
Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người đọc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều kiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [30]
Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất của quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung
Trang 12Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy khi bàn
về khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [19]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [15] Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [32].Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong đó tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [29]
Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Vì vậy, người quản lý ngoài những yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy bén và linh hoạt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của mình
Mặc dù nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng đều có một số điểm chung và thống nhất đó là: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên tựu chung lại có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Trang 13- Chức năng kế hoạch hoá: Là chức năng khởi đầu, là khâu quan trọng
nhất trong hoạt động quản lý Kế hoạch là bản thiết kế, là tiền đề của mọi quá trình quản lý, là quá trình xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu và mục đích
đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng đối với tổ chức); xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này; xác định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực ) Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được nội lực và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được mục đích của tổ chức Trong quá trình chỉ đạo phải quan tâm sâu, sát các hoạt động của hệ thống, kịp thời điều chỉnh và vận hành hệ thống đạt đến mục tiêu nhanh nhất và hiệu quả nhất
- Chức năng kiểm ta: Là một chức năng quan trọng trong quản lý; quản
lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, kịp thời điều chỉnh những tồn tại hạn chế, từ đó có giải pháp chỉ đạo phù hợp để đạt được mục tiêu, kế hạch đã đề ra Để đạt được hiệu quả cao trong công việc nhà quản lý cần xây dựng các tiêu chí để đánh giá và phải thường xuyên kiểm tra
Trang 14Bốn chức năng cơ bản của quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, đan xen và tác động qua lại lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác.
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý Dân chủ được thể hiện ở chỗ: các chỉ tiêu, phương án hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các giải pháp thực thi trước khi đi đến quyết định
Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội: Hiệu quả là cơ sơ kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm thế nào để lực lượng lao động của tổ chức tạo ra thành quả lớn nhất, chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất
Nguyên tắc kết hợp tính hài hòa các lợi ích xã hội: Quản lý trước hết là quản lý con người Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và nhu cầu nhất định, do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý là phải chú ý đến lợi ích của mọi người để khuyến khích, kích thích tính tích cực của họ Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của con người Vì vậy, trong quản lý phải kết hợp hài hòa lợi ích các nhân với lợi ích tập thể và lợi ích chung của toàn xã hội
Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu: Đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng phân tích chính xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển để tìm ra các khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề them chốt có ý nghĩa quan trọng trong sự thành bại của tổ chức Nắm vững nguyên tắc này nhà quản lý có thể khắc phục được tình trạng dàn trải, chung chung để tập trung vào những vấn đề them chốt, quyết định trong việc quản lý tổ chức thực hiện mục tiêu
Trang 15Nguyên tắc kiên định mục tiêu: Là nguyên tắc đòi hỏi nhà quản lý phải
có ý trí kiên định thực hiện cho được mục tiêu đã xác định Bởi vì một tổ chức
dù mục tiêu đúng đắn nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồng tình ủng hộ Nếu nhà quản lý thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu không dễ đạt được
1.2.1.4 Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đã định Trên thực tế người ta sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kinh tế: Là phương pháp tác động vào đối tượng thông qua các lợi ích vật chất, tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạt động Nó được coi là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hiện tiết kiện và nâng cao ý thức kỷ luật, tự giác của người lao động, đồng thời giảm được phần lớn công việc điều hành, kiểm tra và đôn đốc
- Phương pháp tổ chức-hành chính: Là cách thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính Nội dung của phương pháp này là những tác động dựa vào các mối quan hệ và luật lệ của hệ thống quản lý, là những tác động của chủ thể quản lý lên tập thể đối tượng quản lý bằng những tác động hành chính mang tính bắc buộc, đòi hỏi mọi thành viên trong tổ chức phải chấp hành nghiêm nghặt, nếu vi phạm
bị xử lý theo qui định của tổ chức
- Phương pháp tâm lý-giáo dục: Là phương pháp tác động vào tình cảm và nhận thức của con người bằng lý lẽ, nhằm nâng cao nhận thức, tính tực giác và nhiệt tình hoạt động của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ Cơ sở của phương pháp này là vận dụng các qui luật tâm lý-giáo dục làm chuyển biến nhận thức, tình cảm, hành vi của họ, làm cho họ phân biệt rõ phải-trái, đúng-sai, lợi-hại, đẹp-xấu, thiện-ác … từ đó nâng cao tính tực giác và gắn bó với tổ chức
Trang 16Thực tế cho thấy không có phương pháp nào là vạn năng, phương pháp nào cũng có mặt mạnh và nhược điểm Bởi vậy, chủ thể quản lý cần biết phối hợp các phương pháp một cách linh hoạt phát huy những điểm mạnh, hạn chế tối đa những nhược điểm Việc vận dụng các phương pháp có thành công hay không phụ thuộc vào tài năng của nhà quản lý, nghệ thuật sử dụng các phương pháp đòi hỏi nhà quản lý phải có sự sáng tạo, còn bản thân các phương pháp không phải là cái quyết định thành công của nhà quản lý.
1.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung chương trình dạy học được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi và có phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển của xã hội Trường học là một tổ chức giáo dục cơ cở mang tính nhà nước, xã hội và là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [35]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [41]
Như vậy quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS
Trang 17và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
1.2.3 Dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1 Dạy học
Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở lý luận của quá trình giáo dục tổng thể Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạy học
từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học sau đây:
- Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học: Dạy học-một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn-là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những
kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy và người học
- Tiếp cận dạy học từ góc độ tâm lý học: Dạy học được hiểu là sự biến đổi hợp lý hoạt động và hành vi của người học trên cơ sở cộng tác hoạt động
và hành vi của người dạy và người học Như vậy, dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ chức, GV thực hiện nhằm giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kiến thức khoa học, hình thành kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục của xã hội Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân thành đạt
và phát triển trong xã hội
Trang 18- Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển-truyền đạt và tự điều khiển-lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục.
Nhiệm vụ của hoạt động dạy - học: Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn, đồng thời rèn luyện cho các em hệ thống kỹ năng và kỹ sảo tương ứng Tổ chức, điều khiển HS hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập và sáng tạo Tổ chức, điều khiển HS hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức và phát triển nhân cách nói chung
1.2.3.2 Hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình HS lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách HS Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS, giúp cho
họ hiểu được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy học có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện theo một nội dung chương trình qui định và phù hợp với từng lứa tuổi
Hoạt động dạy của GV, gồm hai hoạt động chính:
- GV nghiên cứu nội dung SGK, trình độ HS, tài liệu tham khảo, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện Trên cơ sở đó GV xây dựng một phương án thích hợp nhất để dạy từng bài cụ thể cho từng lớp
- GV phối hợp hoạt động với HS trên lớp, đây là quá trình giảng dạy của
GV GV nêu vấn đề, giảng dạy kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng, củng cố kiến thức và hướng dẫn HS tự học Trong quá trình giảng dạy, các hoạt động của GV được phối hợp nhịp nhàng với hoạt động của HS GV càng tăng cường việc hướng dẫn chỉ đạo thì HS càng có nhiều thời gian hoạt động tìm hiểu kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành
Trang 191.2.3.3 Hoạt động học của học sinh
Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới và phát triển nhân cách toàn diện Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh những khái niệm khoa học bằng hoạt động độc lập, sáng tạo của HS để phát triển nhân các với các thành tố tri thức, kỹ năng và thái độ
Hoạt động học có hai chức năng thống nhất là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống những khái niệm khoa học của từng bộ môn, với phương pháp phù hợp để biến kiến thức nhân loại thành học vấn của bản thân
Hoạt động học của HS, bao gồm:
- Phối hợp hoạt động với GV trên lớp, HS tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới
- HS tự học ở nhà để hiểu sâu, mở rộng kiến thức và vận dụng kiến thức mới để giải các bài tập HS nhớ các kiến thức, kỹ năng cơ bản để có thể biểu đạt lại thành lời nói, chữ viết cho GV và người khác hiểu được
Quá trình học là quá trình HS biến kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người thành kiến thức, kinh nghiệm bản thân, từ đó mà hình thành và phát triển nhân cách
1.2.3.4 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của người Hiệu trưởng Xuất phát từ vị trí quan trọng của hoạt động dạy học, người Hiệu trưởng phải dành nhiều thời gian và công sức cho công tác quản lý hoạt động này, nhằm ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Quản lý dạy học là quản lý một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các
Trang 20phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc: “Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý quá trình GD&ĐT trong trường học Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài’’ [31]
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học; nó được thực hiện trong và bằng sự hợp tác có tính chất cộng đồng và hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học, tuân theo lôgic khách quan của nội dung dạy học (khái niệm khoa học-đối tượng của học)
Quản lý hoạt động dạy-học, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Gắn hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, GV thực hiện đổi mới PPDH Kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong tập thể với sự quản lý thống nhất của cán bộ quản lý nhà trường Đảm bảo chất lượng một cách bền vững Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng ngoài nhà trường
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự
hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của trường Quản lý hoạt động dạy học là cơ
sở, là nền tảng cho việc xác định các mục tiêu quản lý khác trong nhà trường
1.2.4 Chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học
1.2.4.1 Chất lượng
Trang 21Chất lượng là mục tiêu của sự tìm tòi liên tục của con người trong suốt tiến trình lịch sử của nhân loại Chất lượng chính là lực lượng thúc đẩy những
nỗ lực không ngừng của mỗi người trên cương vị của mình Chất lượng là những gì có thể nhận biết nhưng thật khó xác định
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng:
- Theo từ điểm Bách khoa Việt nam: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì? Tính tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật hiện Chất lượng được biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó
là sự liên kết các thuộc tính của sự vật và không tách khỏi sự vật Sự thay đổi
về chất kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui luật ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng
- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn: Cách tiếp cận chất lượng
từ góc độ tiêu chuẩn hay các thông số kỹ thuật có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó Trong giáo dục, cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường muốn nâng cao chất lượng dạy học có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực và phấn đấu theo các chuẩn đó
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng
- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao động được đào tạo, phụ huynh HS…)
Trang 22- Chất lượng với tư cánh là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng
đó khả năng đáp ứng nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994)
Chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của sự vật, hiện tượng, là cái làm nên giá trị, bản chất của sự vật, hiện tượng, là yếu tố làm cho những
sự vật, hiện tượng này khác với những sự vật, hiện tượng khác
1.2.4.2 Chất lượng giáo dục
Định nghĩa chất lượng trong giáo dục là công việc khó khăn gấp nhiều lần
so với các lĩnh vực khác, vì giáo dục có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Các tác giả định nghĩa về chất lượng giáo dục như sau:
- Chất lượng giáo dục phổ thông: “Chất lượng giáo dục phổ thông là chất lượng sảm phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó là chất lượng học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn là vào đời ngay sau khi ra trường, sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hóa từ lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự chuyển hóa từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn nhân cách của họ, của quá trình giáo dục phổ thông [10]
- “Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triển toàn diện của xã hội [10]
- Chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là HS vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động Còn với góc độ giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi đánh giá sự
Trang 23phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị-xã hội, văn hóa-thể thao Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về chất lượng hoạt động của người học Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu về mục tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục.
- Chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển
- Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, chất lượng GD&ĐT gắn liền với sự hoàn thiện của tri thức-kĩ năng-thái độ của sản phẩm GD&ĐT và sự đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế-xã hội của nó trước mắt cũng trong quá trình phát triển
- Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, hiện nay có sáu quan điểm về chất lượng giáo dục như sau [9]:
(1) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”
(2) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”
(4) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
(5) Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
1.2.4.3 Chất lượng dạy học
Giáo dục phổ thông được tiến hành bằng nhiều hình thức, nhưng hình thức đặc trưng cơ bản nhất là hình thức dạy học Kết qủa trực tiếp của quá trình dạy học là học vấn, bao gồm cả phương pháp nhận thức, hành động và năng lực chuyên biệt của người học “Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người
Trang 24học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông toàn diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học” [10].Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả dạy học Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức
độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực
và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang đến kết quả cao nhất Chất lượng dạy học được đánh giá bởi sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quá trình dạy học, sao cho các yếu tố này càng tiến sát với mục tiêu đã định bao nhiêu thì kết quả của quá trình ấy càng cao bấy nhiêu Để thực hiện đánh giá, người ta xây dựng hệ thống các tiêu chí, thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ
Chất lượng dạy học ở trường phổ thông chính là sự đáp ứng được mục tiêu giáo dục phổ thông, nghĩa là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN Chất lượng dạy học được đánh giá chủ yếu về hai mặt học lực và hạnh kiểm của người học Các tiêu chí về học lực là kiến thức,
kỹ năng vận dụng và thái độ Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân Có 4 tiêu chí đánh giá hạnh kiểm người học: sự hiểu biết về các chuẩn mực hiện hành, năng lực nhận dạng hành vi, các tác động chi phối hành động, sự thể hiện thái độ tình cảm
Đánh giá chất lượng dạy học là việc khó khăn và phức tạp, cần có quan điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học Chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội đặt ra Khi đánh giá chất lượng dạy học phải căn
cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậc học đối chiếu với sản phẩm đào
Trang 25tạo được đối với mục tiêu của cấp học, bậc học Chất lượng dạy học càng cao, càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của người học.Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của tri thức khoa học và công nghệ, đòi hỏi ngành giáo dục phải tạo ra được chất lượng mới Do đó ngành giáo dục cần phải tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện ở tất cả các bậc học, ngành học; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
1.3 Trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí của trường THCS
Giáo dục THCS có vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là giai đoạn trung gian giữa tiểu học và THPT Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Vì vậy, giáo dục THCS là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN
Trường THCS có trách nhiệm thực hiện công tác phổ cập giáo dục THCS trên địa bàn đơn vị cấp xã Hằng năm thực hiện bảo đảm việc huy động trẻ hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6, duy trì tốt sĩ số HS các khối lớp Bảo đảm tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 tốt nghiệp THCS hằng năm: đạt ít nhất 80%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 70% (đạt chuẩn mức độ 1); đạt ít nhất 90%, đối với xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 80% (đạt chuẩn mức
độ 2); đạt ít nhất 95%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 90%, tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 đang học chương trình giáo dục phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên cấp
Trang 26THPT hoặc giáo dục nghề nghiệp đạt ít nhất 80%, đối với xã có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 70% (đạt chuẩn mức độ 3)
Vị trí của trường THCS được qui định tại Điều 2, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học: Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có
tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
1.3.2 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trong nhà trường
1.3.2.1 Vị trí
Luật giáo dục Việt Nam 2005, Điều 54, chương III quy định: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận” “Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học” [36]
Hiệu trưởng trường THCS là người quản lý trường học và lãnh đạo nhà trường, đại diện cho nhà trường về mặt pháp lý, có trách nhiệm và có thẩm quyền cao nhất trước cơ quan cấp trên là phòng GD&ĐT và UBND cấp huyện về quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường
1.3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
Trong điều lệ trường trung học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TTBGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Điều 19 mục 1 đã quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng như sau:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền
Trang 27- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định.
- Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng GV, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước
- Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho HS tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật HS
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
Như vậy để thực tốt nhiệm vụ của mình đòi hỏi người Hiệu trưởng phải luôn học hỏi, phấn đấu và rèn luyện bản thân về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tác phong mẫu mực, có năng lực và đặc biệt là luôn giữ vững được uy tín trước tập thể và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp phát triển giáo dục
1.3.3 Đặc điểm của học sinh THCS
Theo Điều 2 Chương I Luật Giáo dục 2005 đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
Trang 28CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Độ tuổi của HS THCS từ 11 đến 15 tuổi, lứa tuổi có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn phát triển của trẻ em và là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất và tinh thần, các em đang tách khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản về sự khác biệt trong phát triển thể chất, trí tuệ và tình cảm Các em đang cố gắng rèn luyện những đức tính của người lớn như tự giác học tập, tự chủ và tích cực Do vậy để đạt được các mục tiêu đề ra trong Luật Giáo dục quy định trường THCS phải có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông cơ bản, toàn diện với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ cấp học
Lứa tuổi HS THCS có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phức tạp nhất tạo nền tảng cho những bước thành công sau này Sự quan trọng thể hiện trong sự hình thành quan điểm xã hội, đạo đức và nhân cách của con người Hiểu rõ được vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm
lý học sinh THCS, giúp chúng ta có cách cư xử đúng đắn và giáo dục các em
có một nhân cách toàn diện
- Về mặt nhận thức: Các em được trang bị những kiến thức toàn diện và sâu sắc có tính chất chuyên ngành về khoa học tự nhiên, về khoa học xã hội
Do đó năng lực nhận thức bằng lý tính thông qua các thao tác tư duy, phân tích, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng đi sâu vào đối tượng, phát hiện ra bản chất của đối tượng đã phát triển mạnh
- Về mặt tình cảm, ý chí: Đồng thời với việc phát triển về mặt nhận thức sâu sắc thì mặt tình cảm cũng được thể hiện rõ ràng hơn, cụ thể hơn, thông qua hành vi ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, thầy cô giáo …Các quan hệ về tình bạn, tình người ngày càng phong phú, đa dạng và cũng ý
Trang 29thức được trách nhiệm của người công dân trong tương lai nên đã thể hiện ý chí học tập, rèn luyện để học nghề và lập nghiệp.
Tuy nhiên, đây là lứa tuổi chưa hoàn toàn là người lớn, chưa được trải nghiệm nhiều, chưa tích lũy được vốn sống hữu ích, chưa phòng tránh được những cám dỗ vật chất, tình cảm do các tệ nạn xã hội tạo ra, cho nên một số
em đã sa ngã khi đang ngồi trên ghế nhà trường Do đó GV cần phải có tình cảm yêu thương, sự tôn trọng, đối xử công bằng, dân chủ khách quan và khéo léo trong ứng xử với các em
1.4 Quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, người lãnh đạo phải tổ chức và điều khiển quá trình sư phạm tổng thể Quản lý, chỉ đạo tốt hoạt động dạy và học trong nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến chất lượng sản phẩm giáo dục
Quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy học là phải quản lý chỉ đạo các thành tố trong quá trình dạy học, trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách đồng bộ, hài hòa, hợp quy luật, đúng nguyên tắc Quy trình đó có tính xuyên suốt từ khâu soạn bài, giảng bài và tạm thời kết thúc ở khâu đánh giá kết quả học tập của HS Cho nên quản lý chỉ đạo hoạt động dạy và học thực chất là quản lý một số thành tố của quá trình dạy học bao gồm: Hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của HS…
1.4.1 Chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học Để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong các nhà trường, Hiệu trưởng cần quản lý chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung cơ bản sau: Phân công giảng dạy của GV; xây dựng và thực hiện chương trình dạy học; soạn bài và chuẩn bị bài; giờ lên lớp, sinh hoạt tổ chuyên môn; đổi mới PPDH, sử dụng thiết bị dạy học; kiểm
Trang 30tra đánh giá kết quả học tập của HS; các loại hồ sơ, sổ sách….
1.4.1.1 Thực hiện phân công giảng dạy
Phân công giảng dạy cho GV thực chất là công tác tổ chức và công tác cán
bộ, Hiệu trưởng cần hiểu thấu đáo chỗ mạnh, chỗ yếu, sở trường, hoàn cảnh của từng GV để sử dụng họ và tạo cho họ niềm tin trong nghề nghiệp
Hiệu trưởng phân công giảng dạy cho GV hợp lý phát huy năng lực và sở trường của từng người để mang lại hiệu quả cao nhất là một việc quan trọng Thực tế hiện nay, hầu hết các trường THCS ở địa bàn miền núi, do đội ngũ
GV không đồng bộ về cơ cấu bộ môn và chất lượng chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều nên việc phân công giảng dạy gặp nhiều khó khăn Do đó, muốn thực hiện tốt công việc này Hiệu trưởng cần tìm hiểu rõ tình hình chất lượng đội ngũ, chú ý đến yêu cầu đảm bảo chất lượng, đảm bảo quyền lợi của
HS, nguyện vọng của GV, đảm bảo tương đối công bằng về khối lượng công việc của từng GV, đảm bảo sự hài hòa và cân đối giữa số giờ thực dạy và số giờ làm công tác kiêm nhiệm để phân công cho phù hợp; có như vậy mới kịp thời động viên khuyến khích GV phát huy tốt năng lực sở trường, tinh thần trách nhiệm của mình trong công việc được giao
1.4.1.2 Chỉ đạo xây dựng và thực hiện chương trình dạy học
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và nội dung kiến thức; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học Trên cơ sở yêu cầu chung của công tác giáo dục và yêu cầu riêng của từng bộ môn, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp quản lý và tình hình cụ thể của nhà trường, GV và tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng và thực hiện chương trình dạy học phù hợp Hiệu trưởng phải chỉ đạo thực hiện đúng nội dung chương trình, kế hoạch dạy học và biên chế năm học; chỉ đạo GV nắm vững mục tiêu, phạm vi kiến thức, PPDH đặc trưng, cách thức đánh giá kết quả học tập của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học
Trang 31Chỉ đạo các tổ chuyên môn thảo luận xây dựng nội dung chương trình dạy học, giúp họ xác định mục tiêu, nội dung và tìm ra các giải pháp để thực hiện mục tiêu đó Xác định những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn giảng dạy trong những năm học trước và những vấn đề mới phát sinh trong chương trình dạy học để thống nhất thực hiện.
Để chỉ đạo việc thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, bảo đảm thời gian theo qui định, Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra nắm tình hình thực hiện chương trình của GV qua: thời khóa biểu, sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, giáo
án, sổ sinh hoạt chuyên môn; định kỳ kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học từng bộ môn và từng khối lớp để từ đó kịp thời điều chỉnh sao cho đảm bảo nội dung và tiến độ chương trình theo qui định
1.4.1.3 Kiểm tra, theo dõi soạn bài và chuẩn bị lên lớp
Soạn bài và chuẩn bị các thiết bị, thí nghiệm (nếu có) của bài dạy là hai công việc quan trọng, chủ yếu của GV trước giờ lên lớp Tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình lên lớp, nhưng soạn bài là một hoạt động lao động sáng tạo của từng GV, nó thể hiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của GV về nội dung, phương pháp, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng HS và đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu của chương trình.Hiệu trưởng cần chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung chương trình mình phụ trách giảng dạy, trao đổi thống nhất trong nhóm
về mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học từ đó xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch đã đề ra Việc chỉ đạo soạn bài và chuẩn bài trước khi lên lớp của GV cần đảm bảo những yêu cầu về tính tư tưởng, tính giáo dục, đảm bảo nội dung kiến thức, đảm bảo tính chính xác và khoa học…
Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng cùng các tổ trưởng chuyên môn phân công trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, nắm tình hình việc chuẩn bị bài của
Trang 32GV Sau kiểm tra tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm cụ thể chi tiết, để từ đó kịp thời điều chỉnh những sai lệch nhằm thực hiện đúng qui định đề ra.
1.4.1.4 Kiểm tra giờ lên lớp của giáo viên
Giờ lên lớp của GV giữ vai trò quan trọng nhất của quá trình dạy học, nó quyết định chất lượng dạy học Do đó, trong mỗi giờ lên lớp, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học, đó là mục đích, nội dung kiến thức, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Tất cả các công việc soạn bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học trước khi lên lớp chỉ đạt hiệu quả cao khi người GV thực hiện thành công tiết dạy trên lớp
Hiệu trưởng cần chỉ đạo sao cho mỗi giờ lên lớp của GV đều đạt được các yêu cầu cơ bản về nội dung, phương pháp và đảm bảo cho HS nắm được kiến thức cơ bản nhất của bài học; bồi dưỡng được năng lực nhận thức, tư duy, tự học, qua đó rèn luyện cho HS những kỹ năng (kỹ năng học tập, kỹ năng sống và vận dụng kỹ năng vào thực tiễn); bồi dưỡng cho các em những
tư tưởng đúng, những tình cảm đẹp để hình thành và phát triển nhân cách Để chỉ đạo tốt giờ lên lớp của GV, Hiệu trưởng cần phải có những biện pháp tác động cụ thể đó là:
- Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp: Yêu cầu về kiến thức kỹ năng của các môn học; tiêu chuẩn đánh giá tiết dạy của GV theo các tiêu chuẩn qui định; nhưng qui định về các loại bài; các phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất
- Xây dựng và sử dụng thời khóa biểu để kiểm tra giờ lên lớp: Thời khóa biểu có tác dụng duy trì nền nếp dạy học; thực hiện nghiêm túc thời khóa biểu
sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
- Xây dựng lịch kiểm tra giờ lên lớp để nắm bắt tình hình dạy và học, tình hình ra vào lớp của GV và việc học tập của HS Quản lý chặt chẽ giờ lên lớp của GV, có tác dụng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy và học Vì
Trang 33vậy việc thực hiện kiểm tra giờ lên lớp của GV phải được làm thường xuyên
và duy trì trong suốt cả năm học
- Tăng cường dự giờ, thăm lớp của Hiệu trưởng hay người được ủy quyền (phó hiệu trưởng và các tổ trưởng chuyên môn) theo kế hoạch hoặc đột xuất Sau khi dự giờ GV, việc tổ chức rút kinh nghiệm tiết dạy cần được thực hiện nghiêm túc, phải giúp GV thấy rõ ưu điểm, tồn tại của mình về nội dung kiến thức, phương pháp, cách tổ chức các hoạt động học tập của HS và tình hình sử dụng đồ dùng dạy học…qua đó tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ họ điều chỉnh kịp thời về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng dạy học
1.4.1.5 Chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là bộ phận hợp thành và không thể thiếu được trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học, cấp học Kiểm tra đánh giá luôn được thực hiện đồng thời cùng với quá trình dạy học, đó là quá trình thu nhập thông tin về khả năng nhận thức, ý thức và trách nhiệm của HS trong quá trình học tập Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp chỉ đạo dạy và học phù hợp, giúp
HS tiến bộ hơn trong học tập
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là việc là hết sức cần thiết của người Hiệu trưởng Qua quản lý, chỉ đạo hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS, Hiệu trưởng nắm được chất lượng giảng dạy của từng GV, là
cơ sở đánh giá chất lượng và hiệu quả của người dạy và người học Thông qua đó Hiệu trưởng có những giải pháp tác động trở lại GV để điều chỉnh quá trình dạy học sát với thực tế, phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
Để làm tốt nội dung này, Hiệu trưởng cần chỉ đạo toàn bộ GV thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của các cấp về đánh giá xếp loại HS
và qui chế chuyên môn; thường xuyên kiểm tra kế hoạch kiểm tra hàng tháng của GV; yêu cầu GV thực hiện tốt việc đổi mới kiểm tra đánh giá, nội dung kiểm tra cần phù hợp với đối tượng HS trên cơ sở bám sát chuẩn kiến thức, kỹ
Trang 34năng và đảm bảo các cấp độ của nhận thức; trong đề kiểm tra cần kết hợp hài hòa giữa hình thức tự luận và trắc nghiệm tùy theo môn học Tổ chức kiểm tra nghiêm túc, chấm bài chính xác, công bằng và khách quan; chữa bài, trả bài đúng thời gian qui định Sau kiểm tra phải đối chiếu kết quả đã đạt được với với mục tiêu đã đề ra, chỉ ra những những mặt đã làm được, chưa làm được, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp thực hiện có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học trong thời gian tiếp theo.
1.4.1.6 Chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
PPDH có thể hiểu là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức của HS, để HS lĩnh hội vững chắc các phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định Chỉ đạo đổi mới PPDH, là chỉ đạo việc thực hiện phương pháp dạy của GV sao cho phù hợp với nội dung chương trình và đặc trưng riêng của từng môn học đồng thời phù hợp với đối tượng HS và sự phát triển của xã hội
Đổi mới PPDH hiện nay là dạy học theo hướng phát triển năng lực HS, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập Rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, khả năng nghiên cứu, vận dụng kiến thức đã học và thực tiễn
Đổi mới PPDH là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay, người Hiệu trưởng cần quan tâm chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH thông qua:
- Cập nhật, bồi dưỡng cho GV thấy được vai trò của tính cần thiết phải đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay
- Lập kế hoạch chỉ đạo cụ thể, chi tiết đổi mới PPDH đối với từng môn học ngay từ đầu năm học phù hợp với đặc thù riêng của nhà trường Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về đội ngũ GV, CSVC, trang thiết bị dạy học…để triển khai thực hiện kế hoạch
Trang 35- Quy định thực hiện các qui chế, đảm bảo chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, trao đổi những vấn đề khó trong chương trình, tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm các tiết học Tăng cường ứng dụng CNTT, các phần mềm hỗ trợ, phương tiện nghe nhìn để góp phần đổi mới PPDH.
- Tổ chức tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm những đơn vị thực hiện đổi mới PPDH có hiệu quả
- Thúc đẩy việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao trình
độ cho đội ngũ GV, hiểu chương trình, sách giáo khoa…
1.4.1.7 Chỉ đạo thực hiện các loại hồ sơ của giáo viên
Quản lý, chỉ đạo thực hiện hồ sơ chuyên môn của GV là một công việc hết sức quan trọng của người Hiệu trưởng Hồ sơ chuyên môn của GV là phương tiện phản ánh quá trình quản lý, mang tính khách quan và cụ thể, giúp Hiệu trưởng nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV Có thể nói hồ sơ chuyên môn của GV là cơ sở để thể hiện nội dung công việc mà GV đó được phân công, là cơ sở để đánh giá sự chuẩn bị, đầu tư cho chuyên môn của GV đó Tuy nhiên, người Hiệu trưởng không nên đồng nhất khái niệm hồ sơ chuyên môn của GV đó với năng lực giảng dạy của họ trên lớp
Hồ sơ của GV phục vụ cho hoạt động dạy học được qui định tại Điều 27 của Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học
Để chỉ đạo GV thực hiện tốt hồ sơ chuyên môn, Hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, cùng với các phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng hồ sơ của từng GV từ đó kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện
1.4.1.8 Chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên
Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường, bởi vì
Trang 36xây dựng đội ngũ GV là tạo động lực cho người dạy và người học thực hiện dạy tốt và học tốt.
Điều 15 Luật Giáo dục nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục, nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học”
Nội dung quản lý, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV phải là một việc làm thường xuyên của các nhà quản lý, giúp cho GV nâng cao và mở rộng tri thức, tiếp cận với những nội dung mới
để đáp ứng những yêu cầu về đổi mới trong giáo dục
Phân công GV giỏi giúp đỡ GV còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho GV tự học, tự bồi dưỡng và tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn
Trong các nhà trường phải coi sinh hoạt chuyên môn tổ, nhóm, thực hiện các chuyên đề là loại hình bồi dưỡng bắt buộc đối với mọi GV
Coi trọng hình thức bồi dưỡng thường xuyên gắn với thực tiễn bài học, môn học Ngoài ra, tạo điều kiện cho GV đi giao lưu học hỏi kinh nghiệm, tham gia các lớp học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
1.4.2 Quản lý hoạt động học của học sinh
HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học, vì vậy, quản
lý hoạt động học của HS là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Hoạt động học tập của HS là hoạt động tồn tại song song với hoạt động dạy của người thầy Do vậy quản lý hoạt động học của HS
có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng dạy học Quản lý hoạt động học của HS cần đạt được những nội dung chủ yếu sau:
1.4.2.1 Chỉ đạo thực hiện giáo dục nền nếp, động cơ, thái độ học tập của HS
Nền nếp học tập, kỷ luật học tập của HS là những quy định cụ thể về thái
độ, hành vi ứng xử của người HS nhằm làm cho hoạt động học tập diễn ra có hiệu quả Nền nếp, động cơ và thái độ học tập của HS sẽ quyết định nhiều
Trang 37đến hiệu quả học tập, vì vậy Hiệu trưởng cần chỉ đạo GV xây dựng được những nền nếp học tập sau cho HS:
- Giúp cho HS có động cơ, thái độ học tập đúng đắn, đi học chuyên cần, chăm chỉ, có nền nếp học bài và làm bài đầy đủ; có ý thức sử dụng, bảo quản
và chuẩn bị đồ dùng học tập; có ý thức tự phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tự hoàn thiện mình
- Giúp HS có thói quen, nền nếp trong những hoạt động ở nhà trường cũng như những hoạt động ở nơi cư trú và nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng
- Giúp các em có những ước mơ, hoài bão, lý tưởng, từ đó các em sẽ xác định cho mình động cơ, thái độ học tập đúng mực
- Xây dựng được nền nếp về khen thưởng, kỷ luật, chấp hành kỷ cương, nội quy học tập cho HS
1.4.2.2 Chỉ đạo thực hiện giáo dục phương pháp học tập cho HS
Phương pháp học tập là yếu tố quyết định chất lượng học tập của người học, vì vậy việc chỉ đạo thực hiện giáo dục phương pháp học tập cho HS cần đạt được những yêu cầu sau:
- Làm cho HS hiểu được phương pháp, kỹ năng chung của hoạt động học tập, kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
- Giúp HS có phương pháp học tập ở lớp và phương pháp tự học ở nhà
1.4.2.3 Chỉ đạo thực hiện các hoạt động học tập, vui chơi giải trí.
Đây là yêu cầu quan trọng đối với người Hiệu trưởng trong việc quản lý các hoạt động học tập của HS Các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phải được tổ chức một cách hợp lý, phù hợp với sự phát triển tâm lý, sức khỏe của
HS Điều này đòi hỏi Hiệu trưởng phải có sự cân nhắc, tính toán, tổ chức cân đối, hài hòa các hoạt động trong từng tháng, từng học kỳ và năm học để tạo điều kiện thu hút HS đến trường và tham gia học tập
1.4.2.4 Chỉ đạo thực hiện phân tích đánh giá kết quả học tập của HS
Phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS là yêu cầu cần thiết trong
Trang 38công tác quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng Điểm số của HS phải được cập nhật, các bài kiểm tra viết phải được trả cho HS đúng thời gian quy định, mỗi bài kiểm tra trước khi công bố điểm giáo viên phải xem xét kỹ, có lời nhận xét, phát hiện các lỗi khi HS mắc phải, chữa tại lớp để rút kinh nghiệm Phát hiện, biểu dương những bài làm có ý tưởng mới, bài làm có kết quả tốt.
Căn cứ vào sổ điểm của lớp, công tác dự giờ thăm lớp, Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn phân tích đánh giá kết quả học tập của HS thường xuyên hàng tháng từ đó có sự so sánh để thấy được sự chuyển biến của chất lượng dạy học trong nhà trường Nội dung chỉ đạo cần tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau:
- Tình hình thực hiện nền nếp học tập, tinh thần thái độ học tập, sự chuyên cần và tính kỷ luật trong học tập
- Kết quả học tập các môn học, điểm số, tiến độ kiểm tra của GV theo phân phối chương trình, số lần điểm/môn, nhận xét đánh giá của GV bộ môn
về mức độ tiến triển kết quả học tập của HS
- Chất lượng học tập của HS ở các môn học, các yêu cầu, kỹ năng đạt được của HS ở các môn học
Những kết quả sau khi phân tích sẽ giúp Hiệu trưởng thấy rõ thêm hoạt động dạy học, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý kịp thời
1.4.2.5 Phối hợp các lực lượng quản lý hoạt động học tập của HS.
Hoạt động học tập của HS diễn ra trong không gian và thời gian tương đối rộng, bao gồm chủ yếu là học tập trên lớp và ở nhà Vì vậy Hiệu trưởng cần phải tổ chức phối hợp giữa GV chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, Bí thư Đoàn thanh niên, gia đình HS, nhằm đưa hoạt động học tập của HS vào nền nếp Thông qua hoạt động tập thể của nhà trường, giúp các em phát huy vai trò tự giác tích cực, tự quản các hoạt động của mình Đồng thời động viên, khích lệ kịp thời tinh thần học tập tiến bộ của các em, nâng cao chất lượng học tập theo yêu cầu, mục tiêu
Trang 39Sự phối hợp giữa gia đình-nhà trường-xã hội là một hoạt động rất cần thiết Điều này giúp chúng ta thống nhất được phương pháp giáo dục, có được thông tin phản hồi về tình hình học tập của các em.
Quản lý hoạt động học tập của HS là một yêu cầu không thể thiếu và có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý chỉ đạo nhà trường Nếu thực hiện tốt hoạt động này sẽ tạo được ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện tu dưỡng, các em sẽ có thái độ học tập tốt, xác định được động cơ học tập đúng đắn, từ đó góp phần vào nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong nhà trường nói riêng và thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra nói chung
1.4.3 Chỉ đạo quản lý CSVC và phương tiện hỗ trợ dạy học
CSVC là điều kiện tiên quyết để nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục CSVC, kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất, trang thiết bị kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc dạy học của nhà trường
Việc chỉ đạo quản lý CSVC trong nhà trường phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản là: Nhà trường phải đảm bảo đầy đủ CSVC, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy và học; CSVC phải được sử dụng có hiệu quả Tổ chức quản lý tốt việc sử dụng, bảo quản và đầu tư mới CSVC trong nhà trường
Nội dung chỉ đạo quản lý CSVC, trang thiết bị trong nhà trường, bao gồm: Quản lý phòng học, bàn ghế, bảng; quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng học bộ môn, phòng chức năng; quản lý thư viện trường học, sách báo, tài liệu…
Tóm lại, CSVC và thiết bị dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Tăng cường CSVC và từng bước hiện đại hóa nhà trường, lớp học, sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng Internet, thiết
bị học tập và giảng dạy hiện đại, thư viện… và đổi mới PPDH, phát huy tư duy
Trang 40sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
1.5.1 Những yếu tố chủ quan
Quản lý chỉ đạo hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THCS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Trong đó, yếu tố chủ quan gồm: Phẩm chất, năng lực quản lý và trình độ chuyên môn của Hiệu trưởng luôn là những yếu tố có tác động mạnh mẽ và rõ nét nhất
Để đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý, người Hiệu trưởng trước hết phải là người có lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống tốt, thực hiện đúng đường lối, mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước Là người gương mẫu thực hiện những đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ, chức năng của người Hiệu trưởng trong nhà trường
Người Hiệu trưởng phải là nhà giáo có kinh nghiệm, có năng lực, uy tín
về chuyên môn, biết thu hút, động viên mọi lực lượng, tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường tham gia có hiệu quả vào việc quản lý nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
Hiệu trưởng không ngừng nâng cao trình độ của mình để đáp ứng yêu cầu quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng, người quản lý cần linh hoạt không nên máy móc, cứng nhắc Muốn làm được như vậy, Hiệu trưởng phải có năng lực quản lý tốt, trình độ chuyên môn và bản lĩnh vững vàng
1.5.2 Những yếu tố khách quan
Ngoài những yếu tố trên ảnh hưởng đến hoạt động quản lý còn có những yếu tố khách quan bên ngoài tác động đến quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THCS