1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của phan thị vàng anh

71 744 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 311,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, bằng tiếng cười với nhiều cung bậc, các nhà vănđương đại đã nhại lại những giá trị truyền thống từng được coi là khuôn mẫu,chuẩn mực trong cuộc sống và văn chương nhằm giải thiêng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Văn học Việt Namhiện đại - Khoa Ngữ Văn – trường đại học sư phạm Hà Nội, đặc biệt là thầygiáo – TS Nguyễn Văn Phượng, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quátrình làm khóa luận

Hà Nội, tháng 5 năm 2011 Hoàng Kim Phượng

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Giai đoạn văn học từ sau 1975 ghi nhận sự trở lại của tiếng cười vớinhiều sắc thái khác nhau Khi đất nước bước vào thời kì hòa bình, thống nhất,con người cá nhân và cá tính được tự do phát triển Khuynh hướng nhận thứclại phổ biến trên văn đàn đặt con người trong sự hoài nghi những giá trị đượccoi là chân lí một thời Từ đó, bằng tiếng cười với nhiều cung bậc, các nhà vănđương đại đã nhại lại những giá trị truyền thống từng được coi là khuôn mẫu,chuẩn mực trong cuộc sống và văn chương nhằm giải thiêng những giá trị đó.Bản chất của cảm hứng giễu nhại xuất phát từ sự chôn sâu cái cũ để gieo hạtmầm cho cái mới đâm chồi Đó là khuynh hướng tất yếu của lịch sử và của vănhọc

Trong rất nhiều gương mặt của thời kì này, chúng tôi chọn Nguyễn BìnhPhương Bởi lẽ, nhà văn là người có ý thức sâu sắc về sự đổi mới thể loại khôngchỉ ở nội dung mà tập trung hơn, sâu sắc hơn về mặt kĩ thuật tiểu thuyết Mộtnhà văn dám chấp nhận mạo hiểm trong sáng tạo, hướng ngòi bút tới chân trời

tự do, coi “cái điên” như một phẩm chất quan trọng của sáng tạo nghệ thuậtchắc chắn không thể dừng lại ở những khuôn mẫu có sẵn Đọc tiểu thuyết củaNguyễn Bình Phương, người đọc có thể bắt gặp cái gì đó vừa quen vừa lạ Đó làmột bầu không khí huyền ảo của những câu chuyện cổ tích, những truyềnthuyết xa xưa hiện hữu ngay trong cuộc sống xô bồ, hỗn tạp của hôm nay vớinhững cảnh giở khóc giở cười Tiếng cười đó hiện lên trên trang văn củaNguyễn Bình Phương có khi hài hước, có khi thâm trầm mà người đọc phảingụp sâu xuống mạch ngầm mới có thể cảm nhận được Đó là lí do để chúng tôichọn nghiên cứu đề tài “Chất giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương”

Trang 3

II Lịch sử vấn đề

Aristot có câu nói nổi tiếng: “ Người là sinh vật duy nhất biết cười”.Tiếng cười trong văn học được biểu hiện dưới nhiều hình thức: hài hước, giễunhại, trào lộng, trào phúng, trào tiếu nhằm mỉa mai, châm biếm Nhiều côngtrình nghiên cứu văn học Việt Nam sau 1975 đã đề cập đến cái hài trong tácphẩm với cảm quan trào lộng, trào tiếu, giải thiêng những giá trị cũ đã từng ănsâu, bám rễ trong đời sống văn học và tâm thức dân tộc

Trong văn học đổi mới, cảm hứng giễu nhại đã xuất hiện trở lại Cùngvới đó, nhiều công trình nghiên cứu văn học đã chỉ ra ý nghĩa của cảm hứnggiễu nhại đối với một giai đoạn văn học mới PGS TS Nguyễn Thị Bình làngười đầu tiên có công trình nghiên cứu qui mô về những đổi mới của văn họcViệt Nam sau 1975 với phát hiện cảm hứng giễu nhại chính là một trong nhữngđặc điểm nổi bật trong giai đoạn văn học này Với luận án tiến sĩ khoa học NgữVăn “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975” (1996), tácgiả đã đưa ra nhận xét: “ Ở các nhà văn trẻ, nổi bật lên là giọng giễu nhại…”,

“họ đưa vào văn chương cái nhìn suồng sã, không quan trọng hóa cái gì, có khicực đoan đến mức không coi cái gì là quan trọng” Qua nhận định trên, tác giảcủa luận án đã đánh giá đặc điểm nổi bật của văn học đương đại Việt Nam với

sự trở lại của cái hài

Nhà nghiên cứu Lã Nguyên trong bài viết “ Nhìn lại những bước đi, lắngnghe những tiếng nói” đã khẳng định đặc điểm nổi bật của văn học sau 1975với: “Giọng lu loa sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo trong văn học thời đổi mớikhông thể cất lên thành tiếng hát Cái vô lí, cái phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹpcủa đời sống phồn tạp chỉ có thể hóa thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại đểvăn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ thuật Hình như giễu nhại đã trở thànhkiểu quan hệ đời sống mang phong cách thời đại…”

Cảm hứng giễu nhại đã trở thành đặc điểm rõ nét trong các công trìnhnghiên cứu văn xuôi đương đại với những tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp,

Trang 4

Nguyễn Khải,Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái,Bùi Ngọc Tấn PGS TS La Khắc Hòa nhấn mạnh sáng tác của Nguyễn HuyThiệp “miêu tả cuộc đời giống như một kịch trường” PGS.TS La Khắc Hòacũng phát hiện và nhấn mạnh đặc điểm sáng tác của Phạm Thị Hoài :“ nói rất

to, rất tự nhiên bằng thứ ngôn ngữ suồng sã, những chuyện mà người ta thườnggiấu kín, hay giả sử nói ra thì cũng chỉ nói thầm, nói nhỏ Mỗi sáng tác củaPhạm Thị Hoài vì thế giống như một hình tượng ngôn từ giễu nhại” Trongnhững công trình nghiên cứu khoa học trong các trường đại học cũng ghi nhận

sự xuất hiện của cảm hứng giễu nhại trong các sáng tác văn xuôi đương đại Tácgiả Nguyễn Thị Hằng trong luận văn của mình cũng đã nghiên cứu “Cảm hứnggiễu nhại trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh”( 2006) Trong đó người viết

đã khảo sát trên diện rộng những sáng tác tiêu biểu của Phan Thị Vàng Anh, từ

đó đề cập đến nét chính của giễu nhại hiện đại Có thể nhận thấy rằng, tìm hiểu

về cảm hứng giễu nhại trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam đương đại

đã có sức hút to lớn đối với giới phê bình, nghiên cứu văn học Từ đó, ngườiviết có thể khẳng định cảm hứng giễu nhại đã trở thành một xu thế thời đại củavăn học Việt Nam hiện đại

Nguyễn Bình Phương là một tác giả có những sáng tác thu hút được bạnđọc và giới nghiên cứu văn học Với “ Tản mạn Nguyễn Bình Phương”(Vannghesongcuulong.org.vn 25/10/2008), tác giả Phùng Văn Khai đã nhậnđịnh về những sáng tác của Nguyễn Bình Phương: “Mai này nó có thể tươixanh hơn hoặc sa sút đi thì hôm nay nó đang là những trang văn của cuộc sốngnày, của nhân sinh này và nó thở, nó ca hát, nó phẫn nộ, nó khinh khi tất cả”

Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu các sáng tác củaNguyễn Bình Phương rải rác trong các trường đại học hướng vào phát hiện: cáibất định, cái vô thức, dấu ấn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nghệ thuật lạ hóatrong sáng tác của Nguyễn Bình Phương Trong đó, có một số công trình đã đềcập đến chất giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Trang 5

Tác giả Hồ Bích Ngọc với luận văn thạc sĩ “Nguyễn Bình Phương vớiviệc khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết”(2006) đã xem xéttiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trên khá nhiều phương diện: kết cấu, nhân vật,ngôn ngữ, giọng điệu Người viết đã chỉ ra được nhại ngôn ngữ là một thủ phápđặc sắc được sử dụng trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương Tuy nhiên,người viết mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu khái quát thủ pháp nhại trên phươngdiện ngôn ngữ

Vũ Thị Trang Nhung trong luận văn thạc sĩ “Ngôn ngữ nghệ thuật tiểuthuyết Nguyễn Bình Phương”(2008) đã nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ vàcác dạng thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương Trong đó, tác giả luận văn đã chỉ ra sự lạ hóa ngôn từ với nhiều hìnhthức trong đó có thủ pháp nhại ngôn ngữ Bên cạnh đó, tác giả cũng có nhữngphát hiện về cảm hứng giải thiêng trong sáng tác Nguyễn Bình Phương thôngqua giọng điệu giễu nhại Nhưng do giới hạn của đề tài, tác giả bài viết chưa đisâu tìm hiểu chất giễu nhại biểu hiện theo một hệ thống

Như vậy, qua khảo sát, người viết nhận thấy chưa có một công trình nào

đi sâu tìm hiểu chất giễu nhại trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương Đó là lí

do vì sao chúng tôi triển khai đề tài: “Chất giễu nhại trong tiểu thuyết NguyễnBình Phương”

III Mục đích nghiên cứu

Kế thừa những thành quả nghiên cứu nói trên, khóa luận của chúng tôitiến hành khảo sát nội dung và nghệ thuật biểu hiện chất giễu nhại trong bốntiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương để có cái nhìn khái quát, toàn diện và sâusắc hơn về chất giễu nhại được sử dụng như một thủ pháp sáng tác của nhà vănnày

IV Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi nghiên cứu bốn tiểu thuyết của NguyễnBình Phương:

Trang 6

1 Những đứa trẻ chết già, NXB Văn học, 1994

2 Người đi vắng, NXB Văn học, 1999

3 Thoạt kỳ thủy, NXB Văn học, 2004

4 Ngồi, NXB Đà Nẵng, 2006

V Cấu trúc và đóng góp của đề tài

1 Cấu trúc: Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận sẽ được triển khai theohướng như sau:

Chương 1: Chất giễu nhại và những tiền đề tạo nên chất giễu nhại trong tiểuthuyết Nguyễn Bình Phương

Chương 2: Giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ nội dungChương 3: Giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ nghệ thuật

2 Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã phân tích những nét nổi bật về nội dung giễu nhại và nghệthuật biểu hiện chất giễu nhại trong bốn cuốn tiểu thuyết của Nguyễn BìnhPhương Qua đó, chúng tôi phát hiện ra những đóng góp riêng của nhà văn vềcách nhìn nhận cuộc sống và biểu hiện nó thông qua tiếng cười đa cung bậc củacảm hứng giễu nhại, đặc biệt qua cách sử dụng thủ pháp nhại ngôn ngữ, giọngđiệu giễu nhại và kết cấu phân mảnh đặc trưng của cảm hứng văn học hậu hiệnđại

VI Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Thống kê, phân loại

- Đối chiếu, so sánh

- Phân tích, lập luận

- Hệ thống hóa, khái quát hóa

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CHẤT GIỄU NHẠI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TẠO NÊN CHẤT GIỄU NHẠI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

1 Chất giễu nhại

Giễu nhại là một đặc điểm của việc tạo ra tiếng cười Trong “Từ điểntiếng Việt thông dụng” có định nghĩa: “Giễu là nói ra, đưa ra để đùa bỡn, châmchọc hoặc đả kích; Bị giễu là hèn nhát; Tự giễu mình”[27;299] , “Nhại là bắtchước tiếng nói, điệu bộ của người khác để châm chọc, giễu cợt” [27;558] Nhưvậy, thuật ngữ giễu nhại có hai yếu tố: Bắt chước và châm biếm

Trong văn học, nhại là một thủ pháp quen thuộc được sử dụng, nó đi kèm với giễu tạo nên chất giễu nhại Theo Từ điển văn học: “Nhại là sự bắt chước

một cách hài hước đối với một hay một nhóm tác phẩm nghệ thuật Nhạithường được xây dựng trên sự không tương ứng giữa bình diện văn phong vàbình diện đề tài của hình thức nghệ thuật.[…] Có thể nhại thi pháp một tácphẩm, một tác giả, một thể loại, một nhãn quan tư tưởng.[…] Những mẫu mựcđầu tiên của nhại đã có từ văn học cổ đại Hy Lạp[ ] đều đi kèm với sự giễunhại.”[2;1250 ]

Giễu nhại, với tư cách là một thủ pháp bắt chước một cách quá lố mộtvăn bản khác đã xuất hiện từ lâu, ngay trong văn học cổ đại Hy Lạp, sau đó, vẫnthường xuyên được sử dụng trong vô số loại hình nghệ thuật khác nhau Là mộtthủ pháp được sử dụng lâu đời và rộng rãi, giễu nhại được xem như là mộtphong cách, hơn nữa, còn tồn tại như một chủ đề phụ (sub-theme) trong một tácphẩm cụ thể, và như một thể loại phụ (sub-genre) trong văn học (chủ yếu là vănhọc trào phúng) Tính chất đa tư cách này làm cho bất cứ nỗ lực định nghĩa nàocũng đều gặp khó khăn Có điều, theo hầu hết giới nghiên cứu, dù nhìn từ góccạnh nào thì giễu nhại cũng có hai đặc điểm chính: nhại và giễu, tức bắt chước

và châm biếm Giễu nhại ra đời như một thủ pháp phê phán trực tiếp đi liền với

Trang 8

cái hài hước Giấc mộng đêm hè (W Shakespeare ), Đôn Kihôtê ( M De Cervantes ), Gargantuar ( F Rabelais ) … là những tác phẩm vĩ đại đầu tiên

mở đường thành công cho cái hài hước đi liền với thủ pháp giễu nhại

Trong văn học hôm nay, thuật ngữ giễu nhại được sử dụng để nói đếnmột cảm hứng xuất hiện trở lại trong văn học Việt Nam sau một thời gian dàichìm lắng nay phục sinh trở lại Như đã nói đến ở trên giễu nhại đồng nghĩa vớitrào phúng, trào lộng, trào tiếu…Nhưng giễu nhại chủ yếu quan tâm đến việcvạch ra cái xấu, cái lố bịch, khiếm khuyết để giúp người ta nhận biết, sửa chữa

và hoàn thiện Cũng có khi, giễu nhại được dùng như một thủ pháp gây cười,tạo sự hài hước cho tác phẩm Theo M Bakhtin: Giễu nhại là “nói bằng giọngcủa kẻ khác” nhưng đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn vớikhuynh hướng nghĩa của lời người đó Giọng thứ hai, sau khi chuyển vào tronglời nói của kẻ khác thì xung đột thù địch với chủ nhân của nó và “buộc nó phảiphục vụ cho mục đích đối lập của mình” Bằng lời văn giễu nhại, các tác giả đãlàm đảo lộn những cái gì gọi là nghiêm túc, lột cái vỏ hào nhoáng để trơ ra cáigiả dối, cái lố bịch, cái đáng cười Đó là cách “giải thiêng” trong văn học Giễunhại vừa “lột tả” được một phần bản chất có thật của đối tượng, vừa dung hợpđược cái bác học của suy tư, cái suồng sã của văn hoá bình dân, sức mạnh vô

địch của trào tiếu dân gian Và, với lối tự nhại, văn chương chẳng những là sự

hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng,

sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó

Quan niệm về chất giễu nhại trong văn học là rất phong phú Nhưngchung qui lại, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở điểm: Coi giễu nhại là mộtthủ pháp nghệ thuật dựa trên sự nhại lại một tư tưởng, quan điểm, cách viết cũnhằm tạo nên tiếng cười giễu cợt với nhiều cấp độ khác nhau Trong đó điểmnổi bật đó trong sáng tác văn chương tồn tại hai kiểu giễu nhại: Giễu nhạitruyền thống ( hướng vào tấn công địch thủ nhằm hạ bệ từ bên ngoài) và Giễu

nhại hiện đại ( hướng vào tự giễu nhại)

Trang 9

2 Những tiền đề tạo nên chất giễu nhại trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương

2.1 Xã hội và văn học

Chiến thắng 30-4-1975 đã mở ra một trang mới trong lịch sử đất nước.Bước ra từ cuộc chiến tranh, xã hội Việt Nam đang dần vận động và chuyểnmình mạnh mẽ Một hiện thực mới, một cuộc sống mới không chỉ được “tắm”trong không khí chiến đấu hăng say đầy tinh thần ngợi ca của thời kì trước màmột hiện thực trần trụi, đầy góc cạnh với hơi thở của cuộc sống đã xuất hiệntrong văn học Việt Nam

Cùng với sự vận động đổi mới đất nước toàn diện được đề ra từ đại hộiĐảng VI (1986), hiện thực một xã hội Việt Nam đang hướng đến nền kinh tế thịtrường, không ngừng tăng cường giao lưu hội nhập quốc tế đang ghi nhậnnhững dấu hiệu thay đổi hết sức to lớn Sự vận động nhanh nhậy của nền kinh

tế thị trường đã kéo theo sự nhận thức mới mẻ về vai trò và giá trị của cá nhân

Cá nhân khẳng định giá trị dựa trên sự cạnh tranh trên thương trường- đó là mộtchiến trường mới- không kém phần khốc liệt và đầy thử thách với mỗi người.Con người trở về với cuộc sống bình thường đầy hỗn tạp với muôn vẻ lẫn lộntốt- xấu, trắng-đen, bi-hài Ý thức cá nhân có điều kiện trỗi dậy, mọi nhu cầu cáthể, thực thể sống thức tỉnh Nó tạo điều kiện cho con người nhận thức đi sâu

vào bản chất cá nhân, các sự vật hiện tượng với xu hướng nhận thức( Nhận thức lại và Tự nhận thức) Bên cạnh những mặt tích cực mà nền kinh tế thị trường

đem lại, xã hội cũng phải chấp nhận mặt trái của cơ chế thị trường và việc mởcửa nền kinh tế Chính chúng đã làm nảy sinh và phát triển tâm lí thực dụng chủnghĩa, sùng ngoại thái quá, lối sống chạy theo hưởng thụ vật chất mà coi nhẹgiá trị tinh thần vô giá Một hiện thực đầy lố lăng xô bồ như mảng màu tối tămchen vào bức tranh xã hội gây nên những cảnh giở khóc giở cười Nguyễn BìnhPhương cũng như nhiều cây bút tinh nhạy khác đã cảm nhận và biểu hiện qua

Trang 10

ngòi bút của mình cái nhìn đầy tính châm biếm với thực trạng xã hội giai đoạngiao thời cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI.

Từ sau chiến thắng mùa xuân 1975 đến nay, nền văn học có khuynhhướng vận động và biến đổi theo xu hướng nhìn lại giai đoạn văn học trước đó,chỉ ra những giới hạn của nó và mạnh nha hình thành hướng đi mới Từ việc coitrọng sự kiện, đặc biệt là những “đại sự kiện”, văn học đã dần hướng ngòi bút

đến con người Nguyễn Minh Châu trong bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” đã đề ra nhu cầu đổi mới nền văn học Việt Nam

với chủ chương “khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đadạng” Trong buổi giao thời chiến tranh sang hòa bình, cuộc sống đâu chỉ cóniềm vui mà còn bao khó khăn, mâu thuẫn mới nảy sinh Đòi hỏi cấp thiết làvăn học phải trực diện phơi bày và phê phán cái tiêu cực, tiếp cận hiện thực đờithường, vấn đề đạo đức thế sự, thu hẹp khoảng cách văn học - đời sống, tácphẩm - công chúng Theo đó là khuynh hướng nhận thức lại với cảm hứng phê

phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Một loạt những tác phẩm như Thời xa vắng (Lê Lựu); Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam ( Nguyễn Minh Châu), Thân phận tình yêu ( Bảo Ninh); Ăn mày dĩ vãng( Chu Lai); Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)…đã thể hiện bức tranh hiện thực đời sống với nhiều mảng

tối trước đây bị khuất lấp

Sau những năm 80, đặc biệt là từ Đại hội VI (1986) đặt ra nhu cầu đổimới tư duy và mọi mặt đã kéo theo sự đổi mới văn học Quan niệm văn học cho

là các chân lí hiển nhiên nay được xem xét lại tạo nên xu hướng nhận thức lạicác giá trị và không thể thiếu sự “giải thiêng chân lí” Cùng với đó, đường lối

mở cửa trong thời kì hội nhập tạo điều kiện cho sự giao lưu văn học hết sứcphong phú với thế giới đã để lại dấu ấn trong nền văn học hiện đại Việt Namvới chủ nghĩa hiện sinh qua những tác phẩm của Kafka, Camuy, đặc biệt là sựtrở lại của tiếng cười trong văn học đầy tính Uy-mua “đen” của Charler Dicken,

V Huy-gô, Ban-zăc, Ernest Hemingway, Eugene Ionesco…Dân chủ hóa trở

Trang 11

thành xu hướng chính trong đời sống và trong văn học Từ chối cách kêu gọikhẩu hiệu đầy tinh thần ngợi ca của giai đoạn văn học 45-75, văn học giờ đây làlời phát ngôn của mỗi cá nhân Trước đòi hỏi của một nền văn học mới, lớp độcgiả mới cũng khước từ lối tiếp nhận văn chương một chiều mang tính “độcthoại”, “ban phát chân lí” “giáo huấn” của tác giả Thị hiếu mới của độc giả vàquan điểm sáng tác mới của các nhà văn đã tạo nên tính chất đối thoại, trò chơicho văn học Giọng điệu sử thi ngợi ca mang sắc thái hào hùng của thời kì vănhọc trước đã chuyển thành giọng đa thanh, phức điệu đánh dấu sự trở lại củatiếng cười với nhiều cung bậc: Hài hước, trào lộng, giễu nhại…

2.2 Cá tính sáng tạo của nhà văn

2.2.1 Cảm quan mới về hiện thực, con người

Mỗi nhà văn có “gu” sáng tạo riêng Với Nguyễn Bình Phương, xuất phát

từ cảm quan mới về hiện thực và con người, nhà văn đã có “một lối đi riêng”cho mình Ngòi bút của ông hướng đến “tiểu tự sự”, những mảnh vỡ của cuộcsống hiện đại Từ đó nhà văn đã khám phá ra những mảng hiện thực mới mẻ,mảng hiện thực suồng sã, bát nháo, phàm tục và biểu hiện hiện thực như nó vốn

có với những khía cạnh khuất lấp: những cuộc tình vụng trộm, những âm mưutranh quyền đoạt lợi, những ham muốn tầm thường trong cuộc sống Thế giớihoang tàn, nhân tâm suy thoái, nền tảng luân thường đạo lí bị lung lay, nhữngtình cảm tốt đẹp bị rạn vỡ, “người đi vắng”, yêu ma quỉ quái thì nổi dậy Hiệnthực cuộc sống hiện lên như những rạn vỡ, hỗn tạp bật lên tiếng cười trong đáysâu vấn đề, thâm trầm đậm chất uy-mua đen

Hiện thực cuộc sống theo Nguyễn Bình Phương không chỉ dừng lại ở cái

nó vốn có, mà nhà văn đã đi sâu tiếp nối và khai thác cái lạ, cái huyền ảo ma mịtồn tại song song với hiện thực trần trụi trong cuộc sống Cái lạ cũng là một quiluật trong một thế giới bất bình thường, xáo trộn, hỗn loạn, phi lí Nhà văn đãthực sự đi sâu khai thác hiện thực đời sống tâm linh, cõi vô thức đan xen vớihữu thức của con người trong nhu cầu giải phóng cái tôi cá nhân trong hiện thực

Trang 12

mới Xuất hiện trong trang văn của Nguyễn Bình Phương là hiện thực trongtrạng thái vận động và đan xen: Cái xô bồ hòa lẫn cái thanh cao, cõi âm mờnhòe trong cõi dương…Tất cả như đang chìm đắm trong hiện thực mang trạngthái mộng du như giấc mơ của Trang Tử.

Chính quan niệm mới về hiện thực của Nguyễn Bình Phương đã đưa nhàvăn đến với quan niệm mới về con người Cũng như nhiều nhà văn cùng thời,Nguyễn Bình Phương đã từ bỏ quan niệm nhận thức về con người ở thế tĩnh tại,

một chiều, nhất phiến mà hướng đến con người với “tính cách đa dạng, không theo một chiều, yêu ghét đúng với bản chất người nông thôn Sự tha hóa của con người, những dục vọng bùng nổ, những hành động phi lí, phi nhân tính được thể hiện một cách nghệ thuật trong tiểu thuyết”( Văn học mênh mông như

cuộc sống) Những tác phẩm của Nguyễn Bình Phương xuất hiện nhiều giấc

mơ, người điên, đi sâu vào khai thác cái vô thức, những ẩn ức, dục vọng, bảnnăng trong con người Con người được nhận thức không chỉ bằng mối quan hệ

xã hội mà bởi tổng hòa quan hệ xã hội và tự nhiên Con người đi vào hành trìnhkhám phá những tư tưởng, những cảm thức của chính mình, những cảm giácthịt da, những ý nghĩ "xấu xa tiêu cực", những đòi hỏi, những mộng mị, phảntrắc, những rối loạn, bệnh hoạn, trong chính bản thân mình Nguyễn BìnhPhương muốn giải phóng cho con người, để con người nhìn thẳng vào bản thânmình cả cái “rồng phượng” và “rắn rết”

2.2.2 Quan niệm mới về cách viết

Nguyễn Bình Phương quan niệm tiểu thuyết cần bước “mạo hiểm” đểnhận thức lại các giá trị của cuộc sống và con người Từ quan niệm đó, bốncuốn tiểu thuyết của ông đều thể hiện sự thử nghiệm lối viết rất riêng với cảmhứng “giải thiêng”, nghi ngờ chân lí đã tồn tại lâu đời Trong bối cảnh chungcủa văn học, các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh

Thái… đã có những truyện giả sử, giả cổ tích để tái hiện cuộc sống với cái nhìn

đa chiều kích pha lẫn màu sắc kì ảo Với riêng Nguyễn Bình Phương, nhà văn

Trang 13

cũng có những thử nghiệm hết sức mới mẻ Ông coi trọng sự sáng tạo, sự dũngcảm của người cầm bút để vượt ra những qui tắc vốn có Văn chương cần thay

đổi như lời Nguyễn Bình Phương đã trả lời khi được phỏng vấn: “Tôi cho rằng ranh giới giữa các thể loại đã bị xóa nhòa […] Nhà văn là người vượt qua những định nghĩa để tiến tới một định nghĩa khác” (Văn học mênh mông như

cuộc sống) Những gì trước đây được coi là chân lí nay bị xem xét lại Cách viếtvăn cũng vậy Không có một loại thể nào tồn tại vững bền và xu hướng chungcác thể loại có sự pha trộn, đôi khi hòa vào nhau đem lại sắc thái mới: giễu nhạithể loại Thực tế, trong bốn cuốn tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương đãtừng bước mạo hiểm thử nghiệm nhại các thể loại khác: Nhại cổ tích trong “Những đứa trẻ chết già”, “Thoạt kì thủy”; nhại tiểu sử trong “Thoạt kì thủy”;lồng ghép lịch sử trong “Người đi vắng Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phươngthực sự là sự hòa trộn vừa quen vừa lạ, là một cấu trúc mở lắp ghép lập thể củakhối vuông rubic mà tâm điểm nó cuốn vào cả thơ ca, lịch sử, cổ tích, tiểu sử…trong sự tổng hòa thể hiện cái cười hết sức thâm trầm sâu cay

Quan điểm sáng tác của Nguyễn Bình Phương cũng rất tự do, ông coimọi sự bó buộc đều giết chết văn chương và thiên về sự sáng tạo trong cách

viết: “Văn chương bản thân nó là chân trời tự do thì ta cứ nương theo thế, đừng

bó nó.” Quan niệm văn chương là chân trời tự do, Nguyễn Bình Phương đã viết

với tinh thần đối thoại với những khuôn mẫu truyền thống, khuôn mẫu trong tưtưởng và cả bút pháp Trong những trang văn của ông, nổi bật lên là xu hướnggiải thiêng, đập vỡ những thạch trụ văn chương được xây dựng nên và tồn tạibao đời trong tâm thức người Việt Từ đó, nhà văn lách sâu vào từng tế bào vimạch của cuộc sống, của con người làm hiện lên chân thực những cơ tầng sâukín nhất bị khuất lấp hay cố tình bị che giấu đi Nguyễn Bình Phương cũng

thẳng thắn nhại lại những điều được coi là đức tin, đạo đức và tình yêu cũng bị

“giải thiêng” theo nhiều cách Chính nó đã làm nên chất giễu nhại thâm trầmtrong tiểu thuyết của ông

Trang 14

Như vậy có thể thấy cảm quan mới về hiện thực, con người và quan niệmriêng về cách viết đã chi phối và góp phần tạo nên chất giễu nhại trong tiểuthuyết Nguyễn Bình Phương

3 Vài phán đoán về chất giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Trong giai đoạn văn học đổi mới này, nhiều nhà văn Việt Nam đã lấycảm hứng giễu nhại để viết nên tác phẩm của mình Văn học trong nước ghinhận những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Tạ Duy Anh,

Hồ Anh Thái, Bùi Ngọc Tấn…Văn học hải ngoại cũng có một số cây bút trẻ lấycảm hứng giễu nhại để thể hiện và đạt được nhiều thành công như Phạm ThịHoài, Trần Vũ, Đinh Linh, Trường Vũ…Dù trong môi trường sáng tác nào, vớicảm quan tinh nhạy và những trải nghiệm của mình, các nhà văn đã thể hiện cáinhìn mới với thời đại hết sức phong phú với cảm hứng giễu nhại bao trùm.Nguyễn Bình Phương thuộc lớp nhà văn trong nước đang nỗ lực phát huy sứcmạnh nội sinh để tìm tòi và đổi mới văn học nước nhà

Giễu nhại là một thủ pháp tiêu biểu của văn học hậu hiện đại Ở ViệtNam, thật khó để khẳng định một nền văn học hậu hiện đại đang hiện diện mộtcách rõ ràng Nhưng chắc chắn cảm quan hậu hiện đại đã và đang thâm ngấmvào những sáng tác của nhiều nhà văn Nói đến cảm quan hậu hiện đại, PGS

TS Lê Huy Bắc (Trong Tạp chí văn học số 9 năm 2002) đã có bài viết “Truyện

ngắn hậu hiện đại” phân biệt Chủ nghĩa hiện đại và Chủ nghĩa hậu hiện đại Vớinhững sáng tác Chủ nghĩa hiện đại, người đọc có thể nêu được vấn đề, nộidung, mục đích trên bề mặt câu chữ rõ ràng Còn chủ nghĩa hậu hiện đại ngườiđọc không đoán định được mục đích của câu chữ “hỗn loạn vô chính phủ” ấy.Người đọc thực sự tham gia vào một “trò chơi vô tăm tích” (Phạm Thị Hoài)của ngôn ngữ Đối với những sáng tác của các nhà văn hải ngoại, chất giễu nhạimang cảm quan hậu hiện đại thường nghiêng về cảm thức chính trị, những cáinhìn mang màu sắc giai cấp, dân tộc Các nhà văn thường rơi vào những ám ảnhchính trị, ám ảnh của sự lưu vong, hủy diệt ( giới nghiên cứu gọi là cảm quan

Trang 15

thế giới Kafka) Cảm hứng giễu nhại biểu lộ trực tiếp trong sáng tác của các nhàvăn này với sự tung hê tất cả, chua xót đay đả.

Cũng dựa trên sự cảm nhận cuộc sống với cảm quan hậu hiện đại, nhưng

từ vị thế của những người đang trực tiếp sống, suy nghĩ và sáng tác trên chínhquê hương mình, văn học trong nước cũng bộc lộ những nét khác biệt so với bộphận văn học hải ngoại Cũng có tiếng cười mang vị mặn đắng của nước mắt(uy-mua đen) chua xót, thậm chí phẫn nộ chửi bới nhưng đọng lại vẫn là lối tưduy duy cảm tồn tại bên cạnh tư duy duy lí “ngoại nhập”

Nằm trong ảnh hưởng chung của cảm hứng giễu nhại, Nguyễn BìnhPhương đã cảm nhận được những đổ vỡ, mặt trái của xã hội thời kì mới và vớitinh thần dùng cái cười để tống tiễn quá khứ Nhà văn đã có nhiều thử nghiệmmang tính mạo hiểm trong “trò chơi ngôn ngữ” này Trong những tiểu thuyết

của ông, chúng ta có thể nhận thấy hình thức nhại cổ tích trong Thoạt kỳ thủy, hình thức nhại lịch sử trong Những đứa trẻ chết già đã từng bắt gặp trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp như Vàng lửa, Phẩm tiết, Trương Chi, Những ngọn gió Hua tát Ở phương diện ngôn ngữ, Nguyễn Bình Phương nhại

lại những phát ngôn được coi là giá trị thiêng liêng nhằm giễu cợt và đề xuấtkhuynh hướng nhận thức lại Từ đó nhà văn công khai chống quan niệm truyềnthống Với những cây bút như Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, họ côngkhai nhại lại nhân vật, cốt truyện, các chi tiết để làm bật lên tiếng cười vớinhiều cung bậc Những nhân vật lịch sử như Nguyễn Huệ, Nguyễn Thị Lộ,nhân vật trong truyện cổ dân gian như Trương Chi, nhân vật văn học nướcngoài như Hăm-let bước vào trang văn với diện mạo hoàn toàn mới với nhữngchi tiết tục tĩu đến nực cười Với việc chỉ đích danh đối tượng giễu nhại, các tácgiả trên đã khu biệt, khoanh vùng đối tượng phản ánh Tiếng cười bật lên ngaykhi ta so sánh nhân vật, cốt truyện, tình tiết của tác phẩm hiện đại và những tác

phẩm của truyền thống Còn với Nguyễn Bình Phương, ông hướng đến giễu nhại đa chủ thể, không hề chỉ định đích danh đối tượng giễu nhại Nếu như có

Trang 16

sự nhại lại một nhân vật lịch sử (như Đội Cấn, Công chúa Diên Bình… trong Người đi vắng) thì đó chỉ là sự giễu nhại trung tính (blank parody) không bao

hàm màu sắc cười Còn hầu hết tác phẩm, nhà văn giễu nhại gián tiếp (nghĩa làkhông trực tiếp nêu đối tượng bị giễu nhại) để người đọc bằng hiểu biết củamình tự liên hệ với những đối tượng đã được nhắc đến trong quá khứ để nhậnthức sự khập khiễng, từ đó tiếng cười với các cung bậc khác nhau sẽ bật ra Như

trong Những đứa trẻ chết già, chi tiết cuối truyện khi nhân vật Phán nhặt được

cái thìa rỉ cáu “ Phán chửi thầm rồi lẳng nó đi, nhưng như bị ma làm, chiếc thìabay trở lại đậu vào tay anh ta Vứt đến lần thứ tư vẫn không được, Phán lại tặc

lưỡi cho vào túi” có thể nhại lại chi tiết Lê Thận trong Truyền thuyết Hồ Gươm

đi đánh cá vô tình nhặt được thanh gươm báu mà không biết Nhưng tác giảkhông hề khoanh vùng phạm vi đối tượng phản ánh nên người đọc có thể tự do

liên hệ, suy diễn đến những đối tượng giễu nhại khác Chính lối nhại đa chủ thể

này tạo nên tính chất “trò chơi” cho tác phẩm bởi nó vừa lạ, vừa quen đòi hỏingười đọc phải đọc đi đọc lại nhiều lần tác phẩm mới có thể hiểu thâm ý sâu xacủa tác giả

Nói như vậy không có nghĩa chất giễu nhại và phạm vi giễu nhại trongsáng tác của Nguyễn Bình Phương rộng hơn các nhà văn khác Trong các sángtác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài cũng có nhiều chi tiết mở về đối

tượng giễu nhại tạo nên tính chất nhại đa chủ thể Điểm khác biệt ở đây là hình

thức giễu nhại Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài dùng lối giễu nhại trựctiếp đối tượng (nêu tên nhân vật, sự tích), còn với Nguyễn Bình Phương, ông

giễu nhại gián tiếp đối tượng Cả hai phương thức đều hướng vào nhại để giễu,

và để cái cười bật ra, người đọc cũng phải có phông văn hóa để “biết cười”

Khảo sát bốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, người viết nhận thấycảm hứng giễu nhại thấm sâu trong các tác phẩm nhưng rất ít khi tác giả đứng

ra “chỉ mặt, nêu tên” đối tượng hay cốt truyện được nhại Như vậy, tính tự docủa tiếng cười của độc giả được phát huy tối đa đồng thời với nó là tính tự do

Trang 17

liên tưởng trong tư duy độc giả khi tham gia “trò chơi ngôn ngữ” này cũng được

mở rộng không giới hạn Vì vậy với tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng như

với các tác phẩm có chứa đựng hình thức giễu nhại gián tiếp (hình thức giễu nhại phổ biến hơn giễu nhại trực tiếp) người đọc sẽ được cười hai lần với hai

cấp độ khác nhau Có thể nhận thấy chất hài hước trong tiểu thuyết của ôngtương ứng với giọng giễu nhại – hài hước khi người đọc đứng trước những hiệntượng quái gở, kỳ lạ thậm chí điên rồ của cuộc sống, của nhân vật, của cốttruyện do hình thức giễu nhại ngôn ngữ với cảm hứng giải thiêng hạ bệ tạo nên.Bên cạnh đó, khi lặn xuống tầng thứ hai của thứ ngôn ngữ “tục tĩu” đó, ngườiđọc đi vào khám phá thế giới thứ hai ẩn dưới tiếng cười đó Khi tạo sợi dây liênkết ngôn ngữ, nhân vật, chi tiết thể hiện cảm quan tư tưởng trên mặt chữ vớinhững quan điểm, nhân vật, cốt truyện đã từng tồn tại như một đức tin thiêngliêng thì sự chua xót, cái cười đậm chất uy-mua đen thâm trầm sâu cay lại hiện

lên đầy ám ảnh nhằm giải thiêng đức tin cũ để gieo lên hạt mầm của đức tin

mới cho con người thời đại

Tinh thần giễu nhại trong những tác phẩm của các nhà văn đương đạiViệt Nam và tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương nhìn chung đều hướng vào

hạ bệ, giải thiêng thần tượng và những đức tin cũ nhằm đề xuất đức tin mới.

Đặc biệt, một nét nổi bật trong cảm hứng giễu nhại là nó gắn chặt với hình thứctrào tiếu giân gian Điều này có thể thấy rõ trong cả bốn tiểu thuyết của NguyễnBình Phương Có thể thấy nét tương đồng này khi ta so sánh với các sáng tác

của Rabơle (Rabelais) Nhà nghiên cứu Thụy Khuê trong bài viết Phê bình văn học thế kỉ XX đã trích dẫn nhận định của M Bakhtine về tác phẩm của Rabơle

với hình thức giễu nhại xuất phát từ nghệ thuật trào tiếu dân gian của thời Trung

cổ và Phục hưng ở Âu Châu Trong đó tác giả nhấn mạnh đến tiếng cười dângian như “chìa khóa” mở cửa nền văn hóa qua các ngày hội Carnaval để “chếnhạo cả những kẻ quyền uy nhất, nhạo báng cả những truyền thống lâu đời nhấtnhư thánh thần, trời đất ma quỷ, đức Chúa, đức Mẹ” Chúng tạo ra sự đối chất

Trang 18

thường trực giữa hai thế giới- Thế giới chính thống và thế giới dân gian Từ thời

cổ, cái cười dân gian đã có mặt ngay bên cạnh lễ trực phong chiến thắng củacác anh hùng La Mã, người ta tạo nên lễ nhái anh hùng, tạo ra những anh hùngrơm, nộm để cười và hạ bệ Trong văn học dân gian Việt Nam, hình thức nàycũng rất phổ biến Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua tiếng cười với nhiều sắcthái và cung bậc trong những tích Trạng hay những câu ca quen thuộc “ Anhhùng là anh hùng rơm/ Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng” Nhiều nhà văn, nhàthơ Việt Nam thời kì Trung đại cũng dựa trên cảm hứng trào tiếu dân gian đểgiễu nhại tạo nên tiếng cười đa màu sắc như Tú Xương, Nguyễn Khuyến…

Nguyễn Khuyến trong bài Tiến sĩ giấy đã mô phỏng hình thức của “ông tiến sĩ

giấy” lòe loẹt, nhẹ bỗng để cuối cùng đưa đến một chân dung trào tiếu sâu cayqua câu kết đầy ngỡ ngàng “Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi” Những kiểu “anhhùng rơm”, “tiến sĩ giấy” ấy đã trở thành đối tượng đả kích, châm biếm trựctiếp, đối tượng của trào tiếu dân gian

Tiếng cười trào tiếu dân gian hướng đến trào tiếu cá nhân, còn tiếng cườitrong carnaval hướng đến mọi đối tượng với những giá trị đối nghịch: vui vẻ,hoan hỉ - nhạo báng chua cay; phủ định - khẳng định, chôn- tái sinh Đặc biệt,theo Bakhtin, nét rõ nhất trong hiện thực trào tiếu là sự hạ thấp, hạ bệ “Hạ bệ”tức là chuyển hóa tất cả những gì cao cả, thiêng liêng, lí tưởng và trừu tượng

sang bình diện vật chất và xác thịt như: ăn uống phàm phũ, nhậu nhẹt trên bàn

thờ, cử chỉ tục tĩu, cởi quần áo…Nghĩa là người ta tìm mọi cách tương đương

để trá hình cái trịnh trọng thành cái tức cười, kéo xuống hạ thấp, hạ bệ nó Hạ

bệ đã thành thủ pháp cốt lõi tạo nên chất giễu nhại Từ những nhận định của

Bakhtin về sáng tác của Rabơle, chúng tôi nhận thấy chất giễu nhại trong sángtác của các nhà văn đương đại Việt Nam, trong đó có Nguyễn Bình Phương(Nhấn mạnh sự nổi bật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương) có sử dụngthủ pháp hạ bệ này một cách đậm đặc Ngôn ngữ sử dụng của các tác giả đềuhướng đến ngôn ngữ thông tục, chợ búa, bình dân Tất cả những hình thức chửi

Trang 19

thề, đem hạ bộ ra mời đối thủ xơi cũng là những hình thức cổ xưa nhất của sự

hạ bệ Đó được xem là “hiện tượng ngoại vi, bụi đời của lời nói” và như nhữngxâm phạm quả tang vào các qui ước ngôn ngữ như nghi lễ, lịch lãm, thươngcảm, kính trọng, tôn ti Nét nổi bật của thủ pháp hạ bệ truyền thống này đã có từthời thượng cổ (“tao đái vào mặt mày”, “tao ị vào mặt mày”) Các nhân vật từ

trí thức, cán bộ trong Ngồi đến người dân lao động trong Thoạt kì thủy, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, từ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đều sử

dụng rất “thoải mái” kiểu nói được coi là tục tĩu này:

“ Hùng ấm ức, nhưng mà anh ấy lói thế khác nào hắt cứt vào mặt em Nghĩa phì cười, mày chả kể với tao hồi bé suốt ngày suốt ngày mày phải đi lấy cứt về

trồng rau là gì” (Ngồi, trang 90)

Hay lời nói của một người đàn bà nhà quê trong Những đứa trẻ chết già:

“Khi dọn về, Nhai thấy một hố bom ngay trước cổng nhà mình, chửi:

Tổ cụ thằng Mỹ, ăn cái hĩm bà”(trang 26)

Song song với cách tấn công bằng miệng, hoặc cử chỉ là sự hạ thấp địahình, nghĩa là đi dần xuống hạ bộ, xuống sinh hoạt ở phần dưới cơ thể Đây làcách giễu nhại mà ta đã từng bắt gặp trong văn học Trung đại Việt Nam vớinhững vần thơ táo bạo của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương Bà đã làm ngườiđọc không khỏi ngỡ ngàng với những “ hang”, những “đèo”, những “cái quạt”đầy hình tượng, phải “cái ấy” mới bộc lộ rõ chân tướng những kẻ đạo đức giả.Nhưng do điều kiện thời đại, những cái được coi là phá rào, táo bạo của HồXuân Hương hay sự xuất hiện rải rác của những hình ảnh mang ám ảnh phồnthực vẫn phần nào bị giới hạn ở cách nói gián tiếp, kín đáo qua các hình tượng

ẩn sâu Với Nguyễn Bình Phương và những nhà văn đương đại thực sự họ đãkhông ngần ngại khai thác phần thể xác được coi là thấp kém bên dưới Ở Việt

Nam nó xuất phát từ biểu tượng phồn thực (cơ quan sinh sản đực, cái là linga

và yony)

Trang 20

Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, nhà văn cũng “hạ bệ” bằng cáchchuyển hóa tất cả những gì cao cả thiêng liêng, lý tưởng và trừu tượng sangbình diện vật chất, xác thịt Nó tập trung vào hình ảnh thân xác, chửa đẻ, ănuống, tiêu hóa, bài tiết, sinh hoạt tính dục…để tô đậm thổi phồng “Hạ bệ” trởthành thủ pháp cốt lõi nhằm giải thiêng tất cả Cùng với đó là sự nhặt nhạnhnhững mảnh cao cả, thiêng liêng trước đây để giễu nhại Mọi sinh hoạt hạ tiệnđều được vẽ thành những bức biếm họa khổng lồ Tất cả đều được rút từ kinhđiển, truyền thống và thần tượng với thủ pháp giễu nhại Khi hạ bệ cái cao cả vàcác thần tượng, tác giả đã làm một công hai việc: giết chết cái cũ để làm nảysinh cái mới Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, tràn nhập trang văn lànhững cảnh ăn uống tịu tĩu (như cảnh nhân vật Trường hấp và Hải tranh ăn

trong Những đứa trẻ chết già), nhấn mạnh sinh hoạt hạ tiện (Trường hấp suốt

ngày đòi “ Cho tao đái”), nhân vật làm tình bừa bãi bị bệnh lậu như Phán, Loan

trong Những đứa trẻ chết già… Việc ăn uống của hai ông cháu nhà Trường hấp

nhại lại kiểu “ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo” của các bậc anh hùng thiêngliêng trong truyện xưa trước khi hành sự một việc lớn ( Thánh Gióng, Lê NhưHổ…) một cách hài hước

Như vậy, chúng tôi nhận thấy, nét nổi bật trong chất giễu nhại củaNguyễn Bình Phương là nó cũng bắt nguồn từ thủ pháp hạ bệ, giải thiêng của

trào tiếu dân gian Đông Tây Với hình thức giễu nhại đa chủ thể, Nguyễn Bình

Phương đã khắc sâu thêm cấp độ của tiếng cười Đó không chỉ là tiếng cười hài

hước, mà ẩn sâu trong đó là chất uy-mua đen (trào lộng đen đầy đau xót) hay u mặc (chữ dùng của Đặng Tiến thể hiện cái cười hài hước, sâu lắng) để giải

thiêng mọi thần tượng: Kéo thần tượng về với những gì trần trụi, lấm láp và tụctĩu nhất để chôn vùi cái méo mó dị dạng ấy, đồng thời để cho cái mới có thể nảymầm, sinh hạt

Trang 21

CHƯƠNG 2 GIỄU NHẠI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN

TỪ NỘI DUNG

1 Giễu nhại và các vấn đề đức tin

Đức tin là điểm tựa tinh thần để con người tồn tại trong cuộc sống.Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, con người đãhướng đến những “điểm tựa tinh thần” và nâng nó lên thành những thần tượngcao cả và thiêng liêng Đức tin được gửi gắm trong tôn giáo, tín ngưỡng, trongnhững thần tượng của thời đại và trong những giá trị Chân, Thiện, Mỹ Nhưngtrong thời đại ngày nay, lịch sử loài người đang chứng kiến một sự “khủnghoảng và đổ vỡ niềm tin” Với cảm hứng hậu hiện đại, các nhà văn đương đạitrong đó có Nguyễn Bình Phương đã dùng chính tiếng cười giễu nhại để thểhiện sự khủng hoảng này nhằm giải thiêng đức tin

1.1 Về chiến tranh và người lính

Bước ra từ vầng hào quang chiến thắng của sự kiện lịch sử 30-4-1975,những người làm nên chiến công lịch sử hiển hách đó, những người lính đã trởthành những “thần tượng bất tử” Nhưng đối diện với hiện thực cuộc sống mới,thật chua xót khi không ít thần tượng đã bị “giải thiêng” Trong tác phẩm củanhững nhà văn cùng thời, ta bắt gặp chân dung của vị tướng lạc lõng giữa cuộc

sống mới như tướng Thuấn (Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp), của anh bộ đội Kiên với những ám ảnh đau đớn không thể xóa nhòa (Nỗi buồn chiến tranh

của Bảo Ninh), của người chiến sĩ lập nhiều chiến công trong cuộc chiến nhưng

lại hết sức nhu nhược trong cuộc sống riêng như Giang Minh Sài (Thời xa vắng

của Lê Lựu)…Nguyễn Minh Châu cũng “giải thiêng” thần tượng người chiến sĩkhi ông bắt họ “đối chứng” với chính lương tâm mình để chỉ ra những vùng

khuất lấp trong nhân cách hình tượng người lính qua hàng loạt tác phẩm: Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Bức tranh…Nhưng phải đến Nguyễn Bình

Phương, đặt trong bối cảnh xã hội mới với những mối quan hệ thời hậu chiến,

Trang 22

nền kinh tế thị trường với những tác động của nó tới đời sống con người, nhàvăn đã “hạ bệ” thần tượng người chiến sĩ bằng tiếng cười đậm chất uy-mua đen.

Phải hiểu một điều rằng, Nguyễn Bình Phương cũng là một người línhcầm bút Sự “hạ bệ” thần tượng người chiến sĩ không nhằm bôi nhọ họ Như đãnói, Nguyễn Bình Phương dùng thủ pháp giễu nhại để tạo ra tiếng cười giảithiêng giá trị cũ để từ đó gieo hạt cho những giá trị mới nảy mầm Có thể hiểunhư việc tạo ra các hình nộm rơm của các anh hùng La Mã để trào tiếu trongcác buổi lễ ăn mừng chiến thắng của các anh hùng thời Trung cổ

Bước ra từ chiến tranh, người lính của Nguyễn Bình Phương trở về vớimuôn mặt đời thường Họ hiện diện trong hầu khắp bốn cuốn tiểu thuyết của

ông Trong Thoạt kì thủy, chúng ta bắt gặp anh thương binh mất giấy chứng nhận Hưng, anh bộ đội Nam; Trong Người đi vắng là Thắng với những ám ảnh

dội về từ quá khứ chiến tranh, là ông Huỳnh…Nhân vật người thương binh

-họa sĩ Hoàng Lân, anh thương binh hay chửi bới vợ trong tiểu thuyết Ngồi; Trong Những đứa trẻ chết già là Trung vẩu Nguyễn Bình Phương đã nhại

những “hình nộm rơm” về người chiến sĩ

Nhắc đến những người lính sau chiến tranh trong tiểu thuyết NguyễnBình Phương, chúng tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ họ hiện lên nhưnhững con người lạc thời, thậm chí bị tiêm nhiễm tật xấu Nhà văn đã dùng bútpháp giễu nhại khi thể hiện những con người này Họ luôn sống trong những

ám ảnh về bạo lực, giết chóc và máu, mất mát: “Hoàng Lân vỗ bồm bộp xuốnghai vế đùi cụt lủn của mình, mắt rợn lên, bất đắc chí, vào sau lại về trước nhưthế này Cặc thật.” (Ngồi) Bức chân dung dị dạng khiếm khuyết của Hoàng Lânhiện lên cùng lời chửi tục tạo nên tiếng cười chua xót Hoàng Lân coi như một

“hình nộm rơm” mang nét dị dạng nhại lại sự mất mát của người chiến sĩ trongchiến tranh, cái cao cả trở nên lấm láp, trần trụi Cùng với những ám ảnh bạolực “khoặp”, “cắn cổ” trong tư duy hỗn loạn của Hưng (Thoạt kỳ thủy), NguyễnBình Phương đã nhại lại bức chân dung mới về người lính Đi vào mặt trái,

Trang 23

những mất mát của người “anh hùng” sau hào quang chiến thắng, nhà văn đãthể hiện cách nhìn mới – nhìn chiến tranh và người anh hùng từ cả hai bên giớituyến Từ chối cách nhìn một chiều truyền thống: ta- chân lí, đúng đắn, địch:tàn bạo, độc ác, dã man, nhà văn đồng thời giải thiêng thần tượng Điều này bắtgặp ở các nhà văn tiến bộ ngàn đời ở tư tưởng chống chiến tranh, dù cho đó làchiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, nó cũng đều dựa trên sự mất mát, đổmáu của hai bên và để lại những thương tổn khó thể hàn gắn, nhất là về mặt tinhthần Từ những dị dạng méo mó trong những “hình nộm rơm” nhại lại, nhà vănmuốn giải thiêng thần tượng bằng tiếng cười tống tiễn hoàn toàn chiến tranh để

“gieo hạt” của đức tin mới: không có anh hùng chiến tranh vì xã hội không chấpnhận chiến tranh dưới bất kì hình thức nào

1.2 Về thi ca và người nghệ sĩ

Từ xưa đến nay, thi ca vốn được xem là loại hình nghệ thuật cao quí,chứa đựng trong nó những suy nghĩ, cảm xúc chân thực của con người thời đại.Lịch sử phát triển của nền thi ca Việt Nam cũng ghi dấu ấn những thi sĩ có tâm

và có tài, luôn trăn trở cho sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Cũngkhông thể phủ nhận, trong chặng đường phát triển của thi ca, sự tìm tòi đổi mớiloại hình nghệ thuật của cảm xúc này đã ghi dấu những tranh luận nảy lửa.Nhưng có lẽ phải đến Nguyễn Bình Phương, chân dung nền thi ca và ngườinghệ sĩ mới hiện lên ấn tượng như thế này:

“- Nó chỉ được phổ nghĩa ở các liên từ Đúng chỉ ở những liên từ Anh phải biết rằng, cách chúng ta hàng trăm năm, thơ nước ngoài đã đi qua giai đoạn này rồi…

- Thơ Đường ló thiêng được nà nhờ ở đấy Cái tâm ông ạ, cái tâm phải trong sạch…

- Còn chúng ta thì sao? Chính loại thẩm mĩ như anh đã kéo lịch sử thơ ca lùi lại Phải hiện đại hóa cả hình thức lẫn nội dung Trong thơ phải lồng cái thời

sự vào cái vĩnh cửu…

Trang 24

[…]Kết thúc cuộc tranh luận về nghệ thuật thi ca là trận ẩu đả dữ dội

( Những đứa trẻ chết già, trang 246, 247)

Nguyễn Bình Phương nhại giọng lên lớp, giáo điều, đề cao xu hướng tập

cổ “coi trọng cái tâm của thơ Đường” và xu hướng hiện đại hóa nền thi ca bằng

“liên từ” của thơ Pháp Chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng mang tínhchất qua lại hết sức quan trọng của văn học Trung Quốc và văn học Pháp trongtiến trình phát triển thơ ca Việt Nam Nhưng việc sử dụng một cách dập khuônmáy móc, quá đề cao những yếu tố ngoại nhập tồn tại trong tâm lí các bậc vănnhân, nghệ sĩ nhiều thế hệ ở nước ta đã gây nên những cuộc tranh luận vănchương đến nực cười như cuộc tranh luận phải giải quyết bằng nắm đấm của hainghệ sĩ Huấn và Công trong tiểu thuyết trên Thi ca đòi hỏi đổi mới, đó là mộttất yếu Điều đó chỉ được thực hiện khi người nghệ sĩ có cái tâm thật sự củamình, có tài năng thực sự để sử dụng các “liên từ” liên kết cuộc sống và văn

chương, nêu thiếu điều đó thì yêu cầu “Phải hiện đại hóa cả hình thức lẫn nội dung Trong thơ phải lồng cái thời sự vào cái vĩnh cửu…” mãi chỉ là ảo tưởng.

Thông qua màn tranh luận của hai nghệ sĩ say mềm này, Nguyễn Bình Phươnggiễu nhại cái ảo tưởng đó của một bộ phận không nhỏ nghệ sĩ bất tài mà vônhân cách

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, các nhân vật nghệ sĩ và “cótâm hồn nghệ sĩ” khá nhiều Họ hay có những cuộc trao đổi quan trọng vớinhau về thơ ca Bổ sung vào tập hợp chân dung của các thi nhân như Huấn,Công còn có những nhà thơ như Lưu Lưu, những người mê thơ như Phán

(Những đứa trẻ chết già) Nguyễn Bình Phương giễu nhại hình thức lấy cảm

hứng sáng tạo quái đản của Lưu Lưu “khi nghe tin ở đâu có văn nghệ sĩ chết làLưu Lưu hộc tốc đến, dù quen hay không quen, để lấy cảm hứng sáng tác”,

“Đọc thơ là phải thắp hương Thế nó mới thiêng”, rồi Huấn đốt nhầm hươngmuỗi nên buổi đọc thơ của họ trở nên hết “linh thiêng” chỉ thấy thật nực cười.Nhà văn còn nhại lại không khí đọc thơ, cảm nhận nghệ thuật qua lời Huấn

Trang 25

“Lòng Huấn rộn ràng khó tả, anh ta nghĩ đến những buổi đọc thơ ở đâu đó” vàlời sướt mướt nhại lại văn phong lãng mạn một thời trong con người có niềmsay mê nghệ thuật như Phán “Phán cảm tưởng mình sắp cháy thành than đếnnơi vì có ngọn lửa hừng hực trong lòng” Những câu văn nhại và giễu cợt khôngkhí thơ văn phù phiếm giả tạo trong các buổi hội họp văn chương Nó gợi lênchất quái đản phản ánh suy nghĩ lập dị điên rồ của một bộ phận văn nghệ sĩ Đókhông phải là sự thăng hoa trong sáng tạo mà đó là sự điên rồ, lệch lạc cần xóa

bỏ trong nhận thức, tư duy của văn nghệ sĩ Với những hình ảnh văn nghệ sĩnửa mùa như trên, Nguyễn Bình Phương đã giễu nhại họ để giải thiêng đức tin

và thần tượng trong thơ ca nghệ thuật bằng tiếng cười hài hước mà cũng thậtsâu cay

1.3 Về tôn giáo và tín ngưỡng

Từ xưa đến nay, tín ngưỡng tôn giáo đã trở thành điểm tựa tinh thần chocon người Những biểu tượng linh thiêng của tôn giáo như Đức Chúa, Đức Mẹ(Thiên Chúa giáo), Bụt và Phật (Phật giáo)…đã ăn sâu vào tâm thức con ngườinhư điểm tựa tinh thần Ngày nay, những đức tin gửi gắm trong đó đang bị lunglay không ít Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, nhà văn đã giải thiêng

những đức tin đó bằng cái cười dưới nhiều sắc thái Trong Thoạt kỳ thủy, bức

ảnh Chúa đóng đinh treo chỉ là một người Mỹ “ dạng chân dạng tay”, “tượngthờ người chết treo” “người tóc vàng” Đức Mẹ lại ngầm hiện lên qua hình ảnhmột cô gái nông thôn với những khát khao phồn thực táo bạo là Hiền vợ Tính: “Tính thấy trên tóc vợ tỏa ra những làn bụi mờ Vùng ánh sáng tỏa ra từ câythánh giá của ông Khoa…” Hình ảnh của Hiền nhiều lần được nhại lại đức Mẹ,

nó khiến cho đứa bé con người sùng đạo như ông Khoa phải bật khóc mỗi khinhìn vào Cũng người phụ nữ đó lại có những hành động táo bạo đến man dại:

“Hiền phanh áo, cúi gập người xuống, cà mạnh ngực vào tảng đá Vú hiền sâysướt, rớm máu”, khỏa thân trước bàn thờ…Nhà văn nhại lại hình ảnh của Chúa,đức Mẹ để giải thiêng, giễu thái độ sùng kính đến nực cười của những người

Trang 26

như ông Khoa “không biết nhà Chúa có mọt không” hay giễu ảo tưởng về sự

“đồng trinh” của đức Mẹ liệu có trải qua những dằn vặt hết sức trần thế nhưHiền không Bên cạnh các biểu tượng Thiên chúa giáo, những đức tin trong

Phật giáo cũng bị giễu nhại Câu nói của Khẩn trong Ngồi “Nếu mình nói có

cầy mặt Phật thì cũng vậy thôi” giải thiêng đức tin khi đem đặt song song hai sựvật có tính chất đối lập hoàn toàn: cái thiêng liêng cao cả “Phật” trong một sựvật hết sức tầm thường “cầy” giễu sự bát nháo của cuộc sống hiện thực không

thể tách biệt cái cao cả và cái trần tục đời thường Trong Người đi vắng, Bụt

dưới con mắt người phàm trần hiện lên mất hết sự linh thiêng Cụ Điển hoàntoàn phủ định sức mạnh và sự cứu rỗi của Bụt: “Ông ấy râu tóc cứ trắng tinh cảlên Tôi trông thấy sấn đến tát cho hai tát nên thân” Nhại lại tư tưởng về sựluân hồi của kiếp người trong Phật giáo, nhà văn để cho nhân vật Hoàn cất lêncâu hỏi bướm “Mày là tao kiếp trước phải không” (Người đi vắng) Đặc biệt ám

ảnh cánh bướm gợi sự siêu thoát của Lão giáo lại được nhại lại như một sự trốn

chạy đầy bí ẩn của Quân ( Ngồi) qua sự việc anh ta biển thủ năm trăm triệuđồng của cơ quan biến mất không dấu vết Nguyễn Bình Phương nhại các biểutượng trong tôn giáo không nhằm bôi nhọ mà nhà văn muốn giải thiêng chonhững đức tin đó Khi những đức tin cũ đã trở nên quá linh thiêng thì một tiếngcười bằng việc tạo ra “hình nộm” dị biệt nhại lại để chôn vùi cái ảo tưởng và đềxuất đức tin mới hướng vào chính nhân cách con người mới là điều thiêng liêngnhất

1.4 Về những giá trị Chân, Thiện, Mỹ

Bên cạnh đó, nhà văn cũng giải thiêng những giá trị Chân, Thiện, Mỹ tồntại rất lâu trong cuộc sống và trong văn học tạo thành đức tin ăn sâu bám rễtrong tâm thức con người Ngôn ngữ phản ánh tư duy con người nay bị nhại lạivới sự giải thiêng với những đứt gãy đối thoại phi lí thể hiện sự hoài nghi ngônngữ Chẳng hạn:

Trang 27

“- Xích vào đây một tý cho ấm Anh Tính biết không, ngày bé ấy, bao nhiêu lần anh làm em sợ hết hồn.

- Cắn công cống thích lắm.

- Bố anh còn gặm chén không?

- Mắt chó vàng như trăng.”

(Thoạt kỳ thủy, trang 33)

Những đối thoại phi lí nhại chính ngôn ngữ, thể hiện sự rạn vỡ khủngkhiếp trong suy nghĩ, tình cảm của con người Đồng thời, nó mang đến cho vănhọc một đức tin mới, không phải ở sự rõ ràng, mạch lạc truyền thụ đạo lí mộtchiều mà là sự lắp ghép, phân mảnh mang tính chất trò chơi như lời khẳng định

tưởng rất vu vơ của nhân vật trong Những đứa trẻ chết già “ Đúng, cái phi lý

bao giờ cũng có lý” Cùng với đó Nguyễn Bình Phương thể hiện sự ứng xử

“ngông” với ngôn từ “ Sẵn sàng phạm thượng những từ ngữ vốn mang sắc tháithi vị, trang trọng, thiêng liêng trong cảm quan ngôn từ Việt” (Trần Ngọc Hiếu)

Từ đó, nhà văn thể hiện cái nhìn đa chiều hơn về đời sống, con người

Nhại lại những biểu tượng thiêng liêng như rồng (Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già), nghê (Những đứa trẻ chết già), Nguyễn Bình Phương đã giễu

những ảo tượng về khát vọng hão huyền của con người, kéo nó xuống những

giá trị trần thế nhất Nhân vật người bố trong Những đứa trẻ chết già đã kể cho

con: “Ngày xưa, có người mơ thấy lợn cắn chân mà làm vua…Mõm rồng cũngnhư mõm lợn” và ao ước “ Giá nó đớp mình một cái thì hay biết bao” Hay nhạilại câu nói “Có tiền mua tiên cũng được” trong văn học dân gian bằng lời khẳngđịnh của lão Liêm “Tiền là trên hết con ạ” để giễu dục vọng tham lam của giađình lão Đức tin của con người không thể gửi gắm trong những ảo tưởng, dụcvọng quyền lực xây dựng trên sự mất nhân cách của con người như vậy được

2 Giễu nhại và những giá trị đạo đức

2.1 Đạo đức xã hội

Trang 28

Đạo đức là những qui tắc qui định mối quan hệ giữa người với ngườitrong xã hội Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mỗi xã hội, những tiêuchuẩn đạo đức cũng có sự vận động và biến đổi Nhưng chung qui lại, đạo đứcđược coi là những giá trị tốt đẹp trong quan hệ của con người Xã hội Việt Namcũng không nằm ngoài qui luật đó Từ xưa đến nay, xã hội Việt Nam đã chịuảnh hưởng của quan điểm đạo đức truyền thống Đông Tây và coi đó là nhữngtiêu chuẩn mực thước thiêng liêng như tư tưởng Khổng -Mạnh về tam cương,ngũ thường…Bên cạnh đó là những tư tưởng đạo đức của dân tộc như “Uốngnước nhớ nguồn”, “ Lá lành đùm lá rách”…Nhưng giờ đây, những tư tưởng đóđang bị lung lay và đảo lộn ghê gớm Trong những tác phẩm của mình, NguyễnBình Phương đã giễu nhại nhằm giải thiêng đạo đức để làm hiện lên tiếng cười

chua chát cho sự suy đồi đạo đức trong một bộ phận con người Trong Những đứa trẻ chết già, vì ham muốn đạt được kho báu gia tộc mà hai dòng họ nhà

Trường hấp và ông Trình sinh ra thù hằn, giết chóc lấn nhau Với ham muốn,dục vọng có được quyền lực chính trị trong cơ quan mà những cuộc đấu đácông khai, nực cười và tục tĩu giữa lão Việt và Nghĩa làm mọi người choáng

váng (Ngồi) Thoạt kỳ thủy lại là những ám ảnh bạo lực, giết chóc của một cuộc

sống mê muội, điên rồ đang đe dọa đưa con người quay trở về “thoạt kỳ thủy”

của lịch sử loài người Trong Người đi vắng là sự đi vắng của nhân tính, chỉ còn

trơ lại những ham muốn, dục vọng điên rồ Cùng với đó, những tác phẩm củaNguyễn Bình Phương đã giải thiêng những giá trị đạo đức truyền thống trong

xã hội Việt Nam ngàn đời thông qua những “hình nộm rơm” của những ngườithầy, những văn sĩ và biết bao đối tượng khác trong quan hệ hỗn tạp của cuộcsống hiện đại

Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, người trí thức hiện lên rất đadạng Họ có thể là cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước (lãnh đạo nhưông Tước, ông Thìn; hoặc viên chức nhà nước như Khẩn, Nhung, Hùng, Nghĩa,

lão Việt trong Ngồi; Thắng, Hoàn, Chung, Phượng, Cương, ông Huỳnh trong

Trang 29

Người đi vắng), tầng lớp sinh viên trong các trường đại học danh tiếng(sinh viên sư phạm như Loan, sinh viên y khoa như Phán trong Những đứa trẻ chết già ) và những trí thức hoạt động tự do.

Từ thành thị đến nông thôn, cùng với quá trình đô thị hóa là sự xuất hiệncủa những trí thức mới Trí thức được coi là những người được tiếp cận với trithức khoa học tiên tiến của nhân loại, hiểu biết lẽ đời vì thế mà hình tượngngười trí thức trong cuộc sống và trong văn học đã vô hình trung khoác lênmình một vầng hào quang thiêng liêng Nói đến trí thức người ta chợt nghĩ ngayđến “những người tiên phong phối hợp với giai cấp công nhân và quần chúngnhân dân lao động” để đổi mới xã hội theo hướng đi lên Nhưng trong tiểuthuyết Nguyễn Bình Phương nhà văn đã phát hiện những dị dạng, méo mó trongchính đạo đức nhân cách của một bộ phận trí thức không nhỏ trong xã hội.Bằng hình thức giễu nhại, nhà văn đã để nhân vật của mình khái quát cái nhìn

về cái mác trí thức lạc lõng, giả dối đến nực:

“- Anh là gì?

- Dạ, trí thức, hì! – Tiến ngứa ran cả người, anh ta thấy mình lịch sự trang trọng hẳn lên Trí thức ấy mà, bác Cụ thể, cháu làm làm…ờ, à, cháu làm thơ Vâng, là nhà thơ, kiêm viết báo gương người tốt việc tốt Gia đình ta

có muốn lên báo thì cháu sẽ…

Lão Liêm xua tay:

- Tôi biết! Báo với chả chí, thú thực tôi không quan tâm lắm.

Mặt Tiến sịu xuống: “ Hừ, té ra cái danh trí thức cũng như nước lã vậy Sư bọn nó” ( Những đứa trẻ chết già - trang 273)

Trong đoạn văn trên, nhà văn đã để cho nhân vật Tiến quắt nhại lại cáimác trí thức “lịch sự và trang trọng” một thời đã làm nên danh vị của người tríthức trong xã hội Nhưng cuối cùng, câu chửi tục tĩu của Tiến về “cái danh tríthức” đã làm hiện nguyên hình một bộ phận trí thức chỉ còn lại cái danh hão

Trang 30

Cái danh trí thức hão đó đã giải thiêng, hạ bệ và lật mặt nạ của một bộ phận tríthức không nhỏ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Người trí thức xuất hiện trong các danh vị chủ chốt, lãnh đạo trong các

cơ quan nhà nước hay với tư cách viên chức nhà nước thì họ cũng biểu hiện sựbăng hoại đạo đức Tham vọng quyền lực đã khiến bộ phận trí thức này hiện lênthật kệch cỡm Ở vị thế người lãnh đạo là những trí thức như ông Tước, ông

Thìn (Trong Ngồi) Họ đấu đá nhau bằng mọi thủ đoạn để đạt được địa vị của

mình Dưới sự lãnh đạo của những vị này, cơ quan hiện lên chẳng khác gì mộtchiến trường chia thành hai phe rõ rệt: Phe ông Tước và phe ông Thìn Khôngkhí đó đã ảnh hưởng đến từng viên chức dưới quyền Nó khiến cho nhữngngười “ngoài cuộc” như Khẩn không khỏi đau đớn “nghĩ đến hình ảnh một búilươn trong chậu, cứ nhằng nhíu, hỗn độn quấn xiết lấy nhau cho tới khi một gáonước sôi bất thần dội xuống Tại sao lại vô nghĩa đến thế cơ chứ? Tại sao cứđem nhau ra mà phanh thây xé xác như những con vật như thế chứ”

Những nhân vật lãnh đạo như ông Tước, ông Thìn (Ngồi) hiện lên với sựđối lập giữa cái bề ngoài mẫu mực che giấu cái bên trong giả dối đến nực cười.Nguyễn Bình Phương đã nhại lại những tiêu chuẩn giá trị được coi là thiêngliêng của một thời nhằm giễu lối sống và hành vi cư xử giả dối, trái đạo đức củanhững trí thức này Cách bài trí phòng làm việc của ông Tước hoàn toàn nhạitheo khuôn mẫu một trí thức, một đảng viên yêu nước, gương mẫu, trung thành

tuyệt đối với đường lối cách mạng: “Trên bức tường sau lưng ghế của ông Tước treo bức ảnh chân dung Hồ Chí Minh đen trắng lồng trong khung kính đã

cũ, cạnh đấy là lá cờ thi đua hình tam giác nhọn Một chiếc tủ kính đựng đầy sách tiếng Nga […] Oái oăm ở chỗ cả cơ quan không có mống nào biết thứ tiếng đó nên chả hiểu ông Tước đọc những gì” [21;120] Tác giả nhại lại tiêu

chuẩn giá trị khẳng định đạo đức cách mạng của nhà trí thức được coi là thiêngliêng một thời “sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, thực hiện “thi đua là yêunước” và kiên trì định hướng Xã hội chủ nghĩa theo đường lối của nước Nga Xô

Trang 31

Viết Nhưng chính sự nhại lại một cách máy móc, giả tạo đầy hài hước củangười đảng viên trí thức này lại bị vạch trần bởi “ chả hiểu ông Tước đọc nhữnggì” Sự thiêng liêng trong đạo đức người trí thức không còn Nhà văn giễu cợt

sự mâu thuẫn giữa hình thức đầy phô diễn của con người luôn cố gắng thể hiệntình yêu nước, yêu Xã hội chủ nghĩa nhưng thực chất là sự vụ lợi, giả dối mưutính Đối nghịch với ông Tước là ông Thìn Với hình thức nhại lại lối nói “dânchủ và đầy tinh thần chiến đấu”, tác giả đã giễu sự đối lập giữa hình thức và bảnchất của kiểu người này: “Ông cho là Khẩn vô trách nhiệm, mất dân chủ, mấttinh thần đấu tranh của người cán bộ” Câu nói tưởng nghiêm túc, nhưng nó đặtngay sau mưu mô kéo Khẩn về phe mình bằng sự mua chuộc trắng trợn đãkhiến lời nói của ông ta thật nực cười và giả dối Những lời nói giáo điều,những thuật ngữ chính trị được đặt vào kiểu người này chỉ đem đến tiếng cườichua chát khi nội hàm của nó đã bị đánh tráo Cùng với đó, đạo đức của loại tríthức lãnh đạo này đã mất giá thảm hại

Đội ngũ lãnh đạo đã vậy, các viên chức cũng luôn trong trạng thái đềphòng lẫn nhau Câu nói cửa miệng của Hùng trong “Ngồi” luôn luôn là “dạo

lày anh có thấy ông Nghĩa ông ấy lói xấu gì em không?(với Khẩn) [21;48] hay

“Ló có lói xấu anh không” (với cô gái điếm) [21;125] “Ló” ở đây là Nghĩa,

người đồng nghiệp cùng cơ quan với anh ta, thuộc “phe” khác Nguyễn BìnhPhương luôn tái hiện không khí những buổi họp “diễn ra chóng vánh” mà trong

đó những đấu đá trong đội ngũ viên chức hiện lên rõ ràng Ngồi là tiểu thuyết

khai thác triệt để thủ pháp giễu nhại để giải thiêng đạo đức của giới trí thức.Bên cạnh đội ngũ cán bộ lãnh đạo trên, những viên chức như lão Việt cũng rấthay giở giọng đạo đức luân lí và các thuật ngữ chính trị Nhà văn nhại lại cáchnói đầy tinh thần trách nhiệm của lão Việt để giễu cợt những mưu mô, toan tính

trả thù riêng của kiểu trí thức này: “…thú thực là tôi luôn băn khoăn day dứt về cái gọi là lý tưởng trong con người của đồng chí Nghĩa Liệu đồng chí ấy có lí tưởng thật không? Lão Việt bai bải nói Mẹ mày, câu chửi như một tiếng sấm

Trang 32

đột ngột nổ giữa trời quang khiến mọi người giật bắn mình” [21;59] Câu nói

của Nghĩa đã tạo nên một cảnh tượng nực cười, nó tố cáo nhân cách kém cỏicủa người trí thức này Nhưng đồng thời nó cũng vạch mặt kẻ đạo đức giả nhưlão Việt Cơ quan hiện lên như một mặt trận đầy mưu mô, toan tính để đánh vàođiểm yếu và triệt hạ nhau Khi phát hiện Nghĩa chơi đề, lão Việt “khoái trá”khẳng định “Khốn nạn, đảng viên mà như thế, quần chúng nó ỉa vào mặt cho làphải” Sự đối lập giữa danh vị “đảng viên” cao quí mà Nghĩa mang đặt trongmối quan hệ với “quần chúng” thực sự đã mất đi hoàn toàn sự thiêng liêng, chỉcòn cái tục tĩu nhơ bẩn của đạo đức một người trí thức, một người đảng viên.Cũng như những lời nói khác của lão Việt, ông ta luôn nhại đi nhại lại nhữngthuật ngữ chính trị như “đảng viên”, “quần chúng”, “lí tưởng” , “đồng chí”nhưng thực chất trong nhân cách của người trí thức cán bộ này chỉ là nhữngmưu mô, tranh đoạt và toan tính cá nhân Nguyễn Bình Phương nhại lại cácthuật ngữ chính trị để giễu nhân cách đạo đức kém cỏi của loại trí thức rởm này.Mất đi tư cách đạo đức cách mạng, những câu nói của loại trí thức rởm này chỉkhiến ta cảm thấy buồn cười

Cũng trong Ngồi, Nguyễn Bình Phương giễu nhại đạo đức trí thức của

những người như Khẩn Anh ta làm tốt nhiệm vụ chuyên môn, không đấu đákèn cựa trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp nhưng tư cách cá nhântrong đời sống riêng tư hết sức buông thả Những quan hệ giới tính xô bồ với cô

vợ hờ (Minh), đồng nghiệp nữ (Nhung), với bà bán khoai hàng xóm và cảnhững cô gái điếm ở quán Karôkê trá hình đang rung lên hồi chuông cảnh báo

sự xuống cấp đạo đức của lớp trí thức này Không chỉ có Khẩn mà Nghĩa,Hùng, lão Việt (Ngồi) hay Thắng, Hoàn, Phượng, Cương (Người đi vắng) đềubiểu hiện sự băng hoại đạo đức, lối sống buông thả của lớp trí thức ngày nay

Bên cạnh đó, đạo đức người thầy giáo, cô giáo cũng bị phá giá thảm hại

trong con mắt ngây thơ của những đứa trẻ trong tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương Hiện lên trong tiểu thuyết của ông, hình tượng “cô giáo em hiền như

Trang 33

cô Tấm”, “cô giáo là cô tiên” đã hoàn toàn bị mất đi, chỉ còn lại những bứcchân dung khiếm khuyết về ngoại hình và đặc biệt tâm hồn Đạo đức nhà giáohiện lên thật rõ ràng trong vụ thực hành mổ tim ếch trong dòng suy tưởng của

cậu bé Nam đã chết (Người đi vắng) Buổi thực hành đó, cô giáo không tìm thấy tim ếch Kết thúc buổi thực hành dư âm còn lại là tiếng cười đau đớn cho lương tâm của một nhà giáo “Cô giáo vui ra mặt nhìn đứa nào cũng trìu mến thân mật, mặc dù buổi thực hành ấy không tìm được tim của ếch Cả lớp góp tiền mua giỏ ếch ấy mẹ ạ” [19; 20] Vì chú ếch này không có tim? Hay vì cô

giáo đã đánh mất tim mình? Đứa bé chết đi mà vẫn mang trong mình cảm giác

“buồn cười nhỉ” Có lẽ nó cười cho cõi nhân sinh, cho cuộc sống thiếu thốn đãlàm người cô đánh mất chính trái tim và nhiệt huyết của mình, tiếng cười sao

mà đau xót Liệu còn biết bao nhiêu đứa bé từ giã cõi đời này mà chưa được

thấy “tim ếch” trong những buổi thực hành với cái nhìn đầy “trìu mến thân

mật” của cô giáo?

Kí ức về mái trường, thầy cô trong trí óc Sơn (Người đi vắng) gợi bao ám

ảnh day dứt là hình ảnh những cô giáo như cô Liên, cô Sâm lác, cô Khang rỗ

Họ được miêu tả với cái nhìn hoàn toàn khác với những “cô giáo em hiền như

cô Tấm”, từ hình dạng quái dị đến tính cách và tâm hồn mang đầy khiếmkhuyết Cô Liên là : “ một cô giáo mặt đầy sẹo, trán gồ lên như cái bát đựngcanh, hai mắt nhìn học sinh long sòng sọc” Hơn nữa, cô còn để lại những chấnthương tâm lí cho bọn trẻ “Cô ít mắng học sinh nhưng đứa nào cũng sợ” Hình

ảnh cô giáo dịu hiền, âu yếm, hết lòng với học sinh như cô giáo Thùy (Cửa sông- Nguyễn Minh Châu) đã hoàn toàn biến mất, cô giáo hiện lên chẳng như

mẹ hiền mà như cọp dữ với đôi mắt long sòng sọc nhìn học sinh như trực ăntươi nuốt sống Hình ảnh cô Sâm lác còn ấn tượng hơn nhiều Cái nhà văn nhạilại không đơn thuần là vẻ xấu xí bề ngoài mà tác giả tập trung thủ pháp phóngđại, ngoa dụ làm nổi bật cái cười từ hành động hết sức phản giáo dục của nhữngkiểu cô giáo- “ngáo ộp” Cách dạy, cách truyền thụ tri thức áp đặt, một chiều,

Trang 34

bảo thủ đâu phải chỉ có trong giáo dục tiểu học trong kí ức của Sơn: “Cô Sâm lác mắt trái, khi đứng trên bảng cổ cô nghẹo sang phải Đầu buổi học bao giờ

cô Sâm cũng túm lấy đứa ở gần mình nhất, cốc liên tiếp vào trán nó rồi hỏi:

- Ai lác?

Đứa bé mếu máo:

- Cháu.

Cô Sâm gí sát mặt mình vào mặt đứa bé:

- Cháu Thế cháu lác cái gì?

- Lác mắt.

- Tốt Cô Sâm thở ra nhẹ nhõm-chỉ có các cháu lác thôi vì các cháu là học sinh Đúng không nào các em?

Câu cuối giọng cô du dương như hát Cả lớp đồng thanh hô:

- Thưa cô vâng ạ.”

(Người đi vắng, trang 244)

Trong một đoạn văn ngắn, nhà văn đã làm hiện lên hai cảnh tượng hoàn toàntrái ngược nhau nhờ việc nhại lại một lối viết rất quen thuộc khi đề cập đếngiọng nói của cô giáo “giọng cô du dương như hát”, nhại lại không khí vốn đãquen xuất hiện trong nhà trường “Cả lớp đồng thanh hô: - Thưa cô vâng ạ” đặtngay sau màn đối thoại của cô Sâm và học sinh Cô Sâm hiện lên không chỉ qua

sự khiếm khuyết của hình dạng (lác) mà hơn hết đó là một “nhà giáo dục” bảothủ, công thức, giả tạo Câu nói của cô “Đúng không nào các em”(những lờitrước gọi là “các cháu”) lắp ghép vào đoạn hội thoại thật lạc lõng, tựa như nóđược cô góp nhặt ở đâu về đây làm nên sự nực cười đến tội nghiệp của lớp họcnày Cô Khang rỗ lại được miêu tả : “Người cô Khang gầy như que củi, một mớtóc dài buộc túm lại ở đoạn cuối, mỗi khi cô đi mái tóc đưng đưa như một cáiđuôi trâu” Cái chết của đứa con gái điên của cô gắn với bài giảng vô tình mà côtruyền thụ cho học sinh:

Trang 35

“Hàng rào nhà cô Khang ở giữa nơi giao nhau của hai quả bom nên biến mất mang theo cả con bé Cô Khang viết lên bảng con số Tám to đùng rồi gạch một gạch phấn dài cắt đôi con số đó, leo lẻo giảng cho cả lớp: - Đây là số Tám, hàng rào nhà cô cắt đôi nó thì thành hai quả trứng, hai số không í mà”

[19;246]

Lời giảng của cô Khang hài hước, nó gợi đến bài đọc thuộc lòng “O trònnhư quả trứng gà…”, nhà văn đã nhại lại cách truyền thụ tri thức một chiều hàihước đó Nhưng nó đâu chỉ dừng lại ở một bài học được cô “leo lẻo” giảng vớihọc sinh của mình, khi áp dụng vào cuộc sống những tri thức vội vàng, góp nhặt

đó sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường Cái vạch phấn vô tình của cô chỉ cắt đôi sốTám thành hai quả trứng - số không - trong bài giảng, còn cái hàng rào ở giữahai quả bom hình số tám đã cắt đi tính mạng của đứa con cô Nền giáo dục thế

hệ mầm non tương lai do các “mẹ hiền” như thế này thì sản phẩm có lẽ khôngchỉ dừng lại ở “ Di sản của cô sau một năm rèn giũa là đứa học sinh nào cũngmang tật nghẹo đầu sang phải” [19; 245] mà là những chấn thương tinh thần,những con người bạo lực như Sơn là điều tất yếu

Dưới tác động của áp lực kinh tế, một bộ phận không nhỏ các thầy côgiáo sa vào ăn chơi, tha hóa, đánh mất hoàn toàn nhân cách nhà giáo dục của

mình Dũng trong Những đứa trẻ chết già vốn là giáo viên trường sư phạm, sau

anh ta bỏ nghề vào Trại Cau tìm vàng để : “Mẹ kiếp, tha hồ mà ăn chơi [ ] Ôngđèo bòng con bé kia làm gì Kệ mẹ nó Đứa nào có thân đứa ấy lo”[18;243].Bằng cách nhại lại lời nói của dân đào vàng thô thiển, tác giả đã làm bật lêntiếng cười đau xót cho nhân cách của một người đã từng là thầy giáo GiữaDũng tham lam, háo vàng, trơ lì cảm xúc này ta không hề nhận thấy chút gì còn

xót lại của một nhà giáo dục Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn Sống dễ lắm cũng nêu lên những nhân vật như Dũng- những nhà giáo sớm bộc lộ sự mất nhân cách- trước sau họ cũng bị nền giáo dục đào thải Quả thật sống dễ lắm,

Ngày đăng: 01/12/2014, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Phùng Diệu Linh – Cấu trúc tiểu thuyết “Thoạt kỳ thủy” của Nguyễn Bình Phương, BCKH 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoạt kỳ thủy
25. Nguyễn Bình Phương – Văn học mênh mông như cuộc sống, http://vanhoc.trongnghia.Info, 18.11.2005 Link
1. Nguyễn Thị Bình – Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án PTS- Khoa Ngữ Văn, Hà Nội, 1996 Khác
2. Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên) - Từ điển văn học, NXB Thế giới, 2004 Khác
3. Chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2003 Khác
4. Đoàn Ánh Dương – Nguyễn Bình Phương, lục giang đầu tiểu thuyết, www.vannghequandoi.com.vn , 28/4/2008 Khác
5. Đặng Anh Đào – Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Khác
6. Trương Thị Ngọc Hân – Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, www.tienve.org Khác
7. Phùng Văn Khai – Tản mạn Nguyễn Bình Phương, www.vannghesongcuulong.org.vn , 25/10/2008 Khác
8. Thụy Khuê – Nguyễn Bình Phương, www.thuykhue.free.Fr 9. Thụy Khuê – Phê bình văn học thế kỉ XX, www.thuykhue.free.Fr Khác
11. Nguyễn Văn Long - Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009 Khác
15. Hồ Bích Ngọc - Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, 2006 Khác
16. Lã Nguyên – Nhìn lại những bước đi, lắng nghe những tiếng nói, www.vanhoanghean.com.vn Khác
17. Nguyễn Thị Hằng - Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Phan Thị Vàng Anh, BCKH, 2006 Khác
18. Nguyễn Bình Phương – Những đứa trẻ chết già, NXB Văn học, 1994 19. Nguyễn Bình Phương – Người đi vắng, NXB Văn học, 1999 Khác
22. Nguyễn Bình Phương – Nhà văn là người trôi dạt trong thời đại, Vietnamnet 5/8/2004 Khác
23. Nguyễn Bình Phương – Giá như tiểu thuyết có những bước mạo hiểm, Vietnamnet, 21/10/ 2005 Khác
24. Nguyễn Bình Phương – Ngồi vì nhân vật …muốn ngồi chứ sao!, Vietnamnet, 12/10/ 2006 Khác
26. Phùng Gia Thế - Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Phongdiep.net Khác
27. Từ điển tiếng việt thông dụng, (nhiều tác giả), NXB Đà Nẵng, 2009 28. Hoàng Nguyên Vũ – Một lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương, nld.vn, 4/11/ 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w