1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh lớp 4 - 5

104 892 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 669,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

văn có vai trò định hướng, hướng dẫn cho một kiểu bài, ví dụ Thế nào là kể chuyện, Thế nào là miêu tả SGK Tiếng Việt 4, tập 1 ; kiến thức tập làmvăn còn là những khái niệm lí thuyết làm

Trang 1

văn có vai trò định hướng, hướng dẫn cho một kiểu bài, ví dụ Thế nào là kể chuyện, Thế nào là miêu tả (SGK Tiếng Việt 4, tập 1) ; kiến thức tập làm

văn còn là những khái niệm lí thuyết làm cơ sở để rèn luyện kĩ năng, ví dụ

Cốt truyện, Nhân vật, Đoạn văn trong bài văn kể chuyện, Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật (SGK Tiếng Việt 4, tập 1),

Kiến thức tập làm văn không phải là tất cả, là quyết định, là đích cuốicùng của phân môn Tập làm văn nhưng vẫn phải quan tâm thích đáng vì nógóp phần làm cho nhiệm vụ rèn luyện các kĩ năng làm văn cho học sinh diễn rathuận lợi hơn, tốt hơn Không nên vì Tập làm văn là phân môn thực hành tổnghợp mà coi nhẹ nhiệm vụ dạy hình thành kiến thức tập làm văn ở tiểu học

1.2 Xuất phát từ thực tế dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm

văn ở tiểu học

Thực tế cho thấy hiện nay việc dạy học các bài hình thành kiến thức tậplàm văn gặp rất nhiều khó khăn: học sinh không làm được bài tập, không trả lờiđược nhiều câu hỏi hoặc mất quá nhiều thời gian cho các câu hỏi, bài tập phầnnhận xét Các ngữ liệu (bài mẫu) để rót ra ghi nhớ còn nhiều vấn đề phải bàn.Việc thiết kế và sử dụng câu hỏi đÓ tổ chức hình thành kiến thức tập làm văncho học sinh ở một số bài chưa thật phù hợp Giáo viên áp dụng máy móc cách

Trang 2

dạy trong sách giáo viên mà chưa chú ý vận dông sáng tạo, linh hoạt cho phùhợp với đối tượng học sinh.

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh líp 4 - 5”.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Khảo sát, nhận xét các kiến thức tập làm văn, nhận xét ngữ liệu và

các câu hỏi, bài tập ở các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4 - 5

2.2 Đưa ra cách điều chỉnh, cách tổ chức dạy học các bài hình thành

kiến thức tập làm văn sao cho phù hợp, hiệu quả

2.3 Tổ chức dạy thử nghiệm một số bài hình thành kiến thức tập làm văn.

3 Đối tượng nghiên cứu

3.1 Các nội dung kiến thức tập làm văn được dạy ở lớp 4 - 5 và ngữ

liệu, hệ thống câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa, câu hỏi hướng dẫn giảngdạy trong sách giáo viên

3.2 Thực trạng dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4

-5

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

4.2 Phương pháp khảo sát, quan sát sư phạm

4.3 Phương pháp phân tích

4.4 Phương pháp thử nghiệm sư phạm

5 Giả thuyết khoa học

5.1 NÕu lựa chọn, đưa các kiến thức tập làm văn thiết thực và vừa sức

với học sinh tiểu học, nếu chọn được ngữ liệu (bài mẫu) điển hình, xây dựngđược hệ thống câu hỏi hợp lí và sử dụng có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chấtlượng dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh líp 4 - 5

5.2 Nếu tổ chức thực hiện giờ hình thành kiến thức tập làm văn theo

Trang 3

các bước hợp lí thì kết quả dạy học sẽ tốt hơn.

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Nhìn nhận, đánh giá các kiến thức tập làm văn được dạy ở lớp 4-5

bậc tiểu học và các ngữ liệu, các câu hỏi, bài tập dạy kiến thức tập làm văn

6.2 Xác định những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy học

các bài hình thành kiến thức tập làm văn, những nguyên nhân và giải phápkhắc phục

6.3 Vận dụng các biện pháp đề xuất để thiết kế kế hoạch bài học, dạy

thực nghiệm một số bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh líp 4 - 5

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ TỔ CHỨC DẠY

HỌC CÁC BÀI HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – 5 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và phương hướng vận dông trong dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn

Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ: con đường nhậnthức của nhân loại là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tưduy trừu tượng lại quay trở lại kiểm nghiệm trong thực tiễn Thực tiễn là cộinguồn, động lực của nhận thức và cũng là mục đích cuối cùng của nhận thức.Nghĩa là “học sinh sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông quaviệc phân tích, tổng hợp đến những khái quát hoá, những định nghĩa lí thuyết,những quy tắc và từ đó lại quay về thực tiễn giao tiếp lời nói sống động trongdạng nói và dạng viết” (Lê Phương Nga, PPDHTV1, NXBĐHSP)

Cách làm nh trên không chỉ tuân thủ những quy luật chung của quátrình nhận thức chân lí của loài người mà còn đáp ứng được những đòi hỏicủa lí luận dạy học hiện đại

Dạy hình thành kiến thức tập làm văn theo con đường nhận thức của chủ nghĩa Mác- Lênin cần theo các bước:

- Cho HS quan sát, đọc, tìm hiểu các bài văn mẫu theo câu hỏi định hướng

- HS trả lời các câu hỏi là đã tù rót ra kiến thức tập làm văn

- Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức, thực hành nhận diện, xây dựngđoạn văn, bài văn theo yêu cầu

1.1.2 Đặc điểm tư duy, nhận thức của HS líp 4-5 và việc tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn

Trang 5

Đặc điểm tư duy của HS tiểu học nói chung và HS líp 4-5 nói riêngthiên về tư duy cụ thể, hình tượng Nhận biết chủ yếu dựa vào dấu hiệu hìnhthức, cảm tính Bởi vậy khi tổ chức dạy học các kiến thức tập làm văn cần tạođiều kiện để HS được trực quan, cần gợi mở giúp các em đi từ cụ thể đến trừutượng, khái quát.

1.1.3 Ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt và trong dạy học tập làm văn

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ

biên, từ “ngữ liệu” gồm hai nét nghĩa: một là “ Tư liệu ngôn ngữ được dùng làm căn cứ để nghiên cứu ngôn ngữ”, hai là “Mặt hình thức vật chất của ngôn ngữ, cần thiết cho sự tồn tại của mặt nội dung trừu tượng của ngôn ngữ”.

Trong đề tài này, “ngữ liệu” được hiểu theo nghĩa thứ nhất Theo cáchđịnh nghĩa trên thì ngữ liệu Tập làm văn chính là các văn bản, đoạn văn đượclựa chọn đÓ làm căn cứ dạy các kiến thức tập làm văn

Ngữ liệu trong dạy Tiếng Việt nói chung và ngữ liệu phân môn Tậplàm văn lớp 4 - 5 nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thànhkiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt cho học sinh Điều này thể hiện ở chỗ bất

kỳ phân môn nào của môn Tiếng Việt cũng cần đến ngữ liệu và ngữ liệu là cơ

sở để triển khai bài học

Ngữ liệu trong các bài hình thành kiến thức tập làm văn là những bài mẫu chuẩn mực, qua đó học sinh học tập được cách tạo lập văn bản một cách chính xác, đúng đắn Do đó, yêu cầu cơ bản của ngữ liệu trong dạy học tập làm văn là phải tiêu biểu, tường minh, phù hợp với kiến thức lí thuyết hoặc kĩ năng tập làm văn được dạy Ngữ liệu càng điển hình, việc phân tích của học sinh càng thuận lợi Số lượng chữ của ngữ liệu cần hạn chế để đảm bảo tính hiệu quả của việc phân tích và tránh làm mất thời gian học tập.

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của câu hỏi trong hoạt động dạy học

Trang 6

• Trước hết, cần khẳng định, câu hỏi, bài tập có vị trí rất quan trọngtrong lý luận dạy học, cho dù sự đổi mới mang tính cách mạng cả về nội dung

và phương pháp dạy học (bao gồm cả phương tiện) thì câu hỏi, bài tập vẫnphải có mặt và vẫn chiếm mét tỷ trọng đáng kể Để xác định được mục tiêudạy học, giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, nội dung của từngbài học Mục tiêu đặt ra là cái đích mà học sinh phải đạt được, là những nộidung học tập mà học sinh phải lĩnh hội được kể cả về kiến thức, kĩ năng vàthái độ, hành vi

Khi xác định mục tiêu dạy học, câu hỏi, bài tập góp phần cụ thể hoámục tiêu và cũng là phương tiện để cụ thể hoá mục tiêu dạy - học, giúp lượnghoá được mục tiêu đề ra, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mụctiêu và điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu dạy học

Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy - học còn tuỳ thuộc vào nội dung

mà câu hỏi, bài tập được sử dụng nh là một phương pháp hay một biện pháp

tổ chức quá trình dạy học Câu hỏi, bài tập đóng vai trò là phương pháp khi

nó được giải quyết sẽ đem lại kiến thức cơ bản trọng tâm, quyết định tới việcgiải quyết vấn đề học tập giúp học sinh tự chiếm lĩnh được tri thức, làm tănghiệu quả của việc sử dụng phương tiện đó Lúc này, câu hỏi, bài tập đóng vaitrò là biện pháp

Trong các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau thì câu hỏi, bài tập làphương tiện để tổ chức quá trình nhận thức kết hợp các phương tiện dạy họckhác nhau để tạo thành hệ phương pháp dạy - học tích cực Điều này khẳngđịnh tính nguyên tắc khi sử dụng bất kỳ phương pháp dạy học nào đều khôngthể tách rời việc sử dụng phương tiện dạy học

• Có thể nêu một số ý nghĩa cơ bản thể hiện vai trò câu hỏi, bài tậptrong dạy học nh sau:

- Câu hỏi, bài tập dùng để mã hoá nội dung sách giáo khoa, khi đó

Trang 7

chúng là nguồn tri thức mới Nếu giả thuyết sách giáo khoa được biên soạn ởdạng tường minh và việc dạy học chỉ là sự minh hoạ lại những điều đã đượctrình bày một cách tường minh trong sách giáo khoa thì việc dạy thuyết trìnhhay học thuộc lòng nội dung sách giáo khoa đều có giá trị như nhau về mặtnhận thức Ngược lại, cũng có giả thuyết nh trên nếu nội dung sách giáo khoa

đã tường minh về thuật ngữ, lôgic về diễn đạt, về các sự kiện

- Câu hỏi, bài tập có tác dụng kích thích định hướng nhận thức, đặc biệt

nó định hướng cho người học tự nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa Vì vậy,

nó là phương tiện để phát triển kỹ năng đọc sách nhằm cá thể hoá trong dạyhọc, giúp học sinh tự rèn luyện phương pháp học, phương pháp nghiên cứukhoa học bộ môn.[27]

- Câu hỏi, bài tập là phương tiện có hiệu quả trong dạy học vì nó lànguồn để hình thành kiến thức và kỹ năng cho học sinh

- Câu hỏi, bài tập giúp rèn luyện các thao tác tư duy, do đó câu hỏi vàbài tập tạo điều kiện để phát triển các thao tác tư duy

- Câu hỏi, bài tập là công cụ để kiểm tra, đánh giá và tự đánh giá mức

độ nắm vững kiến thức của học sinh

• Cơ sở phân loại hệ thống câu hỏi, bài tập:

- Dựa vào mức độ tư duy: Với cách phân loại này, nhiều tác giả đã cónhững mức độ câu hỏi khác nhau

- Dựa vào mục đích lý luận dạy học: Có thể chia thành 3 loại nh sau:+ Loại câu hỏi dùng để dạy bài mới

+ Loại câu hỏi, bài tập dùng để củng cố và hoàn thiện kiến thức

+ Loại câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá.[18]

• Câu hái trong dạy học Tiếng Việt:

Có nhiều căn cứ để phân loại câu hỏi: Theo các khâu và giai đoạn củabài học; theo các đặc điểm của bài học, môn học, theo nội dung cần hỏi; theo

Trang 8

chức năng của câu hỏi Nhưng có lẽ phân loại câu hỏi theo mục đích mà câuhỏi hướng tới là hợp lý hơn cả.

Phân biệt theo mục đích hỏi - căn cứ vào 3 cấp độ của nhận thức đượcthể hiện trong câu trả lời, có những loại câu hỏi sau:

- Câu hỏi thu thập và tái hiện thông tin

Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: Nhớ lại, kiểm kê, quan sát, kểlại, lựa chọn

- Loại câu hỏi xử lý hay tạo nghĩa cho thông tin

Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: Giải thích, so sánh, phân tích,

tổ chức

- Loại câu hỏi hoạt động ứng dụng hay đánh giá:

Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: áp dụng, dự báo, khái quát, đánhgiá.[10]

Câu hái trong các bài hình thành kiến thức tập làm văn chủ yếu là những câu hỏi phân tích ngữ liệu theo định hướng của bài dạy Bên cạnh đó

là những câu hỏi so sánh, giải thích, khái quát hoá để rót ra kiến thức tập làm văn mà HS cần nắm vững (các câu hỏi, bài tập ở phần nhận xét).

Ở phần luyện tập, câu hỏi, bài tập thường yêu cầu vận dụng kiến thức

để nhận diện hoặc nói, viết thành đoạn, bài.

Trang 9

hứng thú khi chính các em, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, khám phá nhữngđoạn văn, bài văn mẫu để tự rót ra được những kiến thức tập làm văn cần ghinhí.

1.2.1.2 Những hạn chế, khó khăn của giáo viên và học sinh

Trong những năm đầu dạy theo chương trình sách giáo khoa mới ở bất

cứ một lớp học nào, môn học nào bao giờ cũng có những khó khăn Cái khóbắt nguồn từ sự mới mẻ trong hệ thống kiến thức, kĩ năng được thể hiện trongsách mới Ngoài ra, khó khăn còn do nguyên nhân từ nếp nghĩ và cách tổ chứclớp học đã thành nếp quen thuộc của giáo viên, trong đó có những thói quenkhông còn hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đổi mới trong dạy học nhưngkhông thể thay đổi ngay được Các trường tiểu học thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh

Hà Tây (địa bàn không qua dạy thử nghiệm SGK chương trình năm 2000),thực trạng dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cũng vậy Đa sốgiáo viên còn phụ thuộc rất nhiều vào các tài liệu hướng dẫn dạy học Các câuhỏi, bài tập trong sách giáo khoa và sách giáo viên được giáo viên áp dụngmột cách máy móc mà chưa có sự sáng tạo, linh hoạt Việc thiết kế câu hỏigợi mở chưa được chú trọng Điều này dẫn đến nhiều câu hỏi, bài tập học sinhkhông trả lời được Giáo viên chưa thấy được những khó khăn, sai sót mà họcsinh gặp phải trong quá trình tìm hiểu ngữ liệu bởi nhiều khi cách dạy học ápđặt còn tồn tại, có khi giáo viên làm thay học sinh hoặc giáo viên hỏi nhữngcâu hỏi quá dễ dãi Do việc hình thành khái niệm còn mang tính áp đặt chonên nhiều học sinh chưa hiểu sâu bài học, ghi nhớ một cách máy móc, chưavận dụng được vào phân tích những tình huống cụ thể Có những bài học,giáo viên sa đà vào việc hướng dẫn học sinh khai thác cả những thông tinkhông cần thiết, không đúng nội dung trọng tâm kiến thức yêu cầu, gây áp lựcnặng nề, bộn bề kiến thức cho học sinh Điều này còn dẫn đến thời gian làmbài tập thực hành của học sinh còn lại không nhiều Có những giáo viên

Trang 10

hướng dẫn học sinh thực hiện phần nhận xét một cách qua loa, đại khái rồicho học sinh đọc ghi nhớ và luyện tập.

1.2.2 Nội dung kiến thức tập làm văn được dạy ở lớp 4 – 5

1.2.2.1 Khảo sát nội dung kiến thức tập làm văn được dạy ở lớp 4-5

Khảo sát nội dung kiến thức tập làm văn theo loại văn bản, theo từngkhối lớp, tuần học, sách giáo khoa có các bài, các nội dung dạy kiến thức tậplàm văn (kiến thức lí thuyết về kiểu bài và kiến thức làm cơ sở để rèn luyệncác kĩ năng làm văn) sau đây:

a - Văn kể chuyện

- Thế nào là kể chuyện (trang 10 SGK, tuần 1, Tiếng Việt 4, tập 1)

- Nhân vật trong truyện (trang 13 SGK, tuần 1, Tiếng Việt 4, tập 1)

- Kể lại hành động của nhân vật (trang 20 SGK, tuần 2, Tiếng Việt 4, tập 1)

- Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện (trang 23 SGK,tuần 2, Tiếng Việt 4, tập 1)

- KÓ lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật (trang 32 SGK, tuần 3, Tiếng Việt

4, tập 1)

- Cốt truyện (trang 42 SGK, tuần 4, Tiếng Việt 4, tập 1)

- Đoạn văn trong bài văn kể chuyện (trang 53 SGK, tuần 5, Tiếng Việt

• Các kiến thức về văn miêu tả được dạy ở lớp 4 gồm:

- Thế nào là miêu tả (trang 140 SGK, tuần 14, học kì I)

- Miêu tả đồ vật

Trang 11

+ Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật (trang 143 SGK, tuần 14, học kìI).

+ Quan sát đồ vật (cách quan sát) (trang 153 SGK, tuần 15, học kì I).+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật (trang 169 SGK, tuần 17, HKI)

- Miêu tả cây cối:

+ Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối (trang 30 SGK, tuần 21, học kì II).+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối (trang 52 SGK, tuần 23, HK II)

- Miêu tả con vật: Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (trang 10 SGK,tuần 1, học kì I)

• Các kiến thức về văn miêu tả được dạy ở lớp 5 gồm:

- Tả cảnh: Cấu tạo của bài văn tả cảnh (trang 11 SGK, tuần 1, học kì I)

- Tả người: Cấu tạo của bài văn tả người (trang 119 SGK, tuần 12, HK II)

c - Các loại văn bản khác

• Líp 4:

- Viết thư: Mục đích viết thư, cấu tạo một lá thư (trang 34 SGK, tuần 3,học kì I)

- Trao đổi ý kiến với người thân (trang 95+109 SGK, học kì I)

- Giới thiệu hoạt động của địa phương (trang 160 SGK, tuần 16, học kì

I và trang 19 SGK, tuần 20, học kì II)

- Tóm tắt tin tức (trang 63 SGK, tuần 24, học kì II)

- Điền vào giấy tờ in sẵn (phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng, thư chuyểntiền, điện chuyển tiền đi, giấy đặt mua báo chí) (trang 122+152+161 SGK,học kì II)

• Líp 5:

- Làm báo cáo thống kê (trang 23 SGK, tuần 2, học kì I)

- Làm đơn (trang 59 SGK, tuần 6 và trang 111, tuần 11, học kì I)

- Làm biên bản (trang 140+161 SGK, học kì I)

Trang 12

- Thuyết trình, tranh luận (trang 91 SGK, tuần 9, học kì I).

- Lập chương trình hoạt động (trang 23 SGK, tuần 20, học kì II)

- Tập viết đoạn đối thoại (trang 77+85+113 SGK, học kì II)

1.2.2.2 Nhận xét các bài dạy hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4-5

a Nhận xét các kiến thức tập làm văn

Các kiến thức tập làm văn được đưa vào dạy ở lớp 4-5 nhìn chung dừng

ở mức độ sơ giản, cần thiết Học sinh nắm được đặc điểm của kiểu bài (miêu

tả đồ vật, con vật, cây cối, tả người, lập biên bản, đơn từ,…) sẽ có cơ sở đểlàm bài văn đúng yêu cầu về kiểu bài, loại thể Như vậy sẽ tránh được tìnhtrạng học sinh làm bài văn miêu tả mà không hiểu thế nào là miêu tả hoặc làmbài văn kể chuyện mà không biết thế nào là kể chuyện Do đó, bài làm của các

em sẽ hạn chế các lỗi về kiểu bài, về loại văn bản

Tuy nhiên, nội dung các kiến thức làm cơ sở để rèn luyện các kĩ nănglàm văn trong sách giáo khoa chưa thật hợp lý Chẳng hạn cách đưa các kiếnthức về lời nói, ý nghĩ, hành động của nhân vật trong bài văn kể chuyện nhưsách giáo khoa dễ gây Ên tượng nặng nề về lý thuyết

b Nhận xét ngữ liệu hình thành kiến thức tập làm văn

b 1 Ngữ liệu các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4-5 bao gồm

các văn bản nghệ thuật (Bài văn Bãi ngô, Hoàng hôn trên sông Hương, ), văn bản truyền thông (Bài báo Vịnh Hạ Long được tái công nhận là di sản

thiên nhiên thế giới - Bài Tóm tắt tin tức, ), văn bản điều hành (văn bản Biên bản đại hội chi đội - Bài Làm biên bản cuộc họp, ) và văn bản nhật

dụng (Phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng, Thư chuyển tiền - Bài Điền vào giấy

tờ in sẵn, ).

b 2 Ngữ liệu ở một số bài gắn bó với chủ điểm của tuần học và được lấy

từ những bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã học Chẳng hạn, ở lớp 4, gắn với

chủ điểm Thương người như thể thương thân, học sinh được làm quen với

Trang 13

văn kể chuyện với vật liệu mẫu là câu chuyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Sự tích hồ Ba Bể (là bài tập đọc, kể chuyện đã dùng trong chủ điểm) Ở líp 5,

gắn với chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em, học sinh được làm quen với văn tả

cảnh với bài mẫu là văn bản Quang cảnh làng mạc ngày mùa (là bài tập đọc

đã dùng trong chủ điểm), Điều này giúp học sinh có nhiều thuận lợi trongquá trình khảo sát bởi các em đã được tìm hiểu nội dung các bài đó trong cácgiờ học trước Việc lấy ngữ liệu từ các bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã họccòn thể hiện tính tích hợp trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

b 3 Một số bài có ngữ liệu hay, tiêu biểu như bài Cấu tạo của bài văn tả

người (bài mẫu: Hạng A Cháng), Viết thư (bài mẫu: Thư thăm bạn), Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối (bài mẫu: Cây gạo).

Một số bài ngữ liệu phù hợp với kiến thức ghi nhớ như bài: Nhân vật trong truyện (bài mẫu: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Sự tích hồ Ba Bể), Kể lại hành động của nhân vật (bài mẫu: Bài văn bị điểm không), Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện (bài mẫu: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu), Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật (bài mẫu: Người ăn xin), Mở bài trong bài văn kể chuyện (bài mẫu: Rùa và Thỏ), Kết bài trong bài văn kể chuyện (bài mẫu: Ông Trạng thả diều), Tóm tắt tin tức (bài mẫu: Vẽ về cuộc sống an toàn), Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (bài mẫu: Con mèo), Làm biên bản cuộc họp

(bài mẫu: Biên bản đại hội chi đội)

b 4 Bên cạnh các ngữ liệu hay, tiêu biểu, điển hình như đã nêu ở trên

còn có những bài có những điểm chưa thật phù hợp so với mục tiêu tìm hiểu

để bật ra ghi nhớ và so với đặc điểm trình độ học sinh líp 4 – 5

Ví dô 1: Bài Cốt truyện (bài mẫu: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu) ngữ liệu

quá dài, không tường minh, không tập trung ở một trang giấy (tản mạn ở haitrang xa nhau) vì thế học sinh mất nhiều thời gian và không tiện quan sát đểliệt kê các sự việc chính

Trang 14

Ví dô 2: Bài Đoạn văn trong bài văn kể chuyện (bài mẫu: Những hạt

thóc giống), ngữ liệu cũng chưa thực sự tiêu biểu

Ghi nhớ của bài là "Mỗi câu chuyện có thể gồm nhiều sự việc Mỗi sự

việc được kể thành một đoạn văn" Bài Những hạt thóc giống gồm nhiều sự

việc Sau đây là các sự việc chính:

- Sự việc 1 (Từ đầu đến sẽ bị trừng phạt): Nhà vua muốn tìm người

trung thực để truyền ngôi, nghĩ ra kế: Luộc chín thóc giống rồi giao cho dânchúng, giao hẹn ai thu hoạch được nhiều thóc thì sẽ truyền ngôi cho

- Sự việc 2 (Có chú bé mồ côi chẳng nảy mầm): Chú bé Chôm nhậnthóc, dốc công chăm sóc mà thóc chẳng nảy mầm

- Sự việc 3 (Đến vụ thu hoạch thóc giống của ta): Mọi người nộpthóc, Chôm tâu sự thật, vua nói việc thóc giống đã được luộc chín

- Sự việc 4 (Đoạn còn lại): Nhà vua khen ngợi Chôm trung thực, dũngcảm, quyết định truyền ngôi cho Chôm

Học sinh dễ dàng xác định được sự việc chính thứ nhất và thứ hai bởi

vì hai sự việc này dễ nhận biết, được kể thành hai đoạn văn rõ ràng

Hai sự việc 3 và 4, học sinh khó xác định hơn, đặc biệt là sự việc 3 bởi

vì nó gồm nhiều sù việc nhỏ Hơn nữa, đoạn văn thứ ba lại có những lời thoại,phải xuống dòng nhiều lần mới hết đoạn do đó học sinh cũng khó xác định

đoạn văn thứ ba của bài Điều này chưa thật phù hợp với ghi nhớ của bài (Mỗi

sự việc được kể thành một đoạn văn).

Ví dô 3: Bài Thế nào là miêu tả, bài mẫu là một đoạn văn tả cảnh.

Trong khi đó, ghi nhớ của bài là "Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng Êy" Như vậy, bài văn không tả đặc điểm của người,

của vật Do đó, khi rót ra ghi nhớ, học sinh chỉ nêu được một vế nhỏ là tả đặcđiểm của cảnh Có những học sinh còn lầm tưởng miêu tả chỉ là tả cảnh

Trang 15

không thôi chứ không tả người, vật Trên thực tế, giáo viên có thể kết luận bổsung để ghi nhớ của bài được đầy đủ nhưng làm như vậy bài học mang tính

chất áp đặt Một điều nữa dễ khiến cho học sinh nhầm lẫn đó là câu văn “Một làn gió rì rào chạy qua, những chiếc lá rập rình lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ bập bùng cháy” Ở đây, “những chiếc lá” chính là lá sòi và lá

cơm nguội nhưng HS lại lầm tưởng đó là một sự vật được miêu tả trong bài

Ví dô 4: Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật, bài mẫu Cái cối tân

rất hay, có cấu tạo rõ ràng, phù hợp với kiến thức ghi nhí Tuy nhiên, cái cốixay gạo là đồ vật đã lâu người nông dân ở đồng bằng Bắc Bộ không dùng.Ngày nay người ta dùng máy xay xát cho nên cái cối xa lạ với học sinh Do

đó học sinh khó hình dung về hình dáng bao quát cũng như từng bộ phận củacối Mặc dù sách giáo khoa đã vẽ minh hoạ hình ảnh chiếc cối xay song đóchỉ là mô hình không rõ nét Nên chăng có thể chọn những bài văn tả đồ vật

có Ých, gần gũi hơn với học sinh để các em có góc nhìn tường tận, như vậybài học sẽ hiệu quả hơn

Ví dô 5: Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối (bài mẫu: Bãi ngô),

ngữ liệu cũng có những điểm sau chưa phù hợp:

Ghi nhớ của bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối trong sách giáo

khoa như sau:

Bài văn miêu tả cây cối thường có 3 phần:

1 Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây.

2 Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển của cây.

3 Kết bài: Có thể nêu lợi Ých của cây, Ên tượng đặc biệt hoặc tình cảm của người tả với cây.

Xét cấu tạo của bài Bãi ngô, bài có 3 đoạn văn:

Đoạn 1: Tác giả tả bãi ngô khi cây còn nhỏ và mới lớn

Trang 16

Đoạn 2: Tả bãi ngô khi cây ra hoa và kết quả.

Đoạn 3: Tả bãi ngô khi bắp đã già, có thể thu hoạch

Nh vậy, bài có ba đoạn văn tương ứng với ba giai đoạn phát triểncủa cây ngô

Nếu đối chiếu cấu tạo của bài Bãi ngô với bài học cần ghi nhí cho học

sinh tiểu học thì bài văn có những điểm chưa phù hợp nh sau:

(1) Ba đoạn văn của bài tả ba giai đoạn phát triển của cây ngô Đây làmột cách viết phần thân bài trong bài văn miêu tả cây cối mà phần ghi nhớ

của bài đã nêu (tả từng thời kì phát triển của cây) Nh vậy, toàn bộ ba đoạn

văn của bài Bãi ngô đều là phần thân bài trong bài văn miêu tả cây cối Do

đó, có thể nói, bài Bãi ngô chưa có phần mở bài và phần kết bài.

(2) Nếu chúng ta chấp nhận đoạn 1 của bài văn là phần mở bài nh giáoviên hướng dẫn học sinh trong thực tế dạy học hiện nay thì đoạn văn cónhững điểm sau chưa phù hợp:

Giữa phần mở bài và phần thân bài của bài văn không có sự cân đối cả

về nội dung và hình thức Mở bài của bài văn có 4 câu, thân bài cũng có 4 câu

Để cấu tạo nên một bài văn, cả hai phần mở bài và thân bài đều quan trọng.Tuy nhiên, chúng ta thường dạy cho học sinh tiểu học phần thân bài có nộidung lớn hơn, hình thức đoạn văn dài hơn phần mở bài Ngoại trừ những bàivăn dành cho học sinh ở các bậc học cao hơn

Theo ghi nhớ của bài: Mở bài: Tả (bao quát) hoặc giới thiệu bao quát

về cây thì đoạn 1 của bài văn này lại tả tương đối cụ thể về cây ngô giai đoạn

còn bé đến lúc đã lớn do đó đoạn văn này chưa tiêu biểu

(3) Có tác giả cho rằng đoạn ba của bài văn là một cách kết bài tựnhiên Tuy nhiên, đối với học sinh tiểu học cần rõ ràng, tiêu biểu Do đó, nếuđối chiếu nội dung đoạn văn thứ ba với nội dung cần ghi nhí (cho phần kếtbài) thì đoạn văn này chưa thực sự phù hợp

Trang 17

Ví dô 6 : Bài "Cấu tạo của bài văn tả cảnh" - líp 5 (bài mẫu: Hoàng

hôn trên sông Hương), theo chúng tôi, ngữ liệu của bài dạy có những điểmchưa phù hợp nh sau:

(1) Bài văn này dài về dung lượng, học sinh mất nhiều thời gian để tìmhiểu trong khi thời lượng của một tiết học hạn chế Do đó, thời gian để họcsinh luyện tập không nhiều

Bài văn có nhiều chi tiết nghệ thuật, học sinh tiểu học chưa đủ năng lực

để cảm thụ

Bài văn mang tính nghệ thuật cao, khó hiểu đối với học sinh tiểu học

(2) Phần thân bài của bài văn

Ghi nhí cho phần thân bài của bài văn tả cảnh trong sách giáo khoa là

"Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian".

Trình tù miêu tả của bài văn này như sau:

Đoạn 1: "Mùa thu hai hàng cây": Tả sự thay đổi sắc màu của sôngHương từ lúc bắt đầu hoàng hôn cho đến lúc tối hẳn

Đoạn 2: "Phía bên sông khoảnh khắc yên tĩnh của buổi chiều cũngchấm dứt": Tả hoạt động của con người trên sông và bên bờ sông lừ lúc bắtđầu hoàng hôn cho đến khi thành phố lên đèn

Như vậy, bài có hai đoạn văn cùng miêu tả ở một thời điểm đó là từ lúcbắt đầu hoàng hôn cho đến lúc tối hẳn (thành phố lên đèn) nhưng chỉ có đoạn

1 tả sự thay đổi của cảnh (sự thay đổi sắc màu sông Hương) còn đoạn 2 lại tảhoạt động của con người trên sông và bên bờ sông Vì thế học sinh khó có thểnhận ra trình tự miêu tả của bài văn này và càng khó để đưa ra một nhận xétcho bài văn tả cảnh nói chung Đó là một điểm chưa thật phù hợp với ghi nhớcủa bài

(3) Phần kết của bài văn

Ghi nhí trong sách giáo khoa cho phần kết bài của một bài văn tả cảnh

Trang 18

là "Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết".

Phần kết của bài Hoàng hôn trên sông Hương, tác giả nêu cảm nhận

của mình về nhịp sống của Huế sau hoàng hôn Đây có thể là một cách kếtthúc tự nhiên, song đối với học sinh líp 5, các em sẽ khó khăn khi rót ra nhậnxét về cấu tạo của bài văn tả cảnh

Cấu tạo của một bài văn tả cảnh gồm ba phần (mở bài, thân bài, kếtbài) Dấu hiệu hình thức để học sinh nhận ra các phần của bài văn là hết mộtđoạn văn thì chấm xuống dòng và viết lùi ở đầu đoạn tiếp theo Nh vậy, nhờ

dấu hiệu hình thức, học sinh có thể nhận ra phần kết của bài Hoàng hôn trên sông Hương Nhưng nếu dựa vào nội dung của đoạn, học sinh có thể lầm

tưởng đây vẫn là phần thân bài của bài văn bởi vì tác giả nói đến khoảngthời gian tiếp sau hoàng hôn

Nh vậy, học sinh lúng lúng, khó khăn khi rót ra nội dung chính chophần kết bài của bài văn tả cảnh nói chung

Có thể nói rằng, Hoàng hôn trên sông Hương là một bài văn hay.

Nhưng để khám phá và rót ra được kiến thức cần ghi nhớ chứa đựng trong đó,đối với trình độ học sinh líp 5, quả là khó khăn, phức tạp

c Nhận xét câu hỏi, bài tập ở các bài hình thành kiến thức tập làm văn

c 1 Yêu cầu của câu hỏi, bài tập ở các bài hình thành kiến thức tập làm văn

Phần nhận xét các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4-5 gồm

một hệ thống câu hỏi, bài tập gợi ý HS khảo sát ngữ liệu để tự rót ra kiến thứccần ghi nhí Do đó, yêu cầu cơ bản của các câu hỏi, bài tập ở phần này là phải

rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức đối với HS Đặc biệt, các câu hỏi ở phần này cònphải giúp HS khai thác đúng trọng tâm nội dung kiến thức chứa đựng trongngữ liệu, định hướng cho HS đi đến kiến thức cần ghi nhớ của bài Chúngphải tạo thành một hệ thống mà qua đó học sinh dần dần hình thành khái niệm

Trang 19

một cách tự nhiên thông qua con đường quy nạp.

Phần luyện tập gồm từ một đến ba bài tập thực hành đơn giản XÐt vềmục đích, có thể chia các bài tập luyện tập thành hai nhóm: các bài tập củng cốkiến thức (chủ yếu là bài tập nhận diện) và các bài tập rèn luyện kĩ năng vậndụng các khái niệm vừa học (bài tập vận dụng) Các bài tập này được sắp xếp từ

dễ đến khó, từ thấp đến cao, trong đó mức độ dễ nhất là nhận diện các kiến thức

ở phần ghi nhớ Mức độ khó hơn là các bài tập thực hành sử dụng các kiến thứcghi nhớ vào việc rèn kĩ năng sản sinh văn bản như: viết đoạn văn, lập dàn ý chomột kiểu bài, kể chuyện theo tình huống hoặc cốt truyện cho sẵn, kể lại câuchuyện đã học kết hợp miêu tả,…Lệnh bài tập cần phải rõ ràng, bài tập trước là

cơ sở cho bài tập sau Có nh vậy, học sinh mới nắm vững bài học Ngoài tácdụng củng cố kiến thức đã học, các bài tập luyện tập còn có tác dụng hệ thốnghoá và khái quát hoá những kiến thức đó, rèn luyện các thao tác tư duy lôgicphát triển cao hơn

c 2 Nhận xét hệ thống câu hỏi, bài tập

Nhờ hệ thống câu hỏi, bài tập gợi ý, học sinh nhận xét được ngữ liệu từ

đó hình thành khái niệm, rót ra nội dung kiến thức cần ghi nhí Các bài tậpphần luyện tập cũng đã đảm bảo yêu cầu đặt ra Nhiều bài tập gợi ý rất cụ thểcách thực hiện Các hình thức bài tập ở mỗi bài học còng đa dạng, phong phú,tạo hứng thú cho học sinh Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi, bài tập trong sáchgiáo khoa còn mang tính định hướng chung, chưa gợi ý cụ thể và mang tínhkhái quát cao Sau đây là một số ví dụ:

Ví dô 1: Bài Thế nào là kể chuyện

Bài tập 1: Trên đường đi học về, em gặp một người phụ nữ vừa bế con vừa mang nhiều đồ đạc Em đã giúp cô Êy xách đồ đi một quãng đường Hãy

kể lại câu chuyện đó.

Bài tập này không có gợi ý để định hướng cho câu chuyện, không

Trang 20

hướng dẫn xác định những sự việc chính Do đó, khi kể, học sinh dễ sa đà, kể

lể mà không có cốt truyện

Ví dô 2: Bài Nhân vật trong truyện

Phần nhận xét:

Bài tập 2: Nêu nhận xét về tính cách của các nhân vật:

a) Dế Mèn (trong truyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu).

b) Mẹ con bà nông dân (trong truyện Sự tích hồ Ba Bể).

Căn cứ vào đâu mà em có nhận xét như vậy?

Mặc dù học sinh đã được làm quen với các nhân vật này trong giờ tậpđọc hoặc kể chuyện nhưng câu hỏi này vẫn khó đối với học sinh ở chỗ họcsinh không biết căn cứ vào đâu để nêu nhận xét về tính cách của các nhân vật

- Bạn nhỏ nói trên biết quan tâm đến người khác.

- Bạn nhỏ nói trên không biết quan tâm đến người khác.

Ở bài tập này, từ ngữ người khác dùng chưa cụ thể, chính xác Có những học sinh không hiểu người khác ở đây là ai.

Ví dô 3: Bài Kể lại hành động của nhân vật

Bài tập 2 (phần nhận xét): Ghi vắn tắt những hành động của cậu bé bị

điểm không trong truyện Bài văn bị điểm không Theo em, mỗi hành động

của cậu bé nói lên điều gì?

Ở bài tập này, câu hỏi Theo em, mỗi hành động của cậu bé nói lên điều

gì chưa rõ ràng khiến học sinh khó trả lời.

Trang 21

Ví dô 4: Bài Tả ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện

Bài tập 2 (phần luyện tập): Kể lại câu chuyện Nàng tiên Èc kết hợp tả

ngoại hình của các nhân vật.

Mặc dù học sinh đã kể bằng lời của mình câu chuyện Nàng tiên Èc

trong giờ kể chuyện, các em đã nắm được tình tiết, cốt truyện nhưng bài tậpnày đối với các em vẫn khó và dài bởi lẽ:

- Bài tập không có câu hỏi hướng dẫn

- Trong mét khoảng thời gian ngắn như vậy, học sinh vừa phải kể lạitoàn bộ câu chuyện vừa phải kết hợp tả ngoại hình của các nhân vật Điều này

dễ gây áp lực nặng nề cho học sinh

- Câu chuyện có ba nhân vật: bà cụ, con ốc và nàng tiên học sinh phảikết hợp miêu tả ngoại hình của cả ba nhân vật Điều này tương đối khó bởikhi miêu tả, học sinh phải chọn những nét tiêu biểu nhất của nhân vật, phảichắt lọc câu, từ và phải chọn thời điểm thích hợp để tả

- Đối với những học sinh trung bình, yếu, có thể các em không còn nhớ

rõ cốt truyện do đó việc kể lại câu chuyện cũng đã khó nhưng việc kết hợp

miêu tả lại càng khó hơn

Ví dô 5: Bài Cốt truyện

Bài tập 3 (phần nhận xét): Cốt truyện gồm những phần nào? Nêu tác dụng của từng phần?

Bài tập này mang tính khái quát rất cao, lại không có câu hỏi hướng

dẫn nên rất khó Đặc biệt, câu hỏi Nêu tác dụng của từng phần quá khó đối

Trang 22

câu chuyện có nhiều sự việc nhỏ với nhiều lời thoại đặc biệt là sự việc 3.

- Do khó xác định sự việc chính thứ ba nên học sinh khó xác định đoạnvăn thứ ba của bài

Bài tập 3 phần a: Mỗi đoạn văn trong bài văn kể chuyện kể điều gì?

Do ngữ liệu của bài tập 1 không tiêu biểu, học sinh khó xác định sựviệc chính cũng như đoạn văn nêu sự việc đó cho nên học sinh khó trả lời mỗiđoạn văn trong bài văn kể chuyện kể điều gì

Ví dô 7: Bài Thế nào là miêu tả

Phần nhận xét:

Bài tập 1: Đoạn văn sau miêu tả những sự vật nào?

Câu hỏi này dễ khiến học sinh nhầm lẫn Học sinh sẽ tìm tất cả các từchỉ sự vật được nói đến trong đoạn văn (cây sòi, cây cơm nguội, những chiếc

lá, lạch nước, tảng đá, gốc cây) Trong khi đó, đoạn văn chỉ miêu tả ba sự vậtlà: cây sòi, cây cơm nguội và lạch nước

Phần luyện tập:

Bài tập 1: Tìm những câu văn miêu tả trong truyện Chú Đất Nung.

Lệnh bài tập này không cụ thể làm HS mất nhiều thời gian không cần thiết

Câu chuyện Chú Đất Nung rất dài, bao gồm hai phần ở hai trang xa nhau do đó

HS không tiện quan sát để tìm câu văn miêu tả Hơn nữa, toàn bộ câu chuyện chỉ

có một câu văn miêu tả chú Đất Nung ở phần đầu câu chuyện mà thôi

Ví dô 8: Học sinh cũng gặp những khó khăn và sai sót khi trả lời các câu hỏi và bài tập phần nhận xét của bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối.

Câu hái 2: Đọc lại bài "Cây mai tứ quý" Trình tự miêu tả trong bài

Êy có điểm gì khác bài "Bãi ngô"?

Để so sánh được sự khác nhau trong trình tự miêu tả ở hai bài văn, họcsinh phải tìm hiểu trình tự miêu tả ở mỗi bài (tức là phải xác định cấu tạo baphần và nội dung từng phần ở mỗi bài văn) Trong khi đó, sách giáo khoa và

Trang 23

sách giáo viên chỉ đặt ra yêu cầu xác định đoạn văn và nội dung từng đoạn ởhai bài văn sau đó so sánh sự khác nhau trong trình tự miêu tả Làm như vậychưa rõ ràng, cụ thể bởi học sinh líp 4 mới được làm quen với lý thuyết vềcấu tạo một bài văn.

Do ba đoạn văn của bài Bãi ngô tả cây ngô ở ba giai đoạn phát triển nối

tiếp nhau cho nên khi so sánh, học sinh gặp những khó khăn và sai sót sau:

+ So sánh cho phần mở bài.

Mở bài (đoạn 1) của bài Bãi ngô, tác giả tả cụ thể bãi ngô khi cây còn

nhỏ và mới lớn (tả giai đoạn phát triển thứ nhất của cây ngô) Còn mở bài của

bài Cây mai tứ quý, tác giả lại giới thiệu bao quát về cây mai Nh vậy, cách

mở bài ở hai bài văn khác nhau Điều này khiến học sinh khó rót ra một nhậnxét chung cho phần mở bài của bài văn miêu tả cây cối

Ở đoạn 1 của bài Bãi ngô, tác giả có giới thiệu bao quát về bãi ngô

nhưng chỉ là một ý rất nhỏ trong đoạn Điều này dễ khiến học sinh mắc sai sótkhi rót ra một điểm chung rằng phần mở bài ở cả hai bài văn đều giới thiệu

bao quát về cây sẽ tả (trong khi chỉ có một bài Cây mai tứ quý).

+ So sánh cho phần thân bài.

Học sinh dễ dàng rót ra được trình tự miêu tả cho phần thân bài của bài

văn Cây mai tứ quý là tả từng bộ phận của cây.

Đối với bài Bãi ngô, phần thân bài (đoạn 2) chỉ là một giai đoạn trong

ba giai đoạn phát triển của cây ngô do đó học sinh rất khó để rót ra trình tựmiêu tả cho phần thân bài

+ So sánh cho phần kết bài.

Phần kết bài của bài Bãi ngô, tác giả tả bãi ngô khi bắp đã già, có thể

thu hoạch, hoa và lá cũng đến độ tàn (giai đoạn cuối cùng của cây ngô) Còn

phần kết bài của bài Cây mai tứ quý, tác giả nêu cảm nghĩ của mình về cây

mai Nh vậy, hai bài văn là hai cách kết bài khác nhau Điều này cũng khiến

Trang 24

học sinh khó rót ra nhận xét cho phần kết bài của bài văn miêu tả cây cối.

Câu hái 3: Từ cấu tạo của hai bài văn trên, rót ra nhận xét về cấu

tạo của một bài văn miêu tả cây cối.

Học sinh có thể nêu được cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối gồm 3phần (mở bài, thân bài, kết bài) nhưng nh đã đề cập ở trên, học sinh khó cóthể đưa ra nội dung chính cho từng phần

Mặc dù dưới sự gợi mở, dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể rót ranhận xét về cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối nhưng chắc chắn rằng các em

sẽ cảm thấy chưa thoả đáng về ví dụ mà bài Bãi ngô đã minh hoạ.

Ví dô 9: Bài Cấu tạo của bài văn tả cảnh

Phần nhận xét:

Bài tập 1

Yêu cầu của bài tập là: Đọc và tìm các phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn.

Khi trả lời, học sinh gặp những khó khăn sau:

Học sinh phải tìm các đoạn văn tương ứng với các phần mở bài, thânbài, kết bài của bài văn

Bài tập không đặt ra yêu cầu nêu nội dung từng phần của bài Hoàng hôn trên sông Hương nhưng để rót ra ghi nhớ (nội dung cho từng phần mở

bài, thân bài, kết bài trong bài văn tả cảnh), học sinh phải nắm được nội dungcác phần của bài văn này

Bài tập không đặt ra yêu cầu nêu thứ tự miêu tả của bài Hoàng hôn trên sông Hương nhưng để trả lời được bài tập 2 (so sánh thứ tự miêu tả ở

hai bài văn) học sinh phải nắm được thứ tự miêu tả của bài văn này

Nếu giáo viên không hướng dẫn, gợi ý cụ thể, học sinh sẽ gặp nhiềukhó khăn và chỉ trả lời yêu cầu bài tập đặt ra mà thôi

Bài tập 2

Trang 25

(1) Về ngữ liệu của bài tập:

Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa không có phần kết bài do đó khi

nhận xét cấu tạo ba phần của bài văn tả cảnh, học sinh sẽ có những băn khoăn

vì bài Hoàng hôn trên sông Hương thì có cấu tạo ba phần còn bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa chỉ có hai phần.

(2) Về yêu cầu của bài tập:

Yêu cầu của bài tập là: Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì khác với

bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa mà em đã học? Từ hai bài văn đó, hãy

rót ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh.

Câu hỏi này rất khó, lại không gợi ý Để trả lời được học sinh phải thựchiện nhiều thao tác:

+ Tìm hiểu cấu tạo của bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa, nội dung

chính của các phần trong bài văn này từ đó mới rót ra được nhận xét về cấutạo của bài văn tả cảnh nói chung

+ Nắm được thứ tự miêu tả của bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa

mới sánh được sự khác nhau ở hai bài văn

Như vậy, nếu không được hướng dẫn cụ thể các thao tác theo một trình

tự lôgíc, hệ thống câu hỏi phù hợp, học sinh có thể rót ra cÊu tạo của bài văn

tả cảnh gồm ba phần nhưng rất khó để bật ra nội dung chính của mỗi phầntrong bài văn Những công việc này sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn nếu ngữ liệutiêu biểu, phù hợp

Phần luyện tập:

Yêu cầu của bài tập : Nhận xét về cấu tạo của bài văn Nắng trưa.

Lệnh của bài tập không cụ thể do đó HS thường hiểu là chỉ cần xácđịnh cấu tạo ba phần của bài văn nên các em không xác định nội dung chínhcủa từng phần

d Nhận xét ghi nhí

Trang 26

Phần Ghi nhớ ở các bài hình thành kiến thức tập làm văn bao gồmnhững kiến thức cơ bản, cần ghi nhớ được rót ra từ phần nhận xét Cáckiến thức ở phần này càng chính xác, khoa học càng tốt Tuy nhiên, cầnchú ý tới khả năng tư duy của trẻ và chú ý tới mục đích cuối cùng của việcdạy tiếng (bao gồm cả mục đích cuối cùng của việc hình thành khái niệm)

là hình thành kĩ năng sử dụng lời nói cho học sinh Vì vậy, các ghi nhớphải được diễn đạt tường minh, dễ hiểu, không vì quá chú trọng tới yêucầu lôgic mà bỏ qua tính sư phạm, tính vừa sức trong dạy học Không đưacác kiến thức lí thuyết phức tạp vào chương trình để tránh quá tải so vớikhả năng của học sinh Tuy nhiên, phần ghi nhớ ở một số bài hình thànhkiến thức tập làm văn lớp 4 diễn đạt còn khó hiểu, chưa cụ thể, chẳng hạn

bài Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật, bài Kể lại hành động của nhân vật, bài Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật.

1.2.3 Phương pháp dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn líp 4-5 qua sách giáo viên

Ngoài cuốn sách giáo viên là tài liệu hướng dẫn dạy học của Bộ Giáodục và Đào tạo, hiện nay còn có rất nhiều cuốn thiết kế bài giảng của các tácgiả (sau đây gọi chung là sách giáo viên)

Ở một số bài, sách giáo viên đã có những câu hỏi gợi ý triển khai bàihọc rất cụ thể Tuy nhiên, đó chỉ là số Ýt Nhìn chung, các tài liệu hướng dẫn

về cơ bản đã giúp giáo viên cách tổ chức giờ học, mang lại hiệu quả nhấtđịnh Song cách tổ chức giờ học được giới thiệu trong sách giáo viên chỉ

là một phương án, một sự gợi ý, không phải là phương án duy nhất dùng hiệuquả cho tất cả các đối tượng, vùng miền Do đó, tuỳ trình độ thực tế của họcsinh, giáo viên phải lựa chọn cách tổ chức dạy học sao cho phù hợp

Để trả lời các câu hỏi, bài tập dẫn đến hình thành khái niệm thì các câu

Trang 27

hỏi gợi mở rất quan trọng Trong khi đó, ở nhiều bài, sách giáo viên không giớithiệu hệ thống câu hỏi dẫn dắt mà chỉ nêu câu hỏi định hướng chung nh sáchgiáo khoa Vì vậy, việc xây dựng các câu gợi mở để hình thành kiến thức tậplàm văn, giúp HS chiếm lĩnh nội dung bài học dễ dàng hơn là hết sức cần thiết.

Trang 28

2.1 Chuẩn bị kế hoạch dạy học

Để có thể tổ chức dạy học trên lớp đạt hiệu quả cao, khâu chuẩn bị cóvai trò rất quan trọng Giáo viên có thể chuẩn bị theo quy trình:

2.1.1 Xác định mục tiêu

2.1.1.1 Xác định mục tiêu, nội dung bài dạy

Xác định mục tiêu, nội dung bài dạy là một công việc đặc biệt quantrọng Xác định rõ những nội dung chính của bài từ đó có cơ sở để xác địnhmục tiêu về kiến thức, kĩ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được trong mỗi bàihọc Để dạy tốt các bài hình thành kiến thức tập làm văn, cần lưu ý một sốđiểm sau:

- Đặt nội dung kiến thức được dạy ở bài cụ thể trong mối quan hệ vớinội dung các bài trước hoặc sau đó Như vậy, học sinh mới có thể nắm vữngkiến thức, kĩ năng làm bài kể chuyện một cách có hệ thống

- Xác định mục đích, yêu cầu của bài dạy trong quan hệ với mục tiêucủa phân môn Tập làm văn và mục tiêu môn Tiếng Việt: rèn kĩ năng sử dụngtiÕng Việt, cụ thÓ là giúp học sinh có kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết).Như vậy, đích cuối cùng của bài hình thành kiến thức tập làm văn là học sinhphải biết vận dụng kiến thức đã học vào thực hành nói, viết

2.1.1.2 Xác định mục tiêu từng phần (nhận xét, ghi nhớ và luyện tập)

Mỗi phần đều nhằm hướng tới mục tiêu chung của bài, bởi vậy, cần xácđịnh rõ để quan tâm thực hiện

Trang 29

Phần nhận xét: giúp học sinh hình thành kiến thức mới.

Phần ghi nhí: cung cấp cho học sinh những khái niệm, kiến thức cơbản, cần thiết và cần ghi nhí

Phần luyện tập: giúp học sinh củng cố và vận dụng kiến thức vừa tiếp nhận.Nếu giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện tốt các bài tập, các câu hỏiđịnh hướng phần nhận xét thì các em sẽ hiểu và nắm vững kiến thức cần ghi nhítrong bài Công việc này cần được quan tâm, đầu tư thích đáng Cần làm sao để tất

cả các học sinh trong lớp đều đọc ngữ liệu và trả lời được các câu hỏi định hướng.Tránh tình trạng giáo viên chỉ yêu cầu một số học sinh khá giỏi làm nhanh, cáchọc sinh khác chấp nhận đáp án Ở phần luyện tập, giáo viên cũng nên dành thờigian thích đáng cho bài tập vận dụng vì mục đích cuối cùng của việc dạy tiếng ởtiểu học là rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho nên nhóm bàitập này quan trọng hơn và cần được dành nhiều thời gian hơn bài tập nhận diện.Tuy nhiên, giáo viên cũng cần căn cứ vào nội dung từng bài tập và đối tượng tiếpnhận để tổ chức thực hiện cho phù hợp

2.1.1.3 Xác định mục tiêu của từng câu hỏi, bài tập trong mỗi phần

Các câu hỏi, bài tập trong từng phần (nhận xét, luyện tập) đều nhằmhướng tới mục tiêu chung của bài Tuy nhiên, nhiệm vụ cụ thể của câu hỏi,bài tập ở mỗi phần khác nhau Các câu hỏi, bài tập ở phần nhận xét giúp họcsinh khai thác ngữ liệu, dẫn đến hình thành khái niệm, kiến thức mới Ở phầnluyện tập, các bài tập giúp học sinh củng cố, vận dụng và hệ thống hoá nhữngkiến thức vừa học Do đó, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của từng câuhỏi, bài tập để lựa chọn cách thức thực hiện cho phù hợp

Trang 30

Tính cách nhân vật được kể qua lời nói, hành động, ý nghĩ của nhân vật,…Như vậy, học sinh mới có thể nắm vững kiến thức, nắm vững kĩ năng làm bàivăn kể chuyện một cách có hệ thống.

Học xong bài này, khi kể chuyện, học sinh phải biết chọn những nét tiêubiểu để tả ngoại hình nhân vật Nghĩa là, các em biết kết hợp tả ngoại hình đểthể hiện tính cách nhân vật trong kể chuyện để câu chuyện thêm sinh động

Phần nhận xét, học sinh được tìm hiểu ngữ liệu theo câu hỏi định

hướng để tự rót ra kiến thức cần nắm: Các đặc điểm ngoại hình của nhân vật góp phần thể hiện tính cách nhân vật Câu hái 1 là tiền đề để thực hiện câu

hái 2 Học sinh phải tìm được những đặc điểm ngoại hình của chị Nhà Trò thì

từ đó mới khái quát được tính cách, thân phận của nhân vật này qua ngoại

hình (Câu hỏi 1: Ghi vắn tắt đặc điểm ngoại hình của chị Nhà Trò Câu hái 2: Ngoại hình của chị Nhà Trò nói lên điều gì về tính cách và thân phận của nhân vật này?).

Phần luyện tập của bài có hai bài tập Bài tập 1 giúp củng cố kiến thức

vừa học trong bài (Đoạn văn sau miêu tả ngoại hình của một chú bé liên lạc cho bộ đội trong kháng chiến Tác giả đã chú ý miêu tả những chi tiết nào? Các chi tiết Êy nói lên điều gì về chú bé?) Ngoài tác dụng củng cố kiến thức

ở phần ghi nhớ, ngữ liệu bài tập 1 còn là mẫu miêu tả ngoại hình nhân vật khi

kể chuyện Do vậy bài tập 1 là bước chuẩn bị cho việc thực hiện bài tập 2 (Kể

lại câu chuyện Nàng tiên Èc kết hợp miêu tả ngoại hình của nhân vật) Có

thể nói, tất cả những công việc đã làm trong giờ học nhằm hướng tới giúp họcsinh thực hiện được bài tập này: vận dụng những hiểu biết ở phần ghi nhí, biết

tả ngoại hình nhân vật nàng tiên ốc và bà cụ,…

2.1.2 Làm đáp án mẫu, chỉ ra thứ tự các thao tác cần thực hiện

Giáo viên phải chuẩn bị những lời giải mẫu cho các câu hỏi, bài tập ở

mỗi phần (nhận xét, luyện tập) nhằm cung cấp cho học sinh những đáp án

Trang 31

cuối cùng chính xác, đầy đủ Giáo viên cũng cần xác định được các bước màmình đã thực hiện theo thứ tự trước, sau để có những đáp án đó Công việcnày không kém phần quan trọng bởi qua đó giáo viên dự tính được những khókhăn, sai sót mà học sinh có thể mắc khi trả lời các câu hỏi, bài tập từ đó lựachọn được cách tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với đối tượng học sinh

và chủ động trong quá trình dạy học

2.1.3 Dự tính những khó khăn của học sinh, những lỗi học sinh có thể mắc khi làm bài tập và xác định nguyên nhân, đưa ra cách điều chỉnh, hướng dẫn

Những khó khăn, sai sót mà học sinh thường gặp trong quá trình tìmhiểu ngữ liệu để hình thành kiến thức mới cũng như khi thực hiện các bài tậpphần luyện tập, chúng tôi đã đề cập ở phần b và c, mục 1.2.2.2, chương 1 của

đề tài Trong phần này, chúng tôi đưa ra một số phương pháp điều chỉnh đểphù hợp với đối tượng học sinh

2.1.3.1 Những lỗi, những khó khăn do ngữ liệu không tiêu biểu,

GV có thể khắc phục bằng cách điều chỉnh, thay ngữ liệu

Sau đây là một số ngữ liệu tham khảo có thể thay thế một số ngữ liệuchưa tiêu biểu, chưa thật phù hợp với kiến thức tập làm văn cần dạy và chưaphù hợp với đối tượng HS

a 1 - Ngữ liệu cho bài Cốt truyện và bài Đoạn văn trong bài văn

kể chuyện (Tiếng Việt 4, tuần 4+5)

Sức lao động chân chính

1 Ngày xưa, có một nông dân người Chăm rất siêng năng Về già, ông

để dành được một hũ bạc Tuy vậy, ông rất buồn vì cậu con trai lười biếng

Một hôm, ông bảo con:

- Cha muốn trước khi nhắm mắt thấy con kiếm nổi bát cơm Con hãy đilàm và mang tiền về đây

Trang 32

2 Bà mẹ sợ con vất vả, liền dúi cho mét Ýt tiền Anh này cầm tiền đichơi mấy hôm, khi chỉ còn vài đồng mới trở về đưa cho cha Người cha vứtngay nắm tiền xuống ao Thấy con vẫn thản nhiên, ông nghiêm giọng:

- Đây không phải tiền con làm ra

3 Người con lại ra đi Bà mẹ chỉ dám cho Ýt tiền ăn đường Ăn hếttiền, anh ta đành tìm vào một làng xin xay thóc thuê Xay một thúng thócđược trả công hai bát gạo, anh chỉ dám ăn một bát Suốt ba tháng, dành dụmđược chín mươi bát gạo, anh bán lấy tiền

4 Hôm đó, ông lão đang ngồi sưởi lửa thì con đem tiền về Ông liềnném luôn mấy đồng vào bếp lửa Người con vội thọc tay vào lửa lấy ra Ônglão cười chảy nước mắt:

- Bây giê cha tin tiền đó chính tay con làm ra Có làm lụng vất vả,người ta mới biết quý đồng tiền

5 Ông đào hũ bạc lên, đưa cho con và bảo:

- Nếu con lười biếng, dù cha cho một trăm hũ bạc cũng không đủ Hũbạc tiêu không bao giờ hết chính là hai bàn tay con

Truyện Cổ tích Chăm [31]

Truyện có 5 sự việc chính:

- Sự việc 1 (đoạn 1): Người cha buồn vì cậu con trai lười biếng, ôngyêu cầu con đi làm để tự kiếm tiền

- Sự việc 2 (đoạn 2): Người con cầm tiền của mẹ đi chơi, còn Ýt mang

về, người cha không chấp nhận

- Sự việc 3 (đoạn 3): Người con đi xay thóc thuê, dành dụm được Ýttiền mang về

- Sự việc 4 (đoạn 4): Người cha ném tiền vào bếp để thử lòng con

- Sự việc 5 (đoạn 5): Ông tin tưởng trao cho con hũ bạc mà mình đãdành dụm

Trang 33

Ông tổ nghề thêu

1 Hồi còn nhỏ, cậu bé Trần Quốc Khái rất ham học Cậu học cả khi điđốn củi, lúc kéo vó tôm Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào

vỏ trứng lấy ánh sáng đọc sách Chẳng bao lâu, Khái đỗ tiến sĩ, rồi làm quan

to trong triều đình nhà Lê

2 Một lần, Trần Quốc Khái được triều đình cử đi sứ bên Trung Quốc.Vua Trung Quốc muốn thử tài sứ thần, sai dựng một cái lầu cao, mời ông lênchơi, rồi cất thang đi Không con lối xuống, ông đành ở lại trên lầu Lầu chỉ

có hai pho tượng Phật, hai cái lọng, một bức trướng thêu ba chữ “Phật tronglòng” và một vò nước

3 Bụng đói mà không có cơm ăn, Trần Quốc Khái lÈm nhÈm đọc bachữ trên bức trướng, rồi mỉm cười Ông bẻ tay pho tượng nếm thử thì ra haipho tượng Êy nặn bằng bột chè lam Từ đó ngày hai bữa, ông cứ ung dung bẻdần tượng mà ăn Nhân được nhàn rỗi, ông mày mò quan sát, nhớ nhập tâmcách thêu và làm lọng

4 Học được cách thêu và làm lọng rồi, ông tìm đường xuống Thấynhững con dơi xoè cánh chao di chao lại nh chiếc lá bay, ông liền nhảy xuốngđất bình an vô sự.Vua Trung Quốc khen ông là người có tài, đặt tiệc to tiễn vềnước

5 Về đến nước nhà, Trần Quốc Khái truyền dạy cho dân nghề thêu vàlàm lọng Dần dần, nghề thêu lan rộng khắp nơi Nhân dân vùng Thường Tínquê ông lập đền thờ và tôn ông là ông tổ nghề thêu

Trang 34

trên một lầu cao để thử tài.

- Sự việc 3 (đoạn 3): Hàng ngày, ông học cách thêu và làm lọng trên lầu cao

- Sự việc 4 (đoạn 4): Ông tìm được cách xuống đất và được vua TrungQuốc khen ngợi

- Sự việc 5 (đoạn 5): Ông truyền dạy cho nhân dân ta nghề thêu vàlàm lọng

Người đi săn và con vượn

1 Ngày xưa có một người săn bắn rất tài Nếu con thú rừng nàokhông may gặp bác ta thì hôm Êy coi nh ngày tận số

2 Một hôm, người đi săn xách nỏ vào rừng Bác thấy một con vượnlông xám đang ngồi ôm con bên tảng đá Bác nhẹ nhàng rút mũi tên bắntrúng vượn mẹ Vượn mẹ giật mình, hết nhìn mũi tên lại nhìn về phíangười đi săn bằng đôi mắt căm giận, tay không rời con Máu ở vết thương

rỉ ra lan khắp ngực

Người đi săn đứng im chờ kết quả

3 Bỗng vượn mẹ nhẹ nhàng đặt con xuống, vơ vội nắm bùi nhùi gốilên đầu con, rồi nó hái cái lá to, vắt sữa vào và đặt lên miệng con

Sau đó, vượn mẹ nghiến răng, giật phắt mũi tên ra, hét lên một tiếngthật to rồi ngã xuống

4 Người đi săn đứng lặng Hai giọt nước mắt từ từ lăn trên má Báccắn môi, bẻ gãy nỏ và lẳng lặng quay gót ra về

Từ đấy, bác không bao giờ đi săn nữa

Theo LÐp Tôn – Xtôi [31]

Câu chuyện ngắn gọn, các sự việc rành mạch Có 4 sự việc chính:

- Sự việc 1 (đoạn 1): giới thiệu bác thợ săn tài giỏi

Trang 35

- Sự việc 2 (đoạn 2): bác thợ săn bắn trúng vượn mẹ.

- Sự việc 3 (đoạn 3): vượn mẹ vắt sữa cho con uống rồi chết thảm

- Sự việc 4 (đoạn 4): bác thợ săn hối hận, bẻ gãy nỏ và không bao giờ

đi săn nữa

Cuộc chạy đua trong rừng

1 Ngày mai, muông thú trong rừng mở hội thi chạy để chọn con vậtnhanh nhất

Ngựa Con thích lắm Chú tin chắc sẽ giành được vòng nguyệt quế Chúsửa soạn không biết chán và mải mê soi bóng mình dưới dòng suối trong veo.Hình ảnh chú hiện lên với bộ đồ nâu tuyệt đẹp, với cái bờm dài được chảichuốt ra dáng một nhà vô địch

2 Ngựa cha thấy thế, bảo:

- Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng Nó cần thiếtcho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp

Ngựa con mắt không rời bóng mình dưới nước, ngúng nguẩy đáp:

- Cha yên tâm đi Móng của con chắc lắm Con nhất định sẽ thắng mà !

3 Cuộc thi đã đến Sáng sớm, bãi cỏ đông nghẹt Chị em nhà Hươu sốtruột gặm lá Thỏ Trắng, Thỏ Xám thận trọng ngắm nghía các đối thủ BácQuạ bay đi, bay lại giữ trật tự Ngựa Con ung dung bước vào vạch xuất phát

4 Tiếng hô “Bắt đầu !” vang lên các vân động viên rần rần chuyểnđộng Vòng thứ nhất vòng thứ hai Ngựa Con dẫn đầu bằng những bước sảidài khoẻ khoắn Bỗng chú có cảm giác vướng vướng ở chân và giật mìnhthảng thốt: một cái móng lung lay rồi rời hẳn ra Gai nhọn đâm vào chân làmngựa Con đau điếng Chú chạy tập tễnh và cuối cùng dừng hẳn lại Nhìn bạn

bè lướt qua mặt, Ngựa Con đỏ hoe mắt, ân hận vì không làm theo lời cha dặn

Ngựa Con rót ra được bài học quý giá: đừng bao giờ chủ quan, cho dù

đó là việc nhỏ nhất

Trang 36

Theo Xuân Hoàng [31]

Truyện có 4 sự việc chính:

- Sự việc 1 (đoạn 1): Ngựa Con chải chuốt chuẩn bị cho cuộc chạy đua

- Sự việc 2 (đoạn 2): Ngựa Cha khuyên con rèn lại bộ móng, Ngựa Conkhông nghe lời

- Sự việc 3 (đoạn 3): Các loài thú chuẩn bị xuất phát

- Sự việc 4 (đoạn 4): Ngựa Con bị đau chân và thua cuộc

3 Lần kia, gặp một người đi buôn, tiền bạc nhiều vô kể, Rít lại ước cóthật nhiều tiền Điều ước được thực hiện Nhưng có của, Rít luôn bị bọn cướprình rập Thế là tiền bạc cũng chẳng làm chàng vui

4 Chỉ còn điều ước cuối cùng Nhìn những đám mây bồng bềnh trêntrời, Rít ước bay được nh mây Chàng bay khắp nơi, ngắm cảnh trên trời, dướibiển Nhưng mãi rồi cũng chán, chàng lại thèm được trở về quê

5 Lò rèn của Rít lại đỏ lửa, ngày đêm vang tiếng búa đe Sống giữa sựquý trọng của dân làng, Rít thấy sống có Ých mới là điều đáng mơ ước

Truyện Cổ TÝch Ba Na [31]

Truyện ngắn gọn, có 5 sự việc chính:

- Sự việc 1 (đoạn 1): Chàng thợ rèn Rít được một tiên ông tặng cho bađiều ước

Trang 37

- Sự việc 2 (đoạn 2): Rít ước được trở thành vua nhưng lại chán.

- Sự việc 3 (đoạn 3): Rít ước có thật nhiều tiền nhưng cũng không vui

- Sự việc 4 (đoạn 4): Rít ước bay được nh mây nhưng rồi cũng chán

- Sự việc 5 (đoạn 5): Rít lại trở về quê làm thợ rèn, sống có Ých

a 2 - Ngữ liệu cho bài Thế nào là miêu tả (Tiếng Việt 4, tuần14)

Núi rừng Trường Sơn sau cơn mưa

Mưa ngớt hạt, rồi dần dần tạnh hẳn

Màn mây xám đục trên cao đã rách mướp, trôi dạt cả về một phương,

để lộ dần một vài mảng trời thấp thoáng xanh Một vài tia nắng hiếm hoi bắtđầu mừng rỡ rọi xuống Dưới mặt đất, nước mưa vẫn còn róc rách, lăn tăn,luồn lỏi chảy thành hàng ngàn vạn dòng mỏng manh, buốt lạnh Từ trong cácbụi rậm xa gần, những chú chồn, những con dũi với bộ lông ướt mềm, vừamừng rỡ, vừa lo lắng, nối tiếp nhau nhảy ra rồi biến mất Trên các vòm lá dàyướt đẫm, những con chim Klang mạnh mẽ, dữ tợn, bắt đầu dang những đôicánh lớn giũ nước phành phạch Cất lên những tiếng kêu khô sắc, chúng nhúnchân bay lên, làm cho những đám lá úa rơi rụng lả tả Xa xa, những chỏm núimàu tím biếc cắt chéo nền trời Một dải mây mỏng, mềm mại nh một dải lụatrắng dài vô tận, quấn ngang các chỏm núi nh quyến luyến, bịn rịn

Sau những trận mưa dầm rả rích, rừng núi Trường Sơn nh bừng tỉnh,cảnh vật nh thêm sức sống mới

Tiếng động

Trạng thái

Rách mướp, mỏng, mềm mại.

xám đục, trắng

Trôi dạt, quấn ngang

Quyến luyến, bịn rịn.

Trang 38

3 Nước mưa Máng manh Luồn lỏi,

chảy

Róc rách

Phành phạch, khô sắc

Bài văn có cấu tạo ba phần:

- Phần mở bài (câu văn đầu): Báo hiệu cơn mưa đã hết

- Phần thân bài: Tả cảnh vật núi rừng Trường Sơn sau cơn mưa

+ Trên trời: Màn mây…rọi xuống

+ Dưới đất: Dưới mặt đất…lả tả

+ Phía xa: Xa xa…bịn rịn

- Phần kết bài (đoạn còn lại): Cảm nhận của tác giả về sức sống của núirừng Trường Sơn sau những trận mưa dầm

a 3 - Ngữ liệu thay thế bài văn Cái cối tân

(Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật, Tiếng Việt 4, tuần 14)

Bài văn tả chiếc đồng hồ

Reng, reng,…một hồi chuông vang lên và kéo dài vào đúng sáu giờsáng để đánh thức tôi dậy đi học Các bạn có biết đó là vật gì không? Đóchính là chiếc đồng hồ có nhãn hiệu “Baby” mà ba đã tặng cho tôi đấy

Chiếc đồng hồ này rất đẹp Chú ta luôn diện bộ quần áo màu vàng bóngloáng trông rất oách Toàn thân hình chú được làm bằng nhựa cứng và chỉ tobằng hộp phấn màu mà thôi Quanh vòng đồng hồ, các em số từ một đến

Trang 39

mười hai được xếp thành hai hàng đều tăm tắp Trong mặt đồng hồ luôn có sựganh đua gữa ba anh em nhà kim Kim giờ là anh cả, đã béo múp thế kia lạikhông chịu giảm cân, chạy chậm rề rề Kim phót cao hơn một chút nên chạynhanh hơn Luôn đạt giải quán quân là anh kim giây, cũng có thể coi cậu là

em ót trong nhà Kim giây khá tinh nghịch và rất nhanh nhẹn Câu chạy đượcsáu mươi vòng thì anh phút chạy được một vòng và anh kim giờ nhích lênmột Ýt Chỉ cần thế cũng biết ba anh em nhà kim có tính cách khác hẳn nhauphải không các bạn? Nhưng ba anh em nhà họ yêu thương nhau lắm đấy

Đằng sau đồng hồ còn có nút hẹn giờ và nút vặn giờ Các bạn biết nguồnnăng lượng dồi dào đã giúp đồng hồ miệt mài làm việc là ai không? Đó là pinđấy! Tuy cậu ta nhỏ bé nhưng là người bạn giúp đồng hồ chạy đúng thời gian

Vào các dịp cuối tuần, tôi thường dọn dẹp căn phòng của mình vàkhông bao giờ quên lau chùi cho đồng hồ Chính vì vậy, đồng hồ lúc nào cũngsạch sẽ Cứ cuối tháng thì bạn pin vì say sưa công việc của mình nên sức cũngyếu dần, tôi phải thay cậu bạn khác vào để tiếp sức cho đồng hồ

Tuy đồng hồ kém tôi năm tuổi, nhưng tôi luôn coi đồng hồ nh ngườibạn cùng trang lứa

(Theo Thu Trang) [5]

Bài văn có cấu tạo ba phần:

- Phần mở bài (Reng, reng…cho tôi đấy): Giới thiệu chiếc đồng hồbáo thức

Trang 40

- Phần kết bài (đoạn còn lại): Tình cảm của tác giả đối với chiếc đồng

hồ của mình

Bài tả chiếc quạt đồ chơi chạy bằng pin

Một lần, khi đi công tác về, bố tặng em một chiếc quạt chạy bằng pin,thứ đồ chơi mà em rất thích

Chiếc quạt dài chừng một gang tay của em Quạt làm bằng nhựa tímtrong, lốm đốm nhũ trắng trông rất đẹp Bên ngoài chiếc quạt nổi bật nhữnghình vẽ ngộ nghĩnh: một chú bé mắt đen lay láy với đôi má đỏ đang cầm bútlông, một quả bóng đội mũ chóp cao, trên đỉnh gắn một bông hoa màu xanh

da trời nhuỵ đỏ…

Đầu nắp quạt có một sợi dây màu vàng dùng để đeo vào cổ Mở nắpquạt ra, em thấy hai cánh quạt mỏng nh mảnh giấy nhỏ, màu xanh lá cây nhạt.Cánh quạt được xÕp nghiêng để có thể quạt gió ra phía trước Dưới hai cánhquạt có một hộp động cơ bé tí với nhiều dây điện xanh đỏ chằng chịt Khimuốn khởi động chiếc quạt, em chỉ cần bật công tắc “on” Đầu tiên, đèn bêntrong thân quạt nhựa bật sáng Rồi hai cánh quạt nhựa xoè ra, quay tít, kêu ro

ro nghe thật êm tai Đưa quạt lên ngang má, em thích thú đón làn gió mát rượiphả vào mặt Khi muốn tắt quạt, em chỉ cần gạt núm công tắc sang bên “off”.Đèn vụt tắt, cánh quạt chạy chậm dần rồi dừng hẳn

Chiếc quạt được em mang đến lớp Các bạn chuyền tay nhau ngắmnghía rồi chạy thử, ai cũng thấy thích thú Tuy chỉ là một thứ đồ chơi nhỏ bénhưng chiếc quạt được em giữ gìn và sử dụng trong suốt cả mùa hè vì nó vừađẹp lại vừa tiện lợi biết bao

Theo Trần Mạnh Tường [11]

Bài văn có cấu tạo ba phần:

- Phần mở bài (Một lần…em rất thích): Giới thiệu chiếc quạt đồ chơi

Ngày đăng: 30/11/2014, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học tiếng Việt - Giáo trình dùng trong các trường sư phạm đào tạo GVTH, Vô GV, H, 1993 Khác
3. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán. Phương pháp dạy học tiếng Việt – NXBGD, H. 1996 Khác
4. BenjaminBloom (1956), Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục, NXBGD, 1995, Đoàn Văn Điều dịch Khác
5. Phan Phương Dung - Hướng dẫn làm bài tập làm văn 4, NXBĐHSP Khác
6. Phan Phương Dung - Hướng dẫn làm bài tập làm văn 5, NXBĐHSP Khác
7. Phan Phương Dung, Dạy bài hình thành kiến thức tập làm văn 4, TCGD 7/2005 Khác
8. Phan Phương Dung, Dạy bài hình thành kiến thức tập làm văn 5, TCGD 5/2006 Khác
9. Văn Giá, Nguyễn Nghiệp, Nguyễn Trí, Hoàng Hoà Bình- Văn miêu tả tuyển chọn, NXBGD, 2002 Khác
10. Dương Thị Hương - Bồi dưỡng cho GV tiểu học kĩ năng sử dụng câu hỏi trong dạy học Tiếng Việt - Chuyên đề tự chọn dành cho cao học chuyên ngành LL & PPDHTH, Tổ Khoa học xã hội Khác
11. Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Trí - Thực hành tập làm văn 4, NXBGD, 2006 Khác
12. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên) - Hướng dẫn dạy tập làm văn 5 phù hợp trình độ HS, NXB Trẻ, 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phô: - tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh lớp 4 - 5
Bảng ph ô: (Trang 72)
Bảng 1: Kết quả kiểm tra từng câu hỏi: - tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh lớp 4 - 5
Bảng 1 Kết quả kiểm tra từng câu hỏi: (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w