Lịch sử vấn đề Thao tác lập luận phân tích là một thao tác của hoạt động tư duy nhằmgiúp con người nhận thức hiện thực, tìm ra chân lí, và cũng là để trình bàynhận thức của con người về
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang từng ngày đổi mới và phát triển trong xu thế hộinhập Mục tiêu đặt ra trước mắt, đó là đào tạo ra những con người toàn diện,tích cực và chủ động Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Giáo dục(GD) mà là của toàn xã hội Nhưng ngành giáo dục giữ vai trò chủ chốt, vớimột trọng trách vô cùng lớn lao Quá trình đổi mới ở nước ta đã diễn ra bắtđầu từ những năm 1960- 1980 của thế kỷ XX, với khẩu hiệu “biến quá trìnhđào tạo thành quá trình tự đào tạo” Cho đến nay, vấn đề đổi mới phươngpháp dạy - học càng trở nên bức thiết Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta
đã ra chỉ thị đổi mới chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK)
Đối với môn Ngữ văn, việc đổi mới đã đem đến một hiệu quả khôngnhỏ trong quá trình dạy- học Ngữ văn từ cấp THCS đến THPT Sự hợp nhất
cả ba phần Văn - Tiếng Việt – Làm văn trong một cuốn sách Ngữ văn đã thểhiện mối quan hệ mật thiết giữa các phần này Lần đầu tiên phần Làm văn đãtìm được chỗ đứng cho mình
Mục đích cuối cùng của việc học môn Ngữ văn, và đặc biệt là phầnLàm văn ở trường phổ thông là giúp học sinh có thể tạo lập được những vănbản hay, có tính sáng tạo Để đạt được mục đích này, việc cung cấp cho họcsinh hệ thống tri thức về văn bản là cần thiết Tuy nhiên, muốn học sinh độclập tạo ra được văn bản có tính sáng tạo thì việc cung cấp tri thức là chưa đủ,
mà điều quan trọng là phải hình thành và củng cố cho các em các kĩ năng,các thao tác tạo lập văn bản
Văn nghị luận đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông.Học sinh được làm quen với văn nghị luận ở cấp THCS, lên đến THPT, vănnghị luận là một kiểu bài trọng tâm và chiếm phần lớn thời lượng chươngtrình Làm văn Đây là một kiểu bài rất khó, đòi hỏi học sinh phải có óc tưduy lôgic Bởi đặc trưng của văn nghị luận là phải lập luận để làm sáng tỏ
Trang 2một vấn đề nào đấy Nếu không có lập luận, thì vấn đề đó sẽ trở nên thiếutính thuyết phục, khiến người đọc không tin vào những điều mà người nóimuốn dẫn dắt người đọc hướng tới Như vậy, sẽ không đạt được đích củagiao tiếp Cho nên, đã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chặtchẽ, sáng rõ Đặc điểm của lập luận là người viết sử dụng ngôn ngữ để nêuvấn đề, trình bày lí lẽ và qua đó đánh giá sự đúng – sai, đưa ra các phánđoán, nêu ra kiến giải, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường, quan điểmcủa bản thân.Việc trình bày lí lẽ được người viết thể hiện thông qua cácphương thức tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống cácdẫn chứng nhằm đạt được mục đích khiến người đọc tin theo Bởi vậy, lậpluận được sử dụng rất nhiều trong các văn bản, nhằm để thuyết phục ngườiđọc Lập luận là đặc trưng cơ bản của văn bản nghị luận Lập luận như mộtsợi chỉ đỏ xuyên suốt trong bài văn nghị luận ở trường phổ thông.
Dạy văn nghị luận cho học sinh chính là dạy cho các em các thao táclập luận.Việc sử dụng tốt các thao tác lập luận sẽ giúp học sinh tạo lập đượcnhững văn bản nghị luận hay, đầy tính sáng tạo Đây cũng chính là mục đíchcuối cùng của việc dạy các thao tác lập luận cho học sinh Qua đó chúng ta
có thể đánh giá được năng lực hoàn thành từng thao tác lập luận cụ thể trongquá trình tạo lập văn bản của học sinh Chính vì vậy mà sách giáo khoa(SGK) Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã đưa các thao tác lập luận thành từngnội dung cụ thể (Ở SGK Làm văn trước đây các thao tác này không được họcmột cách rõ ràng, cụ thể), nhằm giúp học sinh có cái nhìn rõ hơn, hiểu sâuhơn bản chất bản chất của từng thao tác lập luận, và từ đó biết cách kết hợpcác thao tác lập luận đó vào quá trình tạo lập văn bản
Trong phần Làm văn cấp THCS, SGK Ngữ văn đã cung cấp cho họcsinh hai thao tác lập luận là: Thao tác lập luận chứng minh và thao tác lậpluận giải thích Đến cấp THPT, SGK Ngữ văn 11, phần Làm văn giới thiệutiếp bốn thao tác lập luận nữa là: Thao tác lập luận phân tích; Thao tác lậpluận so sánh; Thao tác lập luận bác bỏ; Thao tác lập luận bình luận Bốn thao
Trang 3tác này là bốn nội dung trọng tâm trong phần Làm văn của sách Ngữ văn 11.Theo trình tự sắp xếp trong SGK Ngữ văn 11 thì thao tác lập luận phân tíchđược học trước tiên Đây cũng chính là dụng ý của những người biên soạn
CT và SGK Bởi thao tác lập luận phân tích là thao tác quan trọng nhất, nó làthao tác cơ bản và luôn luôn hiện diện trong tất cả các thao tác còn lại.Dường như thao tác này xuyên suốt trong cả quá trình học Văn - Tiếng Việt– Làm văn Hơn nữa, thao tác lập luận phân tích là một nội dung mới lần đầutiên được đưa vào dạy ở trường phổ thông theo tinh thần đổi mới, hiện đạinên rất khó đối với giáo viên Bên cạnh đó lại chưa có một công trình nào,chuyên đề nào nghiên cứu về cách dạy học thao tác lập luận phân tích theohướng tích hợp và tích cực, cho nên chúng tôi đã mạnh dạn đi nghiên cứuvấn đề này với mong muốn phần nào giúp cho người giáo viên bớt đi nhữngkhó khăn, lúng túng khi dạy bài “Thao tác lập luận phân tích” trong SGKNgữ văn 11 Chúng tôi cũng có một tham vọng là khi tìm được ra cách thứcdạy thao tác này thì lấy đó làm cơ sở ban đầu để áp dụng vào dạy ba thao táccòn lại
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài
“Dạy học thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 theo hướng tích hợp và tích cực”
2 Lịch sử vấn đề
Thao tác lập luận phân tích là một thao tác của hoạt động tư duy nhằmgiúp con người nhận thức hiện thực, tìm ra chân lí, và cũng là để trình bàynhận thức của con người về hiện thực đó Thao tác lập luận phân tích bao giờcũng gắn liền với thao tác tổng hợp Chúng như hai mặt của một tờ giấy
1 Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ramột định nghĩa về phân tích như sau: “Phân chia, thật sự hay bằng tưởngtượng, một đối tượng nhận thức ra thành các yếu tố, trái với tổng hợp”.Trong cuốn “Lôgic học đại cương” của tác giả Vương Tất Đạt cũng đưa ramột khái niệm về phân tích như sau: Phân tích là sự phân chia trong tư tưởng
Trang 4đối tượng nào đó thành các bộ phận hợp thành nó” Có thể tách ra các dấuhiệu để nghiên cứu riêng rẽ từng dấu hiệu Như vậy định nghĩa của từ điểnTiếng Việt với khái niệm của lôgic học đều có quan điểm chung về phân tíchlà: sự phân chia đối tượng thành các yếu tố, bộ phận Và từ lâu, loài người đãnhận ra rằng bất cứ một đối tượng nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp thành.Mỗi bộ phận lại có nhiều tính chất riêng, đặc trưng riêng để phân biệt nó vớicác bộ phận khác Bởi vậy, để hiểu biết sâu hơn bản chất của đối tượng, tacần phải biết rõ ràng, cụ thể về từng bộ phận hợp thành ấy Để đạt được điều
đó chúng ta phải tiến hành phân tích
Theo hai tác giả S.N Vinơgrađôp và A.F Kuzơmin trong tác phẩm
“Lôgic học” của mình cũng đã nhận ra một điều là loài người từ mấy nghìnnăm trước đã chú ý thấy rằng, bất cứ đối tượng nào cũng có nhiều bộ phậncấu thành, mỗi bộ phận đều có đặc trưng riêng của nó và con người đã hìnhthành cho mình năng lực có thể phân tích đối tượng thành những bộ phậnđược hợp thành trong tư duy Từ đó hai tác giả này cho rằng: “Phân tích làphương pháp lôgic mà chúng ta dùng trong tư duy để phân chia đối tượng vàhiện tượng, vạch rõ các bộ phận và tính chất của chúng” Bất cứ một đốitượng nào dù đơn giản hay phức tạp, nếu chúng ta không phân tích nó, thìcũng không thể nào nghiên cứu được nó Và phân tích cũng không thể táchrời tổng hợp, bởi tổng hợp là phương pháp mà chúng ta sử dụng trong tư duy
để tổng hợp các bộ phận của đối tượng, hiện tượng đã được phân giải khiphân tích thành một chỉnh thể
Với tác giả Đ.P Gorki trong cuốn “Lôgic học” của mình, tuy khôngtrực tiếp bàn về phân tích nhưng tác giả đã bàn đến vấn đề phân chia kháiniệm (khái niệm ở đây được hiểu là khái niệm về một đối tượng) Tác giảcho rằng: “điều quan trọng khi phân chia khái niệm là tìm ra dấu hiệu để cóthể đứng trên quan điểm đó chia ngoại diên của khái niệm cần phân chiathành những bộ phận lấp đầy ngoại diên của nó” Chẳng hạn khi ta chiangoại diên của khái niệm “cây thân gỗ” theo dấu hiệu cấu tạo của lá cây thân
Trang 5gỗ Cũng có thể chia chính ngoại diên của khái niệm đó theo dấu hiệu độ dàicủa thân (những cây cao và những cây thấp), theo dấu hiệu sinh trưởng củachúng ở một vùng địa lí nào đó, theo những dấu hiệu nói lên chúng thuộc vềcác loài, các ho, các giống thực vật khác nhau…Hoặc có thể phân chia cácthành viên của một tập thể (chẳng hạn các học sinh của một trường hay mộtlớp) theo dấu hiệu lứa tuổi, theo dấu hiệu thành phần, dân tộc…
Khái niệm có ngoại diên bị phân chia được gọi là khái niệm bị phânchia Những lớp mà ta thu được sau khi phân chia ngoại diên xuất phát đượcgọi là các thành phần phân chia Dấu hiệu mà ta dựa trên đó để phân chiamột khái niệm thành những lớp tương ứng được gọi là cơ sở của sự phânchia Chúng ta cũng thấy rằng, những lớp thu được sau khi phân chia lại cóthể được phân chia thành những lớp con Chẳng hạn, đầu tiên có thể phânchia các số thành những số thực và những số ảo Rồi các con số thực lại cóthể phân chia thành những số hữu tỷ và những số vô tỷ, các số hữu tỷ có thểphân chia thành những số nguyên và những số phân… hình thức phân chianhư vậy được gọi là sự phân chia liên tiếp
Như vậy, sự phân chia theo tác giả là thao tác lôgic dùng để phát hiện
ra các loài nằm trong ngoại diên của khái niệm Quan niệm của tác giả mangtính khái quát và trừu tượng, nhưng từ đó chúng ta có thể hiểu rằng muốnnhận thức một đối tượng thì cần phải phân chia đối tượng đó ra và khi phânchia phải có cơ sở, có nguyên tắc chứ không phải là sự phân chia một cáchbừa bãi
2 Phân tích có mặt trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Phân tíchcũng đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông như một thao tác chủđạo Tất cả các bộ môn, từ khoa học tự nhiên (toán, lí, hoá…) đến khoa học
xã hội (văn, sử, địa…) đều sử dụng đến thao tác phân tích Đặc biệt trongmôn Ngữ văn, phân tích là một thao tác cơ bản để cảm thụ tác phẩm văn học,phân tích ngôn ngữ và tạo lập văn bản
Trang 6Trong Làm văn, khi bàn về thao tác lập luận phân tích, tác giả NguyễnQuang Ninh (chủ biên), Nguyễn Thị Ban - Trần Hữu Phong trong cuốn
“Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông” củamình đã đưa ra nhận định: Phân tích là sự phân chia đối tượng thành nhiều
bộ phận nhỏ, nhiều khía cạnh nhỏ để lần lượt khảo sát, xem xét Các tác giảcũng khẳng định rằng việc phân chia đối tượng không thể tùy tiện mà phảituân theo một nguyên tắc: phân chia phải phản ánh đúng nhất tổ chức của đốitượng; phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích của lập luận; phải phân chia theocùng một tiêu chí; phải phân chia theo nguyên tắc cấp bậc Ở đây, tác giảkhông chỉ đưa ra quan niệm về phân tích mà còn đưa ra nguyên tắc phântích, từ đó ta có định hướng cho việc phân tích làm sao vẫn đảm bảo đượctính thống nhất, tính tổng thể của đối tượng
Cùng quan điểm với các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban
và Trần Hữu Phong, tác giả Nguyễn Quốc Siêu cũng khẳng định rằng nói tớiphân tích là phải nói đến tổng hợp Bởi vì trong phân tích có tổng hợp, trongtổng hợp có phân tích Phân tích và tổng hợp xuyên suốt cả quá trình tư duy.Theo tác giả thì phân tích chính là phân chia, tách rời một sự vật, hoặc vấn
đề tương đối phức tạp, to lớn để nhận thức, mổ xẻ ra để quan sát, từ đó màkhiến lớn hóa nhỏ, khó thành dễ, mờ ám thành sáng rõ, làm cho cái ẩn dấuhiện ra, để tiện cho việc nắm vững sự vật, nắm vững vấn đề Như vậy là tácgiả đã diễn giải một cách tường minh bản chất của phân tích Và để phân tíchđược thì phải có phương pháp Tác giả đã đưa ra ba phương pháp phân tích:phân tích trong quá trình phát triển của sự vật; phân tích từ bản thân sự vật,hoặc mối liên hệ xung quanh nó; phân tích sự vật từ bề ngoài vào trong(nghĩa là phân chia từng lớp, quan sát từng lớp để dần dần nhận thức sự vậthoặc vấn đề từ ngoài vào trong, từ bề mặt vào trung tâm nhằm cuối cùngphát hiện bản chất của nó)
Trong giáo trình “Làm văn” của hai tác giả Đình Cao – Lê A cho rằngphân tích nghĩa là đi tìm hiểu các mặt nội dung bao hàm trong một ý kiến,
Trang 7một nhận định, một luận điểm nào đó, đồng thời chỉ ra mục đích chính xác
và giá trị đạt được của chúng Các tác giả cũng khẳng định rằng phân tíchphải gắn liền với tổng hợp Phân tích và tổng hợp là hai quá trình luôn luôngắn chặt với nhau, hỗ trợ cho nhau trong việc nhận thức đối tượng Có phântích phải có khái quát, tổng hợp thì đối tượng được phân tích mới có ý nghĩa
Phân tích chính là một thao tác lập luận, một thao tác của tư duy Vậy
mà trước đây, khi nghiên cứu về thao tác lập luận phân tích, các tác giả đãđồng nhất thao tác này với kiểu bài nghị luận Trong các SGK cũ vẫn coiphân tích như một kiểu bài trong văn nghị luận Hai tác giả Trần ThanhĐạm, Lương Duy Cán trong SGK Làm văn 10 (sách chỉnh lí năm 2000) đãdựa vào các thao tác nghị luận chủ yếu được sử dụng để chia văn nghị luậnthành các kiểu bài: Phân tích, chứng minh, bình luận…Những bài mà phốihợp nhiều thao tác nghị luận được coi là kiểu bài hỗn hợp Căn cứ vào nộidung nghị luận, phân tích văn học còn được chia ra thành phân tích một tìnhtiết nghệ thuật, phân tích nhân vật, phân tích một đoạn văn, đoạn thơ, phântích một tác phẩm hoàn chỉnh, phân tích một giai đoạn văn học, một trào lưuvăn học…
Cùng quan điểm với tác giả Trần thanh Đạm, Lương Duy Cán, các tácgiả Phan Trọng Luận, Nguyễn Xuân Nam, Lê A trong SGK Làm văn 11(NXB GD, 1992) và SGK Làm văn 11 (chỉnh lí năm 2000) cũng căn cứ vàođối tượng để chia ra thành các kiểu bài: phân tích nhân vật trong tác phẩm tự
sự, phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình…
Tuy nhiên, trong giáo trình “Làm văn” của hai tác giả Đình Cao – Lê
A quan niệm phân tích là một dạng nghị luận – dùng thuật ngữ phân tích với
tư cách là một phương pháp tư duy khoa học – có hàm nghĩa rộng, vàphương pháp phân tích đều có mặt trong các phương pháp khác như chứngminh, giải thích, bình luận…Các tác giả đã dùng từ phân tích để phân biệtvới các phương pháp nghị luận khác (Giải thích, bình luận…) Các tác giảcũng khẳng định rằng: trên thực tế , không có một bài nghị luận nào chỉ hoàn
Trang 8toàn sử dụng một trong những dạng thức chứng minh, giải thích, phân tíchhay bình luận…mà phải sử dụng một cách tổng hợp các dạng thức đó.
Tiếp đó, trong cuốn “Làm văn” của hai tác giả Lê A, Nguyễn Trí cũngnhấn mạnh một lần nữa quan điểm về phân tích: “Khi phân chia các kiểu bàivăn nghị luận có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng trên thực tế, cơ sở lí thuyết
để phân thành các kiểu bài đó là dựa trên các thao tác tư duy”(Tr 142) Theocác tác giả, việc phân chia kiểu bài chỉ dựa vào các thao tác nghị luận chủyếu là chưa thoả đáng Sự phân chia như vậy giúp cho học sinh dễ nhận biếtbản chất từng thao tác cụ thể, nhưng lại khiến cho các em có cách hiểu bóhẹp, khiên cưỡng khi làm văn nghị luận Bởi trên thực tế không có một bàinghị luận nào chỉ đơn thuần sử dụng một thao tác lập luận mà nó là sự kếthợp nhiều thao tác lập luận Vậy nếu đánh đồng thao tác lập luận phân tíchvới kiểu bài phân tích sẽ dẫn đến cách hiểu hạn hẹp về đối tượng này, nhưthế sẽ không phát huy được năng lực phân tích của học sinh trong quá trìnhlàm văn nghị luận Ta phải thấy rằng thao tác lập luận này có mặt trong quátrình viết mọi bài văn nghị luận và luôn luôn kết hợp chặt chẽ với các thaotác khác Cho nên không nên đồng nhất thao tác lập luận phân tích với kiểubài phân tích Việc các tác giả đồng nhất xem phân tích như một kiểu bài làmột quan niệm không còn phù hợp trong dạy học làm văn hiện nay Vì nó đãtrở nên xưa cũ và chỉ phù hợp với kiểu làm văn truyền thống
Hiện nay, phương pháp dạy học đã có sự thay đổi, chương trình vàSGK cũng được đổi mới cho phù hợp Kiểu dạy học làm văn truyền thốngkhông còn, mà thay vào đó là dạy làm văn theo xu hướng tích hợp và tíchcực Các tác giả biên soạn SGK Ngữ văn phần Làm văn đã tách các thao táclập luận thành từng bài riêng với mục đích giúp học sinh nắm bắt bản chấtcủa từng thao tác lập luận, từ đó có cách hiểu rộng hơn, sâu hơn về mỗi thaotác và đồng thời giúp các em biết cách vận dụng các thao tác này vào quátrình viết bài văn nghị luận Trong SGK Ngữ văn 11, tác giả Lê A (chủ biênphần Làm văn bộ sách cơ bản), Đỗ Ngọc Thống (chủ biên phần Làm văn bộ
Trang 9sách nâng cao) đã thống nhất quan điểm: không dựa vào các thao tác lập luận
để chia nhỏ văn nghị luận ra thành nhiều loại: Chứng minh, phân tích, bìnhgiảng, bình luận…mà khẳng định rằng một thao tác lập luận có thể được sửdụng ở nhiều kiểu bài nghị luận khác nhau Đặc biệt là thao tác lập luận phântích, không chỉ có mặt trong các kiểu bài, thậm chí nó còn có mặt trong tất cảcác thao tác lập luận khác như chứng minh, giải thích, so sánh, bác bỏ, bìnhluận Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tế viết văn, lại vừa tạo điềukiện để luyện tập cho học sinh biết cách sử dụng các thao tác lập luận trongsuốt quá trình học văn nghị luận từ THCS đến THPT
3 Cho đến nay, thao tác lập luận phân tích mới chỉ được đề cập mangtính định hướng chung trong các sách giáo viên (SGV) (bộ cơ bản và bộnâng cao) và trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên, lớp 11, môn Ngữ văn, cònchưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về thaotác này Và cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra cách dạy họcthao tác lập luận phân tích theo hướng tích hợp và tích cực Trong khuôn khổcủa luận văn thạc sĩ này, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu thao tác lập luậnphân tích theo hướng tích hợp và tích cực nhằm góp phần mở ra một hướngtiếp cận mới trong quá trình dạy các thao tác lập luận, mà cụ thể là dạy bài
“Thao tác lập luận phân tích” trong SGK Ngữ văn 11
3 Mục đích - Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dạy học thao tác lập luận phân tích nhằm hệ thốnghoá những cơ sở lí thuyết và thực tiễn của thao tác lập luận, góp phần vàotạo lập văn bản nghị luận, qua đó vận dụng vào quá trình dạy học làm vănnghị luận ở trường phổ thông Đây là cơ sở để người dạy có thể hiểu rõ hơncác kiến thức cần dạy và người học có điều kiện để hiểu rõ hơn những côngviệc cần phải tiến hành, những cách thức sử dựng thao tác lập luận phân tíchtrong quá trình tạo lập văn bản nghị luận Việc tổ chức dạy học thao tác lậpluận phân tích có hiệu quả sẽ nâng cao được kết quả dạy học văn nghị luậnnói riêng, và dạy học Làm văn nói chung được thuận lợi
Trang 10Việc nghiên cứu đề tài: “Dạy học thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 theo hướng tích hợp và tích cực” nhằm giải quyết những nhiệm vụ
sau:
- Tìm hiểu, xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn cho thao tác lập luậnphân tích Xác định rõ vị trí, vai trò, tác dụng và cách thức thực hiện thao tác
đó trong quá trình tạo lập văn bản
- Đề xuất nội dung, cách thức tổ chức dạy học thao tác lập luận phân tích
ở lớp 11
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những đề xuất trongluận văn đã đề ra
4 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ đã đề ra ở trên chúng tôichọn nghiên cứu dạy thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 theohướng tích hợp và tích cực
Phạm vi tập trung ở những bài liên quan đến thao tác lập luận phântích Chủ yếu nhằm vào chương trình SGK chuẩn và kết hợp với sách nângcao Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng sách giáo viên, các tài liệu thamkhảo liên quan đến chuyên ngành phương pháp, các sách tài liệu về văn nghịluận, về tâm lí giáo dục, về lôgic học… nhằm phục vụ hiệu quả cho việcthực hiện thành công đề tài này
5 Các phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:
*Phương pháp phân tích
Đây là phương pháp nền móng trong quá trình thực hiện đề tài Với dềtài này, chúng tôi thu thập thông tin trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tàiliệu đã có để rút ra những kết luận khoa học cần thiết
Trang 11Các văn bản, tài liệu xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài là những tàiliệu về lôgic học, ngôn ngữ học, tâm lí học, giáo dục học và đặc biệt là cáctài liệu về Làm văn.
*Phương pháp điều tra.
Chúng tôi dùng phương pháp này để tìm hiểu việc giảng dạy và họctập, rèn luyện kĩ năng phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11.Qua
đó nắm được thực trạng dạy - học Làm văn ở trường THPT Từ đó nghiêncứu đề tài một cách tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Làm văn ởtrường THPT
*Phương pháp thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập đượctrong quá trình điều tra thực nghiệm
*Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được thực hiện ở một số phương diện sau:
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm thông qua các bài thiết kế nội dung dạyhọc Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo dục, tâm
lí, trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào những tri thức vềthao tác lập luận phân tích trong chương trình Ngữ văn THPT
- Tổ chức dạy học ở trường THPT
- Thông qua quá trình dạy học, đánh giá nhận thức của học sinh, từ đóđưa ra một số đề xuất về việc giảng dạy các thao tác lập luận trong sách Ngữvăn 11 Đồng thời khẳng định mức độ thành công của đề tài
6 Bố cục của luận văn
Để triển khai nội dung nghiên cứu, chúng tôi chia luận văn thành baphần lớn là phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần mở đầu của luận văn tập trung trình bày những nội dung cơ bản,
có tính định hướng cho việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lí do chọn đề tài;lịch sử vấn đề; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; mục đích, nhiệm vụ nghiêncứu; phương pháp nghiên cứu Ngoài ra , trong phần mở đầu chúng tôi còn
Trang 12giới thiệu về bố cục luận văn và qua đó đánh giá tầm quan trọng của việcnghiên cứu đề tài này.
Phần nội dung của luận văn được triển khai trong ba chương, trong đómỗi chương được chúng tôi trình bày các phương diện khác nhau của đề tài
Cụ thể:
Chương 1: tập trung trình bày hệ thống cơ sở lý luận về phân tích và
thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận và những vấn đề cơ bản nhấtcủa thao tác lập luận phân tích
Chương 2: căn cứ vào cơ sở lý luận về thao tác lập luận phân tích đã
được triển khai ở chương 1, triển khai nội dung dạy học về thao tác lập luậnphân tích trong SGK Ngữ văn11 Qua đó chúng tôi xây dựng quy trình dạyhọc thao tác này
Chương 3: sau khi trình bày những vấn đề cơ bản của việc tổ chức
dạy học về thao tác lập luận phân tích, chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệmbài “Thao tác lập luận phân tích” và bài “Luyện tập thao tác lập luận phântích” trong SGK Ngữ văn 11 Thông qua việc tổ chức thực nghiệm chúng tôiđánh giá việc triển khai dạy học, thái độ học tập và nhận thức của học sinh,đồng thời cũng đánh giá việc sử dụng thao tác lập luận của học sinh khi các
em tạo lập văn bản nghị luận
Tiếp nối phần hai là phần ba của luận văn Phần này chính là phần kếtluận Đây cũng chính là nội dung cuối cùng của luận văn Trong phần này,chúng tôi tập trung khái quát lại hệ thống vấn đề đã được triển khai trong cácphần trên và qua đó chúng tôi trình bày một số đề xuất cho việc dạy thao táclập luận phân tích ở SGK Ngữ văn 11
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
PHÂN TÍCH VÀ THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1 Phân tích với tư cách là một thao tác của tư duy
1.1 Quan niệm phân tích trong lôgic học
Khi nghiên cứu về phân tích, lôgic học đã cho rằng: để nghiên cứu đốitượng nào đó, xây dựng khái niệm khoa học về nó, thì trước tiên cần phảiphân tích, tức là chia nhỏ nó ra trong tư tưởng thành các phần tử hợp thành,phân vạch ra những thuộc tính, phẩm chất vốn có của nó và nghiên cứu kĩchúng một cách riêng rẽ Hay nói một cách khác, phân tích là tách một vậtthể hoặc một hiện tượng phức tạp ra thành những bộ phận, những yếu tố,những mặt đơn giản của nó Ví dụ : Trong hóa học phân tích nước thànhHydro và Oxy Trong vật lý học dùng lăng kính để phân tích ánh sáng thànhbảy màu ( tím, chàm, lam, lục, vàng, cam, đỏ) Trong văn học: Phân tích mộtđoạn văn, một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết vv…
Ý nghĩa của sự phân tích trong quá trình nhận thức thể hiện rõ nhất khinghiên cứu sự thống nhất và mâu thuẫn của các mặt đối lập khác nhau trên
cơ sở nguyên tắc lôgic biện chứng trước đó Như chúng ta đã biết, tất cả cácmặt đối lập của các sự vật, hiện tượng dưới dạng tự nhiên đều nằm trong sựthống nhất hữu cơ, không tách rời nhau, nếu vì nguyên nhân nào đó mà mộtmặt đối lập biến mất, thì mặt còn lại cũng nhất định phải biến đi hoặc phải cótrạng thái khác về chất Nhưng thật là khó khi nghiên cứu chúng trong sựthống nhất bền chặt như vậy Để thâm nhập vào từng mặt đối lập, xác định
cơ sở, tính chất mối liên hệ, và phụ thuộc lẫn nhau của chúng, để biết cái gìgắn kết chúng lại với nhau thành một chỉnh thể duy nhất và sự thống nhất đóảnh hưởng như thế nào đến từng mặt đối lập trong số chúng, thì cần phải
Trang 14phân nhỏ chúng trong tư tưởng, tách chúng ra khỏi nhau và nghiên cứu kỹlưỡng từng mặt một.
Phân tích đúng đắn và nhất quán cho phép thông qua cái đơn nhất, cái
cụ thể nhận thức được cái chung, cái trừu tượng,vạch mở được cái bên trong,cái bản chất có tính quy luật, định hình được khái niệm khoa học về đốitượng Nhờ phân tích khoa học ta có thể dựa vào các hiện tượng, các khíacạnh ngoài để vạch mở bản chất của đối tượng, các tính chất căn bản của nó
Nhưng phân tích không phải là kết thúc, mà mới chỉ là khởi đầu củaquá trình nhận thức Để nghiên cứu thật sâu sắc đối tượng, thì không thểdừng lại ở các bộ phận riêng rẽ của nó.Thêm vào đó ta cần phải biết rõ mốiliên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau của các bộ phận ấy trong chính đối tượng,khảo sát chúng trong tổng thể, xem xét lại các bộ phận đã được nghiên cứunhư là một chỉnh thể thống nhất Biết các bộ phận của đối tượng chưa cónghĩa là đã biết đối tượng Có thể biết rất rõ từng bộ phận, từng mặt, nhữngđặc điểm cá biệt của đối tượng này, nhưng sẽ chẳng biết gì về bản chất của
nó, nếu không biết hay hiểu đúng mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của cácmặt, các đặc điểm đó
Để thực sự biết được đối tượng nghiên cứu, xây dựng được khái niệmkhoa học về nó, thì cần khảo sát nó trong chỉnh thể xác lập mối liên hệ , vàphụ thuộc lẫn nhau của các bộ phận, các tính chất, các mặt hợp thành trongtổng thể của chúng, tức là định hình một biểu tượng sắc nét về đối tượng đónhư một thể thống nhất Không thể làm điều đó nếu chỉ nhờ có phân tích Vìthế mà trong nhận thức, phân tích được dùng thống nhất hữu cơ với mặt đốilập của nó là tổng hợp Như vậy là phân tích gắn chặt với tổng hợp, giữachúng có mối quan hệ biện chứng với nhau
Xuất phát từ những nghiên cứu dựa trên cơ sở tính khoa học, lôgic học
đã đưa ra một định nghĩa khái quát về phân tích như sau: “Phân tích là sựphân chia trong tư tưởng đối tượng nào đó thành các bộ phận hợp thành nó”.Như vậy có nghĩa là có thể tách ra các dấu hiệu để nghiên cứu từng dấu hiệu
Trang 15Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) cũng đưa
ra một định nghĩa về phân tích: “Phân chia, thật sự hay bằng tưởng tượng,một đối tượng nhận thức ra thành các yếu tố; trái với tổng hợp”
Căn cứ vào định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt, SGK Ngữ văn 11phần Làm văn, bài “Thao tác lập luận phân tich” cũng có quan niệm về phântích như sau: Phân tích là chia nhỏ đối tượng ra từng yếu tố, từng khía cạnhtheo những tiêu chí, những mối quan hệ nhất định để tìm hiểu cặn kẽ, sâu sắcđối tượng
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa trênđều có một quan điểm chung khi nhận định về phân tích là chia nhỏ đốitượng ra thành từng yếu tố, từng bộ phận, từng khía cạnh để dễ dàng tìmhiểu Tuy nhiên, định nghĩa của lôgic học nêu ra có tính khái quát, trừutượng, còn định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt đã phần nào diễn giải rõ hơn
và cho thấy sự đối lập giữa phân tích và tổng hợp Căn cứ vào định nghĩa của
Từ điển Tiếng Việt, SGK Ngữ văn 11 không những chỉ ra được bản chất củaphân tích, mà còn đề cập đến tiêu chí phân chia, mối quan hệ giữa các yếu
tố, bộ phận của đối tượng Cách diễn giải này có phần dễ hiểu và rất phù hợpvới trình độ tư duy của học sinh trung học Vì vậy, trong luận văn này chúngtôi căn cứ vào khái niệm trong Từ điển Tiếng Việt để nghiên cứu
1.2 Bản chất của phân tích
Trong quá trình lao động và khám phá thế giới, con người nhận thấyrằng bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp thành,mỗi bộ phận lại có những đặc trưng và tính chất riêng biệt của nó Bởi vậy,
để hiểu sâu sắc đối tượng, ta cần phải biết rõ từng bộ phận hợp thành đốitượng đó Khi chia đối tượng, sự vật, hiện tượng ra thành từng bộ phận nhưvậy tức là ta đã tiến hành phân tích
Phân tích có nghĩa là cắt xẻ, tách ra Song tách ra không phải chỉ đểtách ra mà đó là thao tác nhằm tạo ra cơ sở để khảo sát, tìm hiểu, khám phámột đối tượng, một sự vật, một sự việc, một hiện tượng…
Trang 16Quá trình phân tích là quá trình phân chia bằng trí óc, tách ra, rút ratừng mặt, từng khía cạnh, từng bộ phận, từng yếu tố của một đối tượng, một
sự vật, một vấn đề, bằng lí lẽ, bằng thực tế tìm hiểu sự chính xác của chúng
và mối quan hệ giữa chúng với nhau để hiểu hơn về vấn đề
Quan niệm “Phân tích là một thao tác của tư duy”, được con người rút
ra trong quá trình chiếm lĩnh và nhận thức thế giới Nhờ có phân tích mà conngười có thể khám phá ra những biểu hiện, tìm ra những đặc điểm khó khámphá nhất của sự vật, hiện tượng Chính vì vậy có nhiều ngành khoa học đãchọn phân tích là thao tác, là phương pháp, là công cụ để nghiện cứu
Nhờ có phân tích, chúng ta có thể nhận thấy đầy đủ các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan Cũng nhờ có phân tích chúng ta hiểu cặn kẽbản chất của sự vật hiện tượng và tìm ra được cơ sở khoa học của chúng.Nhưng phân tích không thể tách rời với tổng hợp, ta hiểu nó như hai mặt củavấn đề, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Không nên quan niệmmột cách phiến diện phân tích chỉ là chia ra, tách ra từng khía cạnh, từngphương diện của vấn đề mà quên mất thao tác tổng hợp các khía cạnh, cácphương diện lại, để có cái nhìn toàn cục Ta thử đi tham khảo một ví dụ vềđoạn văn sau đây của Pôn La-phác-giơ miêu tả quá trình tư duy biện chứng
có tính chất mẫu mực của Mác khi nghiên cứu, phân tích sự vật, để hiểu rõhơn về phương pháp phân tích khoa học: “Nắm bản chất của sự vật, Ngườikhông chỉ xem xét bên ngoài mà đi sâu vào bên trong Người còn nghiên cứucác bộ phận cấu thành trong sự tác động qua lại giữa chúng với nhau Ngườitách từng bộ phận ra và theo dõi quá trình phát triển của riêng nó Sau đó,Người chuyển sự vật về môi trường của nó và quan sát sự tác động của môitrường đối với bản chất sự vật Cuối cùng, Người lại trở về chỗ xuất xứ của
sự vật, xem xét những thay đổi, tiến hoá và cách mạng của đối tượng nằmtrong những tác động sâu xa của sự vật Người nhìn thấy trước mắt mìnhkhông phải là một vật tự nó, riêng lẻ, không dính dáng đến môi trường xungquanh mà là toàn bộ thế giới phức tạp đang vận động không ngừng.” Đoạn
Trang 17văn một lần nữa minh chứng cho tính khoa học của phân tích Khi phân tíchcần phải có lí lẽ sắc bén, có cơ sở vững chắc và phải được sắp xếp hợp lí đểtừng bước làm sáng tỏ vấn đề Đồng thời phân tích phải đúng trọng tâm củavấn đề để tránh sự dàn trải, lan man, lạc hướng Mặt khác, cần phải bao quátmọi khía cạnh của vấn đề, tránh phiến diện trong phân tích Có nghĩa làkhông được bỏ qua thao tác tổng hợp Đây chính là bản chất của phân tích.
Trong nghiên cứu khoa học bắt buộc người ta phải tìm hiểu cặn kẽ bảnchất của phân tích, để thấy được sự khác biệt giữa phân tích với phân chia
Phân tích khác với phân chia ở chỗ phân tích là tách một vật thể hoặcmột hiện tượng phức tạp ra thành những bộ phận, những yếu tố, những mặtđơn giản của nó
Còn phân chia chỉ là cắt một khối lớn ra thành những phần nhỏ mànhững phần nhỏ ấy vẫn có đủ các yếu tố như chỉnh thể, có đủ những tínhchất phức tạp như chỉnh thể Ví dụ : Chia một ly nước lớn ra thành ba lynước nhỏ thì trong mỗi ly nước nhỏ vẫn có đủ Hydro và Oxy
Như vậy, phân tích là một thao tác của tư duy lôgic, còn phân chia chỉ
là một hoạt động chia cắt thông thường Chúng khác nhau hoàn toàn về bảnchất Ta cần chú ý để tránh nhầm lẫn hai khái niệm này
1.3 Mối quan hệ giữa phân tích với các thao tác tư duy khác
1.3.1 Phân tích với tổng hợp
Nói đến phân tích là ta phải hiểu phân tích trong một tổng thể Vì vậy
mà không thể chỉ có phân tích mà không có tổng hợp Như vậy là giữa phântích và tổng hợp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Theo C Mác và Ph.Ănghen thì phân tích - tổng hợp là công cụ giúpcon người thực hiện hoạt động nhận thức bản chất của sự vật, giúp vạch ramột cách sâu sắc, chính xác, hoàn thiện có tính sáng tạo bản chất của sự vật,hiện tượng trong hoạt động thực tiễn (Mác.C, Ănghen.Ph, Lênin.V.I (1985),Bàn về lôgic học biện chứng, NXB Thông tin lí luận HN) [56]
Trang 18Như vậy, phân tích - tổng hợp là một yếu tố cấu thành của hoạt độngnhận thức thế giới khách quan Phân tích - tổng hợp là thao tác không thểthiếu của giai đoạn nhận thức cảm tính , là cơ sở hình thành và phát triển cácthao tác lôgic khác trong giai đoạn nhận thức lí tính Dựa vào phân tích -tổng hợp cho phép chúng ta nhận định đầy đủ các dấu hiệu của sự vật hiệntượng để từ đó chúng ta có những nhận định, phán đoán, suy lí về các sự vật,hiện tượng cùng loại, các giá trị cùng loại và thực hiện tư duy cấp cao hơn.
Nếu không có phân tích - tổng hợp thì các thao tác so sánh, khái quáthóa, hệ thống hóa… không có ý nghĩa và như vậy nhận thức của con ngườikhông phát triển Có nghĩa là phát triển kĩ năng phân tích - tổng hợp là hìnhthành một năng lực quan trọng của hoạt động nhận thức, sáng tạo về thế giớikhách quan Khi xem xét từng thành phần của sự vật, hiện tượng phải đặttrong mối quan hệ nó là bộ phận cấu thành nên sự vật
Từ lâu trong quá trình lao động và khám phá thế giới, loài người đãnhận thấy rằng bất cứ một đối tượng, một sự vật, hiện tượng nào cũng đều donhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận lại có những đặc trưng và tính chấtriêng biệt của nó Bởi vậy, để hiểu sâu sắc đối tượng, ta cần phải biết rõ từng
bộ phận hợp thành đối tượng đó Và khi chia đối tượng, sự vật, hiện tượng rathành từng bộ phận như vậy tức là ta đã tiến hành phân tích
Phân tích là quá trình phân chia bằng trí óc, tách ra, rút ra từng mặt,từng khía cạnh, từng bộ phận, từng yếu tố của một đối tượng, một sự vật,một vấn đề, bằng lí lẽ, bằng thực tế để tìm hiểu sự chính xác của chúng vàmối quan hệ giữa chúng với nhau để hiểu vấn đề Vậy là nhờ có phân tíchchúng ta mới nhận thức đầy đủ giá trị, bản chất của đối tượng Cũng nhờ cóphân tích chúng ta mới tìm được mấu chốt của vấn đề, rút ra được những kếtluận có tính khoa học và nâng lên thành chân lí để nhằm tới đích thuyết phụcmọi người
Để tiến hành phân tích, chúng ta phải thực hiện theo trình tự sau:
- Xác định nội dung vấn đề cần phân tích
Trang 19- Tiến hành xác định các khía cạnh, các bộ phận của nội dung cầnphân tích.
- Sắp xếp các khía cạnh, các bộ phận đó theo trình tự hợp lí
- Trình bày từng khía cạnh, từng bộ phận theo trình tự đã sắp xếp saocho gắn kết chúng lại trong một mối quan hệ tổng thể bằng những phươngtiện liên kết thích hợp
- Dùng hình thức ngôn ngữ để trình bày lập luận kết hợp với ví dụ đểminh họa
- Cuối cùng là chốt lại vấn đề cần phân tích
Tuy nhiên, việc phân chia đối tượng ra thành những phần nhỏ hơnkhông thể được tiến hành một cách tùy tiện mà cần phải tuân theo một sốnhững nguyên tắc nhất định:
- Sự phân chia phải đảm bảo phản ánh đúng nhất tổ chức của đốitượng Phân chia không đúng bản chất của đối tượng sẽ dẫn đến chỗ làm chonhận thức của con người về đối tượng cũng sẽ bị lầm lẫn, lệch lạc
- Quá trình phân chia phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích của lập luận.Mỗi đích lập luận phải có cách phân chia riêng rẽ Không thể có cách phânchia chung cho mọi mục đích Khi đã xác định được mục đích phân tích,chúng ta sẽ lựa chọn được cách thức phân chia vấn đề sao cho tương ứng vớimục đích của thao tác này
- Khi phân tích một vấn đề, chúng ta phải phân chia theo cùng mộttiêu chí Có nghĩa là phải chọn lấy một tiêu chí ban đầu làm cơ sở cho sựphân chia, và phải có sự thống nhất từ đầu đến cuối không được thay đổi
- Phải phân chia theo nguyên tắc cấp bậc Bởi mỗi một sự vật, hiệntượng, một vấn đề đều được cấu thành từ nhiều bộ phận, nhiều khía cạnh,trong đó lại có những bộ phận lớn, bộ phận nhỏ, bộ phận chính, bộ phận phụ,
bộ phận chủ yếu, bộ phận thứ yếu, bộ phận quan trọng,…Vì vậy, khi phânchia vấn đề chúng ta cũng phải phân chia theo trình tự từng bậc từ bộ phận
Trang 20lớn đến bộ phận nhỏ, từ bộ phận nhỏ đến bộ phận nhỏ hơn … và cứ như vậy,không được phân chia một cách nhảy vọt, thiếu tính hệ thống
Phân tích chính là một thao tác của tư duy, giúp con người khám pháthế giới khách quan Nó giúp ta hiểu được nội hàm của một vấn đề, một ýkiến, một nhận định nào đó, đồng thời chỉ ra được mức độ chính xác và giátrị đạt được của chúng Nói tóm lại, phân tích là một thao tác vô cùng quantrọng, cần thiết cho tất cả các ngành khoa học
Tổng hợp là một thao tác trí tuệ kết hợp các bộ phận thuộc tính và mốiquan hệ của đối tượng thành một tổng thể, giúp ta nhận thức đối tượng mộtcách bao quát hơn Nếu phân tích là tách nhỏ các mặt nội dung để tìm hiểu thìtổng hợp là thao tác ngược lại với thao tác phân tích Tổng hợp có nghĩa làgom lại những hiểu biết về từng bộ phận, từng khía cạnh lại thành một sự hiểubiết chung, đầy đủ, toàn bộ đối tượng Tuy nhiên, tổng hợp không phải là mộtphép cộng đơn giản giữa các yếu tố mà là việc tìm ra mối dây liên hệ bêntrong giữa chúng Chỉ khi nhìn thấy mối liên hệ bên trong giữa các yếu tố bộphận, ta mới hiểu biết đầy đủ, đúng đắn và toàn diện về bản chất của đốitượng
Cũng giống như phân tích, để thực hiện thao tác tổng hợp, chúng tacần tiến hành theo các bước:
- Xác định các nội dung đã được trình bày trước đó
- Xác định mối quan hệ giữa các nội dung, các bộ phận đã trình bày
- Xác định các đặc điểm, đặc trưng, tính chất cơ bản của các vấn đề đãđược trình bày trước đó
- Gộp các vấn đề đó lại theo trình tự được triển khai trước đó
- Rút ra kết luận hay nêu ra một chân lí nào đó
- Có thể dẫn sang một nội dung mới hoặc mở rộng vấn đề được bàn luận
Để có thể tiến hành tổng hợp một cách chính xác, chúng ta cần phảituân thủ theo những nguyên tắc sau:
Trang 21- Chỉ tổng hợp cái chung, cái đồng nhất trong từng bộ phận Điều nàychỉ được thực hiện khi chúng ta xác định nội dung của từng bộ phận.
- Chỉ tổng hợp theo từng cấp bậc Nguyên tắc này giúp chúng ta tổnghợp vấn đề một cách khoa học, đảm bảo phù hợp với nội dung và đặc điểmcủa vấn đề được bàn luận
Tổng hợp là một thao tác của tư duy lôgic, là một hoạt động nhận thức
sự vật trong mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu thành của nó Tùy theoquan niệm và trình độ nhận thức khác nhau mà quá trình tổng hợp tiến hànhtheo những phương hướng khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, phản ánh sựvật hiện tượng đó theo nhiều mặt khác nhau Chính nhờ có tổng hợp màchúng ta mới có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, đối tượng, vấn đề và qua
đó rút ra những hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về toàn bộ đối tượng, sựvật, vấn đề đó như một chỉnh thể thống nhất Nghĩa là chỉ có người biết phântích mới có thể xử lí đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tổng thể và bộphận, giữa yếu tố và hệ thống hoàn chỉnh của sự vật
Phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình:
Nhờ có phân tích từng thành phần, từng bộ phận cả sự vật hiện tượng
mà ta hiểu rõ ràng, đầy đủ về sự vật hiện tượng đó Tổng hợp sơ bộ ban đầucho ta ấn tượng chung về đối tượng, nhờ đó mà xác định được phương phápphân tích tiếp theo đối tượng đó Sự phân tích tiếp theo giúp ta nhận thức đầy
đủ hơn về đối tượng
Phân tích càng sâu thì sự tổng hợp cuối cùng càng cao, càng đầy đủ
Sự tổng hợp hoàn chỉnh sẽ quyết định chất lượng sự phân tích tiếp theo Cứnhư vậy, nhận thức càng tiến sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng
Không thể nhận thức được sự vật, hiện tượng nếu không phân tích sựvật hiện tượng thành những yếu tố, những bộ phận, những thuộc tính, nhữngmối quan hệ… và tìm hiểu tỉ mỉ từng yếu tố, từng bộ phận Nhưng nếu chỉ
có phân tích thì dù sâu sắc, tỉ mỉ bao nhiêu đi chăng nữa vẫn chưa đủ cơ sở
Trang 22nhận thức đầy đủ, hoàn chỉnh đối tượng ấy Nó phải được bổ sung bằng sựtổng hợp trên những kết quả đã phân tích.
Nếu không tách các bộ phận ra để nghiên cứu thì không thể hiểu thấuđáo cái toàn bộ Và ngược lại, không tổng hợp các bộ phận vào một chỉnhthể thì không hiểu được vai trò, vị trí, tính chất của các bộ phận ấy trong cáitoàn bộ Nghĩa là thiếu thao tác tổng hợp, ta chỉ thấy cây mà không thấyrừng Sự khái quát và tổng hợp trên từng chặng phân tích sẽ giúp cho chúng
ta từng bước nắm được bản chất của vấn đề
Ănghen viết: “Trước hết tư duy không chỉ đem những đối tượng nhậnthức phân chia thành những nhân tố, mà còn đem những nhân tố để quan hệvới nhau thành một thể thống nhất Không có phân tích thì không có tổnghợp” (Chống Đuy-rinh, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.71)
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp khác nhau nhưng lại có mốiquan hệ biện chứng với nhau Phân tích chuẩn bị cho tổng hợp, tổng hợpgiúp cho phân tích đi sâu vào bản chất của sự vật
1.3.2 Phân tích với khái quát hoá, trừu tượng hoá
Như chúng ta đã biết, phân tích là khâu đầu tiên, là cơ sở ban đầu, làcái cơ bản nhất để nhận thức đối tượng Không có phân tích ta không thểnhận thức đối tượng một cách thấu đáo, nhưng chỉ phân tích không thôi chưa
đủ, mà kết quả của phân tích chỉ có giá trị khi đã được tổng hợp lại Tổnghợp là khâu không thể thiếu trong quá trình nhận thức đối tượng Chính tổnghợp đưa ta tới quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá vấn đề
Trừu tượng hoá là sự chú ý nhiều hơn đến một số dấu hiệu và tạm gáclại chưa xét đến những dấu hiệu khác của một đối tượng, khái quát của quátrình ấy là sự trừu tượng, cùng đồng nghĩa với khái niệm Hay nói một cáchkhác trừu tượng hoá là thao tác trí tuệ phức tạp nảy sinh trong quá trình conngười nhận thức các sự vật, hiện tượng ở giai đoạn lí tính (khái niệm, phánđoán, suy lí) phải dùng trí óc để gạt bỏ những yếu tố, thuộc tính, những liên
Trang 23hệ, quan hệ thứ yếu, không bản chất và chỉ giữ lại những dấu hiệu bản chấtcần thiết để tư duy.
Khái quát hoá là sự liên kết trong tư tưởng những đối tượng giống nhau,nhóm chúng lại trên cơ sở những dấu hiệu chung Nói một cách dễ hiểu hơn,khái quát hóa là thao tác trí tuệ kết hợp nhiều đối tượng khác nhau nhưng cóchung nhiều thuộc tính, quan hệ nhất định thành một nhóm, một loại
Chúng ta cũng nhận thấy một điều là sự phát triển ở mức độ cao củatính trí tuệ tất yếu tạo ra năng lực khái quát, trừu tượng, bởi lẽ sức mạnh trítuệ của chính con người được đánh giá ở năng lực khái quát hoá, trừu tượnghoá Trong văn nghị luận văn học thì trừu tượng hoá, khái quát hoá đượcbiểu hiện bằng ngôn ngữ hình tượng biểu cảm Mặc dù tính hình tượngkhông phải là hệ luận của tính cảm xúc, nhưng một trong những phong cáchcủa hình tượng nghệ thuật chính là sắc thái biểu cảm của nó Vì vậy, giữatính hình tượng và tính cảm xúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Trong quá trình khám phá quy luật của cuộc sống, khoa học và vănhọc nghệ thuật không dừng lại ở hiện tượng mà thâm nhập vào bản chất củacuộc sống Một người nghệ sĩ xuất sắc hay một nhà bác học tài năng đều biếtnắm bắt những gì thuộc về bản chất của cuộc sống, đều biết tập trung sự chú
ý của mình vào những sự kiện, những quá trình của cuộc sống trong đó bộc
lộ đầy đủ nhất ý nghĩa của đối tượng mà mình khám phá Có điều, mỗi ngườiđều làm theo cách riêng của mình Trên con đường tiếp cận chân lí, khoa họcgạt bỏ, không tính đến những chi tiết cụ thể, cá biệt, lại càng không chấpnhận những yếu tố ngẫu nhiên Nó tách những thuộc tính chung, chủ yếu,điển hình của các hiện tượng ra khỏi những đặc điểm cụ thể, những yếu tốriêng lẻ để đúc kết thành quy luật, khái quát dưới dạng công thức, khái niệm,phạm trù Trong quá trình đó, các hiện tượng cụ thể nếu có được đề cập tớithì cũng chỉ đóng vai trò là những ví dụ để minh họa cho các thuộc tính, cácquy luật được khái quát mà thôi
Trang 24Trong khi đó, đối với văn học nghệ thuật, sự khái quát chân lí cuộcsống bằng hình tượng nghệ thuật không bao giờ tách khỏi những hiện tượng
cụ thể, cá biệt Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng tái hiện cuộc đời từnhững hiện tượng cá thể, riêng biệt của nó và trong sự thống nhất, thâm nhậpvào nhau của các thuộc tính chung phổ biến với cái riêng độc đáo Vì thếtrong khi khái quát cái chung, hình tượng nghệ thuật không làm mất đi dáng
vẻ tồn tại tự nhiên, sinh động, đa dạng của sự vật, hiện tượng Nhà vănNguyễn Trung Thành đã từ một hình tượng cụ thể là hình tượng cây Xà nu -rừng Xà nu mà đem lại cho tác phẩm một sức khái quát lớn Hàng loạt nhữngđộng từ gây cảm giác mạnh được huy động để miêu tả cây Xà nu: ào ào, ứa,tràn trề, ngọt ngào, long lanh, gay gắt, bầm, ngã gục, lao thẳng, phóng, vượt,ưỡn đã làm cho hình tượng cây Xà nu hiện lên rất cụ thể, ấn tượng, xoáysâu vào cảm giác người đọc với những chi tiết, hình ảnh rất cụ thể, giàu tínhtạo hình Nhờ đó tác giả nói với chúng ta về sức sống mãnh liệt, lòng khaokhát tự do của con người Tây Nguyên trong những ngày sục sôi đánh Mỹ Ởtầm khái quát cao hơn, nó còn gợi cho ta những suy ngẫm về sức sống của cảmột dân tộc anh hùng Chính vì vậy mà người ta nói rằng hình tượng nghệthuật tái hiện cuộc sống hoàn chỉnh và toàn vẹn bằng hình thức tương tự nhưchính bản thân cuộc sống Đó chính là lí do khiến chúng ta khi tiếp xúc vớitác phẩm văn học nghệ thuật có cảm giác rằng mình đang được chứng kiếnnhững cảnh đời thật, những con người thật
Trên đây là chúng ta nói về văn học nghệ thuật nói chung Còn riêngđối với văn nghị luận, ta thấy khuynh hướng chung là hướng tới sự pháthiện, khám phá, đi sâu vào những đặc điểm bản chất của các sự kiện, hiệntượng để lí giải, rút ra quy luật vận động chung của chúng, đồng thời nhạybén dự đoán hướng phát triển tương lai, tổng kết tình hình thực tế để nânglên thành những vấn đề lí luận…Như vậy tư duy của văn nghị luận là hướngtới những phán đoán, nhận định, nêu đặc điểm, đánh giá… có tính chát trừutượng hóa, khái quát hóa chứ không hướng tới sự miêu tả chi tiết, sinh động
có tính chất cụ thể hóa, cá biệt hoá
Trang 25Ở đây chúng ta cần phân biệt trừu tượng hoá, khái quát hóa trong cácngành khoa học tự nhiên với trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phong cáchnghị luận Trong khoa học cái khái quát bao giờ cũng rời bỏ cái cụ thể cảmtính để thể hiện mình trong những khái niệm trừu tượng Còn trong phongcách nghị luận thì sự khái quát hoá của tư duy khoa học được kết hợp chặtchẽ, hoà nhập với tư duy nghệ thuật Nghĩa là cái khái quát ở đây không táchrời cái cụ thể cảm tính, trái lại, nó tự thể hiện mình trong những hình tượng
cá thể, sinh động, có tầmbao quát, sức ôm trùm, mà vẫn thoát khỏi cái nhấtthời, ngẫu nhiên, vụn vặt Như vậy, trừu tượng hoá, khái quát hoá đã gópphần nâng đối tượng lên một tầm cao mới của nhận thức Bên cạnh đó vănnghị luận còn đòi hỏi bản lĩnh nghệ thuật đặc thù trong cách biểu hiện củangười viết văn nghị luận Chính điểm này khiến cho các bài văn nghị luậnkhông chỉ là những văn bản khoa học mà còn là những áng văn chương giàusức biểu cảm, có giá trị thẩm mĩ cao, có sức lôi cuốn mãnh liệt
Để đi đến mục đích trừu tượng hóa, khái quát hoá cao, ta cần phải tiếnhành phân tích nhiều sự kiện, thành phần, để tách ra những cái cơ bản nhấttrong tất cả các sự kiện đó
Khái quát hoá là con đường hình thành các khái niệm, quy tắc, quyluật, định luật
2 Phân tích với tư cách là một thao tác lập luận
2.1 Khái niệm thao tác
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì thao tácđược định nghĩa như sau: “ Thực hiện những động tác nhất định để làm mộtviệc gì đó trong sản xuất”
Trong Tâm lí học, thao tác được xác định là hệ thống những hànhđộng trong tư duy Thao tác chính là cốt lõi của cách thức của hành động bịquy định, phụ thuộc chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể Hành động làthành phần cấu tạo của hoạt động Hoạt động chỉ có thể tồn tại dưới hìnhthức những hành động hay một chuỗi hành động
Trang 26Vậy hoạt động chính là một trong những thuộc tính của con người.Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống conngười là một chuỗi những hoạt động kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạtđộng được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Ở đây ta
hiểu hoạt động là gì? Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con
người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể).
Khái niệm này đã cho ta thấy mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể.Trong mối quan hệ này có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau,
thống nhất với nhau Đó là quá trình đối tượng hoá (xuất tâm) và quá trình
chủ thể hoá (nhập tâm) Trong quá trình thứ nhất chủ thể chuyển năng lượng
của mình thành sản phẩm hoạt động Lúc này tâm lí của con người được bộc
lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm Nhờ vậy, chúng tamới hiểu được tâm lí conng qua hoạt động của họ Ở quá trình thứ hai conngười chuyển nội dung khách thể vào bản thân mình, tạo nên tâm lý, ý thức,nhân cách của bản thân Đây chính là quá trình chiếm lĩnh thế giới, là quátrình nhập tâm Vì thế người ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giớikhách quan; nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định
Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thếgiới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhâncách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động Trong quá trìnhhoạt động của con người bao gồm cả lao động chân tay lẫn lao động trí óc
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, nó khác với hoạt
động của loài vật Hoạt động của con người bao giờ cũng là “hoạt động cóđối tượng” Đối tượng của hoạt động chính là cái con người tác động vàonhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh Nó có thể là sự vật, hiện tượng, khái niệm,con người hoặc mối quan hệ… có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó củacon người, thúc đẩy con người hoạt động Vì thế đối tượng hoạt động chính
là động cơ hoạt động Ví dụ: đối tượng của hoạt động học tập là tri thức, kĩ
Trang 27năng, kĩ xảo…, chúng có khả năng thoả mãn nhu cầu nhận thức - học tập củacon người nên nó trở thành động cơ đích thực thúc đẩy con người tích cựchọc tập.
Hoạt động bao giờ cũng phải có chủ thể Chủ thể chính là con người
có ý thức tác động vào khách thể - đối tượng của hoạt động Đặc điểm nổibật nhất của chủ thể hoạt động là tính tự giác và tính tích cực Chủ thể hoạtđộng có thể là cá nhân hoặc nhóm người Chủ thể là nhóm người khi họ cùngnhau thực hiện hoạt động với cùng một đối tượng, một động cơ chung
Hoạt động của con người bao giờ cũng có tính mục đích Mục đích
chính là biểu tượng về sản phẩm hoạt động có khả năng thỏa mãn nhu cầunào đó của con người, nó điều khiển, điều chỉnh hoạt động Tính mục đíchgắn liền với tính đối tượng Tính mục đích luôn bị chế ước bởi nội dung xãhội, vì thế không nên hiểu mục đích một cách thuần tuý chủ quan như ý thíchriêng, mong muốn, ý định chủ quan
Trong quá trình hoạt động lao động làm ra sản phẩm bao giờ conngười cũng phải sử dụng những công cụ nhất định như: kĩ thuật, máy móc,dụng cụ…để tác động vào đối tượng lao động Tương tự như vậy, tiếng nói,chữ viết, kinh nghiệm và các hình ảnh tâm lý khác là công cụ tâm lý được sửdụng để tổ chức, điều khiển thế giới tinh thần của mỗi con người Nhữngcông cụ đó giữ chức năng trung gian giữa chủ thể và đối tượng hoạt động,
tạo ra tính gián tiếp của hoạt động Như vậy hoạt động được vận hành theo
nguyên tắc gián tiếp Điều này chỉ ra sự khác biệt về chất giữa hoạt động của
con người với hành vi bản năng của con vật
Khi nghiên cứu về hoạt động chúng ta không chỉ tìm hiểu về kháiniệm, đặc điểm của hoạt động mà còn phải xem xét mặt cấu trúc của hoạt
động Theo Lêonchiep, người đại diện cho các nhà tâm lí học hoạt động
khẳng định: hoạt động của con người là hoạt động có cấu trúc Cấu trúc củahoạt động được thực hiện bởi các nhân tố: động cơ, mục đích, phương tiện,hành động, thao tác Các yếu tố này được sắp xếp theo một trình tự nhất
Trang 28định, trong đó có những yếu tố gắn với chủ thể (là con người) như: hoạtđộng – hành động – thao tác Có những yếu tố gắn với đối tượng: Động cơ -mục đích – phương tiện Căn cứ vào mục đích của từng hoạt động mà chúng
ta có thể phân tích cấu trúc thành những cách khác nhau Tuy nhiên, hoạtđộng của con người thường được tổ chức theo một trình tự nhất định Trình
tự ấy thường được bắt đầu từ việc con người muốn thoả mãn một nhu cầunào đó Khi nhu cầu gặp đối tượng thì trở thành động cơ Muốn đạt đượcđộng cơ con người phải tiến hành hoạt động Động cơ được coi là mục đíchchung, mục đích cuối cùng của hoạt động Bất kì hoạt động nào cũng cóđộng cơ tương ứng Động cơ có thể tồn tại ở dạng tinh thần, bên trong chủthể, không những thế động cơ còn được vật thể hóa ra bên ngoài, mang hìnhthức tồn tại vật chất, hiện thực bên ngoài Hơn nữa động cơ được cụ thể hóatrong nhiều mục đích Ngược lại mục đích có thể được thể hiện ở nhiều động
cơ khác nhau Hay nói cách khác, các mục đích này là hình thức cụ thể hóacủa động cơ, là bộ phận cấu thành độngcơ Do đó quá trình hiện thực hóađộng cơ được tiến hành từng bước, từng khâu để đạt được mục đích xác địnhtrong những hoàn cảnh cụ thể Các quá trình đó được gọi là hành động Hànhđộng là quá trình bị chi phối bởi biểu tượng về kết quả đạt được, nghĩa là quátrình nhằm vào mục đích để dần dần tiến tới hiện thực hóa động cơ Chính vìthế, hành động là thành phần cấu tạo của hoạt động Một hoạt động đượcthực hiện bởi nhiều hành động khác nhau, và một hành động có thể tham giatrong nhiều hoạt động khác nhau Hoạt động chỉ có thể tồn tại dưới hình thứcnhững hành động hay một chuỗi những hành động Ví dụ: Hoạt động học tập
có động cơ đích thực là chiếm lĩnh những thành tựu văn hóa của loài người
để phát triển nhân cách, thì hành động học là quá trình nhằm tới mục đíchriêng, bộ phận là lĩnh hội tri thức khoa học trong từng môn học
Một hoạt động sau khi đã thực hiện được động cơ thì trở thành mộthành động cho hoạt động khác Để đạt được mục đích con người ta phải thựchiện một hành động Hành động được triển khai thực hiện bằng một số thaotác Mục đích đó có thể phát triển theo hai hướng:
Trang 29- Trở thành động cơ (khi mà mục đích không chỉ có chức năng hướngdẫn mà còn có khả năng kích thích, thúc đẩy), lúc này hành động biến thànhhoạt động;
- Trở thành phương tiện(khi mà mục đích đã được thực hiện và hànhđộng kết thúc), lúc này hành động trở thành thao tác và có thể tham gia vàonhiều hoạt động khác
Như vậy, chủ thể chỉ có thể đạt được mục đích bằng các phương tiệntrong những điều kiện xác định Mỗi phương tiện quy định cách thức hànhđộng Cốt lõi của cách thức ấy chính là thao tác Thao tác là đơn vị nhỏ nhấtcủa hoạt động Nó không có mục đích riêng mà thực hiện mục đích hànhđộng, đồng thời phụ thuộc chặt chẽ vào phương tiện, điều kiện cụ thể Cấutrúc của hoạt động là cấu trúc có tổ chức nội bộ Nhờ có tổ chức đó mà cáchoạt động mới diễn ra một cách liên tục nhằm được những mục đích nhấtđịnh Chúng ta có thể tóm tắt cấu trúc vĩ mô của của hoạt động theo sơ đồsau:
Căn cứ vào cấu trúc của hoạt động, chúng tôi thấy hành động và thaotác là hai yếu tố cơ bản nhất được con người sử dụng để tiến hành hoạt động.Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với chủ thể hoạt động, với con người
Trang 30Bởi thế, Lêonchiep cho rằng trong dòng liên tục của các hoạt động khácnhau tạo nên đời sống cá nhân, nếu ta lấy ra một hoạt động bất kì,tại thờiđiểm xác định và loại bỏ mọi sự khác nhau về hình thức biểu hiện và tínhchất riêng rẽ, sẽ còn lại quan hệ chủ thể - đối tượng, thông qua công cụ hoạtđộng
Trong cấu trúc hoạt động, thao tác không phải là đơn vị tâm lý độclập, nó không có mục đích riêng, mà nó là cách thức để thực hiện mục đíchcủa một hành động nào đấy và phụ thuộc chặt chẽ vào phương tiện, điều kiện
cụ thể Nó thuần túy là một cơ cấu kĩ thuật, máy móc của hành động, nó vôhồn, có thể tháo lắp, đập vỡ, chắp ghép và tự do tham gia vào bất kỳ hànhđộng nào nếu hành động đó phù hợp với nó về lôgic Tuy nhiên, thao tác lại
là yếu tố làm nên nội dung kỹ thuật của hành động, là sự vận hành của hànhđộng đến mục đích Vì vậy, thao tác không lệ thuộc vào hành động, màngược lại, tiến trình tiến tới một mục đích phụ thuộc vào các thao tác này.Điều đó chứng tỏ là với cùng một mục đích nhưng trong những điều kiệnkhác nhau, phương tiện khác nhau chủ thể hành động có những thao tác khácnhau Trong quá trình cấu thành nên hoạt động, thao tác được sinh ra từ hànhđộng, nó là yếu tố làm nên nội dung của hành động Chính vì vậy, mục đíchhành động không chỉ chứa đựng yếu tố nội dung mà còn bao hàm cả cáchlàm ra nó Cho nên trong hoạt động, chủ thể vừa nắm được nội dung của đốitượng mà còn nắm luôn cả cách làm ra nó - tức là tạo ra cho mình các thaotác hòa trong sản phẩm đó
Tóm lại, thao tác là một yếu tố không thể thiếu được trong hoạt độngcủa con người Nó nảy sinh từ nhu cầu hành động của con người Nhu cầu ấychi phối tới việc xác định hành động như thế nào để đạt được những mụcđích cụ thể, hành động đó nhằm đạt được những nhiệm vụ gì Thao tác làcách để làm nên nội dung cho hành động Vì vậy, nó là yếu tố có tính chất cơđộng, kỹ thuật, có thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phùhợp với mục đích thực hiện hành động đó
Trang 312.2 Thao tác lập luận
Trong hoạt động giao tiếp, nhiều khi con người phải đánh giá và bày
tỏ ý kiến , thái độ của mình đối với các vấn đề được trình bày Để làm đượcđiều này con người ta cần phải sử dụng đến thao tác lập luận Đặc điểm củathao tác này là người viết sử dụng ngôn ngữ để nêu sự thực, trình bày lí lẽ vàqua đó đánh giá sự đúng – sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra các kiến giải,phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của bản thân Việc trìnhbày lí lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư duy lôgicnhư khái niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống các dẫn chứng nhằm đạt đượcmục đích khiến người đọc tin theo Vì vậy, thao tác lập luận được sử dụngtrong rất nhiều văn bản, nhằm tạo sự thuyết phục trong người đọc Ta có thểbắt gặp thao tác này khi người viết muốn bàn luận và thể hiện thái độ đối vớivấn đề đang được trình bày
Trong văn nghị luận, lập luận được thể hiện ở cách triển khai nội dungnghị luận thông qua hệ thống lí lẽ, dẫn chứng Để đưa ra một chân lí hay mộtphán đoán, người viết phải biết cách biện luận, phải trình bày, chứng minh.Lập luận là thao tác chủ yếu người viết sử dụng ngôn ngữ để tường giải nộidung và qua đó thể hiện rõ quá trình vận động của tư duy để nhận thức Bởivậy trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, người viết cần lưu ý tới cách
sử dụng ngôn ngữ và tìm hệ thống dẫn chứng lí lẽ nhằm minh họa cho nộidung bàn luận
Có thể nói nhờ có lập luận, con người mới có thể trình bày nội dungmột cách khoa học, dẫn dắt người đọc tìm đến với những khám phá, nhữngnhận thức mới, thể hiện những chân lí mới trong cuộc sốngvà qua đó tìm đến
sự đồng điệu trong nếp cảm, nếp nghĩ của mỗi người Nhờ có lập luận màvăn bản nghị luận mới tạo ra sức thuyết phục đối với người khác
Vậy lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến mộtkết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới Haynói một cách khác, lập luận là quá trình liên kết, xâu chuỗi các luận điểm,
Trang 32luận cứ nhằm làm rõ luận đề theo một chính kiến, một quan niệm nhất định
để người đọc hiểu và tin ở những kết luận mà người viết muốn dẫn ngườiđọc đến Và lập luận là sản phẩm của tư duy lôgic, mục đích của lập luận làtìm ra những chân lí mới, rút tri thức này từ những tri thức khác, là conđường đi đến nhận thức chân lí một cách khoa học
Khi bàn về bản chất của lập luận, tác giả Nguyễn Quốc Siêu cho rằnglập luận trong văn nghị luận có tính “có lí” Và để có lí thì trong lập luận cầnphải sử dụng một số phương pháp cụ thể như suy lí và chứng minh, phântích, tổng hợp, liên tưởng, tưởng tượng Điều này cho thấy lập luận trong vănnghị luận là một vấn đề vô cùng phức tạp, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu,rộng và thật sự nghiêm túc
+ Mối quan hệ trong lập luận: lí lẽ được gọi là luận cứ Có thể nóiquan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ (một hoặc một số) với kết luận
+ Luận cứ: có thể là một thông tin miêu tả hay là một định luật, mộtnguyên tắc xử thế nào đấy
Nói đến thao tác lập luận là nói đến hoạt động của tư duy lôgic Khingười ta tiến hành lập luận có nghĩa lập luận là một hành động trong suốtquá trình làm một bài văn nghị luận Để tiến hành hành động này, người taphải đưa ra các lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc Thao tác lậpluận chính là sự trình bày hệ thống những lí lẽ và luận chứng một cách chặtchẽ, rành mạch, gãy gọn theo một trình tự hợp lí, đúng với qui luật lôgicnhằm khẳng định hoặc bênh vực một ý kiến, làm sáng tỏ một vấn đề Để làmđược như vậy, chúng ta phải tiến hành một số những thao tác nhất định,những thao tác đó được gọi là thao tác lập luận Vậy thao tác lập luận là thaotác được sử dụng để thực hiện một hành động lập luận
Trong lí thuyết Làm văn người ta đưa ra một số những thao tác lậpluận cụ thể như: thao tác lập luận chứng minh; thao tác lập luận giải thích;thao tác lập luận phân tích; thao tác lập luận so sánh; thao tác lập luận bácbỏ; thao tác lập luận bình luận Các thao tác này học sinh được học cụ thể,cặn kẽ trong nhà trường từ cấp THCS đến THPT
Trang 33Để thực hiện được các thao tác lập luận thì cần phải có kĩ năng lậpluận Kĩ năng lập luận là kĩ năng vận dụng thành thạo các thao tác của tư duylôgic như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, trừu tượnghoá v.v… theo những trật tự lôgic như qui nạp, diễn dịch, tổng - phân - hợp,loại suy v.v… để khẳng định hay bác bỏ một ý kiến, một vấn đề.
2.3 Thao tác lập luận phân tích
Trong văn nghị luận, thao tác lập luận phân tích có quan hệ với thaotác lập luận lôgic Vì vậy, thao tác lập luận phân tích chính là một thao tác tưduy lôgic Một mặt nó dùng để nhận thức hiện thực, mặt khác nó lại đượcdùng để trình bày nhận thức của chúng ta về hiện thực Nhưng xét ở góc độ
tư duy lôgic ta thấy thao tác lập luận phân tích và tổng hợp chủ yếu là dùng
để trình bày ý kiến của chúng ta về hiện thực Đã là để trình bày ý kiến thìnhất thiết nó phải là một hoạt động Hoạt động này phải tuân theo nhữngcách thức, những nguyên tắc nhất định, đảm bảo được tính lôgic Đây chính
là lí do để coi thao tác lập luận phân tích là một thao tác tư duy lôgic
Thao tác lập luận phân tích được vận dụng thường xuyên trong nhiềulĩnh vực khác nhau của cuộc sống Để nhận thức thế giới khách quan, conngười cần phân tích để đi sâu tìm hiểu, khám phá và nhận biết bản chất của cáchiện tượng Phân tích là một thao tác tư duy luôn được sử dụng trong quá trìnhnhận thức đó Bản chất của nghị luận là nhằm khám phá và nhận thức vấn đềđặt ra trong cuộc sống nói chung và văn học nói riêng Rõ ràng, thao tác lậpluận phân tích là một thao tác có vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết khôngchỉ trong lĩnh vực của cuộc sống, mà còn trong quá trình học tập của học sinh,đặc biệt là trong quá trình học Làm văn, viết văn, cụ thể là văn nghị luận
Thao tác lập luận phân tích có đối tượng và phạm vi rất rộng lớn, từhiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm, xu hướng, giai đoạn văn học,…) đếncác vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như: tưtưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống,…Tuy nhiên khi phân tích cần phải biếtphân chia đối tượng (vấn đề cần nghị luận) theo một tiêu chí nào đó để tránh
sự phân chia lộn xộn, hời hợt và thiếu tính khoa học
Trang 342.4 Vị trí, vai trò của thao tác lập luận phân tích trong quá trình làm văn nghị luận
Như đã nói ở trên, thao tác lập luận phân tích không bao giờ đứng độclập, tách biệt trong quá trình tạo lập văn bản mà nó có sự kết hợp với cácthao tác khác như: chứng minh, giải thích, so sánh, bác bỏ, bình luận
Lập luận phân tích như một sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình tạo lập vănbản nghị luận Nó luôn tồn tại trong tất cả các thao tác lập luận luận khác
Khi giải thích một vấn đề, người ta dùng lí lẽ là chủ yếu và dẫn chứng
để cắt nghĩa, giảng giải, phân tích, làm sáng tỏ một ý kiến, một nhận địnhnào đó vốn chưa được công nhận một cách phổ biến, hiển nhiên, làm chongười đọc hiểu đầy đủ, sâu sắc ý kiến và nhận định đó, từ đấy có nhận thức
và hành động đúng Như vậy, ngoài giải thích người ta còn phải sử dụng cảthao tác phân tích và chứng minh để người đọc hiểu rõ hơn vấn đề
Để chứng minh một vấn đề người ta dùng dẫn chứng và lí lẽ để minhhọa, xác nhận, khẳng định, bênh vực một cách chắc chắn sự đúng đắn củamột ý kiến, một nhận định, một vấn đề Trong chứng minh, lí lẽ là một phần,còn chủ yếu là dẫn chứng Để làm nổi bật vấn đề có lúc ta cần phải phân tíchdẫn chứng rồi dùng lí lẽ để liên kết, dẫn dắt các dẫn chứng, các vấn đề saocho hợp lí, mạch lạc
Trong thế giới khách quan, có nhiều sự vật, hiện tượng có những điểmchung và liên quan mật thiết với nhau, nhưng vẫn có những nét riêng Bởivậy, trong quá trình nhận thức, người ta thường so sánh để tìm ra đượcnhững điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng để có những nhận xét,đánh giá chính xác về chúng Nhưng để tìm ra sự giống nhau và khác biệtgiữa các đối tượng người ta phải tiến hành phân tích đối tượng đó ra thànhtừng yếu tố, từng bộ phận rồi mới có thể đem chúng ra để so sánh, để đánhgiá, để nhận xét Không chỉ so sánh, phân tích mà đôi khi còn phải kết hợpvới cả bình luận để làm nổi bật vấn đề được đem ra so sánh
Trang 35Trong cuộc sống, nhiều khi ta bắt gặp những ý kiến sai lầm, những lờinói, bài viết lệch lạc, thiếu chính xác… Đứng trước những tình huống đó, tathường trao đổi, tranh luận, phân tích, mổ xẻ vấn đề để tìm ra cái đúng, cáiphù hợp, cái sai, cái không phù hợp, để từ đó có quan điểm đồng tình haybác bỏ Khi bác bỏ cũng cần phải có lí lẽ để giải thích và những dẫn chứngđúng đắn, khoa học để chỉ rõ những sai lầm, lệch lạc, thiếu khoa học của mộtquan điểm, ý kiến nào đó Có như vậy vấn đề được đem ra nghị luận mới sâusắc, giàu tính thuyết phục.
Còn bình luận là một thao tác chúng ta thường hay gặp trên cácphương tiện truyền thông về những vấn đề như thời sự, thể thao, văn hóa,quân sự… Mục đích của việc bình luận nhằm dẫn dắt người nghe từ chỗchưa biết đến chỗ biết, từ chỗ chưa hiểu đến chỗ hiểu vấn đề Muốn vậyngười bình luận phải hiểu sâu sắc vấn đề, biết phân tích vấn đề một cách rõràng, cặn kẽ, đồng thời phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể, xác thực để làmsáng tỏ vấn đề được đem ra bình luận Khi các quan điểm, ý kiến khác nhauđược phân tích thấu đáo thì mới có thể đưa ra được những lời nhận xét, đánhgiá một cách thoả đáng
Nói tóm lại, dù có vị trí, vai trò khác nhau trong mỗi thao tác lập luậnnhưng ta thấy thao tác phân tích luôn luôn hiện diện ở các thao tác đó.Chúng ta cũng phải khẳng định rằng giữa các thao tác lập luận luôn có sựgiao thoa, đan xen với nhau, đôi khi ta không thể tách bạch chúng ra được
Trước đây trong Làm văn người ta thường căn cứ vào các thao tác lậpluận chủ yếu để chia ra thành các kiểu bài: Phân tích, Giải thích, Chứngminh, Bình luận…Quan niệm này chỉ phù hợp với kiểu làm văn truyềnthống Nhưng trong thực tế tạo lập văn bản nghị luận không thể chỉ sử dụngmột thao tác thuần tuý hoặc chứng minh, hoặc giải thích, hoặc bình luận…
mà phải có sự kết hợp nhiều thao tác lại với nhau Gọi là kiểu bài phân tích,chứng minh, giải thích, bình luận có nghĩa là gọi tên theo thao tác chínhđược sử dụng trong bài nghị luận Thí dụ khi phân tích tác phẩm “Chí Phèo”
Trang 36của nhà văn Nam Cao, ngoài thao tác phân tích là chính thì bên cạnh đó tacòn phải sử dụng thao tác chứng minh, bình luận để làm nổi bật cái hay, cáiđặc sắc về cả nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm… Thao tác lập luận phântích không chỉ là thao tác chính trong kiểu bài phân tích, mà trong các kiểubài chứng minh, giải thích, bình luận thao tác phân tích vẫn có mặt Ở kiểubài chứng minh, thao tác phân tích được dùng để phân tích dẫn chứng nhằmlàm sáng tỏ hơn cho vấn đề Ở kiểu bài giải thích, bình luận thao tác này gópphần phân tích, mổ xẻ vấn đề cần bình luận hay giải thích.
Cách gọi theo kiểu bài như hiện nay là không còn phù hợp nữa Màngười ta nhận thấy quá trình tạo lập một văn bản nghị luận là quá trình vậndụng tổng hợp các thao tác lập luận Thao tác lập luận phân tích chỉ là mộttrong số những thao tác được sử dụng trong quá trình tạo lập văn bản nghịluận mà thôi
2.5 Nội dung của thao tác lập luận phân tích
Như ở trên chúng tôi đã đề cập, thao tác lập luận phân tích có đốitượng và phạm vi rất rộng lớn Từ hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm, xuhướng, giai đoạn văn học,…) đến các vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhautrong đời sống xã hội như: tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống… Khi phântích cần phân chia đối tượng nghị luận thành từng phần, từng phương diện đểnghiên cứu, khảo sát, để rồi từ đó dẫn đến kết luận Tùy từng đối tượng cụthể mà ta có cách phân tích khác nhau Những vấn đề thuộc về đời sống xãhội thì có cách phân tích khác với những vấn đề thuộc về văn học
Khi phân tích một vấn đề chính trị, xã hội – là một lĩnh vực rất rộnglớn: từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn nhữngvấn đề chính trị, chính sách,từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến nhữngvấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí… yêu cầu ngườiviết phải làm sao nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấn đề, phân tích mặtsai, mặt đúng, mặt có lợi, mặt có hại của nó; đồng thời chỉ ra nguyên nhân vàbày tỏ thái độ, ý kiến , nhận định… của người viết
Trang 37Ví dụ: khi tìm hiểu văn bản “Bệnh lề mề” trong SGK Ngữ văn 9 (tập 2),tác giả bàn luận về hiện tượng lề mề đã trở thành một căn bệnh (sai hẹn, đichậm, không coi trọng người khác…) đó là hiện tượng coi thường giờ giấc ởnhững công việc chung Tác giả đã đưa ra một số dẫn chứng để minh chứngcho hiện tượng đó:
- Trễ giờ ở những cuộc họp, các cuộc hội thảo
- Quý thời gian của mình chứ không tôn trọng thời gian của ngườikhác
- Tạo ra một tập quán xấu: các giấy mời phải ghi thời gian sớm hơn.Nguyên nhân gây ra bệnh lề mề đó là do: coi thường việc chung,không biết quý trọng thời gian trong các cơ quan đoàn thể, thiếu tự trọng,thiếu tôn trọng người khác, không coi mình là người có trách nhiệm đối vớicông việc chung Từ những nguyên nhân đó gây ra một loạt những tác hạicủa bệnh lề mề, tạo thành thói quen khó thay đổi, làm phiền mọi người, làmmất thì giờ của người khác, không biết tự trọng, tạo thói quen ích kỷ, gây hạicho tập thể, làm nảy sinh cách đối phó với căn bệnh lề mề: thời gian họptrong giấy mời được ghi sớm hơn
Trong văn bản này, tác giả đã phân tích nguyên nhân, tác hại của bệnh
lề mề một cách rõ ràng, mạch lạc, đã gây được sự chú ý và thuyết phụcngười đọc bằng những dẫn chứng xác thực của mình Từ đó tác giả đưa ramột kết luận xác đáng: mọi người phải có sự tôn trọng lẫn nhau, làm việcđúng giờ là tác phong của người có văn hóa
Thông qua ví dụ trên chúng ta rút ra được cách làm một bài nghị lụânphân tích về một sự việc, hiện tượng đời sống:
- Thứ nhất phải hình dung cho rõ sự việc, hiện tượng cần nghị luận.Người viết bài cần nêu rõ rõ được sự việc, hiện tượng cần nghị luận, gọi tên
nó ra, kể các biểu hiện của nó, mức độ phổ biến của nó đến đâu Việc gọi tên
sự việc, hiện tượng đòi hỏi ở người viết một năng lực khái quát nhất định Cóthể lấy tên gọi của sự việc, hiện tượng làm nhan đề của bài viết
Trang 38Thứ hai là phải phân tích,đánh giá tính chất tốt xấu, lợi hại, hay
-dở của sự việc, hiện tượng, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự việc, hiện tượng
đó và bày tỏ thái độ đồng tình, biểu dương hay lên án, phê phán của mìnhđối với sự việc, hiện tượng đó
Trên đây chỉ là cách làm mang tính hướng dẫn khái quát Tuỳ vàotừng sự việc, hiện tượng cụ thể mà chúng ta có cách triển khai khác nhau,tuy nhiên vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản
Với những vấn đề về tư tưởng, đạo lí – là những vấn đề có ý nghĩa đốivới đời sống - thường được đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn,khẩu hiệu hoặc khái niệm như: học đi đôi với hành, có chí thì nên, khiêmtốn, khoan dung, nhân ái, không có gì quý hơn đọc lập tự do…những tưtưởng, đạo lí ấy thường được nhắc đến trong đời sống, song để hiểu cho rõ,cho sâu, đánh giá cho đúng ý nghĩa của chúng là một yêu cầu cầu cần thiếtđối với mỗi con người Phân tích một tư tưởng đạo lí có phần giống với phântích một sự việc, hiện tượng trong đời sống chính trị, xã hội ở chỗ: sau khiphân tích sự việc, hiện tượng người viết có thể rút ra những tư tưởng và đạo
lí của đời sống Nhưng nó khác về xuất phát điểm và lập luận Về xuất phátđiểm, những vấn đề sự việc, hiện tượng đời sống phải xuất phát từ sự thựccuộc sống mà nêu ra tư tưởng,bày tỏ thái độ Còn những vấn đề tư tưởng,đạo lí trái lại, xuất phát từ tư tưởng, đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thìvận dụng các sự thật ở đời sống để chứng minh, nhằm trở lại khẳng định(hay phủ định) một tư tưởng nào đó Đây là vấn đề nghị luận nghiêng về tưtưởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn Yêu cầu người viết phải làm sáng tỏ tưtưởng, đạo lí bằng cách giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, đốichiếu…để chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó, nhằmkhẳng định tư tưởng của người viết Về mặt hình thức bài viết phải có baphần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn chính xác, sinh động Ví dụkhi xem xét văn bản “Thời gian là vàng” – bàn về giá trị của thời gian Để
Trang 39triển khai vấn đề này, tác giả đã đưa ra những luận điểm chính của từngđoạn là:
- Thời gian là sự sống
- Thời gian là thắng lợi
- Thời gian là tiền bạc
- Thời gian là tri thức
Sau mỗi luận điểm tác giả đã đưa ra dẫn chứng để chứng minh, thuyếtphục cho giá trị của thời gian
Với luận điểm thời gian là sự sống, tác giả đã đưa ra dẫn chứng về mộtngười bị bệnh nặng nếu được chạy chữa kịp thời thì sống, mà chậm trễ thì chết
Với luận điểm thời gian là thắng lợi, tác giả đưa dẫn chứng về các anh
bộ đội trong chiến đấu, nếu biết nắm bắt thời cơ, đánh địch đúng lúc thìthắng lợi, để mất thời cơ là thất bại
Với luận điểm thời gian là tiền, tác giả đưa ra dẫn chứng về nhữngngười kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúg lúc, đúng thời điểm thì có lãi, nếukhông đúng lúc là bị lỗ
Với luận điểm thời gian là tri thức, tác giả lại đưa ra dẫn chứng tronghọc tập, nhất là việc học ngoại ngữ, phải có sự thường xuyên, kiên trì, nếukhông thường xuyên, kiên trì thì không bao giờ giỏi được
Cuối cùng tác giả đã đưa ra một kết lụân: biết tận dụng thời gian thìlàm được nhiều điều cho bản thân và xã hội, còn bỏ phí thời gian thì sẽ cóhại về sau hối tiếc cũng không kịp Từ kết luận này tác giả khẳng định mộtđiều là tất cả mọi người không nên lãng phí thời gian, bởi thời gian là vàng
và nhất là đối với học sinh thì càng phải biết quí thời gian, tận dụng thời gian
để học tập cho tốt
Trong văn bản này, tác giả đã sử dụng lập luận phân tích và chứngminh Các luận điểm được triển khai theo lối phân tích những biểu hiệnchứng tỏ thời gian là vàng Sau mỗi luận điểm là dẫn chứng minh họa choluận điểm
Trang 40Từ ví dụ trên ta rút ra được cách làm bài nghị luận phân tích về mộtvấn đề tư tưởng, đạo lí Trước tiên, người viết phải xác định được vấn đề cầnnghị luận, rồi tìm hiểu tính chất của vấn đề, xác định được những yêu cầu vềnội dung, về tri thức cần có rồi đến tìm ý nghĩa của vấn đề, giải thích ý nghĩacủa vấn đề (ở văn bản “Thời gian là vàng” tác giả đã giải thích: vàng thì muađược còn thời gian không mua được Vàng có giá còn thời gian là vô giá).Tiếp đó người viết cần đưa ra những lí lẽ để đánh giá, nhận xét vấn đề, đồngthời đưa ra những dẫn chứng để minh chứng cho những dẫn chứng của mình.Cuối cùng là khẳng định giá trị của vấn đề, nâng vấn đề ở một tầm khái quátcao hơn.
Trên đây chúng tôi đã điểm một số vấn đề thuộc đời sống xã hội,chúng có những yêu cầu và cách thức triển khai khác nhau Còn đối vớinhững vấn đề thuộc lĩnh vực văn học lại có những yêu cầu và cách thức triểnkhai phù hợp với từng vấn đề một Chẳng hạn, khi phân tích một tác phẩmvăn học, trước hết người viết phải tìm hiểu những tài liệu lịch sử xã hội nhất
là những câu chuyện người thật, việc thật, những bài hồi kí có bối cảnh liênquan trực tiếp đến bối cảnh của tác phẩm Tiếp đó người viết phải tìm đượcnhững bài viết của chính tác giả về những sáng tác của mình nhất là về tácphẩm sắp được phân tích Rồi tìm đọc những bài nghiên cứu, phê bình, tiểuluận,…có liên quan đến tác phẩm.Tìm hiểu những sáng tác cùng đề tài củacùng tác giả hay của các tác giả khác để có sự so sánh, đối chiếu, đào sâu,
mở rộng những kết quả đã phân tích về tác phẩm Và rồi yêu cầu không thểthiếu được đối với người phân tích là phải đọc kĩ văn bản để tìm ra nhữngvăn bản chuẩn xác nhất Điều quan trọng là khi phân tích tác phẩm văn họcngười viết phải nêu ra được những đánh giá, nhận xét về nhân vật, sự kiện,chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm văn học Những đánh giá, nhận xét vềtác phẩm phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận củanhân vật và nghệ thuật của tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát.Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm trong bài viết phải rõ ràng, đúng đắn, có