1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hướng dạy học truyện ngắn chí phèo của nam cao ở nhà trường thpt theo đặc trưng loại thể

164 1,4K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 657,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đọc nhận ra trênnhững trang viết của Nam Cao giọng khách quan lạnh lùng xen lẫn đồngcảm, sẻ chia, giọng trữ tình đầy chất thơ hoà lẫn trong giọng văn xuôi phàmtục, giọng cay đắng c

Trang 1

MỞ ĐẦU

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảngkhoá VIII đã nhấn mạnh đến việc “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáodục - Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tưduy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến

và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…”

Trong “Luật giáo dục” được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 ở chương I “Những quy địnhchung” đã nhấn mạnh tới yêu cầu và đổi mới phương pháp giáo dục là

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của họcsinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Thời đại bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật như hiện nay yêu cầucon người có năng lực, trình độ nhận thức phải có tầm khái quát toàn diện

và sâu sắc Cùng với các môn khoa học khác, môn văn có một vị trí và vaitrò quan trọng trong hệ thống giáo dục

Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy văn họcphải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn, vừa mang bảnchất xã hội, vưà là một hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật

Loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của vănhọc, có liên quan khăng khít đến nội dung Mỗi tác phẩm văn học đều tồntại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp, mộtcách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó Vì vậy, vấn đề loại thể vănhọc trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những nhưmột vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề về phương pháp

Nói đến vấn đề loại thể trong văn học là nói đến tính chính thể trongmột tác phẩm với sự thống nhất của một nội dung nhất định trong một hình

Trang 2

thức nhất định Việc tìm hiểu đặc trưng loại thể văn học càng trở nên quantrọng hơn bao giờ hết Đó là chìa khoá để khám phá những giá trị đích thựccủa từng tác phẩm, cùng với sự vận động và phát triển của nền văn học.

Muốn nghiên cứu, giảng dạy thành công một tác phẩm văn chươngthì vấn đề loại thể cần quan tâm hàng đầu Vì nói đến loại thể là nói đếntính chính thể trong một tác phẩm văn chương Mỗi tác phẩm văn học đềuchỉ tồn tại ở một thể tài và biểu hiện chủ yếu tính chất của một loại hìnhvăn học nhất định Điều đó nhất thiết đòi hỏi phải có phương pháp và biệnpháp dạy học phù hợp để đạt hiệu quả

Trong thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng việc dạy học văn ở nhà trườngViệt Nam chóng ta hiện nay đã bộc lộ không Ýt những hạn chế về nhiềumặt Dạy và học văn đã không theo kịp công tác nghiên cứu và cũng vì thế

mà không đảm nhận tốt nhiệm vụ của nó Thực trạng các giờ dạy văn hiệnnay còn đơn điệu, tẻ nhạt, khiến học sinh không hứng thú học văn dẫn đếnchất lượng các giờ học văn ngày càng giảm sút Các tác phẩm văn học thực

sự có giá trị chưa có được chỗ đứng xứng đáng trong lòng những người yêuvăn chương

Mét trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới thực trạng trên làkhi phân tích tác phẩm văn học chúng ta không xác định đúng “chất củaloại” trong thể Xa rời bản chất loại thể tác phẩm, thực chất là xa rời tácphẩm cả về “linh hồn” lẫn “thể xác” Vì vậy, khi khai thác tác phẩm vănhọc không những không làm cho tác phẩm trở nên sống động, giàu sức gợi

mà trái lại làm cho tác phẩm khô khan, tác phẩm chết cứng Bên cạnh đó,bệnh công thức, dập khuôn máy móc, bệnh xã hội dung tục cũng đều sinh

ra từ đó Ngay cả giáo trình phương pháp dạy học văn cũng chưa đi vào đặctrưng loại thể tác phẩm, điều đó dẫn tới hiện tượng cứ thấy truyện là dạytheo tự sự, thấy thơ dạy theo hướng trữ tình Quan điểm dạy học văn máy

Trang 3

móc và thiếu khoa học như vậy đã làm giảm đi cái hay vốn có của đặctrưng bộ môn, của từng tác phẩm.

Tác gia Nam Cao trong nền văn học Việt Nam hiện đại và trong nhàtrường phổ thông Ông là một nhà văn lớn Các tác phẩm của Nam Cao đãthể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao cả, một phong cách nghệ thuật đadạng, phong phú Nếu “Đời thừa”, “Lão Hạc” là một trong những đại diệnxuất sắc cho phong cách nghệ thuật Nam Cao theo kiểu kết cấu mới vớikiểu diễn biến tâm lý và một giọng điệu trữ tình khác biệt thì “Chí Phèo”,

“Sống mòn” là hiện thân khác cho một tài năng phong cách theo lối điểnhình hoá đầy kịch tính

Với tác phẩm “Chí Phèo” trong chương trình THPT, đây là mộttruyện ngắn rất hay, rất đặc sắc về đề tài người nông dân của Nam Cao.Bên cạnh đó, còn có một số tác phẩm có cùng đề tài như: Tắt đèn (Ngô TấtTố), Lão Hạc của (Nam Cao)… Nhưng khi giảng dạy, phần lớn giáo viênchỉ đi sâu khai thác, khám phá giá trị hiện thực chung nhất mà chưa chú ýđến chiều sâu kịch tính hiện thực của tác phẩm, chưa khai thác được chiềusâu tư tưởng tác phẩm, giá trị nghệ thuật rất riêng của truyện

Yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay là phải xác định đúng “chất củaloại” trong thể khi phân tích tác phẩm văn chương Bởi “Giảng dạy tácphẩm văn chương theo loại thể chính là một phương diện lớn của việcgiảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức và nộidung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồngthời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao nhất” (23/44)

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài

“Hướng dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao ở nhà trường THPT theo đặc trưng loại thể” Hy vọng rằng từ việc ứng dụng lý luận hiện

đại trong thực tiễn giảng dạy tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đạt kết quảtốt, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học tác phẩm văn chương

Trang 4

trong nhà trường phổ thông Mong muốn của chúng tôi muốn tìm ra phươngpháp, biện pháp dạy học thích hợp trong “Chí Phèo” nói riêng, từ đó áp dụngvào dạy học các thể loại truyện ngắn khác trong nhà trường phổ thông.

II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:

Sự nghiệp văn học của Nam Cao vô cùng phong phú, là một di sản

có giá trị và có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt Tính độc đáo của tư tưởng vàphong cách Nam Cao đã được giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy vănhọc và đông đảo bạn đọc khám phá, khẳng định từ lâu Gần nửa thế kỷ qua,

đã có hơn 200 công trình lớn, nhỏ viết về Nam Cao và những sáng tác củaông Quả đúng như vậy, việc nghiên cứu về tác gia Nam Cao có thể khẳngđịnh rằng đã có cả một quá trình và có cả bề dày thời gian của nó Chúngtôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu về tác gia Nam Cao và cáctác phẩm của ông có liên quan tới đề tài

1 Các công trình nghiên cứu về Nam Cao:

Nam Cao cầm bút vẻn vẹn chỉ có 15 năm, mà giá trị văn chương củaNam Cao ngày càng toả sáng ánh hào quang Song cuộc đời, sự nghiệp vănchương của Nam Cao trong suốt một thời gian dài không được giới nghiêncứu, phê bình, bạn đọc kể đến Trước cách mạng Tháng Tám ngoài lời tựacho tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” (NXB Đời Mới, H,1941) của Lê VănTrương thì hầu như trong những năm 1940 không có một bài nghiên cứu,phê bình nào trực tiếp bàn về Nam Cao và các tác phẩm của ông

Cách mạng Tháng Tám thành công cho tới nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu và các bài viết bàn về Nam Cao và các sáng tác của ông ởnhiều góc độ.Có thể khẳng định rằng trong khoảng 5-> 6 thập kỷ qua, việcnghiên cứu Nam Cao đã đạt được nhiều thành tựu và tiến bộ Giới nghiêncứu phê bình hiện nay khi đọc lại Nam Cao đã không dừng lại ở những kếtluận có sẵn mà cố gắng khơi sâu vào những “địa tầng” mới của văn chương

Trang 5

Nam Cao Vẫn trên cơ sở khẳng định con người và tài năng của Nam Caonhưng tất cả đã được nâng lên ở những chiều kích mới, với những pháthiện sâu hơn, tâm đắc hơn về cuộc đời về nghệ thuật sáng tạo, về giá trịhiện thực và giá trị nhân đạo của nhà văn, thể hiện trong những bài viếthoặc ý kiến phát biểu ở các hội thảo của các nhà nghiên cứu: Hà Minh Đức,Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Lê Đình Kị, Nguyễn Hoành Khung,Nguyễn Văn Hạnh, Lê Huy Bắc, Văn Giá, Hoàng Ngọc Hiến, Trần Đình

Sử, Trần Đăng Suyền…

Trong cuốn “Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc” in năm 1961

Hà Minh Đức đã chỉ ra nét độc đáo trong tác phẩm của ông và cho rằng:Nam Cao thiên về phân tích những biểu hiện nội tâm của nhân vật Do đóhầu hết các tác phẩm của Nam Cao thường kết cấu theo lối tâm lý VàPhong Lê trong bài “Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao” cũng đã cónhững nhận định sâu sắc: “Nói bút pháp Nam Cao là nói một bút pháp hiệnthực nghiêm ngặt Một bút pháp chủ trương lách vào tận đáy sâu sự thật.Lách vào từng ý nghĩ, từng suy tính cùng cực chi lý” Còng trong bài viếtnày tác giả Phong Lê chỉ ra bút pháp hiện thực Nam Cao qua các sáng tác:

“Đọc Nam Cao ta có dịp phanh phui so đi lặp lại đến tận đáy sâu sự thật, vàqua đó chiêm nghiệm sự đa dạng, đa thanh của cuộc đời Bên cái sống làcái chết Bên cái chết thật có cái chết mòn Bên cái chết đói có cái chết no.Bên cái khùng điên có cái nhẫn nhục Bên người lương thiện là kẻ lọc lõi.Bên người bình thường có loại dị dạng Bên cái thuận có cái nghịch Bêncái bi là cái hài Bên sự tĩnh lặng là biết bao ồn náo”

Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn “Nhà văn – tư tưởng và phong cách”(NXB ĐHQG, H, 2001) đã chỉ ra vẻ đẹp tư tưởng nhân đạo trong tác phẩmcủa Nam Cao: Nam Cao là người hay quan tâm đến vấn đề nhân phẩm vàlương tâm Trong hầu hết các tác phẩm của Nam Cao, một câu hỏi khôngngừng được vang lên: “Con người có được làm người, có bản lĩnh hồn cho

Trang 6

quỷ dữ hay không? Chính những lúc con người suy ngẫm nhớ thương thìvấn đề này hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết” Và trong bài “Nhớ Nam Cao

và những bài học của ông”, Nguyễn Đăng Mạnh đã có nhận định sắc sảo:

“Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinhtrọng đối với con người Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người

bị lăng nhục chỉ vì bị đày đoạ vào cảnh nghèo đói cùng đường”

Nguyễn Văn Hạnh với bài “Nam Cao và khát vọng một cuộc sốnglương thiện” nhận xét: “Với quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình, có thểnói trong văn học ta nửa đầu thế kỷ XX, hơn bất kỳ một nhà văn nào khác,Nam Cao đã đặt ra trực diện vấn đề kiếp người, vấn đề thân phận conngười, vấn đề con người bị tha hoá, không được sống như bản tính củamình, theo những nhu cầu tự nhiên lành mạnh của mình” (42/127) Ngoài

ra còn có nhiều bài viết của các tác giả: Vũ Dương Quý với bài “Nhữngnhân vật, những cuộc đời và nẻo đường đi tìm nhân cách”, Đinh Trí Dũngvới bài “Bi kịch tự ý thức – nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của NamCao”, Trần Đăng Xuyền “Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhânđạo chủ nghĩa lớn”… Cũng như những bài viết của Phong Lê, Hà MinhĐức, Nguyễn Văn Hạnh… nói chung đều gặp nhau và thống nhất trongviệc khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo và một chủ nghĩa nhân đạo riênghết sức cao đẹp và vững chắc của nhà văn lớn Nam Cao

Tính mới mẻ, hiện đại của ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao đã thu hútrất nhiều giới nghiên cứu, phê bình và đã có nhiều bài viết đề cập khá sâusắc xung quanh vấn đề này của nhà văn Nam Cao: Bích Thu với bài: “Sứcsống của một sự nghiệp văn chương” in trong cuốn “Nam Cao tác gia vàtác phẩm” đã nhận xét: “Ngôn ngữ trong sáng tác của Nam Cao là ngônngữ đa âm, phức điệu hiện đại, dù được viết vào thời đại ông nhưng bâygiờ đọc vẫn thấy mới… “Ngôn ngữ của tác phẩm Nam Cao là sự hoà âmphối hợp của nhiều loại ngôn ngữ khác nhau như là sự sống tự nó cất lên

Trang 7

như thế” (98/32) Lại Nguyên Ân trong “Nam Cao và cuộc cách tân vănhọc đầu thế kỷ XX” đã nhận định rằng: “Đóng góp vào việc xây dựng vàphát triển văn xuôi mới của Nam Cao bộc lộ đặc biệt rõ trong ngôn ngữ vănxuôi” Nam Cao là một trong số không nhiều tác giả cùng thời có những tácphẩm mà ngôn ngữ dường như không cũ đi so với thời gian, tức là cónhững tác phẩm đạt đến mức cổ điển của văn xuôi tiếng Việt Và Phong Lêtrong “Nam Cao – Văn và đời”, lời giới thiệu tuyển tập Nam Cao, NXBvăn học H, 1987 đã viết: “Cảnh ngộ nào – ngôn ngữ Êy Tính cách nào –lời lẽ Êy”.

Vấn đề cốt truyện và cách kể chuyện của nhà văn cũng được khánhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý: Nhìn chung tất cả các ýkiến nhận định đánh giá hầu như đều thống nhất với nhau ở quan điểm:Truyện ngắn Nam Cao là truyện viết rất Ýt sự kiện, Ýt nhân vật và chủ yếu

là truyện xoay quanh cuộc sống đời thường, kết cấu truyện thường là kếtcấu tâm lý bỏ ngỏ, kết cấu vòng tròn Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “NhớNam Cao và những bài học của ông” “Chân dung văn học – 1990” in lạitrong “Nam Cao tác gia và tác phẩm” NXBGD – 1998 có nhận xét: “Mộttrong những đặc sắc của ngòi bút Nam Cao là đã mạnh dạn đưa cái “hàngngày” vào văn học nghĩa là chẳng cần sự kiện gì quan trọng, chẳng cần gìkịch tính lớn lao” Tác giả cũng nhấn mạnh: viết được như thế thực là khó,nếu như vẫn muốn trung thành với chủ nghĩa hiện thực Trần Đăng Suyềntrong “Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn”cũng đã đưa ra ý kiến gần với quan điểm trên khi cho rằng: “Đối với NamCao, cái quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống làcái chân thật của tư tưởng, của nội tâm nhân vật Xét cho tới cùng, cái quantrọng nhất trong tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân

mà là con người trước sự kiện, biến cố”

Trang 8

Xem xét ở một bình diện nữa trong phong cách và tài năng của NamCao còng thu hút nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Đó chính là bình diệnsáng tạo đầy tài năng qua ngôn ngữ, giọng điệu trong các tác phẩm Phong

Lê trong bài “Cấu trúc và ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao”(Văn nghệ quânđội số tháng 10 – 1987) nhận xét: “Có một ngôn ngữ tác giả mang chấtgiọng riêng của Nam Cao, giàu suy nghiệm triết lý, có thể xem là âm chủ,nhưng chất giọng đó không lấn át, không che khuất ngôn ngữ nhân vật.Bích Thu trong bài “Sức sống của một sự nghiệp văn chương” đã khẳngđịnh: “Có thể nói, nét độc đáo tạo nên phong cách Nam Cao là sự pha trộntài tình các giọng điệu trong mỗi tác phẩm của ông Người đọc nhận ra trênnhững trang viết của Nam Cao giọng khách quan lạnh lùng xen lẫn đồngcảm, sẻ chia, giọng trữ tình đầy chất thơ hoà lẫn trong giọng văn xuôi phàmtục, giọng cay đắng chua chát xen lẫn hài hước, tự trào…”

Đặc biệt, trong thời gian gần đây các nhà nghiên cứu, phê bình,người thưởng thức tác phẩm mở ra hướng tìm hiểu, nghiên cứu Nam Cao ởchiều sâu thế giới nghệ thuật, khám phá ở nhiều bình diện, nhiều góc độ:Phạm Quang Long có bài nghiên cứu “Một đặc điểm của thi pháp truyệnNam Cao” (Tạp chí VH sè 2 – 1994), in lại trong “Nam Cao về tác gia vàtác phẩm” NXBGD – H, 1998 đã viết: “Một trong những đặc điểm nổi bậtcủa truyện ngắn Nam Cao là ông đã sử dụng rất tài tình cả một hệ thốngcác tình huống truyện dưới dạng tình huống nhận thức – lựa chọn gắn chặtvới những tình huống tâm lý và trên cơ sở miêu tả, lý giải mọi khía cạnhphong phú, phức tạp của quá trình này mà đi sâu vào thế giới tâm lý củacon người, vào những đối thoại tư tưởng giữa nhà văn với người đọc khôngphải dưới dạng triết lý trừu tượng mà những tư tưởng triết lý, những quanniệm đạo đức, nhân sinh Êy được cảm nhận từ hệ thống hình tượng, từnhững rung động thẩm mỹ” Đỗ Đức Hiểu với bài “Hai không gian trongsống mòn” nhận định: “Sức năng động của sống mòn, chính là sự xung đột

Trang 9

giữa không gian xã hội (“xó nhà quê” và ngoại ô Hà Nội nhem nhuốc) vàkhông gian tinh thần, mơ ước, không gian hồi tưởng, không gian khátvọng” Cái xung đột mờ đục/sáng trong làm nên sức sống và giá trị lâu bềncủa “Sống mòn".

Từ chiều sâu giá trị nghệ thuật, từ góc độ thi pháp truyện Nam Cao

đó, Trần Đăng Suyền với bài nghiên cứu: “Thời gian và không gian trongthế giới nghệ thuật của Nam Cao” (Tạp chí văn học số 5, 1991) đã pháthiện ra nhiều chiều kích, nhiều kiểu không gian, thời gian rất đặc trưngtrong sáng tác của Nam Cao Ví như là không gian vùng nông thôn, khônggian nhà ở, không gian con đường, không gian cá nhân, không gian đời tư,thời gian hiện thực hàng ngày, thời gian hồi tưởng, thời gian tâm trạng…Tác giả bài viết cũng nhấn mạnh: “Là một nghệ sĩ bậc thầy, Nam Cao đã sửdụng linh hoạt các yếu tố thời gian và không gian trong quá trình sáng tạotác phẩm của mình Từ không gian nhà ở, căn buồng, không gian nghệthuật của Nam Cao còn vươn tới các không gian khác kể cả không gian tâmtưởng” Hà Minh Đức có bài “Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tácphẩm của Nam Cao” (in trong Nam Cao đời văn và tác phẩm – NXBVH,

H, 1997) đã chỉ ra: “Điều đáng quý, đáng được trân trọng ghi nhận là đã có

sự thống nhất sâu xa ở Nam Cao giữa hoàn cảnh nhỏ, hẹp, với hoàn cảnhrộng lớn Nam Cao đã có thể nói về xã hội bằng những đơn vị nhỏ, lấy vi

mô để nói về cái vĩ mô”.(28/316)

Bên cạnh những bài nghiên cứu, tìm hiểu về Nam Cao và giá trị cáctác phẩm của ông, giới nghiên cứu, phê bình đã mở rộng tầm nhìn, phạm vinghiên cứu để khẳng định một cách khách quan, đúng đắn về tài năng củangười nghệ sĩ Nam Cao qua việc so sánh, đối chiếu những nét tương đồngcủa Nam Cao với các nhà văn tên tuổi trên thế giới Trần Ngọc Dung vớibài: “Gặp gỡ giữa M.Gorki và Nam Cao” (in trong cuốn: “Nghĩ tiếp vềNam Cao – NXB Hội nhà văn, H, 1992) đã nhấn mạnh: “Đây là sự gặp gỡ

Trang 10

ngẫu nhiên giữa hai tư tưởng nghệ thuật lớn Chúng ta có căn cứ để kếtluận như vậy: M.Gorki cũng như Nam Cao đều là hai nhà nhân đạo chủnghĩa lớn, đều chú ý đến những con người cùng khổ, bất hạnh, bị xã hội ápbức, bóc lột, đày đoạ đến mức từ nhân tính đến nhân hình, đều phát hiện ởnhững loại người “dưới đáy” của xã hội cũ, không chỉ có nỗi khổ về vậtchất, mà còn có nỗi đau đớn về tinh thần do bị xã hội khinh bỉ, lăng nhục”.Đào Tuấn Ảnh cũng có bài “Tsêkhôp và Nam Cao – một sáng tác hiện thựckiểu mới” (in trong “Nghĩ tiếp về Nam Cao” – NXB Hội Nhà văn, H,1992) đã viết: Điều đầu tiên đập vào mắt độc giả khi đọc tác phẩm củaTsêkhôp và Nam Cao là cả hai đều viết về những điều vặt vãnh của đờisống hàng ngày Và tác giả bài viết nhấn mạnh: “Dưới thần bút của hai nhàvăn, “bi kịch đời thường” đã nâng thành bi kịch của vĩnh cửu bởi họ bắtnhững điều vặt vãnh nhất cũng phải nói lên tiếng nói của mình về ý nghĩacuộc sống con người Chính điều này làm chúng ta không ngần ngại xếphai nhà văn này đứng ngang hàng với các nhà văn – nhà nhân đạo lớn củamọi thời đại”.

Như vậy, qua việc trình bày tình hình nghiên cứu ở trên về tác giaNam Cao cũng như những giá trị qua các sáng tác của ông, chúng tôi có thể

đi đến kết luận rằng: Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về tácgia Nam Cao và các tác phẩm của ông ở nhiều góc độ, bình diện khác nhau

mà thật sâu sắc như: về nội dung tác phẩm, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu,thi pháp phong cách… Song những bài nghiên cứu, chuyên luận nghiêncứu sâu về những nét riêng thi pháp truyện ngắn Nam Cao chưa có nhiều,đặc biệt là mảng các truyện ngắn giàu chất hiện thực Những năm gần đây,

có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ về các tác phẩm của Nam Caosong chưa có công trình nào trực tiếp bàn về hướng dạy truyện ngắn này.Chính vì vậy, việc đưa ra hướng dạy học truyện ngắn hiện thực trong vănhọc Việt Nam 1930-1945 nói chung và truyện ngắn hiện thực Nam Cao nói

Trang 11

riêng cần được quan tâm nghiên cứu để tìm ra hướng dạy học phù hợp đạthiệu quả Luận văn của chúng tôi nghiên cứu về đề tài này trên cơ sở gợi

mở của những người đi trước

2 Tình hình nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp dạy học văn về tác phẩm của Nam Cao ở trường phổ thông.

Nam Cao xuất hiện trong chương trình phổ thông với tư cách là tácgia, được khẳng định là một trong sè Ýt những gương mặt nổi bật của vănxuôi hiện đại, là cây bút tiêu biểu nhất, xuất sắc nhất không chỉ của trào lưuvăn học hiện thực trong giai đoạn phát triển cuối cùng (1940-1945) mà của

cả giai đoạn văn học hiện thực phê phán Việt Nam (1930-1945) Thời giansáng tác không dài, khối lượng tác phẩm để lại không nhiều nhưng chúng

đã thực sự trở thành “mẫu số vĩnh hằng” trong nền văn học dân tộc Nhiềutác phẩm của Nam Cao đã đạt tới “mẫu mực”, “cổ điển” cho thể loại truyệnngắn cũng như truyện dài Do vậy, Nam Cao và các tác phẩm của ông luôn

là mối quan tâm trăn trở của nhiều giáo viên dạy văn và của học sinh, đặcbiệt là của các nhà nghiên cứu chuyên ngành phương pháp Trong mấychục năm qua, nhất là khoảng mười năm trở lại đây đã có nhiều nhàphương pháp với nhiều kinh nghiệm, nhiều thầy cô giáo đầy tâm huyết đã

mở ra nhiều hướng nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh cùng với nhữngtìm tòi phát hiện đầy mới mẻ nhằm tìm ra hướng dạy, phương pháp, biệnpháp dạy học những tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thôngsao cho đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn ởtrường phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học tập: Bên cạnh các sách giáokhoa, sách giáo viên và sách tham khảo cũng có một số cuốn sách thamkhảo và hướng dẫn của một số nhà phương pháp như: Cuốn “Nam Cao –một đời văn” của Lê Tiến Dũng (Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM phát hành năm 2001); “Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà

Trang 12

trường” của Nguyễn Văn Tùng (NXBGD, H, 1997) “Nhà văn và tác phẩmtrong nhà trường – Nam Cao” Văn Giá tuyển chọn và biên soạn (NXBGD,

H, 1999); “Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể”Nguyễn Viết Chữ (NXB ĐHSP 2002); … Có thể nói đây là những tài liệu

bổ Ých và thiết thực cho công việc giảng dạy và học tập về các tác phẩmcủa Nam Cao trong nhà trường phổ thông

Trong truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao đã có nhiều nhà phươngpháp đưa ra các cách tiếp cận và giảng dạy như: Giáo sư Phan Trọng Luậntrong cuốn “Văn học – xã hội – nhà trường” (NXB ĐHQG ‘HN – 1996) đề

ra hướng khai thác và giảng dạy truyện ngắn này theo quan điểm lịch sửnhằm hướng đến cho học sinh những giá trị nhân văn cao cả và đúng đắn,tránh khuynh hướng xã hội học dung tục trong dạy học văn ở nhà trườnghiện nay vẫn còn tồn tại Nguyễn Thanh Hùng có bài “Sống với đôi mắtmở” (Báo văn nghệ số 24 – 1992) và in trong cuốn “Đến với Nam Cao”của nhiều tác giả Tác giả bài viết đặt ra vấn đề: Dạy học tác phẩm “Đôimắt” của Nam Cao, người dạy cũng như người đọc phải phân tích, nhìnnhận, khám phá và cảm nhận bằng cả “Đôi mắt” mở của chính mình mớithấy hết được giá trị, hiểu được đầy đủ thiên truyện ngắn này

Nghiên cứu, khám phá những tác phẩm của Nam Cao PGS – TSNguyễn Thị Thanh Hương có bài “Những tác động thẩm mĩ tiềm tàng trongtác phẩm của Nam Cao” đã đề cập tới những tác động thẩm mỹ rất quantrọng trong các sáng tác của Nam Cao: “Cách thể hiện thực tiễn rất mới củaNam Cao trước hết là do kết quả của sự nhận thức về xã hội, về điều kiệnsống của quần chúng nhân dân… Khả năng tác động tiếp theo còn thể hiện

ở chỗ ông đã giải quyết những vấn đề về số phận con người, quyền sống,quyền làm người, khát vọng đời thường, quan điểm nghệ thuật sâu sắc…Một khả năng tác động thẩm mỹ nữa là cách xây dựng nhân vật của ông.Nhân vật của Nam Cao thật cụ thể, sinh động, đa dạng, có cá tính độc đáo

Trang 13

và rất “lạ” Nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên là một ví dụ cótính chất điển hình…” Bên cạnh đó, tác giả bài viết còn nhấn mạnh: “Dạytác phẩm của Nam Cao ở phổ thông là phải giúp học sinh lĩnh hội được giátrị nhân văn, nhân bản, chủ nghĩa nhân đạo và những tác động giáo dụcthẩm mỹ trong tác phẩm Trên cơ sở đó, học sinh sẽ nhìn lại quá khứ, hiểuhiện tại, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khoá luận nghiên cứu vềphương pháp dạy học các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổthông như: Châu Thị Kim Ngân với đề tài: “Nghiên cứu, tiếp thu và đi tớimột cách dạy thích hợp truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao trong chươngtrình bậc THCS”; Đỗ Bích Liên với đề tài: “Đặc sắc nghệ thuật tác phẩmChí Phèo và biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh líp 11”; NguyễnVăn Thắng với đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhậnngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao ở trường THPT”;Trần Thị Thu Hà với đề tài khoá luận: “Vận dụng tri thức đọc hiểu đểhướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong nhà trườngTHPT”…

3 Tình hình nghiên cứu về truyện ngắn “Chí Phèo”.

“Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao viết về đề tàingười nông dân Tên tuổi của Nam Cao gắn liền với truyện ngắn “ChíPhèo” Tác phẩm này đã được giới nghiên cứu phê bình văn học và đôngđảo bạn đọc mấy thập kỷ qua, đánh giá là tác phẩm nổi bật nhất, không chỉđối với toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nam Cao mà đối với cả trào lưu vănhọc hiện thực 1930-1945 và được coi là một kiệt tác bất hủ của nền văn họcdân tộc Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận xét rất xác đáng về giá trịcủa tác phẩm Là một kiệt tác bất hủ, đồng thời “Chí Phèo” còn là một tácphẩm có vị trí văn học sử đặc biệt Đây vừa là tác phẩm mở đường của nhà

Trang 14

văn lớn Nam Cao lại vừa được coi như là cột mốc đánh dấu bước phát triểncủa chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945.

“Chí Phèo” là truyện ngắn có sức thu hút kỳ lạ đối với giới nghiêncứu phê bình văn học và đông đảo bạn đọc Tính đến nay, theo số liệuthống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có tới hơn bốn mươi bài trực tiếpviết về Chí Phèo và hàng trăm công trình, bài viết nghiên cứu về Nam Cao,trong đó có nói đến Chí Phèo ở nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh khácnhau Song có thể nói, chưa có công trình hay bài viết nào trực tiếp đề cậpđến hướng dạy truyện ngắn này theo đặc trưng thi pháp loại thể truyệnngắn hiện thực nhiều kịch tính và sâu sắc

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chí Phèo được xem xét theo hai thời kỳ:trước và sau cách mạng Tháng Tám 1945

ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và hùa nhau “phụcsự” cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh bạo đi theolối riêng, nghĩa là ông đã không thèm đếm sỉa đến cái sở thích của độc giả.Những cạnh tài của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu

xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ởthiên chức của mình”.(107/493)

Trang 15

học hiện thực đang tìm đường và đang chiến đấu với các xu hướng phảnđộng lúc bấy giờ, thiên truyện Chí Phèo của Nam Cao nổi bật lên, thật xuấtsắc” Hà Minh Đức trong cuốn “Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc”(NXB Văn hoá, 1961) Ở chuyên luận này Hà Minh Đức đã dành hơn mườitrang nói riêng về truyện ngắn “Chí Phèo”, ông đã phân tích khá sâu sắc giátrị điển hình của hình tượng Chí Phèo nhất là thành công của nhà văn trong

Bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh: “Lưỡi dao ChíPhèo là ánh chớp trước cơn giông tố” viết năm 1980 in lại trong “Nhà văn

tư tưởng và phong cách, NXB ĐHQG, H, 2001 nêu lên dự cảm hiện thựccủa Nam Cao: “Qua tác phẩm, dường như nhà văn đã cảm nhận được cáikhông khí khủng hoảng dữ dội của xã hội thuộc địa, của chế độ cường hàođịa chủ ở nông thôn” Về hành động giết Bá Kiến của Chí Phèo đó là ánhchớp báo trước một cơn giông tố dữ dội sẽ quét sạch chế độ thực dâncường hào địa chủ trên đất nước ta”

Trang 16

Trong bài góp một cách hiểu truyện ngắn “Chí Phèo” in trên báogiáo viên nhân dân, ngày 9/2/1987, in lại trong đến với Nam Cao, NXBThanh niên 1988, ông Lê Di không chấp nhận cách hiểu chủ đề Chí Phèotrong SGK Văn học 10 (cũ) là “Số phận bi thảm của người nông dân lươngthiện, ở đây là người cố nông bị bọn địa chủ, cường hào và chế độ thực dânnửa phong kiến xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi không lối thoát”.Ông đưa ra cách hiểu mới về chủ đề tác phẩm: “Đây là câu chuyện bi thảm

về số phận của một nông dân đã tha hoá, ngược dòng trong xã hội thực dânphong kiến và tuyệt vọng trên con đường tìm về lương thiện” Cách hiểunày không sai, nhưng chưa phải hoàn toàn chính xác

“Tính chất lưỡng hoá trong nhân vật Chí Phèo là bài viết của NguyễnQuang Trung, đăng trên tập san THPT sè 1/ 1988 (in lại trong Nam Cao vềtác gia và tác phẩm, NXB, 1998) Nhà nghiên cứu đã nêu lên sự khác nhau

cơ bản của tính cách chị Dậu, Anh Pha, Chí Phèo Ông viết: “Anh Pha, ChịDậu là con người tốt thuần nhất, họ thăng trầm về số phận nhưng khá tĩnhtại về tính cách Chỉ đến Chí Phèo, Nam Cao mới thật sự tạo ra một cáinhìn phức tạp hơn, phong phú hơn và vì vậy cũng sâu sắc hơn về conngười Nhờ thế, ông đã trình bày một loạt nhân vật mới, một kiểu tính cáchmới trong hình ảnh con người vừa đánh mất vừa đi tìm nhân cách”.(106/208)

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trong bài phân tích truyện ngắn

“Chí Phèo”, in trong Nam Cao một đời người, một đời văn, NXBGD, H,

1993 khẳng định sức khái quát của tác phẩm: “Hình ảnh làng Vũ Đại trongtruyện Chí Phèo là bức tranh thu gọn độc đáo của nông thôn Việt Nam, của

xã hội Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám” Phân tích truyện ngắn “ChíPhèo”, nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền khẳng định: “Chí Phèo chứng tỏbiệt tài miêu tả, phân tích tâm lý của Nam Cao” (97/354) Qua ngòi bútNam Cao, thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của những con người bé

Trang 17

nhỏ, những kẻ khốn khổ, tủi nhục nhất, té ra là cả một vũ trụ bao la”.(97/356)

Đi sâu vào phân tích mối tình Chí Phèo – Thị Nở, nhà nghiên cứuNguyễn Hoành Khung cho rằng, đó không phải là “Loại truyện tình bờ bụicủa hạng nửa người nửa ngợm, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, “đôi lứa xứngđôi” mà đây là truyện có nội dung hết sức nghiêm túc, chứa đựng một tưtưởng nhân đạo thật mới mẻ, độc đáo đem lại cho tác phẩm một tầm vóc bấtngờ”

Như vậy, có thể nói rằng: Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đã cónhiều nhà nghiên cứu phê bình, nhà sư phạm quan tâm, chú ý, khám phá ởnhiều phương diện, nhiều góc độ khía cạnh cả nội dung cũng như nghệthuật của tác phẩm Những năm gần đây có nhiều luận văn thạc sỹ, luận ántiến sỹ nghiên cứu về Nam Cao và tác phẩm của ông, song chưa có côngtrình nào trực tiếp bàn đến hướng dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” theo đặctrưng thi pháp loại thể, việc phân tích, khám phá phần nhiều có tính chấtcảm tính, thiếu cơ sở khoa học

Để dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” trong chương trình THPT đúnghướng và khoa học thì tất yếu cần phải tìm ra các phương pháp, biện phápthích hợp để dạy học truyện ngắn thực sự đúng là một truyện ngắn giàukịch tính Và đó là một việc làm hết sức cần thiết có ý nghĩa lớn nhằm nângcao chất lượng dạy học truyện ngắn nói riêng và dạy học văn nói chung ởnhà trường phổ thông hiện nay

III GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Nếu khám phá ra được chiều sâu giá trị tác phẩm, chất kịch tính bộc

lộ qua các phương diện: kết cấu cốt truyện, nhân vật, giọng điệu trần thuậttrong tác phẩm “Chí Phèo” thì sẽ nhìn nhận rõ cấu trúc đối thoại đầy kịchtính đặc biệt của truyện Vậy khẳng định đây là một truyện ngắn xuất sắcđầy kịch tính, sự đan xen của nhiều nhân vật, nhiều giọng điệu, nhiều tính

Trang 18

cách Luận văn trên cơ sở đó sẽ là điều kiện để làm nổi bật được chiều sâutác phẩm cũng như việc tìm ra các phương pháp, biện pháp tối ưu để giảngdạy thành công tác phẩm này Từ đó có thể ứng dụng vào dạy học nhữngtruyện ngắn khác của tác gia Nam Cao cũng như truyện ngắn của các tácgiả khác trong chương trình THPT.

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để tiến hành nghiên cứu và giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phương pháp so sánh, đối chiếu

2 Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích

3 Phương pháp khái quát, hệ thống hoá: nghiên cứu tiếp thu có chọnlựa các công trình, tài liệu có liên quan đến luận văn, góp phần định hướngphục vụ cho yêu cầu của đề tài

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm ra hướng dạy học truyện ngắn

“Chí Phèo” theo đặc trưng thi pháp loại thể, nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả của việc dạy học truyện ngắn này trong chương trình THPT Đềtài giải quyết các nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu thi pháp tư tưởng của Nam Cao trong truyện ngắn “ChíPhèo” theo hướng tình huống kịch tính của truyện ngắn giàu giá trị hiện thực.Qua đó khám phá giá trị hiện thực, chiều sâu nghệ thuật, tư tưởng của tácphẩm

Khảo nghiệm thực trạng dạy và học tác phẩm “Chí Phèo” hiện naytrong nhà trường THPT

Thiết kế giáo án giảng dạy tác phẩm Chí Phèo theo hướng là mộttruyện ngắn tự sự nhiều kịch tính giàu giá trị hiện thực ,đề xuất một số biệnpháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học tác phẩm ChíPhèo trong chương trình THPT

Trang 19

VI MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm ra những phương pháp vàbiện pháp tối ưu nhất góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy– học tác phẩm Chí Phèo ở nhà trường THPT Từ đó áp dụng vào việc dạy– học các tác phẩm hiện thực nhiều kịch tính khác trong chương trìnhTHPT

VII ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:

Từ việc tìm ra những phương pháp, biện pháp thích hợp để dạy họctruyện ngắn “Chí Phèo” thành công Luận văn còn mở ra những hướng tiếpcận, những biện pháp có tính khả thi trong việc vận dụng vào dạy học cáctruyện ngắn hiện thực nhiều kịch tính của Nam Cao ở nhà trường THPT nóiriêng và các truyện ngắn hiện thực của các tác giả khác trong chương trìnhTHPT

VIII: GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

Ở đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vào việc xác định đặc trưngloại thể truyện ngắn “Chí Phèo” mà cụ thể là chất tự sự giàu kịch tính trongtruyện để đi tới cách tiếp cận, giảng dạy đúng hướng và đạt hiệu quả Qua

đó, vận dụng các phương pháp, biện pháp phù hợp trong việc dạy học tácphẩm Chí Phèo của Nam Cao ở nhà trường THPT

IX CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ra, luận văn được chia thành 3chương (3 phần):

Những phương pháp và biện pháp dạy học truyện ngắn

“Chí Phèo” của Nam Cao

NỘI DUNG

Trang 20

CHƯƠNG I

VỊ TRÍ CỦA TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” TRONG SÁNG TÁC

CỦA NAM CAO VÀ TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT.

I XÁC ĐỊNH LOẠI THỂ VĂN HỌC LÀ VẤN ĐỀ MẤU CHỐT KHI DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG.

1 Loại và thể loại tác phẩm văn chương.

Để việc tiếp nhận đúng hướng, chính xác và giảng dạy đạt hiệu quảmột tác phẩm văn chương thì sự hiểu biết những kiến thức về loại thể là rấtcần thiết Bởi lẽ, có những hiểu biết kiến thức đúng về loại thể chúng tamới có những căn cứ để xác định được những tính chất của loại ở trongmột thể nhất định nào đó và khai thác “trúng” “đúng” trọng tâm nội dungtác phẩm và tư tưởng của nhà văn gửi gắm ở trong tác phẩm đó

Song có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp và xung quanh còn nhiều

ý kiến chưa đi đến thống nhất Ở đây, chúng tôi xin được hiểu vấn đề nàytheo cách truyền thống và phổ biến hiện nay Chúng tôi không có ý địnhtìm hiểu mọi vấn đề thuộc loại thể, mà chỉ cố gắng tập trung làm rõ vấn đề:loại và thể tác phẩm văn chương; mối quan hệ của chúng trong tác phẩm,

để từ đó nhận ra tính chất khác nhau về loại trong thể truyện ngắn

Việc xác định loại thể tác phẩm văn chương trong dạy học văntruyền thống đặt trong mối quan hệ với phương pháp giảng dạy văn vốn đãđược định hình Đặc trưng của loại trong thể đã có những phương pháp vàbiện pháp đặc thù giúp thầy cô giáo có nhiều thuận lợi khi tiếp cận tácphẩm từ đặc trưng này trong quá trình giảng dạy Tuy vậy vấn đề “chất củaloại” trong “thể”của từng tác phẩm riêng biệt cho đến nay vẫn chưa có đáp

số thoả đáng để đưa ra phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp

Khác với tác phẩm trữ tình, tác phẩm tự sự được tái hiện qua nhữngcảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua

Trang 21

những lời lẽ bộc bạch, thổ lộ, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tínhkhách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi mộtngười kể chuyện nào đó Đúng như Arixtot nhận xét: “Thế giới của tácphẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật Người trần thuật

kể lại các sự kiện và con người như là những gì xảy ra bên ngoài mình,không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của anh ta”

Trong khi phân loại tác phẩm văn chương, thông thường vẫn tồn tại

ba cách:

Thứ nhất là phân loại tác phẩm văn chương dựa vào phương thức táihiện đời sống, cách phân loại này chia tác phẩm ra làm ba loại: tự sự, trữtình, kịch

Thứ hai là phân loại tác phẩm văn chương theo đề tài, chủ đề Cáchphân loại này chia các tác phẩm thành ba đề tài, chủ đề với ba mảng: lịch

sử, thế sự, đời tư

Thứ ba là phân loại tác phẩm văn chương dựa trên thể thức cấu tạovăn bản ngôn từ Cách phân loại này chia ra làm hai loại chính: văn vần vàvăn xuôi

Trong ba cách phân loại trên, thì cách phân loại thứ nhất là hợp lý vì

đã lưu ý đến phương thức tái hiện đời sống, cấu tạo hình tượng, gắn liềnvới đặc trưng hình tượng trong tác phẩm văn chương Còn cách phân loạithứ hai và thứ ba thì quá thiên về nội dung đề tài, chủ đề

Loại văn là một khái niệm chỉ các tác phẩm ngôn từ nghệ thuật nóichung hợp thành ba nhóm lớn Đó là tự sự, trữ tình, kịch Cách hiểu về loạitác phẩm văn chương như vậy là dựa trên sự phân loại được Arixtot nêu ra,sau này Hegel rồi Belinski tiếp tục phát triển Trong tác phẩm “Nghệ thuậtthơ ca”, Arixtot nêu ra sự tồn tại của các tác phẩm văn chương với baphương thức “mô phỏng, hiện thực, hoặc kể về một sự kiện, coi như mộtcái gì tách biệt với mình…” Ba phương thức đó là: tự sự – trữ tình – kịch

Trang 22

Tự sự có nghĩa là kể chuyện, theo Arixtot thì “nhà thơ tự sự kể vềcác sự kiện như một cái gì ở bên ngoài mình” Những tác phẩm tự sựthường “tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt, ởbên ngoài, đối với tác giả, thành một câu chuyện có sự diễn biến của sựviệc, của hoàn cảnh, có sự phát triển tâm trạng, tính cách hành động củacon người” (35/186).

Trong tác phẩm tự sự phải có lời trần thuật của người trần thuật, nó

là sợi dây dẫn, liên kết các yếu tố trong truyện với nhau Người trần thuật làngười biết tất cả, người đứng ngoài Khách quan mà thuật lại câu chuyện,

tư tưởng, tình cảm của họ gửi gắm một cách kín đáo qua cốt truyện Tácphẩm tự sự phải có cốt truyện mà kể chuyện thì ắt phải có chuyện, chuyện

đó được sắp xếp thành cốt truyện Đó là sự phát triển của hành động, tiếntrình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm Dệt lên cốt truyện là hànhđộng của các nhân vật (hành động là sự thể hiện các xúc cảm, ý nghĩ, ýđịnh của con người vào các hành vi, hoạt động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nétmặt… của nhân vật Trong đó có cả hành động bên trong và hành động bênngoài Nhờ sự phát triển của cốt truyện mà nhân vật luôn có những mâuthuẫn (xung đột) và xu hướng vận động giải quyết các mâu thuẫn Cốttruyện được kết cấu bằng trình tự liên tiếp trước và sau của các sự kiện,tình tiết hoặc luôn tạo ra những tình tiết mới gây bất ngờ, hấp dẫn với bạnđọc

Tác phẩm tự sự có khả năng thể hiện nhân vật đa dạng, tuỳ theo cách

kể mà nhân vật tự sự có thể được miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ hoặc có thể gâynên những Ên tượng sâu sắc nhất trong một phần hoặc toàn bộ cuộc đời vớinhững quan hệ xã hội, tính cách, tâm trạng, số phận

Tác phẩm trữ tình: nghĩa là biểu lộ tình cảm “Loại văn trữ tình phảnánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêngcủa con người, kể cả bản thân người nghệ sỹ trước cộng đồng” (35/187)

Trang 23

Các tác phẩm trữ tình chủ yếu là khám phá và thể hiện thế giới nộitâm của con người Ở đó có thể là thuộc về bản thân tác giả (gọi là tự thuậttâm trạng) nhưng cũng có thể là của một người nào đó (trữ tình nhập vai).

Kịch: có kịch bản văn học và kịch biểu diễn trên sân khấu.Đăc điểmcủa kịch biểu diễn trên sân khấu phản ánh cuộc sống xung đột

Nói tóm lại, mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kếtcấu hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng củanhà văn Nếu hình tượng thiên nhiều về phản ánh cuộc sống, với con người,

sự việc, sự vật trong tính khách quan ta sẽ có những tác phẩm tự sự, nếuhình tượng thiên nhiều về biểu hiện tư tưởng, tình cảm… của con người,hiện thực trực tiếp biểu hiện ý nghĩ chủ quan của tác giả ta sẽ có tác phẩmtrữ tình Khi tác phẩm tự sự tập trung, cô đọng đến mức bản thân các sựvật, sự việc có thể tự bộc lộ độc lập trên sân khấu hoặc trong trang sách…khi đó ta có tác phẩm kịch

Thể văn (thể tài, thể loại, dạng văn học)

Thể văn là những kiểu tác phẩm hình thành trong quá trình phát triểncủa nghệ thuật ngôn từ Xác định thể văn của tác phẩm được căn cứ vàonhững dấu hiệu về nội dung và hình thức có tính lặp đi lặp lại về mặt lịch

sử Dấu hiệu quan trọng nhất là tác phẩm thuộc vào loại văn học nào

Các tác giả trong cuốn “Lý luận văn học” (tập 2); Phương Lựu, TrầnĐình Sử, Nguyễn Xuân Nam quan niệm: “Thể loại tác phẩm văn học làkhái niệm chỉ quy luật, loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một nộidung nhất định có một hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thứctồn tại chỉnh thể” Như vậy, thể văn được hiểu như những diện mạo chung

mà ta hình dung ra được từ một loại tác phẩm, nó là một khối thống nhấtnhững đặc điểm hình thức đã thấm nhuần những hàm nghĩa nhất định: kếtcấu, hình tượng, ngôn từ, tiết tấu…

Trang 24

2 Những biểu hiện của loại trong thể truyện ngắn:

Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn mà vì cáchnắm bắt cuộc sống của thể loại, tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắchoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinhhay đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường rất Ýt nhân vật, Ýt

sự kiện phức tạp Từ khi xuất hiện, tồn tại và phát triển cho tới ngày nay,

đã có nhiều cách quan niệm và phân loại thể truyện ngắn mà ở đó tuỳ vàoviệc căn cứ nội dung hay hình thức của tác phẩm văn chương Dựa vào nộidung phân chia ra truyện ngắn sử thi (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành;

số phận một con người – M.Sôlôkhôp); truyện ngắn thế sự (Vũ TrọngPhụng – Nguyễn Công Hoan); truyện ngắn đời tư (Nam Cao, Thạch Lam).Dựa vào khuynh hướng cảm xúc phân chia ra: truyện ngắn trào phúng(Nguyễn Công Hoan); truyện ngắn trữ tình (Thạch Lam) Dựa vào cốttruyện phân chia thành: truyện ngắn sự kiện (Nguyễn Công Hoan); truyệnngắn tâm lý (Nam Cao)…

Trên cơ sở dựa vào nội dung – hình thức của tác phẩm mà có nhiềucách phân chia loại trong thể truyện ngắn như vậy Song chóng ta cũng cầnhiểu rằng: truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự, cái chính của truyệnngắn không phải là ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xãhội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện củatruyện ngắn thường hấp dẫn nhưng chức năng của nó la để nhận ra mộtđiều gì, cái chính của truyện ngắn là gây ra mét Ên tượng sâu đậm về tìnhngười Yếu tố có ý nghĩa bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượnglớn và hành văn mang nhiều Èn ý Nội dung của thể loại truyện ngắn baotrùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi

Tác phẩm tự sự:

Trang 25

Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủquan về nó, thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính kháchquan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộngcủa đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện biến cố xảy ratrong cuộc đời con người.

Trong tác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hịên tư tưởng và tình cảmcủa mình Nhưng ở đây tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâusắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúngdường như không có sự phân biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gìxảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thựcđược phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang

tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào ý muốn củanhà văn

Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vicon người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay

về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắnliền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ nhiềumặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch

Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắchoạ nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú đa dạng, bao gồm chitiết sự kiện xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tínhcách, ngoại cảnh…

Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trầnthuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự

sự Đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật Vềphương diện thể loại văn học, trên cơ sở phương thức phản ánh tự sự đãhình thành loại hình tự sự Dựa vào trên chỉ nội dung hoặc hình thức đểchia các tác phẩm tự sự ra thành các thể loại nhỏ Chia theo nội dung ta có:

Trang 26

các tác phẩm mang chủ đề lịch sử dân tộc, thế sự đạo đức, đời tư; chia theohình thức ta có: anh hùng ca, truyện, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn…

Những đặc điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại vănhọc có khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người hiện đại

Nam Cao được coi là đại diện của văn học hiện thực phê phán tronggiai đoạn cuối, chính ông đã đặt những mảng màu cuối cùng hoàn chỉnhbức tranh của văn học hiện thực cả về mặt phản ánh xã hội cũng như khảnăng biểu hiện nghệ thuật Trước Nam Cao đã có Vũ Trọng Phụng tả chânsắc sảo, Nguyễn Công Hoan trào phúng đôi khi pha chút kịch hề, ThạchLam trầm lặng tinh tế… Ta nhận thấy: Văn Nam Cao là phức hợp, là tổnghoà những cực đối nghịch: bi và hài, trữ tình và triết lý, cụ thể và khái quát

Cái hiện thực hằn dấu vết trên những trang viết của Nam Cao là mộthiện thực cụ thể đặc thù: xã hội Việt Nam vào những năm 1940 đang xáotrộn , quằn quại trong chặng cuối của quá trình bần cùng hoá Những cơnđói triền miên, làng xóm vật vờ, số phận tàn lụi, sự tha hoá của nhân cách,

sự tuyệt vọng đổ vỡ của những cá nhân… Truyện ngắn “Chí Phèo” nhưmột thứ quả lạ của một phong cách đã chín ngay từ đầu

Nếu truyện ngắn trữ tình với nét nổi bật là tính “phi cốt truyện”,truyện không kể lại được vì cốt truyện không tiêu biểu Thì truyện ngắn tự

sự cốt truyện rất rõ nét, trong mỗi cốt truyện lại được đan cài bởi các chitiết, sự kiện, tình tiết, phản ánh trong mối quan hệ xã hội, cuộc đời vớinhững xung đột, mâu thuẫn gay gắt Cốt truyện đóng vai trò trong tác phẩm

tự sự Ở đó cốt truyện được xây dựng từ những sự kiện, hành động củanhân vật

Trong tác phẩm tự sự, các nhà văn thường lựa chọn nhân vật rất kỹ,thực hiện bố cục, sắp xếp cốt truyện Sử dụng giọng điệu câu chuyện, cách

kể và giọng điệu nhân vật sao cho phù hợp

Trang 27

Ở “Sống mòn” của Nam Cao với một cốt truyện gọn gàng dựa trênnền tảng một số sự việc của đời sống hàng ngày được tác giả dẫn dắt, đancài một cách nghệ thuật “Cái độc đáo của giọng văn trong “Sống mòn”không phải là cái tự sự làm mình làm mảy, vốn có giả tạo, lên gân, căngmình ra trong thói đạo đức giả, mà là hàm chứa một nỗi đau nội tại, một lờitrách cứ thâm trầm, một sự dằn vặt vì tin rằng cái nhân bản và lương tâmkhông phải là một điều gì xa lạ, phải cưỡng bức mới có thể tiếp nhận nổi”.

Bên cạnh sự nổi bật về cốt truyện, tác phẩm tự sự còn nổi bật ở cáchxây dựng nhân vật Thông qua nghệ thuật xây dựng nhân vật, các tác giả tự

sự nhằm khái quát tính cách, cá tính điển hình, con người điển hình vàtrong hoàn cảnh điển hình Trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, là một “đoảnthiên tiểu thuyết” (Nguyễn Tuân), có sức khái quát xã hội cao Mặc dù chỉviết về nạn thuế thân, thứ thuế vô lý, dã man, ở một làng quê cụ thể, mộtgia đình cụ thể và câu chuyện được diễn ra trong vài ngày nhưng tác giả đãphản ánh xã hội nông thôn đương thời một cách tập trung, điển hình nhất,làm nổi bật lên thực trạng của cái xã hội Êy.Nh÷ng nhân vật trong tác phẩm

tự sự ngoài tính cụ thể, điển hình thì còn bao hàm một ý nghĩa khái quátrộng lớn Để làm được điều này các tác giả hiện thực vận dụng, sử dụngcác chi tiết, tình tiết, sự kiện, để xây dựng nhân vật

Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn hiện thực đa dạng vàphong phú, đây là một đặc điểm của thể loại truyện ngắn nói chung khôngthể không đề cập Có thể nói ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nam Cao làngôn ngữ hoà âm, phối khí của nhiều loại ngôn ngữ khác nhau Sự thànhthạo của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại mang đầt chấtvăn xuôi, đời thường Ngoài việc thực hiện chức năng tự sự còn để khắchoạ tính cách, nội tâm nhân vật Các nhà nghiên cứu dường như đã thốngnhất khi nhận định giọng điệu của Nam Cao là sự tổng hợp của nhiều chấtliệu, giọng điệu và không lẫn với bất cứ ai: Giọng nghiêm nghị, trầm tư,

Trang 28

triết lý, hài hước, chua chát, bi quan….Nét độc đáo và tài tình của NamCao là sự pha trộn của giọng điệu đó rất xuất sắc trong mỗi tác phẩm củamình.

Câu văn tự sự hiện thực mang những nét khác lạ: Câu văn đứt nối, đaynghiến, cắn dứt, nghẹn ngào, đau đớn đầy kịch tính Chính đặc điểm đó đãtạo cho thể loại tự sự một cách thể hiện, phản ánh cuộc sống chân thực, sốngđộng cụ thể có ý nghĩa khái quát cao về giá trị hiện thực được phản ánh

Như vậy, việc xác định tính chất của loại trong tác phẩm văn học làviệc làm vô cùng quan trọng không chỉ trong công việc giảng dạy tác phẩmvăn chương trong nhà trường mà còn rất cần thiết không thể thiếu trongcông tác nghiên cứu Xác định được tính chất của loại trong thể, biết đượctác phẩm đó thuộc về thể nào (tự sự, trữ tình, kịch) chúng ta sẽ có cách tiếpcận và giảng dạy tác phẩm đó phù hợp đạt kết quả

3 Truyện ngắn Nam Cao - một thể tài đa thanh đa nghĩa

Trong những sáng tác của Nam Cao viết về nông thôn, có nhữngtrang viết cực kỳ đau xót Những nhân vật của Nam Cao gợi lên trong tamột niềm cảm thương không bờ bến Những con người đáng thương đó làLão Hạc (Lão Hạc), là bà cái Tí (Một bữa no), là Dì Hảo (Dì Hảo), lànhững ông bố chỉ thoả mãn cái dạ dày mà đành đoạ vứt bỏ nhân cách,lương tâm (Trẻ con không được ăn thịt chó), là lòng thương cảm, yêu mến

vợ con trước cuộc sống khốn khó của gia đình Điền (Nước mắc)…

Nhân vật “Hắn” - một người chồng trong truyện (Trẻ con không được

ăn thịt chó) lúc nào cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn, đến rượu thịt chó, chỉ lo chocái dạ dày của mình mà quên hết cả nhân cách, lương tâm, trách nhiệm, bổnphận của một người cha, người chủ gia đình Vì hắn mà vợ con hắn phảikhổ sở, vất vả, tủi nhục: “Chao ôi! Giá hắn không bận nghĩ đến rượu và thịtchó! Giá hắn không khổ sở vì một cái dạ dày ưa đòi hỏi thì hắn đã sung

Trang 29

sướng lắm, nhưng hắn lại thèm rượu và thịt chó mà không được uống rượu,

ăn thịt chó Bởi vậy hắn cho là đời thật đúng buồn Kiếp người nản lắm”

Trong văn học hiện thực Việt Nam, không chỉ có Nam Cao viết vềcái đói và miếng ăn nhưng ông đã viết theo kiểu của riêng ông Như nhànghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “Nếu như ở tác phẩm củaNgô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì ở tác phẩm của Nam Cao lại là tiếngkêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm, nhân tính của con người đang bị cái đói

và miếng ăn làm cho tiêu mòn đi, thui chột đi, huỷ diệt đi” Cảnh gia đinh

và ông khách Binh Hựu bưng mâm trông sao mà hài hước, mà đau xót đếnnhư vậy: “ … Bưng mâm nhé? Ừ, làm thì làm! Nào bưng mâm !… BinhHựu giơ bàn tay trái lên làm trống khẩu, dùng ngón trỏ tay kia làm dìu, ưỡnngực ra, vừa gõ vừa kêu: Tung ! Tung… Tung! Êy là cái hiệu trống để chophu nhắc kiệu lên vai Chủ nhân ý tứ bưng cái mâm thịt chó lên ngangmặt… Tung! Tung…Tung! Thế nghĩa là đi! đi! Và chúng đi Lũ trẻ, thấyngười lớn cũng làm trò như chúng, thích chí cười sằng sặc Chúng ùa vàonhà trước, như đàn ruồi…”

Lũ trẻ đâu biết rằng không phải chỗ của mình ngồi đó, hắn quátmắng ba đứa trẻ phải lui xuống dưới bếp : “Náo toét chỗ này là chỗ quanviên uống rượu Có phải không, các cụ?” Vợ và mấy đứa con, cả lũ đềunhăn mặt và rất đói, khi người đã đói mà ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụngcàng đói thêm

Cuộc rượu đã tàn, tiếng người bố trên nhà gọi: “Cái Gái đâu! dẹpmâm đi mày!” Một lát sau, Gái bê mâm xuống, mấy chị em tranh nhau bámvào mâm bảo chị đặt xuống Gái hạ nhanh mâm xuống đất và bảo: “Này ăn

đi Trong mâm chỉ còn bát không, cả nhà đều khóc

Nhân vật Điền trong tác phẩm Nước mắt cũng vì miếng cơm manh

áo, vì cuộc sống gia đình khốn khó mà anh chửi vợ mắng con không tiếclời Hai đứa con của vợ chồng Điền bị bệnh Điền lên tỉnh lấy tiền mà

Trang 30

không mua thuốc cho con - vợ chồng cãi cọ nhau: Điền gần muốn nhảy lại

vợ mà bóp cổ Con vợ thật là khốn nạn! Sau một ngày hắn còn phải chịukhông còn biết bao nhiêu là nỗi khổ… Hắn quắc mắt lên, và nghiến răng…

Im ngay ! Câm cái mồm ! … Vợ hắn càng gào mãi lên : Tiếc tiền! Tiếc tiền

!… Nó chết rồi để tiền mà tiêu… Cho nó chết ! Cho nó chết !… Sống làm

gì nữa ! Nay ốm, mai đau thì chết đi cũng phải!… Sống lắm cũng chỉ khổ

và làm người ta khổ thôi được gì? Chết đi ! Mày chết đi !…”

Điền muốn mua một cuốn sách quý, một cái áo sơ mi ở cửa hiệu màmỗi ngày lại tăng giá Hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy.Hắn khổ sở vì ai ? Hắn hà tiện vì ai, hắn tiếc tiền vì ai, cho ai…? Điền cứcàng nghĩ càng thấy hắn là người khổ, vợ hắn là người tệ bạc Đọc xongNước mắt, chúng ta không khỏi ngạc nhiên Đó là những cảnh đời Ở ngaybên cạnh ta, những cảnh đời là từng lớp của nhiều chúng ta, mà đến naynhờ đọc Nam Cao chóng ta cũng mới thấy thật hơn, sâu sắc hơn Chúng tacàng bàng hoàng đau sót vì thấy bao nhiêu ước vọng, thương yêu, tha thiếtnhất của những con người họ, của chính chúng ta đã bị trĩu cánh xuống,giập nát Cũng vì nghèo khổ!

Truyện ngắn Lão Hạc, người láng giềng già của tác giả là một truyệngiàu ý nghĩa nhân đạo và tính chân thực Ở Lão Hạc trút lên một lòng nhânhậu đáng kính: Lão đã khóc hu hu vì trót lừa một con chó để bán đi, lão đãnhịn ăn để tiền lại làm ma vì lão không muốn cái chết của lão làm tổn phíđến hàng xóm, những người cùng cảnh ngộ như lão Vì thương con, lãokhông muốn cái thân tàn già cỗi của lão kéo dài, làm hao hụt đến mảnhvườn, mảnh đất duy nhất lão muốn dành lại cho con Lão ăn bả chó màchết Cái chết của lão đã chấm dứt mối nghi ngờ của một số người xungquanh lão; họ đã hiểu ra dù nghèo đói, nhưng lão vẫn giữ trọn vẹn nhâncách tốt đẹp của mình Cái chết của Lão Hạc đau xót bao nhiêu thì cũngchứa chan lòng hy sinh cao thượng bấy nhiêu Truyện ngắn Lão Hạc gợi

Trang 31

cho người đọc bao nỗi xót thương, xót thương cho một kiếp người, cái kiếp

mà lão Hạc đã từng nói chua chát: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếpcho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… Kiếpngười như kiếp tôi chẳng hạn!…”

Nếu truyện ngắn “Lão Hạc” để lại cho người đọc niềm xót thương vàcăm giận thì truyện ngắn “Một bữa no” lại gợi lên một cái gì thật chua xótmỉa mai

Khi người nông dân còn mạnh khoẻ thì bọn địa chủ phong kiến tìmmọi cách để khai thác bóc lột, và khi họ già yếu thì bị chúng ruồng bỏ loạitrừ Bà cái Tí là một phụ nữ suốt đời cực khổ Bà già yếu, vì không nơinương tựa nên đói ăn đã lâu ngày Miếng ăn uống bao giờ cũng là một điềucần phải dè dặt; nếu như cả cuộc đời chỉ nhằm vào một mục đích đó, nếunhư chỉ vì miếng ăn miếng uống mà con người phải hạ thấp nhân cách thì

đó thật là một điều đáng buồn Miếng ăn là miếng nhục Nhưng ở đây bàlão đói đã lâu ngày, do bản năng sinh tồn thôi thúc, bà không thể cưỡng lạinhững ham muốn của mình Bà tìm đến chơi với đứa cháu đi ở cho một nhàgiàu và được ăn một bữa Bà ăn quá no mà chết Cái chết Êy thật là chuaxót và câu chuyện đơn giản Êy đượm nhiều tủi cực xót thương Nhân vật

bà cái Tí này không có nét tích cực nào, nhưng cái chết của bà lão có mộttác dụng tố cáo trực tiếp chế độ xã hội cũ Lão Hạc, bà cái Tí - hai cuộc đờicủa hai nhân vật như hai lối mòn heo hút dẫn con người vào chỗ tuyệt lộ

Đó cũng là con đường đi của gia đình cái Dần trong truyện ngắn “Một đámcưới”

“Một đám cưới” lại giới thiệu một khía cạnh khác của sinh hoạt nôngthôn: đám cưới của một gia đình nghèo Dần là một cô gái lớn lên trongcảnh nghèo khó Dần phải đi ở cho địa chủ từ lúc tóc còn để trái đào, đượchai năm thì phải về, khi người mẹ xấu số của Dần qua đời vì đau ốm Mớimười lăm tuổi đầu Dần đã phải giúp bố quán xuyến công việc của gia

Trang 32

đình : “ Nhưng ông Giời không muốn cho bè con Dần ngóc đầu lên Cuộcsống mỗi ngày một khó thêm; gạo kém, thóc cao, ngô khoai cũng khóchuốc được mà ăn” Bố Dần gửi hai đưa nhỏ cho nhà anh em rồi lên rừngkiếm ăn, còn Dần thì cho cưới Đám cưới của Dần đến trong cảnh nhà bầncùng sắp chia ly nhau “Đêm tối, đám cưới mới ra đi Vẻn vẹn có sáungười, cả nhà gái, nhà giai Ông bố vợ đã tưởng không đi Nhưng bà mẹchúng cố mời Vả lại nếu không đi thì hai đứa bé cũng không thể đi màDần thì đang khóc lóc Nếu chỉ có mình nó ra đi thì có lẽ nó không chịunốt Ông đành kéo mấy cành rào lấp ngõ rồi đi vậy…” Đám cưới Dần diễn

ra trong không khí âm thầm lặng lẽ như mỉa mai diễu cợt cuộc đời vốn lạnhnhạt, tàn nhẫn Ý nghĩa câu chuyện không bó hẹp trong phạm vi mét giađình và một hai nhân vật Nó vượt ra ngoài khuôn khổ nhỏ bé đó, gắn vàocuộc sống chung và đè lên những nguyên tắc của sự khái quát rất lớn Đó làquá trình người nông dân bị bần cùng hoá đang diễn ra hàng ngày hàng giờ

ở khắp mọi nơi dưới mọi hình thức quyết liệt nhất và cũng âm thầm lặng lẽnhưng rất thảm khốc và đau đớn

II VỊ TRÍ CỦA TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO.

1 “Chí Phèo” – một thể truyện ngắn độc đáo, mới mẻ

Nét độc đáo trong ngôn ngữ người kể chuyện

Ngôn ngữ của tác phẩm tác phẩm Nam Cao là sự hòa âm, phối hợpcủa nhiều loại ngôn ngữ khác nhau như là sự sống tự nó cất lên như thế Ởloại hình tự sự nhân vật người kể chuyện và nhân vật của tác phẩm tươngứng với hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhânvật Trong sáng tác của số đông văn sĩ “Tiền chiến”, hai loại ngôn ngữ nàymang tính độc lập tách biệt Ở Nam Cao đó là sự hòa quyện giữa ngôn ngữngười kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, có sự chuyển hóa, trao đổi từ ngônngữ người kể chuyện sang ngôn ngữ nhân vật Trong Chí Phèo diễn ramạch ngầm đối thoại giữa người kể chuyện với Chí Phèo, giữa nhân vật

Trang 33

Chí Phèo với làng Vũ Đại, nhà văn vừa kể chuyện vừa kể về tâm trạng Sựbiến hóa nhất của khách thể này ta vẫn thấy sự chuyển hóa giữa ngôn ngữngười kể chuyện sang ngôn ngữ nhân vật Chẳng hạn: “Sao bà Êy còn trẻquá! Gần bốn mươi rồi mà trông vẫn còn phây phây Còn phây phây quá đinữa! Cụ năm nay đã ngoài sáu mươi Già yếu quá, nghĩ mà chua xót Giáthế thì bà Êy chỉ cũng già cho xong Bà Êy lại cứ trẻ, cứ phây phây, cứ đẹpnhư cứ ngoài hai mươi tuổi, mà sao đa tình Nhìn thì thích nhưng mà tưngtức lại”… và cứ thế kể chuyện bà Tư nhưng cũng là kể về tâm trạng của cụbà.

Sự thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao còn thể hiện ởngôn ngữ đối thoại mang dầy chất văn xuôi với đời thường, ngoài việc thểhiện chức năng tự sự còn là để khắc họa tính cách, nội tâm nhân vật

Nét độc đáo trong kiểu kết cấu

Kết cấu đi thẳng vào vấn đề trung tâm của tác phẩm Kiểu kết cấunày chúng ta nhận rõ trong truyện ngắn Chí Phèo: Mở đầu tác phẩm củamình, Nam Cao ném ra một cuộc đời nhân vật Chí Phèo “cùng hơn cả dâncùng”, một Chí Phèo ngật ngưỡng chìm đắm trong những cơn say dài, mộtChí Phèo lưu manh, tha hóa… Nam Cao viết: “Hắn vừa đi vừa chửi Baogiờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu chửi trời…rồi chửi đời…Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại… không ai lên tiếng… Đã thếhắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn Nhưng cũng không ai rađiều… Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nỗinày! ” Đằng sau tiếng chửi đó là những tiếng sống hòa đồng cùng mọingười Nhưng tất cả đối với Chí Phèo đều trở thành tăm tối, tủi nhục, đaukhổ Mọi người xa lánh, hắt hủi, coi khinh, ghê tởm “Nó chửi” thì tai liềnmiệng đấy, chửi rồi lại nghe! Thành thử chỉ có ba con chó dữ với thằng sayrượu! ”

Trang 34

Bên cạnh kiểu kết cấu đi thẳng vào vấn đề trung tâm của tác phẩmthì “Chí Phèo” còn có một kiểu kết cấu vòng tròn ( kết cấu đóng) Khởi đầuthực sự về câu chuyện Chí phèo là hình ảnh biểu tượng chiếc lò gạch cũ vàkết thúc cũng bằng hình ảnh biểu tượng đó, hiện thoáng trong tâm trí ThịNở: “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhàcửa và vắng người qua lại…” Kiểu kết cấu này đòi hỏi một sự sắp xếp các

sự kiện, tình tiết hợp lý, tạo sự liên kết, mối quan hệ mật thiết giữa chúng.Ngay sau khi miêu tả tiếng chửi của Chí Phèo là hình ảnh các lò gạch cũ:

“Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng

và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không Cuốitác phẩm là hình ảnh cái lò gạch bỏ không, nó vừa như báo hiệu về sự xuấthiện của một kiếp người khốn khổ, thê thảm: “…rồi thị nhìn nhanh xuốngbụng… Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xanhà cửa và vắng người qua lại…”

Kiểu xây dựng nhân vật cũng rất độc đáo, mới mẻ

Nhân vật Chí Phèo – biểu tượng của bi hài kịch ở nông thôn:

“Viết Chí Phèo, Nam Cao muốn ném ra giữa cuộc đời một thằngcùng hơn cả dân cùng, là điển hình cho những gì khốn khổ, tủi nhục nhấtcủa một kiếp người trên cõi đời này” (91/141) Chí Phèo đã bị tha hoá cả vềnhân hình lẫn nhân tính, luôn đứng giữa ranh giới người - vật Song điềulớn hơn là Nam Cao vẫn nhìn thấy ánh sáng le lãi trong tâm hồn Chí, đó làkhát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được hoà đồng cùng mọi người vàđược sống một cuộc sống như những con người bình thường khác

Chí Phèo được nhà văn xây dựng vừa là nhân vật có cá tính, vừa lànhân vật có tính cách đa dạng, phức tạp, đặc biệt tính cách nhân vật đượcphát triển theo lôgic nội tại Ở Chí Phèo, một tính cách hết sức rõ nét độcđáo Mỗi hành động, lời nói, say rượu, chửi bới đều rất Chí Phèo Cái mới,cái khác lạ của Nam Cao khi xây dựng nhân vật là ở chỗ, ông hoàn toàn

Trang 35

không chỉ dừng lại ở việc kể ra những hành động của nhân vật như một sốnhà văn cùng thời Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng màđiều quan trọng hơn cả là nhà văn đã thể hiện rất chân thật và sinh động cáicách nhân vật làm việc đó Khi diễn tả cơn say rượu của Chí Phèo cũng hếtsức độc đáo, một con người chìm trong “cơn say dài mênh mông” Từ đầuđến cuối tác phẩm là cơn say của hắn “… vừa đi vừa chửi… Chí Phèo sayrồi vác dao tới nhà Bá Kiến, giết Bá Kiến và tự sát” Say rượu, chửi bớilung tung, nói năng lảm nhảm là lẽ thường Nhưng say, chửi như Chí Phèocũng là một hiện tượng đặc biệt hiếm có.

Bên cạnh đó, chúng ta còn nhận thấy tính cách Chí Phèo luôn vậnđộng, phát triển hợp lôgic Từ một người nông dân lương thiện, Chí Phèobiến thành kẻ lưu manh, con quỹ dữ Và từ một con quỹ dữ, một kẻ lưumanh, Chí Phèo được đánh thức bằng tình yêu của Thị Nở và khát vọngmuốn quay trở lại cuộc sống lương thiện Sự phát triển tính cách của ChíPhèo được tác giả miêu tả qua hai quá trình, dấu nối giữa hai quá trình đósau bẩy, tám năm ở tù về

Miêu tả tính cách nhân vật, Nam Cao không chỉ chú ý đến hànhđộng, ngôn ngữ mà còn đi sâu vào miêu tả thế giới bên trong tâm hồn nhânvật, khiến cho tính cách nhân vật phong phú hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn

từ chiều sâu tâm lý Đó là những cảm xúc của một người đàn ông, lại đangsay rượu, khi gặp một người đàn bà, lại đang phải ngủ dưới trăng… Bỗngnhiên hắn “run run”… “rón rén lại gần Thị Nở”… Đó là những trạng tháitâm lý, những cảm xúc khác thường của Chí vào buổi sáng hôm sau

Nhân vật Bá Kiến – một tính cách kịch gian hùng:

Xây dựng nhân vật Bá Kiến, Nam Cao tập trung làm nổi bật bản chấtgiai cấp, bản chất xã hội của nhân vật, đồng thời khắc hoạ đầy Ên tượngnhững nét tính cách sinh động Bản chất giai cấp của Bá Kiến chủ yếu thểhiện trong mối quan hệ với người nông dân bị áp bức Bản chất Êy Nam

Trang 36

Cao không để cho nhân vật thể hiện trực tiếp bằng hành động mà chủ yếubằng những suy nghĩ thầm kín bên trong nội tâm.

Quan hệ giữa các vây cánh ở làng Vũ Đại thực chất là quan hệ củamột “đàn cá tranh mồi”, “ngoài mặt thì tử tế với nhau nhưng trong bụng thìlúc nào cũng muốn cho nhau lụi bại để cưỡi lên đầu lên cổ” Chúng đi lạivới nhau để bóc lột con em nhưng lại ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở

để mà trị nhau” Mối quan hệ gay gắt giữa Bá Kiến và Đội Tảo là một ví dụđiển hình Bá Kiến trong mối quan hệ với người nông dân nghèo khổ mà cụthể là với Chí Phèo, độc giả càng nhận rõ bản chất nham hiểm, thâm độc,nhiều thủ đoạn: Cụ Bá Kiến nhận ra rằng: “đè nén con em đến nỗi khôngchịu được phải bỏ làng đi là dại… Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửachừng…” Với các nghề làm quen của một người “khôn róc đời” “biết mềmnắn rắn buông”… “bám thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu”

Trước hoàn cảnh cụ thể xã hội thực dân phong kiến lúc đó, với mộttên địa chủ cường hào thuộc dòng giống “bốn đời làm tổng lý”, khôngnhững đem đến cho Bá Kiến cả một kho kinh nghiệm mà còn “rèn” cho BáKiến lối nói ngọt nhạt và cái cười Tào Tháo Bá Kiến đúng là một tên địachủ đầy bản lĩnh, với nhiều phương châm, chính sách thâm độc mà khôngphải bất cứ một tên địa chủ nào cũng có được Quả đúng như vậy, hìnhtượng Bá Kiến dưới ngòi bút của Nam Cao không đơn giản mà trái lại đượckhắc hoạ rất sinh động đầy Ên tượng từ giọng nói đến cái cười đều rất …

Bá Kiến

Nhân vật Thị Nở – một dạng tính cách kịch bi hài và khờ dại:

Bên cạnh nhân vật Chí Phèo, thì Nam Cao còn xây dựng một kiểunhân vật mới, độc đáo đó là nhân vật có hình dạng (ngoại hình) khác vớicon người bình thường Thị Nở bị dân làng Vũ Đại có thành kiến bởi thị

“xấu như ma chê quỷ hờn”, thị “nghèo”, thị “dở hơi”, và nhất lại là “thuộcdòng giống có mả hủi” “Người ta tránh thị như tránh một con vật nào rất

Trang 37

tởm” Cái “xấu”, cái “dở hơi” đó là hoàn toàn do thiên tạo, toàn bé conngười Thị Nở hiện diện ra với tư cách là một con người “tự nhiên” Đúngnhư Nguyễn Du viết: “Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”.

Đằng sau con người tự nhiên, xấu xí, dở hơi đó thì Thị Nở là mộtngười duy nhất có tình người, tình yêu thương Thị là chất xúc tác làm chophản ứng của Chí diễn ra gay gắt, quyết liệt và bi thảm hơn Ở một phươngdiện khác nữa, việc miêu tả Thị Nợ xấu xí là cần thiết Bởi lẽ thế thì "Đôilứa xứng đôi" mới tạo được một mối tình, mới thể hiện được tư tưởng nhânđạo của Nam Cao

Bóng dáng các nhân vật khác cũng đầy kịch tính:

Bà cô Thị Nở là một người phụ nữ rất cay nghiệt, có những thànhkiến hết sức vô lý và nhất là có quan niệm về đức hạnh của người phụ nữthật kỳ lạ Khi nghe Thị hỏi ý kiến của bà cho Thị lấy Chí Phèo Bà bỗngtrở nên hoảng hốt: "Ngoài ba mươi tuổi mà chưa trót đời, ngoài ba mươituổi ai lại còn đi lấy chồng mà còn lấy thì lấy ai chứ? đàn ông chết hết

cả rồi sao, mà lại đi lấy một thằng không cha Ai lại đi lấy một thằng chỉ cómột nghề là đi rạch mặt ăn vạ Trời ơi! nhục nhã ơi là nhục nhã! "Bà coi

đó là nỗi nhục cho ông cha bà."Bà gào lên như một con mẹ dại Bà xỉa xóivào mặt con cháu gái bà ba mươi tuổi mà chưa trót đời Bà bảo nó phắt đi"

" đã nhịn được đến ngần này tuổi thì nhịn hẳn; ai lại đi lấy thằng ChíPhèo" Thật là vô lý! mới ngoài ba mươi tuổi mà đã cho là già Thị nghethấy thế mà luộn ruột Nhưng Thị biết cãi bà làm sao? bà Êy có quyền nóithế, bởi lẽ bà Êy năm mươi tuổi rồi còn ai lấy Bà tự coi việc bà không lấychồng là tấm gương sáng và bắt Thị Nợ phải soi vào đó để mà cũng không

đi lấy chồng

Đặt nhân vật Tự Lãng bên cạnh nhân vật Chí Phèo thì đó là nhữngnạn nhân của địa chủ, cường hào, ác bá trong xã hội đen tối lúc đó TựLãng là một thầy cúng, kiêm nghề hoạn lợn, lại có một hoàn cảnh đặc biệt

Trang 38

thật đáng thương: Vợ lão chết đã bẩy, tám năm nay Con gái lão chửahoang nó đi đâu không biết Lão chỉ có một mình, cô dơn, buồn tủi Chính vì vậy mà lão sinh ra chán đời, rượu chè, say sỉn Lời triết lý của lão

về sự vô lý của kiếp người: "Có giàu, có sang, có làm nên ông cả, bà lớnnữa, chết cũng không ai gọi là "Cụ lớn mả" Chỉ có cái mả tất " Lãocũng bị mọi người xa lánh, hắt hủi, chỉ có Chí Phèo là người cùng cảnh ngộđến với lão, vui cùng lão

Nét độc đáo mới mẻ trong việc tiếp cận chiếm lĩnh đời sống hiện thực:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh nhận xét: “… Khác với nhiều tácphẩm hiện thực phê phán lúc đó, tập trung xem xét trên bình diện xã hội, đisâu phân tích thực trạng và mâu thuẫn xã hội, Chí Phèo của Nam Cao đãchú ý làm nổi lên tình trạng nhân thế, số phận con người, vấn đề nhânbản… Sự kết hợp hai mặt xã hội và nhân bản trong chủ đề tác phẩm đặt racàng làm cho tác phẩm này có giá trị văn học sâu hơn, có sức ngân vanglớn” (44/98)

Đi sâu khám phá tiểu thuyết thế sự, chúng ta thấy nhà văn không từ

bỏ chủ nghĩa hiện thực mà trái lại, nhà văn nhìn hiện thực với cái nhìn đachiều, rộng mở Đồng thời nhà văn cũng thể hiện khát vọng, khả năng nắmbắt đời sống với tất cả mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp và chân thực, bêncạnh đó, nhà văn đặt con người trong mối quan hệ đa dạng, phức tạp vớihoàn cảnh xã hội, với tự nhiên, với môi trường văn hoá…

Đối với Thị Nở, Nam Cao dành cho một sự cảm thông đáng quý.Nhà văn khẳng định, cũng như tất cả những con người bình thường, Thị Nởcũng có những khao khát, những mong ước rất đáng trân trọng Bị bất ngờtrước những hành động liều lĩnh của Chí Phèo, lúc đầu, Thị Nở theo bảnnăng, có phản ứng rất quyết liệt, thị “vùng vẫy” để thoát khỏi Chí…

Trang 39

Nhưng khi đã hiểu ra, thị “bật cười” và đồng tình với việc làm của Chí, sựđồng tình cũng rất bản năng

Sáng hôm sau, Chí Phèo tỉnh dậy muộn và thấy “bâng khuâng”,

“lòng mơ hồ buồn” Đó là cảm giác rất lạ, rất người mà bao năm tháng Chíkhông có được Chí nhận ra “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá (…) tiếngcười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổicá…” Đó là những âm thanh rất quen thuộc của cuộc sống lao động xungquanh Những âm thanh Êy hôm nào chả có nhưng hôm nay nó mới dộiđến tai Chí lần đầu tiên thức tỉnh, vang động sâu xa trong lòng Chí, trởthành tiếng gọi thiết tha của cuộc sống

” Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Thị Nở “như một tia chớp” (NguyễnHoành Khung): “Như một ánh sao băng” (Hà Bình Trị) là bước ngoặt có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời Chí Dòng suy nghĩ “vẩn vơ” củaChí bị cắt ngang bởi hành động cao đẹp, đầy tình người của Thị Nở: nấucháo và mang sang cho Chí Bát cháo của Thị và hương vị của nó là biểutượng của tình yêu thương, của tình người mà sau hai mươi năm bị xã hộiloài người xa lánh, hắt hủi, Chí mới được đón nhận

Dựng lên môtip Chí Phèo – Thị Nở, Nam Cao muốn nói với chúng tarằng: Tình yêu không phải là thứ quà xa xỉ dành cho những “chàng” và

“nàng” mà ngay ở cả những người nông dân nghèo, cùn, đinh, dưới đáy xãhội vẫn có tình yêu, tình yêu vẫn đến với họ, vẫn dành cho họ với tất cả sựngọt ngào của nó Và cũng chính ở ngay những con người Êy, tình yêu mới

là đích thực, đúng nghĩa là một tình yêu chân thành bởi không có sự toantính, vụ lợi (57/419)

Quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao trong Chí Phèo.

Cuộc đời Chí kéo dài khoảng bốn mươi năm Hai mươi năm đầu Chí

là một người nông dân hiền lành, lương thiện Đến hai mươi năm cuối nhất

là từ khi ở tù về làng, Chí hoàn toàn khác, là một tên lưu manh, mét con

Trang 40

quỷ dữ… Nam Cao lý giải sự đổi thay dữ dội của tính cách Chí Phèo bằnghoàn cảnh riêng Dẫu nối hai nửa cuộc đời của Chí chính là bảy, tám năm ở

tù ra Nhà tù thực dân, nơi tập trung của những thói du côn, ngang tàng,liều lĩnh

… “Chí Phèo” - “Giở toàn những giọng uống máu người không tanh”.Cuộc sống không thước đất cắm dùi, không nhà cửa, không công ăn việclàm đã buộc Chí trở thành tay sai cho Bá Kiến lúc nào không biết Bọncường hào và nhà tù thực dân, nói rộng ra là cả xã hội tàn bạo, gian ác đã rasức giết chết bản tính hiền lương, cái phần người trong Chí Phèo Chí Phèotrở thành con quỷ dữ là điều không thể khác

Khắc hoạ tính cách Bá Kiến, Nam Cao lý giải bằng hoàn cảnh: BáKiến sinh ra trong một dòng họ có tới “bốn đời làm tổng lý” Mặt khác bảnthân Bá Kiến đã có thâm niên trong “nghề làm quan” và đã trải qua rấtnhiều cương vị: Lý trưởng, chánh tổng, bá hộ, tiên chỉ làng Vũ Đại, chánhhội đồng kỳ hào, huyện hào… khét tiếng đến cả trong hàng huyện Địa bàncai trị của Bá Kiến là một làng “xa phủ”, “xa tỉnh”, đông dân lại hiền lành,

dễ bóp nặn Vì thế, làng Vũ Đại giống như miếng mồi ngon khiến cho cácphe cánh cường hào trở thành một đám “quần ngư tranh thực”, đứng đầu là

Bá Kiến

Bà cô Thị Nở là phụ nữ rất cay nghiệt, có những thành kiến hết sức

vô lý, có những quan niệm về đức hạnh thật kỳ lạ: “Ngoài ba mươi tuổi màchưa trót đời Ngoài ba mươi tuổi… ai lại còn đi lấy chồng Ai đời lại còn

đi lấy chồng” “Thị nghe thấy thế mà lộn ruột Nhưng thị biết cãi bà làmsao? Con người Êy có quyền nói thế, bởi con người Êy năm mươi tuổi rồicòn ai lấy chồng”… Tất cả sự cay nghiệt, thiển cận và Ých kỷ Êy đã đượcNam Cao lý giải bằng hoàn cảnh của một “bà cô”

Tự Lãng, một tay thầy cúng kiêm hoạn lợn, lại có một hoàn cảnh đặcbiệt và đáng thương: Vợ lão chết đã bảy, tám năm nay Con gái lão chửa

Ngày đăng: 30/11/2014, 23:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sè 3 - hướng dạy học truyện ngắn chí phèo của nam cao ở nhà trường thpt theo đặc trưng loại thể
Bảng s è 3 (Trang 156)
Bảng sè 2 - hướng dạy học truyện ngắn chí phèo của nam cao ở nhà trường thpt theo đặc trưng loại thể
Bảng s è 2 (Trang 156)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w