1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu lịch sử vấn đề, đánh giá yếu tố tục và dâm trong thơ hồ xuân hương

103 1,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 388,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ XuânHương đã tự khẳng định và chiếm giữ một vị trí đặc biệt trong làng thơ ViệtNam với một di sản tinh thần không nhiều: khoảng năm chục bài thơ Nôm trongđó có bài ở dạng “ tồn nghi "

Trang 1

Nói về bản chất và ý nghĩa của cái tục cũng khó như nói về Thượng Đế.

-Henry Vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương, như Trái Đất, không là mới.

Miller-Nhưng có lẽ, cũng như Trái Đất, nó không bao giờ cũ, nhất là khi tìm ra vị trí quan sát mới.

Trang 2

…Dù thế nào mặc lòng chúng ta đã có Hồ Xuân Hương trong đời Vượt quanhững lời bàn nghiêm khắc, Hồ Xuân Hương vẫn tự mình sừng sững như mộtngọn núi Hồng, một dòng sông Lam, như trận gió Lào xứ Nghệ Hồ XuânHương đã tự khẳng định và chiếm giữ một vị trí đặc biệt trong làng thơ ViệtNam với một di sản tinh thần không nhiều: khoảng năm chục bài thơ Nôm trong

đó có bài ở dạng “ tồn nghi " với một tập thơ “ Lưu Hương Ký” – từ khi pháthiện tới nay, không ai phủ nhận nó nhưng các nhà nghiên cứu vẫn sử dụng mộtcách dè dặt

Chính sự phức tạp về tiểu sử, về văn bản cùng với những vần thơ lạ lẫm ,độc đáo đã là nguồn đề tài hấp dẫn đối với những người nghiên cứu cũng nhưnhững ai quan tâm đến văn học Các nhà phê bình văn học mỗi khi đặt bút viết

về Bà đều chau mày, kết luận: không rõ năm sinh, năm mất, không rõ thân phụ

Hồ Xuân Hương là ai Chỉ biết rằng nàng ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An

Hồ Xuân Hương đã để lại cho nền văn học dân tộc một số lượng thơ vănkhông lớn nhưng lại vô cùng độc đáo Cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương đã trởthành một đối tượng nghiên cứu với nhiều quy mô khác nhau Tiếp cận nhữngcông trình, chúng tôi nhận thấy tình hình nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương rấtphức tạp Xuất hiện nhiều ý kiến đánh giá, lý giải và tiếp cận theo nhiều phươngpháp ở nhiều thời điểm khác nhau Qua từng giai đoạn các nhà nghiên cứu đã cóbước phát triển về chất, ngày càng giúp cho độc giả nhận diện đúng bản chấtthẩm mỹ của đối tượng Tuy Hồ Xuân Hương được đánh giá cao, nhưng ở nhiềubình diện, trên nhiều vấn đề thì vẫn có sự nhìn nhận khác biệt thậm chí mâu

thuẫn nhau Hoa Bằng đề cao “ Hồ Xuân Hương – nhà thơ cách mạng”, Xuân

Diệu thì gọi thẳng Bà là nhà thơ dòng Việt, Bà chúa thơ Nôm, Nguyễn Tuân ca

ngợi “ Hồ Xuân Hương, người đàn bà độc đáo, nhà thơ vô song, hiện thực trữ

Trang 3

tình” còn Trương Tửu lại cho Hồ Xuân Hương là “ thiên tài hiếu dâm đến cực điểm”… Đối với trường hợp Hồ Xuân Hương, các thành tựu nghiên cứu còn

ngổn ngang, phức tạp, có thể gây nhiều cản trở cho người thưởng thức, học tậpthơ Hồ Xuân Hương hiện nay

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo ngay từ trong bảnthể, mà cái phần độc đáo nhất, hấp dÉn và lí thú, gây nhiều tranh luận sôi nổinhất là bàn về yếu tố tục và dâm trong thơ Bà, như nhà nghiên cứu M.Durandnhận định: “ Cái mới mà Hồ Xuân Hương đóng góp cho văn học Việt Nam, vàtáo tợn đến sửng sốt vì đó lại là văn chương do phụ nữ viết, đó là sự phá vỡkhuôn khổ những cấm đoán văn học và đạo đức Bà dám nói những vấn đề tínhdục”

Việc nắm vững tình hình nghiên cứu thơ và đời Hồ Xuân Hương đã trởthành công việc tốn nhiều thời gian và tâm sức.Tình hình đó đặt ra một yêu cầunghiêm túc: Cần có một công trình để tìm hiểu vấn đề, đánh giá thơ Hồ XuânHương nhất là lý giải yếu tố tục và dâm trong thơ Bà Qua đó chỉ ra những mặtđóng góp tích cực, những hạn chế còn tồn tại đồng thời đề xuất hướng lý giảiphù hợp để hiểu đúng hơn, sâu hơn về hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương

2.Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu.

Vì đề tài mang tính chất tổng hợp nên đối tượng nghiên cứu của khóa luận

là tổng thuật các công trình nghiên cứu Thơ Hồ Xuân Hương đã được xem xétvới phạm vi đa dạng từ nhiều phương diện khác nhau về thời đại Hồ XuânHương, cuộc đời, thân phụ, mối quan hệ họ hàng, tình sử, tình hình văn bản,những vấn đề nội dung và nghệ thuật Đặc biệt là lý giải yếu tố tục và dâm trongthơ Bà

Trang 4

Hướng nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu lịch sử vÊn đề và đánh giácác ý kiến bàn về yếu tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương nên tư liệu chophần này khá phong phó Trong khoá luận chúng tôi sử dụng để tham khảo vàtrích dẫn các công trình nghiên cứu khoa học lớn, các chuyên luận và giáo trìnhlịch sử văn học, các tiểu luận và bình giảng, các bài tham luận đánh giá củangười nước ngoài, luận văn tốt nghiệp, sách giáo khoa, ở quy mô nhỏ hơn là cáctiểu luận nghiên cứu khoa học đăng tải trên các tạp trí Văn học, Văn nghệ, Văn

Sử Địa, Văn hoá dân gian, nghiên cứu tôn giáo và những lời giới thiệu qua cáclần xuất bản thơ Hồ Xuân Hương

Do điều kiện thời gian làm khoá luận có hạn nên chúng tôi không thể baoquát hết những công trình nghiên cứu ở phía Nam hoặc một số sách cũ xuất bản

từ rất lâu hiện không tìm thấy ở thư viện song chúng tôi đã cố gắng trích dẫntheo các công trình nghiên cứu gần đây và không bỏ sót các công trình, các ýkiến quan trọng

3.Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

Trước hết, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng thuật để thống kê các tàiliệu nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương Từ đó chúng tôi đọc và phân loại theo từngnhóm vấn đề lớn: Về tác giả, văn bản, nội dung Trong phần nội dung lại phânloại theo hướng: nội dung lành mạnh, nội dung không lành mạnh hoặc những ýkiến nào đánh giá thơ Hồ Xuân Hương “ thanh”, nhóm nào cho là “tục”, nhómnào chấp nhận thơ Bà vừa “ tục” vừa “ thanh” Trên cơ sở đó, chúng tôi xem xétcác nhà nghiên cứu tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương ở góc độ nào, dùng phươngpháp so sánh, đối chiếu để tìm ra những điểm chung, điểm riêng, mặt tích cựccũng như hạn chế giữa các ý kiến đánh giá

Trang 5

Trong quá trình thực hiện chúng tôi cố gắng có quan điểm khách quannhưng toàn diện và thống nhất để đánh giá đúng công lao của những người đitrước.Từ đó chúng tôi nêu ra cách lập luận của mình, xâu chuỗi các ý kiếnnghiên cứu nhằm hệ thống hoá các vấn đề đã đặt ra và đã giải quyết.

Khi trích dẫn các ý kiến, các nhận định của các nhà nghiên cứu chúng tôi

sử dụng lời dẫn trực tiếp, gián tiếp hoặc lược thuật Cuối khoá luận có ghi số thưmục trích dẫn và khảo

4.Ý nghĩa khoa học của khoá luận

Khoá luận là kết quả của việc tìm hiểu lịch sử vấn đề, đánh giá yếu tố tục

và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương nên có ý nghĩa thực tiễn phục vụ cho công tácnghiên cứu đặc biệt là giúp cho những người thưởng thức học tập thơ Hồ XuânHương

Đối với công việc nghiên cứu: Khoá luận cung cấp một diện mạo tổngquát và có hệ thống về thành tựu nghiên cứu Hồ Xuân Hương Đồng thời chobiết những vấn đề phức tạp, mâu thuẫn khi đánh giá về Hồ Xuân Hương cũngnhư khẳng định một hướng lý giải mới có triển vọng, đó là xem Hồ Xuân Hương

từ tiểu sử đến văn bản là một “ tiến trình huyền thoại dân gian hoá.”

Đối với thực tiễn: Khoá luận giúp cho những bạn đọc đặc biệt là học sinh,sinh viên có định hướng đúng đắn mỗi khi thưởng thức thơ Hồ Xuân Hương.Mặt khác giúp họ khám phá cái đẹp, cái mới, cái táo bạo, hấp dẫn trong thơ HồXuân Hương đặc biệt là cái tinh quái ở mảng thơ Nôm truyền tụng Qua đó đánhgiá đúng tài năng Hồ Xuân Hương

5 Những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai đề tài

5.1 Những thuận lợi.

Trang 6

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ độc đáo trong nền văn học Việt Nam, thơ

Bà đã được nhiều người thuộc, nhiều người nhớ, đặc biệt dễ gây hứng thú hấpdẫn người đọc Cũng đã có không Ýt công trình khảo cứu về Hồ Xuân Hương

mà ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường lại có một bước phát triển về chất Do đó

chúng tôi có điều kiện để tham khảo, học tập.

5.2 Những khó khăn.

Khi làm khóa luận chúng tôi gặp phải một số khó khăn: Thứ nhất là vềmặt thời gian, từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành khóa luận chỉ vẻn vẹntrong vòng khoảng hai tháng Đây có thể nói là một thời gian eo hẹp đối với một

đề tài có tính tổng hợp và đối với một người mới tập dượt làm công việc nghiêncứu Thứ hai là cuộc đời nhà thơ chưa xác định rõ ràng, mặt khác số lượng thơ

Hồ Xuân Hương không nhiều nhưng lại không minh định về tác giả mà có thể có

cả thơ “nặc danh” Do đó, không thể đánh giá đúng tư tưởng thơ văn của HồXuân Hương khi chưa nắm rõ về thân thế, cuộc đời của Bà Hơn nữa, các côngtrình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương lại ngổn ngang, phức tạp, mâu thuẫn, vấn

đề mà các nhà nghiên cứu nêu ra chưa giải quyết triệt để

Với mét số khó khăn cơ bản như vậy, chúng tôi vẫn mạnh dạn thực hiện

đề tài dù khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi hi vọng được cácthầy, cô giáo, bạn bè và bạn đọc chỉ giáo cho bước rèn luyện đầu tiên trong côngviệc nghiên cứu của mình

Trang 7

“Hồ Xuân Hương, nữ sĩ Xuân Hương, chủ nhân “Cổ nguyệt đường” là ai ?

Là người đàn bà đã làm sửng sốt những kẻ đồng thời và hậu thế bằng thiên tàithơ ca lỗi lạc của mình hay chỉ là điều bịa đặt nào đó của những đầu óc hay đùatếu, là nhân vật truyền kỳ, là một bút danh tập thể” Không chỉ có N I Niculin

mà rất nhiều nhà nghiên cứu đều có chung ý nghĩ Êy mỗi khi đặt bút viết về Bà.Cho đến tận bây giờ – ngót hai thế kỷ đã trôi qua, Hồ Xuân Hương vẫn là một

“người lạ đã quen biết”, vẫn là một hiện tượng phức tạp trên thi đàn dân tộc ViệtNam, vẫn là một bài toán khó, một Èn số, một câu hỏi lớn cho giới nghiên cứu.Tất cả các học giả, các nhà phê bình, cũng như những ai quan tâm đến văn họcđều nhất trí với nhau rằng: Hồ Xuân Hương là một thi hào dân tộc, là “Bà chúathơ Nôm’’ Một Xuân Hương tài tử, tài hoa Một Xuân Hương kỳ nữ, kỳ tài Vớinhững phương pháp nghiên cứu và góc độ tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương khácnhau mà giới nghiên cứu đưa ra những ý kiến đánh giá của riêng mình khi tìmhiểu về tiểu sử , khi xem xét văn bản cũng như khi cảm thụ thơ văn của Bà.

“Giai nhân di mặc’’ (1917) là cuốn sách mở đầu và tác giả của nó: ĐôngChâu Nguyễn Hữu Tiến được xem là người đi tiên phong trong cuộc hành trìnhkhám phá, tìm hiểu vÒ tiểu sử, thơ ca Hồ Xuân Hương Từ đó đến nay, hơn támmươi năm đã trôi qua, đã không Ýt người nghiên cứu về Hồ Xuân Hương nhưngdường như vẫn chưa có ai đạt tới đích cuối cùng Căn cứ vào thực tế và tính chấtcủa các tư liệu, chúng tôi nhận thấy lịch sử nghiên cứu cuộc đời và thơ ca HồXuân Hương đã trải qua hai giai đoạn lớn có sự khác nhau về chất:

-Giai đoạn một : Từ 1916 đến khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng(1916 –1954)

-Giai đoạn hai : Từ sau năm 1954 đến nay

Trang 8

Ở giai đoạn đầu chúng ta ghi nhận sự đóng góp của Nguyễn Hữu Tiến,Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Hoa Bằng, Dương Quảng Hàm… nhưng ở thờiđiểm này công tác nghiên cứu, biên soạn về tiểu sử và thơ ca Hồ Xuân Hươngcòn đơn giản có tính chất cảm tính, thuần tuý dựa vào những câu chuyện lưutruyền nên không tránh khỏi sự cực đoan hoặc đề cao hoặc phê phán một chiều.

Giai đoạn hai từ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tình hình xãhội có thuận lợi hơn nên việc nghiên cứu Hồ Xuân Hương bước vào một giai

đoạn khác về chất so với trước đó Nổi bật và đáng chú ý hơn cả là bài “Bàn góp

về nguồn gốc giai cấp của Hồ Xuân Hương” của Hồ Tuấn Niêm [37] và cuốn

“Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ văn học và giáo dục” của Văn Tân [18].

Cùng với ông Hồ Tuấn Niêm, ông Văn Tân là một trong những người đầu tiênvận dụng quan điểm duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu một tác gia văn học,đặt Hồ Xuân Hương trong tương quan với các mối quan hệ xã hội, trong bốicảnh lịch sử Trong cuốn sách của mình, ông Văn Tân đã phân tích khá rõ ràngchi tiết các vấn đề: Tiểu sử, giai cấp tính, ông xem xét xã hội Việt Nam trongthời đại Hồ Xuân Hương, xem xét cá tính Hồ Xuân Hương hay là những nhân tốtạo nên ý thức tư tưởng Hồ Xuân Hương… đồng thời ông đánh giá những mặtđóng góp tích cực của Bà vào lịch sử văn học dân tộc Đặc biệt trong công trìnhcủa mình, ông đã cố gắng cụ thể hóa mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương với vịanh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Tuy nhiên, những hạn chế là điều không thểtránh khỏi nhưng công trình nghiên cứu của Văn Tân vẫn đáng được xem nhưcột mốc quan trọng trên chặng đường nghiên cứu về Hồ Xuân Hương theo mộtphương pháp luận mới

Ở cuối thập kỷ 50, với “Hồ Xuân Hương- Bà chúa thơ Nôm’’, Xuân Diệu

đã góp một tiếng nói đáng trân trọng vào việc nghiên cứu Hồ Xuân Hương Với

Trang 9

sự cảm thụ tinh tế, tài hoa của một nhà thơ, với vốn hiểu biết sâu sắc về xã hội,văn hoá, lịch sử thời đại, với một nhãn quan tiến bộ, một thái độ nghiêm túc củanhà phê bình, Xuân Diệu đã khám phá ra tầm tư tưởng cũng như tính độc đáo vàbản lĩnh của một trong “ba thi hào dân tộc’’ Từ đây bạn đọc đến với thơ HồXuân Hương với một thiện tình phóng khoáng hơn, cởi mở hơn.

Bước sang thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi sâu vào văn bản đểthẩm định lại về thân thế Hồ Xuân Hương và cũng là để công bố những tài liệumới Có thÓ nói, những năm 60 là khoảng thời gian có nhiều phát hiện mới về tưliệu Hồ Xuân Hương, những tư liệu quan trọng mang tính chất “sự kiện’’, có tínhquyết định trong việc nghiên cứu Từ đây sự phức tạp của vấn đề, sự rắc rối, sựmâu thuẫn trong các tài liệu nghiên cứu được nhân lên Có thể đơn cử ra đây:

Tảo Trang với “ Chiêu Hổ và Phạm Đình Hổ”; Trần Thanh Mại với một hệ thống bài viết trên Tập san nghiên cứu Văn học và Tạp chí Văn học từ năm 1961 đến năm 1964; Trần Văn Giáp và Cao Huy Du với những bài trên Tuần báo Văn nghệ Và người đọc ghi nhận công lao to lớn, sự lao động miệt mài của nhà

nghiên cứu Trần Thanh Mại ở thập kỷ này như một người có công đầu trong việcdẫn dắt sự quan tâm của những người nghiên cứu Hồ Xuân Hương sang mộthướng suy nghĩ mới Đặc biệt việc phát hiện ra tập thơ “Lưu Hương Ký” và bàitựa của Nham Giác Phu Tèn Phong Thị đã đặt ra nhiều câu hỏi xung quanh vấn

đề thân thế và thơ ca Hồ Xuân Hương Phải chăng ngoài những vần thơ Nômnảy lửa, gai góc, táo bạo thì Hồ Xuân Hương còn là hay chính là một nhà thơsáng tác chủ yếu bằng chữ Hán? Thêm “Lưu Hương Ký”, chóng ta có một cáinhìn toàn diện hơn về con người mà cuộc đời và thơ văn là cả một câu chuyện

hư huyền Một Hồ Xuân Hương đa tình, tài hoa , một Hồ Xuân Hương lận đậntình duyên Một Xuân Hương Hán học, quý téc, tuy đa tình nhưng trang nghiêm,

Trang 10

tuy tài hoa nhưng đúng mực Thân phụ của con người này là ai? Hồ Phi Diễn hay

Hồ Sĩ Danh? Chóng ta sẽ lí giải sao đây trước mảng thơ Nôm trữ tình táo bạo màkhông kém phần đằm thắm, thiết tha, có việc có người của một Hồ Xuân Hươngtrong “Lưu Hương Ký” với mảng thơ Nôm truyền tụng lâu nay mà bên cạnhphần trữ tình, giàu cá tính lại đan xen vào cái nghĩa “tục tĩu” nhiều khi đến trơtrẽn, lẳng lơ? Đâu mới đích thực là Hồ Xuân Hương? Còn đâu là Hồ XuânHương “ nặc danh”?

Về phương diện lí luận phê bình, thập kỷ 60 cũng là thập kỷ xảy ra cuộctranh luận sôi nổi xung quanh bài viết tài hoa, sâu sắc và cũng đầy cá tính của

Nguyễn Đức Bính với nhan đề “Người cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương”[15] Có

thể nói, cùng với những phát hiện mới mẻ của các nhà nghiên cứu, bài viết của

Nguyễn Đức Bính và cuộc tranh luận của Vũ Đức Phúc “Thơ Hồ Xuân Hương : Ông Nguyễn Đức Bính và thơ Hồ Xuân Hương”[39] đã làm cho vấn đề Hồ Xuân

Hương nổi bật lên như một trong những tác giả được bàn luận sôi nổi nhất tronggiới nghiên cứu văn học nước ta khi Êy

Bước sang thập kỷ 70, vấn đề Hồ Xuân Hương tiếp tục được bàn đếntrong việc trao đổi về tiểu sử của Bà, cụ thể là mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương

với Nguyễn Huệ trên Tạp chí văn học và Tạp chí lịch sử Trong cuộc trao đổi

này, nhà nghiên cứu Hồ Tuấn Niêm đã dày công tìm hiểu sâu hơn mối quan hệ

họ hàng giữa Hồ Xuân Hương và Nguyễn Huệ – mối quan hệ mà ông Văn Tânchứng minh từ năm 1955 trong “Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ văn học vàgiáo dục”[18]

Về mặt tư liệu, đáng chú ý hơn cả ở thập kỷ này là việc phát hiện bài tản

văn “Xuân đường đàm thoại” và dị bản “Xuân đình đàm thoại” Từ khi hai văn

bản này được công bố đã không Ýt người băn khoăn về thời đại sống của Hồ

Trang 11

Xuân Hương cũng như năm và nơi mất của Bà Dựa vào văn bản này, có ngườicòn chứng minh thêm rằng: ông Phủ Vĩnh Tường trong thơ Hồ Xuân Hương

chính là ông Phạm Viết Đại (1802 – 1862) Đến năm 1999 trong cuốn “Hồ Xuân Hương , tiểu sử văn bản tiến trình huyền thoại dân gian hoá”[23] Đào Thái Tôn

lại muốn chứng minh và khẳng định : Tuy không phải là tài liệu xác thực về tiểu

sử Hồ Xuân Hương nhưng Xuân đường đàm thoại vẫn có một ý nghĩa đáng kể

trong việc nghiên cứu “Nó chính là một bằng chứng sinh động, là một nhịp nốitrên bước đường huyền thoại và dân gian hoá về tiểu sử và thơ ca của Bà” [23;22]

Tiếp tục cuộc hành trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, thập kỷ 80 đãghi nhận công trình khảo cứu “Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long” của giáo sưHoàng Xuân Hãn như một sự đánh dấu về sự chuyển biến trong việc nghiên cứutiểu sử Hồ Xuân Hương Ông cung cấp thêm chi tiết Hồ Xuân Hương đã từnglàm vợ bé của viên Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, ông này bị kết

án tử hình năm 1819 Trong thời gian này, Hồ Xuân Hương sáng tác một chùmthơ về vịnh Hạ Long

Hơn tám mươi năm qua - một khoảng thời gian không phải là ngắn ngủi,giới nghiên cứu đã dụng công tìm hiểu về Hồ Xuân Hương nhưng đối với mộttác gia độc đáo, phức tạp như Bà thì vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giảiquyết triệt để

Trong chương một của bản khoá luận này, chúng tôi xem xét hai vấn đề cơbản sau đây :

1.Tìm hiểu về tiểu sử , cuộc đời Hố Xuân Hương

2.Quá trình sưu tầm, công bố và nghiên cứu văn bản thơ HồXuân Hương

Trang 12

1.Về tiểu sử ,thân thế Hồ Xuân Hương.

Lịch sử nghiên cứu về Hồ Xuân Hương vô cùng phong phú nhưng khôngkém phần phức tạp thậm chí còn đầy mâu thuẫn Hiện nay vẫn chưa có một côngtrình nào, một học giả nào cung cấp cho bạn đọc những lí giải thoả đáng và đủ

độ tin cậy về tiểu sử nhà thơ, cuộc hành trình kiếm tìm những sự thật về Bà vẫnđang tiếp diễn mà theo nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn thì đó là “ cuộctìm kiếm giữa màn sương huyền thoại” Bà sinh năm nào, mất năm nào, hànhtrạng cuộc đời ra sao? Có vô số câu trả lời rồi nhưng vẫn chưa có một đáp án duynhất Cuộc đời cũng như thơ văn Hồ Xuân Hương mang đậm tính dân gian vàsắc thái huyền thoại khiến người ta phải đặt câu hỏi “ có nữ sĩ Hồ Xuân Hươnghay không ?”(Hồng Tú Hồng); “có chăng một bà Hồ Xuân Hương?”(Lữ Hồ)hoặc “ thử tìm tên thật Hồ Xuân Hương "(Nam Trân)… Vậy thực chất Hồ XuânHương là ai? Đó là con người có thật hay chỉ là giai thoại?

1.1.Thân phụ của Hồ Xuân Hương

Căn cứ vào tình hình tư liệu hiện nay, chúng tôi phân thành hai nhóm.Nhóm các nhà nghiên cứu cho rằng cha Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn Nhómthứ hai lại khẳng định Hồ Sĩ Danh mới là cha Hồ Xuân Hương

Như trên đã nêu, “ Giai nhân di mặc” của Nguyễn Hữu Tiến là cuốn sáchđầu tiên viết về Hồ Xuân Hương ở dạng nghiên cứu “ sự tích và thơ từ Hồ XuânHương” Nguyễn Hữu Tiến đã gán cho mỗi bài thơ một câu chuyện rồi xâu chuỗilại thành một cuốn “tiểu thuyết” về cuộc đời Bà Cuốn sách này có tám đoạn như

Trang 13

kiểu “tiểu thuyết chương hồi” và ngay từ đầu cuộc đời Hồ Xuân Hương đã đượcphủ lên một tấm màn huyền bí cổ tích :

“ Khi Êy ở phường Khán Xuân có nhà họ Hồ, vợ là Hà thị, nguyên tổ tích

từ Nghệ An ra ở đấy, nhà trông xuống Hồ Tây Hồ thị hai vợ chồng hiếm hoi,vẫn thường ra cầu đảo ở chùa Trấn Võ Một đêm kia Hà thị nằm mơ mơ màngmàng thấy có một người cao lớn dị thường mắt sáng như gương da đen tựa sắtbước vào đưa cho một cái gương có bóng ngọc thỏ, lóe sáng rực lên Hà thị giậtmình tỉnh dậy, từ bấy giờ cảm động có thai, mãn kỳ sinh được một đứa con gái.Khi đứa bé Êy mới sinh trong bàn tay hãy còn có vết tròn tròn như vành gươngsoi trong lúc mộng, cha mẹ lấy làm kinh dị, nhân theo tên làng [?] và nhớ điềmlúc mộng [?] mới đặt tên là Hồ Xuân Hương [?]” Trong sách của Nguyễn HữuTiến, Hồ Xuân Hương được sinh ra như thế, nghĩa là khác với lẽ bình thường

“Khi Êy”lµ khi nào, bao giờ, dưới thời đại nào không rõ, “khi Êy” là thời gianphiếm định, chỉ thường thấy trong truyền thuyết, thần thoại, cổ tích “Nhà họHồ” nhưng cũng không biết tên họ cụ thể là gì? Hơn nữa theo Nguyễn Hữu Tiếnviết thì Xuân Hương là đứa con cầu tự, như một sự đầu thai mà có như ThạchSanh , Sọ Dừa, tên làng mà cũng không thấy tên đâu Mọi chuyện đều rất mê mê,

ảo ảo như truyền thuyết vậy

Cha Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn hay Hồ Sĩ Danh? Người ta đã tranh luận rấtnhiều thậm chí còn khá gay gắt Có thuyết cho rằng Hồ Xuân Hương sinhkhoảng năm 1770 nàng là con của Hồ Phi Diễn (1703-1786) quê ở làng QuỳnhĐôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Cuốn sách đầu tiên khẳng định điều này

là “Việt văn giáo khoa thư” (1940) của Dương Hàm [22;270] Ông Văn Tântrong cuốn sách của mình, xuất bản 1955 còng cho rằng “Cha Xuân Hương là

Hồ Phi Diễn, mẹ Xuân Hương là nữ sĩ Hà thị (Hải Dương) Trước khi Hồ Xuân

Trang 14

Hương ra đời, cha mẹ thi sĩ đã ở phường Khán Xuân (gần Hồ Tây) là phườngthuộc huyện Vĩnh Thuận- Hà Nội”[18] Trong cuốn “Văn Học Việt Nam nửacuối thế kỷXVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” nhận định “ tuy chưa tìm được tàiliệu gốc” nhưng các tác giả vẫn nêu “ thân sinh Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn(1704) đậu sinh đồ (sau này gọi Tú Tài ) năm hai mươi bốn tuổi Ông kết duyênvới cô gái họ Hà là vợ lẽ và sinh hạ được cô gái mang tên Hồ XuânHương”[13;108].

Đồng tình với thuyết Hồ Xuân Hương là con Hồ Phi Diễn còn có NguyễnLộc, Bùi Hạnh Cẩn, Thanh Lãng, Trương Tửu

Nhóm các nhà nghiên cứu thứ hai bác bỏ thuyết trên và cho rằng Hồ XuânHương là con của Hồ Sĩ Danh Người đầu tiên đưa ra ý kiến này là Trần ThanhMại, trong bài “Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương”[32], khi nghiên cứu văn bản

“Lưu Hương Ký thi tự” ông viết : “Qua bài tựa tập Lưu Hương Ký và mấy chục

bài thơ, chúng ta biết được gì về tiểu sử và thân thế Hồ Xuân Hương? Đáng chútrọng hơn hết có chi tiết nói Hồ Xuân Hương là em gái ông lớn Hồ, đậu HoàngGiáp, người làng Hoàn Hậu (Quỳnh Đôi bây giờ ), huyện Quỳnh Lưu , tỉnh Nghệ

An Hai tiếng “ ông lớn” (tướng công ) đời xưa dùng để chỉ những người có chứctước cao trong triều đình phong kiến Xét ra đây là Hồ Sĩ Đống (1738 – 1785 ),đậu đình nguyên, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân ( tức Hoàng Giáp ) làm quan đếnhành tham tông

Theo Hồ gia hợp tộc phả ký ( ký hiệu thư viện KHTƯ A 3076) và Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên, Hồ Sĩ Đống là con Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783 )

đậu Hương Cống (cử nhân ) năm 1732, ông này không ra làm quan nhưng vì cócon làm quan to nên được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và Hàm thái bảo.Theo Tèn Phong Thị , Hồ Xuân Hương là con gái Hồ Sĩ Danh - đối chiếu với Hồ

Trang 15

Phi Diễn anh em con chó con bác lại rất xa, kể ngược lên đến đời thứ 10 mớicùng một ông tổ”

Mặc dù Trần Thanh Mại đưa ra ý kiến kèm những lập luận chặt chẽ nhưvậy nhưng ông Hồ Tuấn Niêm trong bài “Bàn lại một đôi điểm về tiểu sử HồXuân Hương” trên Tạp chí văn học số 1/ 1972 lại bác bỏ ý kiến của ông TrầnThanh Mại , ông chủ trương Hồ Xuân Hương không phải là con Hồ Sĩ Danh

Để chứng minh điều này, Hồ Tuấn Niêm viện dẫn Quỳnh Đôi hương biên, Quỳnh Đôi hồ tộc khoa danh trương biên, Gia phả chi Hồ Sĩ Danh Theo Hồ

Tuấn Niêm thì Hồ Sĩ Danh đây đúng là Hồ Sĩ Danh mà ông Trần Thanh Mại đã

nói tới nhưng lại không phải là cha Hồ Xuân Hương Gia phả chi Hồ Sĩ Danh

ghi rõ : Hồ Sĩ Danh chỉ có năm người con , đều là con trai : Hồ Sĩ Dược, Hồ Sĩ

Đống , Hồ Sĩ Thích , Hồ Sĩ Thu , Hồ Sĩ Hữu Hơn nữa chính trong Quỳnh Đôi hương biên ( được biên soạn vào những năm 40 của thế kỷ trước ) có ghi chép

khá đầy đủ về gia đình Hồ Sĩ Danh mà vẫn không có một dòng nào nói là ông cólấy vợ lẽ và sinh con gái Ông Hồ Tuấn Niêm cũng bác bỏ chi tiết Trần ThanhMại cho rằng “ mẹ Hồ Xuân Hương chỉ là một người hầu thiÕp của Hồ SĩDanh , lúc ông này chết (1783) bà không muốn sống thêm cái kiếp đoạ đầy cựcnhục nên mang Hồ Xuân Hương về Hà Nội sinh sống và cho con ăn học ở đâytrong sự nghèo túng nhưng Êm cúng , thoải mái” Nếu đặt trong hoàn cảnh xãhội đương thời thì điều này thật khó tưởng tượng và khó tin Vậy ý kiến của ôngTrần Thanh mại không hợp lí, Hồ Xuân Hương không phải là con gái của Hồ SĩDanh Nhưng tại sao Tèn Phong Thị lại nói như vậy? Các nhà nghiên cứu nghi

ngờ tác giả lời tựa Lưu Hương Ký hiểu nhầm chữ “muội” trong câu“Hoàng giáp

Hồ tướng công chi muội” “ Hoàng giáp Hồ tướng công” đúng là chỉ Hồ SĩĐống như ông Mại nhận định Nhưng chữ “ muội” nên hiểu theo nghĩa là em gái

Trang 16

ruột thì không đúng vì Hồ Sĩ Danh không có vợ lẽ và con gái như đã nêu ở trên,

do đó, Hồ Sĩ Đống không thể có em gái ruột được Cho nên chữ “ muội” ở đâychỉ có thể hiểu theo nghĩa là em gái nói chung thì hợp lẽ hơn cả Sau này trong “

Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long”, giáo sư Hoàng cũng phân tích “ vấn đề liên

hệ giữa Hồ Xuân Hương và Hồ Sĩ Đống , có thể rằng Tốn Phong Thị đã tưởnglầm nàng là em ruột ông Hoàng Giáp, vì trong câu chuyện, từ “ em họ” cũngthường chỉ nói “em” nhất là khi người anh chị là bực sang” Trần Thanh Mại đãhiểu lời tựa “ em gái lớn ông Hồ” cho nên đã bác điều Xuân Hương là con PhiDiễn, và theo thế thứ, nhận là con Sĩ Danh Thuyết Êy không ổn, vì bỏ điều gầnchắc truyền và ghi trong họ Hồ, dựa vào nghĩa mập mờ của chữ Muội trong lờitựa”[23;39]

Hồ Xuân Hương là con Hồ Phi Diễn hay con Hồ Sĩ Danh, vấn đề ngàycàng trở nên phức tạp Như trên đã trình bày, người đầu tiên khẳng định HồXuân Hương là con của Hồ Phi Diễn là Dương Quảng Hàm trong “ Việt văngiáo khoa thư” Thế nhưng Dương Quảng Hàm lấy tài liệu này ở đâu thì không

ai rõ, chỉ biết rằng “ tuy sách không cho hay chỗ xuất xứ là đâu nhưng tác giả làmột giáo sư Việt văn trung học, vậy nên bấy giờ độc giả đều tin và cho là một tinmới mẻ Thật sự thì trước hồi Êy ở xứ Nghệ , nhất là ở Quỳnh Lưu, nhiều văn sĩ

đã biết Ýt nhiều về điều Êy Họ Dương biết chuyện chính cũng nhờ người thuộc

họ Hồ ở thôn Quỳnh Đôi”[23;41] Điều đó chứng tỏ rằng Dương Quảng Hàm khiviết tiểu sử Hồ Xuân Hương vào năm 1940 là viết theo lời truyền tụng Kết luận

này đủ độ tin hơn khi xem Việt Nam văn học sử yếu (1943 ) , ở mục “ các tác

phẩm kê cứu”, Dương Quảng Hàm đã kê những sách viết về Hồ Xuân Hương

là :

-“ Giai nhân di mặc” của Nguyễn Hữu Tiến

Trang 17

-“ Hồ Xuân Hương tác phẩm , thân thế và văn tài của Nguyễn VănHanh

-“ Hồ Xuân Hương thi tập” của Xuân Lan

Nhưng cả ba cuốn sách đó không có cuốn nào nói đến chi tiết Hồ Xuân Hương

là con Hồ Phi Diễn Sau này Đào Thái Tôn cũng quả quyết “ tất cả các sách giaphả họ Hồ có trong Thư viện KHXH hiện nay , không có sách nào chép chi tiếtnày, thậm chí ba chữ Hồ Phi Diễn cũng không có Ở làng Quỳnh Đôi hiện nay,một số gia phả có chép về Hồ Phi Diễn nhưng tiếc rằng đó là sách chép gầnđây”[22;270]

Nếu ông Đào Thái Tôn không đồng ý khi cho rằng cha Hồ Xuân Hương là

Hồ Phi Diễn thì ông Hồ Tuấn Niêm lại nghiêng về thuyết này Trong “ Thiêntình sử Hồ Xuân Hương” giáo sư Hoàng Xuân Hãn có viết :

“ Tuấn Niêm cho hay có ghi Hồ Phi Diễn trong các sách sau :

Hồ tôn thế phổ

Hồ tộc thế phổ

Hồ tộc hiền lục

Hồ đại tộc tiên tổ thuỵ hiệu

Hồ téc khoa danh trường biên

Hồ tộc tông thứ phổ ký

để trả lời cho câu hỏi “ Có thực Hồ Xuân Hương là con Hồ Phi Diễn không” ,

cả ông Hồ Tuấn Niêm vào năm 1971 và giáo sư Hoàng Xuân Hãn năm 1983 đềutin rằng đó là sự thực bởi có ba tài liệu ( bút chứng) là :

-Phổ 1 ( tức Hồ tôn thế phả)

-Phổ 6 ( Hồ tộc tôn thứ phổ ký)

- Thư đề ngày 27/9/1971 của ông Hồ Mậu Đờn

Trang 18

Khi xem xét , người ta thấy những chữ “ Phi Diễn sinh nữ Xuân Hương ưKhán Xuân phường” thực ra đã được ghi thêm vào sau năm 1957 nên không cógiá trị “ bút chứng” Còn bút chứng thứ hai thì ông Hồ Tuấn Niêm lại nói là cóđược đọc ( không còn sách) Tài liệu thứ ba là lá thư của ông Hồ Mậu Đờn gửicho ông Hồ Tuấn Niêm từ Nghệ An đề ngày 27/ 9/ 1971, “ là mang ý nghĩa bútchứng nhưng xét ra chẳng có giá trị là bao”[23;47]

Như vậy việc xác định thân phụ Hồ Xuân Hương vẫn chưa có sự thốngnhất Nếu như nhất thiết đòi hỏi phải có chứng cứ xác đáng thực tế để chứngminh cho mét “ điểm” nào đó về đời Hồ Xuân Hương thì thiết nghĩ, chúng tanhất định không đạt nổi một “ điểm” nào cả Mà nếu không xác định được cha

Hồ Xuân Hương là ai thì không thể xác định quê quán, năm sinh, nơi sinh …vànhiều vấn đề khác

1.2 Thời đại Hồ Xuân Hương.

Lâu nay nhiều người vẫn thường dựa vào đề tài thơ của Hồ Xuân Hương

để suy luận thời đại sống của Bà Có người căn cứ vào những bài thơ xướng hoạvới Chiêu Hổ rồi kết luận Hồ Xuân Hương sống cùng thời Phạm Đình Hổ Cóngười lại dựa vào bài “ Đề đền Sầm Nghi Đống” để khẳng định Hồ Xuân Hươngsống ở thời kỳ Tây Sơn

Trong “ Giai nhân di mặc”, Nguyễn Hữu Tiến cũng không xác định cụ thể

về mặt thời gian mà chỉ biết Hồ Xuân Hương sinh ra vào “ khi Êy” mà thôi Năm 1927 , Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong “ Nam thi hợp tuyển” vànăm 1929 , Sở Cuồng Lê Dư trong “ Nữ lưu văn học sử” đều viết : “Nàng sinhvào lúc đầu nhà Nguyễn”

Theo ông Văn Tân : “ Muốn biết về Hồ Xuân Hương chỉ còn cách dựa vàotiểu sử Chiêu Hổ tức Phạm Đình Hổ , là người đã nhiều lần xướng hoạ với Xuân

Trang 19

Hương để phỏng đoán Xuân Hương ra đời vào khoảng nào và chết vào khoảngnào” [18] Sau khi kể về mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương với Chiêu Hổ , ôngVăn Tân kết luận : “ Như vậy có thể đoán không đến nỗi sai lầm rằng Hồ XuânHương là một nhân vật tuổi xuýt xoát với Phạm Đình Hổ, nghĩa là cùng sốngtrong khoảng thời gian từ cuối Lê - Trịnh đến Nguyễn sơ

Dzuy Dzao khẳng định chắc chắn “ Hồ Xuân Hương sinh vào nửa sau thế

kỷ XVIII và đã qua đời vào nửa đầu thế kỷ thứ XIX”[ 4;5] Còn theo NguyễnLộc cho biết “ trước kia các nhà nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hương sống vàsáng tác vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ yếu là dưới thời Tây Sơn Nhưng một sốtài liệu phát hiện gần đây thì lại thấy hình như Bà sống chủ yếu dưới thời nhàNguyễn , khoảng nửa đầu thế kỷ XIX” [15;27]

Gần hai thế kỷ, hàng trăm người nghiên cứu và viết về Hồ Xuân Hương đềuchau mày hạ bút một cách chung chung: “ Bà sống khoảng cuối Lê đầuNguyễn”… Thực ra, đây là một khoảng thời gian hết sức co giãn, khó xác định.Bởi vì, tính thời nhà Hậu Lê bắt đầu từ Lê Duy Ninh, niên hiệu Nguyên Hoà(1533 – 1548) đến Lê Duy Kỳ, niên hiệu Chiêu Thống (1787 – 1788) tròn 255năm Còn nhà Nguyễn tồn tại trong 143 năm, bắt đầu từ Nguyễn Phúc Ánh, niênhiệu Gia Long (1802 – 1820) đến Nguyễn Vĩnh Thuỵ, niên hiệu Bảo Đại (1926 –1945) Nói “ cuối Lê đầu Nguyễn”, là nói tới buổi giao thời từ Lê Chiêu Thốngqua Tây Sơn đến Gia Long Thế nhưng, thời gian của Lê và Nguyễn là hai triềuđại dài, chính vì thế không biết là Hồ Xuân Hương chủ yếu ở phía nhà Lê haynhà Nguyễn, sự co giãn cũng phải hàng vài chục năm Điều này cho phép dunghoà rất nhiều giả thiết về năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương nhất là tìnhhình tư liệu hiện nay

Trang 20

Nhưng không một giả thiết nào về Hồ Xuân Hương còn có thể đứng vữngđược cũng như sẽ phải giã từ tất cả những cách hiểu trước đây khi “Xuân đườngđàm thoại” cho biết năm mất của Hồ Xuân Hương là 1869! Vậy hẳn là Hồ XuânHương đã sống, thậm chí đã sinh ra vào đầu đời Nguyễn – sau Tây Sơn, điều nàycũng có nghĩa là phải xếp Xuân Hương vào “ chiếu” các tác gia văn học triềuNguyễn chứ không phải ở thời Tây Sơn, việc sắp xếp này có ảnh hưởng trực tiếptới việc nhận xét và bình giá thơ văn của Hồ Xuân Hương

Hiện giờ vẫn chưa xét tài liệu nào là đáng tin và tin ở mức độ nào nhưng

để nói một điều về thời đại Hồ Xuân Hương thì đó là một thời đại khủng hoảng,một nhà nước đang trên con đường suy vi mà sự băng hoại của nó về đạo đức làđiều không thể tránh khỏi Mỗi cá nhân thuộc về một xã hội nhất định, thơ văncủa họ dù ngụy trang dưới bất cứ một hình thức nào thì đó vẫn là lời phát biểutrung thành về thời đại mình Nét độc đáo, sự lạ lẫm trong thơ Xuân Hương mộtphần cũng chính là sản phẩm của thời đại Xuân Hương

1.3 Năm và nơi sinh của Hồ Xuân Hương

“ Hồ Xuân Hương chào đời giữa mùa xuân năm Canh Dần 1770 tạiphường Khán Xuân cạnh Hồ Tây, thành Thăng Long Hà Nội Đã được sinh ra ở

“ đất hoa” lại vào giữa mùa xuân, hoa xuân khoe sắc khoe hương ngan ngát, rực

rỡ cả một phương trời… cho nên cụ Hồ Sĩ Danh đặt tên cho cô con gái duy nhấtnày là Xuân Hương”[4;163] Dzuy Dzao vận dụng phương pháp là “ muốn biếtđược năm sinh và năm tử của bà Hồ Xuân Hương ta chỉ việc lần theo những gì

đã nắm bắt được” Ông căn cứ vào chi tiết Hồ Sĩ Danh mất năm 1783, khi Êy

Hồ Xuân Hương 13 tuổi Vậy lấy năm tử của cha trừ đi năm tuổi của con ta cóđáp số : 1783 – 13 = 1770 Đây chính là năm sinh của Hồ Xuân Hương Nhưng

Trang 21

có thuyết bác bỏ Hồ Sĩ Danh là cha Hồ Xuân Hương thì phương pháp này cũngkhông tồn tại được

Trong cuốn “ Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc”, Hồ Sĩ Giàng viết : “ HồXuân Hương ( 1772 – 1822) nữ sĩ ” Nghĩa là nữ sĩ Hồ Xuân Hương sinh năm

1772, mất năm 1822 mà không có một viện dẫn nào để chứng minh Còn TrầnThanh Mại sau khi phát hiện ra “ Lưu Hương Ký” thì ước đoán Hồ Xuân Hươngsinh khoảng 1775 hoặc 1780

Nói tóm lại, tất cả những năm sinh nêu trên mới chỉ là ước đoán còn chưa

ai dám khẳng định một cách chắc chắn Bà sinh năm nào, chỉ biết khoảng co giãn

là cuối Lê đầu Nguyễn như đã trình bày ở phần thời đại Hồ Xuân Hương

1.4.Năm và nơi mất của Hồ Xuân Hương.

Đây cũng là vấn đề có nhiều mâu thuẫn cần tiếp tục thẩm định Theo Hồ

Sĩ Giàng, năm mất của Hồ Xuân Hương là 1882, còn căn cứ vào bài thơ củaTùng Thiện Vương Miên Thẩm thì Hồ Xuân Hương phải mất trước năm 1840tuy không rõ là năm nào, chỉ biết mộ được an táng bên Hồ Tây:

“ Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá Tuyền đài hữu hận thác khiên ty”

(Chớ có đi lên mồ Xuân Hương nhé ,

Ở nơi suối vàng nàng đang có mối hận tơ duyên)

Hay :

“ Trụy phấn tàn chi thổ nhất doanh Xuân Hương quy khứ thảo thanh thanh”

( Son tàn phấn nhạt chỉ còn một nấm mồ

Trang 22

Xuân Hương đã mất rồi, cỏ mọc lên xanh mướt)

Vấn đề trở nên phức tạp khi bài tản văn “Xuân đường đàm thoại” đượccông bố, trên Tạp chí văn học số 3 / 1974 ở mục sưu tầm cho biết,“ Xuân đườngđàm thoại” là một bài văn của Tam Nguyên Trần Bích San ( 1840 – 1878) biệthiệu Mai Nham, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Bài này

được chép trong tập Danh thi tạp lục, do ông Trần Tường phát hiện và công bố,

ông Trần Quát phiên âm, dịch nghĩa

Bài “ Đôi điểm về tài liệu liên quan đến năm mất của nữ thi sĩ Hồ Xuân

Hương”[29] Nguyễn Thị Thảo – Bạch Hào lại phát hiện một dị bản của “ Xuân đường đàm thoại” có tên là “ Xuân đình đàm thoại” chép trong sách “Hương

tÝch động ký” ( ký hiệu A 2533, thư viện viện thông tin KHXH, Hà Nội) vàkhông có tên tác giả Xét hai văn bản này thấy có sự sai khác về thời điểm ngay

ở câu mở đầu Bản của Trần Tường chép “ Tự Đức trấp nhị, Kỷ Tỵ đông quý, dĩlập xuân hỹ” ( cuối mùa đông năm Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 ( 1869), đã đến tiết lậpxuân rồi vậy) Còn bản được phát hiện bởi Nguyễn Thị Thảo – Bạch Hào chép “Quý Tỵ đông chi quý dĩ lập xuân hỹ” ( cuối mùa đông năm Quý Tỵ, đã đến tiết

lập xuân rồi vậy ) Xuân đường đàm thoại đã mang đến “một tiếng nói khác lạ”

làm nhiều người sửng sốt và những kết luận nghiên cứu trước đó bị lung lay Tàiliệu này cho người đọc biết mãi đến năm 1869, tức năm Tự Đức thứ 22, tức làsau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta ( 1858 ) Hồ Xuân Hương mới qua đời.Một người tên là Ngô Ban trong Xuân đường đàm thoại cho biết : “ Tài nữ tỉnhNghệ An, hiệu Cổ nguyệt đường, tự Xuân Hương chết rồi ! Tôi và vài người nhàvừa chôn cất nàng ở cạnh núi Nguyệt Hằng ”

Điều quan trọng là tìm xem tài liệu nào đáng tin, Đào Thái Tôn xem Xuân đường đàm thoại có một ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về Hồ Xuân

Trang 23

Hương và coi đó như “ một nhịp nối trong tiến trình dân gian hoá tiểu sử và thơ

ca Hồ Xuân Hương”

1.5.Gia đình và quan hệ xã hội

“Chồng con cái nợ là như thế !

Hỡi chị em ơi có biết không”

(Cái nợ chồng con)

Hồ Xuân Hương –một người con gái tài hoa nhưng tình duyên lận đận.Bà

đã không có Ýt những vần thơ ai oán cho số kiếp của mình và người phụ nữ nói

chung Hồ Xuân Hương đã từng “Dỗ người đàn bà khóc chồng”,mà cũng từng

“Bỡn bà lang khóc chồng”,và có lúc nàng khóc cho chính mình :

“Chàng cóc ơi !Chàng cóc ơi !

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”.

Căn cứ vào đời và thơ nàng, người ta khẳng định đời chồng thứ nhất của HồXuân Hương là cai Tổng Cóc, ông cưới Xuân Hương làm vợ lẽ thứ ba vào mùathu năm Giáp Tý (1804) nhưng cuộc tình duyên này thật ngắn ngủi chỉ vẻn vẹnkhông đầy ba tháng

Dựa vào bài thơ “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường” người ta lại cho rằng HồXuân Hương cũng đã từng làm lẽ Phủ Vĩnh Tường nhưng những kết luận nghiêncứu khoa học trong mấy chục năm gần đây đã bóc đi nhiều lớp vỏ bọc dân gianbao quanh người tài nữ đã có lúc bị nghi ngờ là một nhân vật không có thật tronglịch sử này Giờ đây người ta đã có thể khẳng định không những Hồ XuânHương chưa từng làm lẽ ông Phủ Vĩnh Tường nào đó mà còn có đủ cơ sở để đặtvấn đề nghi vấn bài thơ đó có phải là của Hồ Xuân Hương hay không? Giáo sư

Trang 24

Hoàng cho biết “ tên Phủ Vĩnh Tường từ năm 1822 mới có Phủ Êy giữ tên TamĐái suốt đời Gia Long Đại Nam nhất thống chí quyển Sơn Tây chép rằng: NămMinh Mạng thứ hai ( 1821 ) đổi ra Tam Đa ( có lẽ kiêng tên Đái, cho là tục ).Năm thứ ba ( 1822 ) lại đổi ra Vĩnh Tường Nếu Hồ Xuân Hương mÊt trước haysau vào năm Êy thì không thể làm vợ một ông Phủ Vĩnh Tường”[6] Vậy bài thơNôm “ Khóc ông phủ Vĩnh Tường” quyết không phải của Hồ Xuân Hương vàXuân Hương không có chồng là tri phủ Vĩnh Tường Theo giáo sư Hoàng XuânHãn thì khoảng năm 1818, Hồ Xuân Hương làm vợ bé quan Tham hiệp trấn YênQuảng, nghĩa là bà quan lớn đầu hàng văn tại Quảng Yên ngày nay Lê XuânSơn trong bài “ Hồ Xuân Hương có thực không và nàng lấy ai ?” cũng khẳngđịnh “ mối tình cuối cùng xác định được và cũng là mối tình duy nhất dẫn đếnhôn nhân được biết đến của Hồ Xuân Hương là với viên hiệp trấn Yên Quảng( Quảng Ninh ) Trần Phúc Hiển” Trong Quốc sử di biên ( dẫn theo Hoàng XuânHãn ) cho biết : “ Quan tham hiệp trấn Yên Quảng bị tội tử hình, vì doạ nạt dân

để lấy của Ruộng tại châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều Quan tham hiệp Ðp dânphở làm ruộng cày Nhân đó đòi dân đút tiền, kể đến bạc nghìn Dân châu nàykiện Viên án thủ ( trách nhiệm an ninh ) Dung tố cáo làm ông bị giam chặt trongmột năm Vợ bé ông tên là Xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị, bấygiờ nổi tiếng là tài nữ Quan tham hiệp thường sai nàng dự vào việc quan Viên

án thủ Dung vốn sợ , ghét nàng …”( chép năm Gia Long thứ 18 – Kỷ Mão

1819 )

Vẫn theo Hoàng Xuân Hãn cung cấp, sách chính sử Đại Nam thực lục( chính biên đệ nhất kỷ, quyển 57, trang 12a ) có ghi chuyện này nhưng chuyệnlại chép vào tháng 5 năm trước, tức năm Mậu Dần 1818: “ Quan tham hiệp trấnYên Quảng là Trần Phúc Hiển, ăn tiền hối lộ của dân đến bảy trăm quan, sù Êy

Trang 25

lé ra Vua nói : “ Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì mà khuyến liêm”.Bảo quan Bắc thành trị tội – Hiển bị án tử hình”

Như vậy theo hai sử liệu nói trên thì Trần Phúc Hiển giữ chức quan Thamhiệp trấn Yên Qảng, năm Gia Long thứ 17 bị dân châu Vạn Ninh tố cáo hối

lộ Tháng 5 năm Mậu Dần (1818) bị bắt.Vua sai kết tội tử hình.Có người vợ lẽgiỏi văn chương,tinh thông chính trị luôn được chồng nhờ giúp việc hành chính.Nàng nổi tiếng là một tài nữ, tên là Xuân Hương Căn cứ vào nguồn tài liệu này,Hoàng Xuân Hãn khẳng định: Người tài nữ này đúng là Hồ Xuân Hương bấy lâu

đã quen biết Nàng bắt đầu làm lẽ Trần Phúc Hiển khoảng năm 1815-1818

Về phần Xuân Hương, khi ở Yên Quảng nàng đã làm thơ vịnh cảnh HạLong Đó là các bài:

-Độ hoa phong (Qua vòng Hoa Phong )

-Trạo ca thanh (Trội tiếng ca chèo )

-Nhãn phóng thanh (Mắt toả màu xanh )

-Thuỷ vân hương (Về chốn nước mây )

-Hải ốc trù (Ngóng đỉnh Toan Ngoan)

Lâu nay nhiều người vẫn khẳng định Hồ Xuân Hương có hai đời chồngsong trong bài “ Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương” [32], Trần Thanh Mại cho biết

Hồ Xuân Hương gặp Tốn Phong Thị lần thứ nhất năm 1807 lúc đó Xuân Hươngkhoảng 27 – 32 tuổi ; lần gặp thứ hai Xuân Hương chừng 34 – 39 tuổi Và hoàinghi “ nếu chúng ta không hiểu lầm Tốn Phong Thị, thì Hồ Xuân Hương có lẽ đã

có ba đời chồng” :

“ Mai thực dã tằng tam độ kết

Khách tình dĩ thị lục niên kim”

Trang 26

(Cây mai kia dù đã ba lần đậu quả- mà mối tình của khách vẫn nguyên vẹn như

từ sáu, bẩy năm nay).

Theo giáo sư Hoàng, mối tình đầu tiên cho tới nay xác định được của HồXuân Hương là với nhà đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Trong tập thơ Lưu

Hương Ký có bài “ Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu” ( Nhớ bạn cũ, viết gửi Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu ) với lời đề “ Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân” :

“ Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung ,

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn ,

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập ,

Phấn son càng tủi phận long đong

Biết còn mảy chút sương siu mấy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong ”

Mối tình thứ hai còn lưu dấu tích trong Lưu Hương Ký là với ông Mai Sơn

Phủ Trong tập thơ có tới sáu bài thơ chữ Hán và chữ Nôm liên quan trực tiếphoặc có thể liên quan đến nhân vật này “ Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn

Phủ” ( Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ ); “ Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký” ( Đêm thu nhí Mai Sơn Phủ, gởi bài này ) …Đây là bài thơ Xuân Hương

“ Hoạ lại Mai Sơn Phủ” khi tiễn chân Sơn Phủ đi xa :

“ Này đoạn chung tình biết mấy nhau

Tiễn đưa ba bước cũng nên câu

Trang 27

Trên tay khép mở tanh chiều nhạn ,

Trước mặt đi về gấp bóng câu

Nước mắt trên hoa là lối cũ ,

Mùi hương trong nệm cả đêm thâu

Vắng nhau mới biết tình nhau lắm ,

Này đoạn chung tình biết mấy nhau”

Theo nội dung bài thơ, ông Đào Thái Tôn “ đoán rằng cuộc tình này xảy ralúc nàng còn trẻ và rất nồng nàn về phía nàng … Sơn Phủ có lẽ chỉ là một thưsinh tài tử, chưa có chức tước, huy hiệu gì, dan díu với Xuân Hương một cáchmật thiết”[23;241] Sau đó Sơn Phủ bỏ dở cuộc tình ( có lẽ trở về Nghệ An ) ra

đi , không quay trở lại

Năm 1807, Hồ Xuân Hương gặp và làm bạn với Nham Giác Phu TènPhong Thị – người được Hồ Xuân Hương gửi gắm, tin tưởng phó thác đứa continh thần của mình “ đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anhlàm cho bài tựa” Tình bạn của Xuân Hương đối với Tốn Phong Thị được thể

hiện qua các bài “ Ngô ý Tèn Phong ký nhị thủ” ( Hai bài ngụ ý gửi Tốn Phong Thị ), “ Tặng Tốn Phong Tử”, “ Tèn Phong đắc mộng chí dữ ngã khan nhân thuật ngâm tịnh ký” ( Tèn Phong Thị nằm mộng, ghi lại mang cho xem, nhân đó ghi, thuật lại bằng thơ ) Ở đây xin giới thiệu bài “ Hoạ Tốn Phong nguyên vận” ( Hoạ lại nguyên vần bài thơ của Tốn Phong Thị ) :

“ Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều,

Những chắc trăm năm há bấy nhiêu

Nghĩ lại luống đau cho phận bạc,

Nói ra thêm nhẹ với thân bèo

Trang 28

Chén thề thuở nọ tay còn dính,

Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo

Được lứa tài tình cho xứng đáng,

Nghìn non muôn nước cũng tìm theo”

“ Trước đèn bạn tiễn chén đầy vơi,

Chín khúc bâng khuâng khó ngỏ lời

Cây cạnh gió hiu chim lặng tiếng,

Rèm ngoài trăng xế khách đua cười

Than ta tài mọn, thơ không tứ

Khen bạn duyên cao, vốn thiệt nòi

Chẳng biết ngày nào còn gặp nữa

Mộng hồn tình nặng khó mà nguôi.”

Hồ Xuân hương cũng đã “ Hoạ nguyên vận của chàng Trần, quan Trần SơnNam hạ”

Trang 29

Trong thơ Hồ Xuân Hương còn xuất hiện một nhân vật nữa đó là Sơn Namthượng họ Trần “ Đại Nam thực lục chứng rằng: Trong khoảng đời Gia Long chỉ

có một hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần mà thôi, là Trần Nguyên Quán, trướclàm cai bạ Quảng Đức Tháng hai năm Êt Hợi ( 1815 ) được bổ nhậm chức Hiệptrấn Sơn Nam thượng Được ba năm, tháng 5 năm Mậu Dần 1818 thì mất”[6]

Hồ Xuân Hương có ghi lại tình bạn này trong “ Ký Sơn Nam thượng trấn hiệptrấn”, “ Dữ Sơn Nam thượng hiệp trấn quan Trần hầu xướng hoạ” ( tám bài) Cho đến nay cuộc đời Hồ Xuân Hương vẫn còn nhiều bí Èn mà những tưliệu hiện thấy lại có nhiều mâu thuẫn Dường như hình ảnh con người này đã trở

đi trở lại rất nhiều lần trong thực tại nhưng chưa ai nắm rõ và biết chắc về nàng

Ai mới đích thực là Hồ Xuân Hương mà độc giả bao thế hệ muốn tìm kiếm vàdựng chân dung ? Lại có một Hồ Xuân Hương là vợ kế cử nhân Phạm Viết Đại( 1802 – 1842 ) ; một Hồ Xuân Hương có quan hệ với Cao Bá Quát ( 1809 –

1853 ) – “ một tài nữ và một tài tử của Thăng Long” Một Hồ Xuân Hương có sốphận hẩm hiu mà Miên Thẩm đã dành cho nàng những vần thơ viếng thăm đầyxúc động Độc giả lại sửng sốt khi biết có một Hồ Xuân Hương trẻ trung xuânsắc trong “ Xuân đường đàm thoại” – một Xuân Hương kỳ nữ và lại có nàngXuân Hương ca nữ trong bài ca trù nào đó

Dù không có tư liệu cụ thể song độc giả bao thế hệ vẫn hình dung về một nữ

sĩ tài hoa, mệnh bạc Hồ Xuân Hương giao du nhiều nên quen biết cũng không

Ýt những bạn thơ, bạn tình là đàn ông Đây là nét đặc trưng độc đáo quan trọngcủa tính cách người phụ nữ này, đó là điều hiếm hoi trong xã hội phong kiếnxưa Thế nhưng tất cả những người đàn ông đó đều đi qua đời nàng và vẫn chỉcòn lại một Hồ Xuân Hương “trơ cái hồng nhan với nước non”, vẫn chỉ còn lạimột Hồ Xuân Hương ngậm ngùi với thân phận “bẩy nổi ba chìm” mà thôi Căn

Trang 30

cứ vào tình duyên lận đận của nàng, một số người cho nàng phải chịu Èn ức tìnhdục mà biểu hiện vào trong thơ là yếu tố “tục” và “dâm” Song đi đến tận cùngcủa vấn đề thì có lẽ đó chính là nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi, là một sức sốngmãnh liệt và một lòng yêu cuộc sống không sao tha thiết hơn

Những vấn đề tiểu sử, cuộc đời, con người và thơ văn Hồ Xuân Hương vẫn

là một vấn đề mở cần tiếp tục khai thác

2.Quá trình sưu tầm, công bố và nghiên cứu văn bản thơ Hồ Xuân Hương

Cuộc đời Hồ Xuân Hương mang đậm sắc màu huyền thoại, nàng lại tạo ramét thi nghiệp kỳ dị Điều này khiến có người cho Hồ Xuân Hương là “ Hồ lytinh biến vi nhân loại” ( Hồ ly tinh biến thành người) Có thể khẳng định lịch sửnghiên cứu Hồ xuân Hương là lịch sử nỗi ám ảnh chưa bao giờ đứt đoạn của vấn

đề tiểu sử và văn bản thơ Hồ Xuân Hương Chúng ta ghi nhận có một Hồ Xuân

Hương – tác giả của những bài thơ Nôm truyền tụng hay có Hồ Xuân Hương – tác giả tập thơ Lưu Hương Ký hoặc cũng có thể là cả hai ? Có thuyết chủ trương,

con người Hồ Xuân Hương chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng mà thôi Nói mộtcách khác, làm gì có nữ nhân Hồ Xuân Hương sống vào đời Nguyễn và thật sự

đã sáng tác được bấy nhiêu bài thơ Hơn nữa, thơ Hồ Xuân Hương hầu hết lại cóyếu tố “dâm”, chọc cười mà xét theo tâm lí của người xưa, phái nữ thường cảthẹn, nhút nhát nên không thể sáng tác những bài thơ có giọng điệu lẳng lơ, táobạo như thế Chỉ có đàn ông hay tò mò, ưa vẽ vờn, thích những câu chuyện khoáilạc nên chính họ đã sáng tác những bài thơ Êy cũng như rất nhiều những truyệntiếu lâm khác

Về mặt văn bản, thơ ca Hồ Xuân Hương gồm hai bộ phận: Văn bản thơchữ Nôm và văn bản thơ chữ Hán Sự không thống nhất thậm chí mâu thuẫnnhau nằm ngay trong nội tại mỗi bộ phận Đây là nét đặc trưng cho văn bản của

Trang 31

các tác giả cổ trung đại mà ở đó sự lưu truyền của tác phẩm phần lớn chỉ là chéptay hoặc qua phương thức truyền miệng

2.1 Văn bản thơ chữ Nôm.

Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay chóng ta không thể biết được có baonhiêu văn bản chép tay thơ chữ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương trongcác tủ sách tư nhân cũng như trong các thư viện, các viện nghiên cứu Chỉ biếtrằng người chép sớm nhất là Antony Landes (1893 ) nhưng “ suy cho cùng cũngchỉ là văn bản chép theo trí nhớ, qua truyền miệng, đầy rẫy sự lầm lẫn chứ không

có một nguồn xuất xứ nào đáng tin cậy” Tuy nhiên trong kho sách của việnnghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ tất cả mười tám văn bản chép tay thơ Nôm HồXuân Hương “ Đây là những tập sách hoặc được thuê chép bởi trường ViễnĐông bác cổ ( như Quốc văn tùng ký – AB 383 ); hoặc được sưu tầm tại các tưgia từ thời Pháp thuộc; hoặc là sao chép lại vào đầu những năm 1960 ( như Nam

âm thảo – sao lại Cổ xuý nguyên âm vào năm 1962 )”[23;86]

2.1.1 Các văn bản khắc ván chữ Nôm.

Văn bản khắc ván in thơ Hồ Xuân Hương sớm nhất là văn bản “Quốc âmthi tuyển” khắc in vào mùa xuân năm Kỷ Dậu ( 1909 ) Ngoài ra còn thấy cácbản khắc ván sau :

-Quốc âm thi tuyển, khắc năm Giáp Dần ( 1914)

- Xuân Hương thi tập, khắc năm Tân Dậu ( 1921)

-Xuân Hương thi tập, khắ năm Nhâm Tuất ( 1922)

2.1.2Các văn bản in chữ quốc ngữ

Văn bản thơ Hồ Xuân Hương in tipô chữ quốc ngữ sớm nhất là nhữngbản in khổ nhỏ do Nxb Xuân Lan in vào năm 1913 – 1914 Như vậy chỉ có vănbản này là ghi rõ năm in còn các văn bản chép tay nêu trên thì việc xác định

Trang 32

chúng được chép vào năm nào quả là điều khó khăn Theo giáo sư Hoàng XuânHãn : “ Hồi xưa, sự nguỵ tạo, gán quàng sinh ra chỉ vì sự hiếu kỳ, thích nhảm màthôi, cho nên cũng không nhiều quá Nhưng khi bán sách thành nghề nhiều lợi,thì vì lòng vị lợi, nhiều người đã càng ngày càng cố tình tăng thơ giả lênnhiều”[23;88] Do đó, những bài thơ được coi là của Hồ Xuân Hương hiện naythì vẫn có nhiều bài là “ thơ nặc danh” kéo theo việc nhìn nhận, đánh giá thơ Bàgây nhiều tranh cãi

Theo ông Đào Thái Tôn cho biết, tổng số bài thơ trong mười tám văn bảnchép tay có thơ Hồ Xuân Hương hiện lưu giữ tại viện nghiên cứu Hán Nômkhông vượt qua được những bài thơ đã được in Ên từ năm 1909 đến năm 1934 Nếu như năm 1893 với văn bản chép tay của Landes, có 57 đề mục với 62

bài, thì đến năm 1909 với Xuân Hương di cảo có thêm 9 bài Do đó, tính đến

năm 1909, thơ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương là 71 bài

Hai năm 1913 –1914, Nxb Xuân Lan lần lượt cho ra ba tập Hồ XuânHương , tổng cộng có 63 bài Trong sè 63 bài này, đã trùng 25 bài với Landes, sovới bản in năm 1909 lại thấy trùng 5 bài nên số bài mới được phát hiện thêm là

33 bài Vậy đến năm 1914, thơ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương là 104bài

Đến năm 1921, một tập thơ Hồ Xuân Hương khắc ván lại ra đời, số bài lúcnày là 105 bài

Năm 1922 số bài thơ Nôm được coi là của Hồ Xuân Hương là 117 bài Năm 1934 với “ Văn đàn bảo giám” ( Trần Trung Viên ), trừ những bàitrùng nhau còn phát hiện thêm được 22 bài mới Tổng số bài thơ là 139 bài Vậy từ năm 1893 đến năm 1934, nghĩa là kể từ di cảo Landes đến “ Vănđàn bảo giám” số bài thơ Nôm được xem là của Hồ Xuân Hương qua sáu văn

Trang 33

bản thống kê là 139 bài ( Văn bản chép tay của Landes; Xuân Hương di cảo ; thơ Hồ Xuân Hương của Nxb Xuân Lan ; thơ Hồ Xuân Hương của nhà khắc ván Phúc Văn Đường ; bản khắc ván của Quan văn Đường ; Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên ) Những tưởng phần văn bản thơ Hồ Xuân Hương thế là rõ

ràng, xác định nhưng “ toàn bộ 139 bài thơ từng được xem là của Hồ XuânHương chỉ là thơ truyền tụng, chúng không hề có một nguồn gốc xuất xứ chắcchắn nào và đứng bên nhau với những mâu thuẫn nổi bật từ phong cách đến trình

độ nghệ thuật”[15;39]

Tình hình chung là từ sau năm 1913 “ các sách Nôm có, quốc ngữ có, in

có, chép tay có, đều có chép thơ Hồ Xuân Hương, nhưng rất xô bồ, linh tinh.Tính những bài được tất cả các sách Êy nhất trí cho là của Hồ Xuân Hương hoặcnhiều người công nhận là của Xuân Hương thì có quãng 40 bài Chưa kể là cùngmột số bài mà chép rất khác nhau, không phải khác nhau một đôi chữ mà khácnhau hàng mấy câu , cả khác nhau về tinh thần bài thơ 40 bài Êy, không chắc gìcòn giữ được nguyên văn của tác giả”[24;8-9]

Khái niệm “ thơ Nôm truyền tụng” mà người ta nói lâu nay được hiểu nhưthế nào ? Theo giáo sư Hoàng : “ muốn nói gọn gàng, tôi sẽ gọi loại thơ Nômthấy trong sách báo gần một trăm năm nay dưới đề “ thơ Hồ Xuân Hương” bằng

“ thơ Nôm truyền tụng”, còn các thơ Nôm có bút tích xưa hơn, cũng dưới đề Êy,

là “ thơ Lưu Hương Ký”[6;275] Giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn cho biết những

di cảo của Landes về Hồ Xuân Hương gồm ba phần :

-Phần A có đề chung : Phụ lục tạp ký Quốc âm thi tập, phần này gồm

16 mục , phần lớn vơ quàng và nhớ lệch lạc

- Phần B có đề chung : Đại Nam đối liên thi tập gồm 18 mục

Trang 34

- Phần C có một đầu đề rõ rệt : Hồ Xuân Hương thi tập gồm 46 bài,

góp làm 40 mục Mỗi mục có dẫn của người sao lại hay góp lại, chính văn cácbài thơ thì có lẽ sao lại một bản cũ và thêm thắt “ thơ vơ quàng” “Xét qua, thấytập này góp nhặt phần dân gian hoặc nhớ hoặc tưởng là nhớ, hoặc nguỵ tạo theo

“ kiểu” thơ loại hài hước hoặc trữ tình của Xuân Hương, loại thơ không thu vàoLưu Hương Ký”[6;313] Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã làm “ bảng tham chiếu thơtruyền tụng Hồ Xuân Hương trước năm 1893”; “ bảng tham chiếu những bàikhông có trong phần C”

Nhan Bảo trong “ Phát hiện mới về Hồ Xuân Hương”, đã chia thơ Hồ XuânHương gồm các phần sau :

- Phần A : Xuân Hương di cảo ( trong Quốc âm thi tuyển ) gồm 29 bài

từ A1 đến A29

-Phần B : Xuân Hương thi tập ( Phúc văn đường tàng bản ) gồm 73 bài

từ B1 đến B73

-Phần C : Đại Nam đối thi ký hiệu từ C1 đến C49

-Phần D : Nam Âm thi tập ký hiệu từ D1 đến D16

- Phần E : Đại Nam đối liễn thi tập ký hiệu từ E1 đến E36

Trong số những bài thơ được coi là của Hồ Xuân Hương vẫn có thuyết cho rằng

đó là thơ của người khác lẫn vào Như bài “ Cảm tác khi qua chỗ chồng làmquan cũ” ( A14), nhiều người cho bài này của Bà Huyện Thanh Quan với đề là “Thăng Long thành hoài cổ’ Bài “ Mừng bạn” ( C42 ) có thuyết nói là bài “ Bạnđến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến :

“ Nhện sa cá nhẩy mới hôm qua

Ủa ủa hôm nay bác đến nhà

Điếu thuốc quyện đờm đành nhịn vậy

Trang 35

Miếng trầu đó tuổi lọ chi là

Ao sâu thăm thẳm khôn tìm cá

Vườn rộng thênh thang khó đuổi gà

Bác đến chơi nhà mừng mặt vậy

Nhà thì không có chợ thì xa”

Bài “ Thằng mõ” ( C47 ) ; “ Thơ ăn mày”( E2) ; “ Vô đề” ( E6) ; “ Đá ông đá bà”( E10) có ý kiến khẳng định là của Lê Thánh Tông Bài “ Đèo Ba Dội” lâu nayđược coi là của Hồ Xuân Hương nhưng dưới bài thơ lại nguyên chú: “truyềnrằng ông Quỳnh đã làm bài này khi nom thấy cầu Quản Tiên” Bài “ thơ đánhcờ” cũng nguyên chú : do cống Quỳnh làm

Như vậy những bài thơ lâu nay cho là của Hồ Xuân Hương không phải làthơ thuần khiết , có cả thơ do đàn ông làm bị lẫn vào

Một tài liệu khác “ Thơ Hồ Xuân Hương, một số văn bản chữ Nôm mớitìm thấy”, Nguyễn Sĩ Cẩn đã giới thiệu thơ nôm Hồ Xuân Hương mới tìm thấytrong số sách cũ của gia đình “ Bản này đóng chung trong một tập sách bằnggiấy bản đã ngả màu, khổ 12 14 cm gồm có 37 tê ( 74 trang) Nội dung tập sáchgồm có hai phần: Phần một gồm có 30 trang viết hàng 6, dòng đứng chép 18 bàithơ Hồ Xuân Hương dưới nhan đề Nữ nhân Hồ Xuân Hương soạn Phần hai gồm

có 44 trang ( 30 trang viết hàng 7, 14 trang viết hàng 8, chép thơ nhiều tác giảdưới nhan đề Chủ gia ca vịnh”[26] Số lượng thơ Hồ Xuân Hương dưới nhan đề

Nữ nhân Hồ Xuân Hương soạn là 18 bài Sau khi phiên âm và đối chiếu bản củagia đình Nguyễn Sĩ Cẩn ( bản Nữ nhân Hồ Xuân Hương soạn ) với bản của giáo

sư Hoàng Xuân Hãn, bản của giáo sư Nhan Bảo thì thấy : cả mấy bản đều có 18bài giống nhau, kể cả trình tự sắp xếp Theo tác giả khẳng định “ bản Nữ nhân

Hồ Xuân Hương soạn bằng chữ Nôm của chúng tôi mới tìm thấy là bản chép thơ

Trang 36

Hồ Xuân Hương thuộc loại văn bản cổ, chép trực tiếp hay chép từ một bản saonào đó của bản khắc ván năm 1914 hay bản khắc năm 1909 Văn bản Nữ nhân

Hồ Xuân Hương soạn không có bài nào hoàn toàn mới về thơ Hồ Xuân Hương.Chỉ có một số bài Ýt thấy trong các văn bản lưu hành riêng như “ Du cổ tự”( Dạo chơi chùa cổ) ; bài “ Vọng Tây Hồ hoài hữu”; có bài quen thuộc nhưng cónhững câu chữ khác nhau Đây là bài “ Vọng Tây Hồ hoài hữu” :

“ Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa

Người đồng châu trước biết bao giê

Nhật tân đê lở nhưng còn lối

Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ

Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng

Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ

Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy

So dạ hoài nhân chửa dễ vừa

Tình hình những bài thơ Nôm truyền tụng được coi là của Hồ XuânHương đã được thêm thắt rất nhiều, một hiện thực không thể phủ nhận là nhữngbài thơ được xem do Bà sáng tác ta thấy chúng ngày càng được gia tăng nhất là

từ khi có máy in chữ quốc ngữ “ Sù gia tăng này hoàn toàn tuỳ tiện theo một thịhiếu dung tục qua mỗi lần xuất bản, mỗi người soạn sách”[23;105]

2.2 Những văn bản thơ chữ Hán.

Bắt đầu từ năm 1963 – 1964, vấn đề Hồ Xuân Hương còn là hay chủ yếu

là một nhà thơ chữ Hán được đặt ra và tranh luận khá sôi nổi trên Tạp chí Văn học và Tuần báo Văn nghệ mà người tâm huyết và có nhiều đóng góp quan trọng

Trang 37

nhất là nhà nghiên cứu văn học Trần Thanh Mại Ông Đào Thái Tôn cũng đãnghiên cứu vấn đề này qua ba chặng đường :

- Những phát hiện của nhà thư tịch học Trần Văn Giáp và Cao Huy Du

- Những phát hiện của nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại

- Những phát hiện tiếp theo của các nhà nghiên cứu khác

2.2.1 Những phát hiện của Trần Văn Giáp và Cao Huy Du

Trước tiên Trần Văn Giáp đã hoài nghi và giới thiệu với bạn đọc bài “ ĐồSơn bát vịnh – thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương ?” trên báo văn học số 242 và

243 ra ngày 15 và 21.3.1963 Theo ông, tám bài thơ vịnh cảnh Đồ Sơn nàykhông ghi ai sáng tác, ai chép lại nhưng thấy nó trùng tên với một tác phẩm của

Hồ Xuân Hương được ghi “trong thư mục ở Huế về đời Tự Đức” nhưng có khókhăn là ông “chưa được thấy sách” nên việc ông giới thiệu như một sự tồn nghi

“nhằm mục đích cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu” hoặc chí Ýt cũng là đểxem người xưa đã vịnh Đồ Sơn ra sao

“Phải chăng năm bài thơ sau đây cũng là thơ chữ Hán của Hồ XuânHương” đó là tên một bài báo của Trần Văn Giáp và Cao Huy Du đăng trên tuầnbáo Văn nghệ số 4 ra ngày 7 2.1964 Ông viết rõ “ đó là tám bài Chu thứ hoa

phong tức cảnh bát thủ” chép trong sách Phượng sơn từ chí lược Tuy nói là “

bát thủ” ( tám bài) nhưng trong sách chỉ chép sáu bài, song có lẽ do ngờ bài cuốicùng không phải của Hồ Xuân Hương nên hai nhà nghiên cứu chỉ giới thiệu cónăm bài

2.2.2 Những phát hiện của Trần Thanh Mại.

Từ tháng 3 / 1963 đến tháng 11 / 1964, Trần Thanh Mại trên Tạp chí vănhọc là người có nhiều công lao trong việc tìm hiểu vấn đề Hồ Xuân Hương còn

là nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán và là một nhà thơ nghiêm túc Vấn đề tư liệu

Trang 38

bao giờ cũng là vấn đề tiên quyết trong việc thưởng thức, đánh giá các tác giavăn học Trong bài “ Phải chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữHán”[33] ông Trần Thanh Mại khẳng định “ chóng ta chưa hề có những tư liệuchính thức, đích xác về tiểu sử, thân thế và sự nghiệp Hồ Xuân Hương cũng nhưchưa hề có một văn bản chính thức, đích xác, nguyên bản hay một bản sao thơNôm nào của Hồ Xuân Hương từ thời Bà hoặc gần thời Bà để lại cả Chưa thấymột sách vở nào của một người đương thời với Hồ Xuân Hương hoặc sau đó Ýtlâu có nói đến Hồ Xuân Hương sáng tác loại thơ Nôm mà lâu nay chóng ta quenthưởng thức”, ở một chỗ khác ông lại viết “ theo tôi nghĩ, là nên tạm thời xemnhững bài thơ lâu nay được coi là của Hồ Xuân Hương là những thơ thuộc loạikhuyết danh” Trần Thanh Mại đã khẳng định và chứng minh “ Hồ Xuân Hương

còn là một nhà thơ chữ Hán”, tài liệu tập trung trong tập thơ “ Diệu liên” “ Diệu liên” là tập thơ của nữ sĩ Mai Am, tức lại Đức công chúa, tên Trinh Thận, tự

Thúc Khanh em cùng mẹ với Tùng Thiện Vương Miên Thẩm Tập thơ này đượckhắc in năm 1867 tái bản năm 1885

Các bài tựa in trên đầu tập thơ Diệu liên thi tập của Mai Am công chúa do

các ông Trương Đăng Quế, viên quan đầu dưới thời Thiệu Trị, Tự Đức và củahai nhà nho Trung Quốc là Trương Bỉnh Thuyên và Hoàng Diệu Khuê Khi nhắctới thơ ca của công chúa Mai Am, các ông đều so sánh với thơ Hồ Xuân Hương

và Phạm Lam Anh Vậy thì đương nhiên thơ Hồ Xuân Hương viết đó phải là thơchữ Hán Trương Đăng Quế đề tựa năm Quý Hợi, Tự Đức thứ 16 ( 1863) : “ xemnước Nam ta mở mang bờ cõi kể cả hàng trăm hàng nghìn năm, trong khoảngthời gian Êy, đứng về thơ của phụ nữ mà nói thì trước kia chỉ có Phạm lam Anh

và gần đây có Hồ Xuân Hương hai người mà thôi …”

Trang 39

Bài tựa của một nhà Nho Trung Quốc, Trương Bỉnh Thuyên có ghi “…Phạm Lam Anh và Hồ Xuân Hương là hai người phụ nữ hay thơ của nước ViệtNam ”

Trong bài thơ liên hoàn nhan đề Long Biên Trúc chi từ miêu tả phong cảnh thành Long Biên ( tức Hà Nội ) chép trong bé Thương sơn thi tập nhà thơ

Miên Thẩm có nhắc đến một Hồ Xuân Hương đã mất được an táng bên Hồ Tây : “ Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá

Tuyền đài hữu hận khác thiên ti”

( Chớ có đi trên mồ Xuân Hương nhé

Ở nơi suối vàng nàng đang có mối hận tơ duyên )

Bài “ Viêm bang tú khí” chép lẫn trong tập sách chữ Hán mang tên CẩmNgữ cũng có nhắc tới Hồ Xuân Hương : “… Từ khoảng hơn một trăm năm lạiđây, những bậc khuê tú hay thơ ở nước ta cũng không phải là Ýt: như Đoàn ThịĐiểm ở Bắc Ninh , Phạm lam Anh ở Quảng Nam, Hồ Xuân Hương ở Hà Nội …” Căn cứ vào các tài liệu trên, có thể khẳng định rằng: trong triều Nguyễn từđời Minh Mạng, Thiệu Trị, đến Tự Đức, tên tuổi nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã đượcnhiều người trong và ngoài nước biết tới

Tháng 11 / 1964 trên Tạp chí văn học, Trần Thanh Mại cung cấp thông tin

về “ Bản Lưu Hương Ký và lai lịch phát hiện nó”[35], ông cho đăng toàn bộ bàitựa tập thơ do Nham Giác Phu Tèn Phong Thị viết Đây là một tài liệu quantrọng liên quan đến việc tìm hiểu thân thế, tiểu sử Hồ Xuân Hương mà từ đó đếnnay chưa một tài liệu nào có thể phủ nhận Trần Thanh Mại nhấn mạnh: vấn đềcăn bản trong việc nghiên cứu và xác định lai lịch cũng như vị trí Hồ Xuân

Hương trong văn học là phải tìm cho ra tập Lưu Hương Ký Ở tập thơ này tổng

cộng 30 đầu đề với 52 bài gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm Trang

Trang 40

đầu đề ghi rõ: Lưu Hương Ký – Hoan trung cổ nguyệt đường Xuân Hương nữ sử tập Trong tập thơ này không phải chỉ toàn của Xuân Hương mà cũng có một số

Ýt thơ của những người xướng họa thơ với Bà trong đó có Tốn Phong Thị vàHiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần Trần Thanh Mại cho biết “ Lối chép khá cẩuthả, vài chỗ sót, nhiều chỗ sai, ở những bài xướng hoạ, không hề ghi ai xướng aihoạ, phải đọc thật kỹ nội dung các bài mới đoán được bài nào của Hồ XuânHương bài nào của người khác”[35] Song dù thế nào mặc lòng, cũng cần thấythơ Hồ Xuân Hương có táo bạo chăng là táo bạo trên đôi ý nghĩ so với các nhàNho khác thuở bấy giờ chứ không hề đi đến chỗ sỗ sàng “ tục tĩu Giống như lời

tựa của Tốn Phong Thị, Lưu Hương Ký “ tuy đầy vẻ gió mây trăng móc nhưng

rõ ràng là xuất phát từ mối tình mà biết dừng lại trên lễ nghĩa vậy” Lưu Hương

Ký tuy có lẫn thơ của người khác nhưng đọc toàn bộ mấy chục bài thơ cả chữ

Hán lẫn chữ Nôm, người đọc vẫn nhận ra đó là một tiếng kêu thất vọng để cómột tình yêu thành thực, thuỷ chung, một thứ tình yêu đầy thông cảm, một thứ

tình yêu hiếm hoi trong xã hội phong kiến Việt Nam Lưu Hương Ký là tất cả thơ

văn đời nàng gửi gắm vào đó, là những ước mong nhức nhối, là trái tim thiết tha,

là niềm khát sống, khát yêu của người con gái rất mực đa tình Trong đó chứađựng những bài thơ nàng dành tặng cho ai nàng yêu quý, như “ Cảm cựu kiêmtrình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” ( Nhớ người cũ , viết gửi cho Cần Chánhhọc sĩ Nguyễn Hầu) :

“ Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung ,

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không!

Xe ngựa trộm mừng duyên tÊp nập

Ngày đăng: 30/11/2014, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w