Vì vậy, bên cạnh tên gọi này, quan hệ từ cũn cú một số tên gọikhác như từ nối, kết từ, giới từ… Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương gọi lớp từ có chức năng nối kết này là quan hệ từ và định
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ loại tiếng Việt là một hệ thống phong phú và đa dạng gồm nhiều tiểuloại khác nhau Trong hệ thống đó, quan hệ từ thường ít được quan tâmnghiên cứu bởi lẽ nú khụng mang ý nghĩa từ vựng mà chỉ là một công cụ nốikết
Quan hệ từ trong thơ càng ít được chú ý hơn Trong các trang thơ truyềnthống, số lượng câu chữ đều bị câu thức theo thể loại, niêm luật nên số lượngcác hư từ không nhiều Theo tinh thần “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, các nhàthơ trung đại rất ít sử dụng hư từ đặc biệt là quan hệ từ trong thơ Cùng với sựphát triển của văn chương, lớp ngôn từ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nóihàng ngày đã dần dần bước vào những trang thơ hiện đại, tạo luồng gió mớicho nền thơ ca hiện đại Song, giá trị của hư từ nói chung và các quan hệ từnói riêng trong thơ vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Vì vậy, nghiên cứu quan
hệ từ trong thơ là một vấn đề mới mẻ, hấp dẫn nhưng cũng nhiều thử thách.Với hành trình sáng tác gần một thế kỷ, Chế Lan Viờn đó để lại cho nềnvăn học nước nhà một khối lượng tác phẩm lớn gồm nhiều tập thơ, tiểu luận,
trong đó “Di cảo thơ” được xem là một trong những tập thơ xuất sắc nhất.
Trong suốt cuộc đời sáng tác của mỡnh, ụng được xem là người có vốn trithức uyên bác về ngôn ngữ, và là người rất có ý thức trong việc lựa chọn, vận
dụng ngôn ngữ dân tộc Một trong những bất ngờ khi nghiên cứu tập “ Di cảo
thơ” là số lượng lớn quan hệ từ được sử dụng cùng với cỏc cỏch biểu đạt độc
đáo góp phần tạo nên một giọng thơ đậm chất suy tư, triết lí rất “ Chế LanViờn”
Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ từ trong tập Di cảo thơ của
Chế Lan Viên” để nghiên cứu và tìm hiểu với mong muốn sẽ tìm ra được
những giá trị nghệ thuật mà các từ công cụ đã tạo ra trong tập thơ nhiều giá trị
Trang 2này và là cơ hội để người viết hiểu hơn về Chế Lan Viên - “Người có công đầutrong việc tạo dựng nên khuôn mặt và tầm vóc thơ Việt Nam hiện đại.” [21]
2. Lịch sử vấn đề
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, mặc dù chiếm số lượng không nhiềunhưng hư từ có một vị trí rất quan trọng trong việc biểu đạt các ý nghĩa ngữpháp, làm nên một phương thức ngữ pháp tiêu biểu cho tiếng Việt, đó làphương thức hư từ
Là một tiểu loại nằm trong hư từ, quan hệ từ thường được các nhànghiên cứu đánh giá với tư cách một từ loại có chức năng nối kết Hầu hết cácgiáo trình, chuyên luận nghiên cứu về từ loại tiếng Việt đều có nhắc đến quan
hệ từ và khẳng định chức năng nối kết của chúng Có thể kể tờn cỏc công
trình này là : Đinh Văn Đức (2001, Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại, (NXB ĐHQG, HN); Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung (2004, Giáo
trình Tiếng Việt 3 –sỏch dùng cho hệ đào tạo tại chức và từ xa, NXB Đại học
Sư phạm); Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương (2007, Giáo trình ngữ pháp
tiếng Việt –sỏch dùng cho các trường Cao đẳng Sư phạm,NXB ĐHSP);
Nguyễn Đức Dân, Logic ngữ nghĩa cú pháp, (1987, NXB ĐH &TH chuyên nghiệp); Lờ Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, (1998, NXB Giáo dục); Diệp Quang Ban Ngữ pháp tiếng Việt, (2006, NXB Giáo dục)…
Ngoài ra, còn một số bài báo nghiên cứu cụ thể về hư từ và quan hệ từ
tiếng Việt: Đỗ Việt Hùng (2010, Một số cách giải nghĩa hư từ, Tạp chí ngôn
ngữ, số 10), Nguyễn Thị Thu Hà (2009, Cách biểu hiện quan hệ nhân quả
bằng quan hệ từ trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, số 8), Lờ Đụng (1991, Ngữ nghĩa, ngữ dụng của hư từ, Tạp chí ngôn ngữ, số 2)
Những công trình và các bài viết này là những kiến thức nền giúp tác giả khóaluận đi sâu triển khai đề tài này
Trang 3Đó có một vài công trình đi sâu nghiờn cứu giá trị của một lớp từ loại cụ
thể trong tác phẩm văn học như: Nguyễn Minh Ngọc (2006, Tìm hiểu hư từ
trong “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn);
Nguyễn Thị Thu Hạnh (2006, Hư từ trong thơ tình yêu Nguyễn Bính, Luận văn
thạc sĩ Khoa học Ngữ văn)… Nhìn chung, những luận văn này đã chỉ ra nhữnggiá trị cơ bản mà hư từ góp phần làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tácphẩm đó đồng thời khẳng định tài năng sử dụng ngôn từ của các nhà thơ, nhàvăn
Trong khả năng bao quát tài liệu của mình, chúng tôi chưa khảo sát đượccông trình nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của quan hệ từ - một lớp hư từ trongtiếng Việt đối với thành công chung của tác phẩm văn học Vì vậy, chọn đề tài
“Quan hệ từ trong tập Di cảo thơ của Chế Lan Viên”, chúng tôi muốn đi sâu
khảo sát số lượng quan hệ từ và những giá trị mà những quan hệ từ này đemđến cho tập thơ
Thơ Chế Lan Viên không chỉ là mạch nguồn dồi dào đối với các nhànghiên cứu mà cũn cú một sức hấp dẫn lớn đối với độc giả yêu thơ Đặc biệt,
kể từ khi ba tập “Di cảo thơ” của ông được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành,
tập thơ này lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi
Trần Mạnh Hảo trong “Người làm vườn vĩnh cửu” (1995, NXB Hội nhà văn, H) đã xem “Di cảo thơ” là sự hòa hợp giữa cảm xúc và lớ trớ và với
tập thơ này, Chế Lan Viên trở thành “cõy đại thụ thế kỷ XX của nền văn học
nước nhà” [13] Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Thơ Chế Lan Viên và phong
cách suy tưởng” (1999, NXB GD, H) đã đề cập đến sự chuyển đổi trong tư
duy nghệ thuật của Chế Lan Viờn, ụng khẳng định “với Di cảo thơ, Chế Lan
Viờn đó trở về với thuở Điêu tàn”[29] Đỗ Lai Thúy trong bài viết “Thỏp
Chàm bốn mặt” (2010, Tạp chí sông Hương, số 1) cho rằng “trong Di cảo
thơ, người ta sống lại những yếu tố của Điêu tàn, đó là những giằng co nội
tâm, những giay dứt về số phận con người”[30] Trong“Nhận thức về quá
Trang 4khứ trong Di cảo thơ” (2008, tạp chí văn học số 03), Thạc sĩ Nguyễn Diệu
Linh đã chỉ ra và phân tích khỏ rừ những vấn đề về truyền thống lịch sử, vềcách mạng, về kháng chiến chống Mỹ và cả hậu chiến trong tập thơ này TS
Nguyễn Quốc Khánh trong “Sự đổi mới quan niệm về nhà thơ của Chế Lan
Viên qua Di cảo thơ” (1993, Tạp chí thông báo khoa học số 03) đã nghiên
cứu về những thay đổi trong quan niệm thơ của Chế Lan Viên qua tập Di cảo.Trong bài báo này, tác giả đã khẳng định “giờ đây nhà thơ như một người đơnđộc đang trầm tư nhìn thẳng vào thực trạng xã hội, nhìn thẳng vào chính mìnhcùng thơ mình và đưa tất cả nên một bàn cân mới để cân lại” [19] Trong luận
văn thạc sĩ “Cỏi tôi trữ tình trong Di cảo thơ” (2001, Luận văn thạc sĩ khoa
học Ngữ văn, ĐHSP, H), tác giả Đặng Thu Thủy đã chỉ ra cho người đọc thấymột cái tôi đa diện với ý thức mạnh mẽ về bản thể và khát vọng sống mãnhliệt được viết bằng một giọng thơ đa thanh đa sắc
Có thể núi, cỏc công trình trờn đó chỉ ra những thành công của tập thơnày trên phương diện các giá trị nội dung và nghệ thuật đồng thời gúp thờmmột gúc nhỡn về tư tưởng, phong cách của Chế Lan Viên khi ụng đã ở bênkia dốc của cuộc đời và có đầy đủ những trải nghiệm trong nghề cầm bút
Thực tế nghiên cứu “Di cảo thơ”, chúng tôi thấy rng tác giả sử dụng rất
nhiều quan hệ từ với những cách kết hợp rất độc đáo và lớp từ này không chỉgiúp thơ ông gần gũi với đời thường mà còn làm nổi bật chất suy tưởng, triết
lý của Chế Lan Viên Song, cho đến nay chưa có công trình riêng biệt nàodành nghiên cứu chuyờn sõu, cặn kẽ về quan hệ từ trong thơ Chế Lan Viên –một trong những yếu tố làm nên phong cách thơ triết luận của ông
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các quan hệ từ và giá trị biểu đạt của
những quan hệ từ ấy trong ba tập “Di cảo thơ” của Chế Lan Viên Đó là 567
Trang 5bài thơ (nguồn tư liệu từ “Chế Lan Viên toàn tập” – tập 2, Nguyễn ThịThường biên soạn và tuyển chọn, NXB Thuận Hóa, 1993)
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi một khóa luận, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mụcđích sau:
Tìm hiểu khái quát về quan hệ từ
Trên cơ sở khảo sát, thống kê số lượng quan hệ từ được sử dụng trong
ba tập “Di cảo thơ” tìm ra tác dụng mà các quan hệ từ đem lại, những giá trị
mà quan hệ từ tạo nên cho thành công chung của cả tập thơ
Đánh giá vai trò của quan hệ từ với tập “Di cảo thơ” nói riêng và thơ
Chế Lan Viên nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: phươngpháp khảo sát - thống kê, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương phápnghiên cứu liên ngành, phương pháp giải thích đánh giá
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận gồm bachương sau:
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2 KHẢO SÁT QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
Chương 3 Ý NGHĨA CỦA QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Quan hệ từ
1.1.1 Vị trí của quan hệ từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Từ loại tiếng Việt bao gồm một số lượng lớn nên khi nghiên cứu cácnhà ngôn ngữ học phải tiến hành phân loại Mỗi hướng nghiên cứu khác nhau
sẽ tồn tại cỏc cỏch phân loại khác nhau
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [7], có thể phân loại từ loại dựa vào ba chứcnăng tín hiệu của từ: Chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng kếthọc Theo cách phân chia này, quan hệ từ thuộc chức năng kết học, thườngdùng để biểu thị mối quan hệ giữa các tín hiệu miêu tả, thông qua đó biểu thịmối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn [6] lại phân chia từ loại tiếng Việt dựa vào khảnăng tổ chức đoản ngữ của từ Theo cách phân chia này, quan hệ từ nằm trongnhững từ loại có liên quan đến tổ chức đoản ngữ, thuộc những từ không cókhả năng làm thành tố chính và thành tố phụ mà chỉ có chức năng nối kết Cụthể được thể hiện qua bảng sau:
Trang 7Những từ loại kết hợp với đoản ngữ để dạng thức hóa đoản ngữ
Những từ loại
có khả năng làm thành tố chính
Những từ loại chỉ có khả năng làm thành tố phụ
Từ loại có khả năng kết hợp hai chiều
Từ loại có khả năng kết hợp một chiều
Danh từ
Đại từ
Tính từ
Quan
hệ từ
Trợ từ Thán từ
Trang 8Các tác giả Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương phân chia từ loại tiếngViệt dựa vào ba tiêu chí: ý nghĩa ngữ pháp khái quát của từ; khả năng kết hợp
và chức năng cú pháp của từ trong câu Theo ba tiêu chí này, từ loại tiếng Việtchia thành hai loại lớn: thực từ và hư từ; trong đó, quan hệ từ là một tiểu loạicủa hư từ [33; tr27] Kết quả phân loại cụ thể được thể hiện qua bảng sau:
Đạitừ
Số từ Quan hệ
từ
Phụ(phó) từ
Tình thái từ(trợ từ, thántừ)
Cỏc cách phân loại trên đây đều đã chỉ ra được các loại từ trong hệthống từ loại tiếng Việt, đồng thời khẳng định được vị trí của quan hệ từ vàchức năng nối kết của quan hệ từ Khóa luận chọn cách phân chia của các tác
giả Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương (2007, Giáo trình Ngữ pháp Tiếng
Việt, NXB Đại học Sư phạm, H) làm cơ sở cho việc khảo sát các quan hệ từ
trong tập “ Di cảo thơ” của Chế Lan Viên
1.1.2 Khái niệm và tên gọi quan hệ từ
“ Quan hệ từ là phương tiện ngữ pháp rất quan trọng trong số những
phương tiện tiêu biểu cho loại hình ngôn ngữ đơn lập” [1; tr41] Trong tiếngViệt, quan hệ từ là lớp từ có số lượng không nhiều và chức năng lại khôngthuần nhất Vì vậy, bên cạnh tên gọi này, quan hệ từ cũn cú một số tên gọikhác như từ nối, kết từ, giới từ…
Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương gọi lớp từ có chức năng nối kết
này là quan hệ từ và định nghĩa như sau: “Quan hệ là những từ biểu thị quan
hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa cỏccõu với nhau.” [33; tr48] Tên gọi và chức năng này được chia sẻ bởi các tác
giả Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung: “Quan hệ từ (còn gọi là kết từ)
Trang 9là loại hư từ biểu hiện các quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, cỏc cõu
hay đoạn văn.” [1; tr40]; Diệp Quang Ban: “Quan hệ từ (còn gọi là kết từ, từ
nối) là những hư từ diễn đạt các quan hệ logic dùng để nối các từ, các tổ hợp
từ, cỏc cõu, thậm chí các tổ chức lớn hơn câu với nhau” [4]; và tác giả Lờ
Biên: “Quan hệ từ là những hư từ không có nghĩa sở chỉ, sở biểu mà là
những từ có chức năng diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong
tư duy.” [5]
Vẫn hiểu chức năng của quan hệ từ như các nhà nghiên cứu khácnhưng tác giả Đinh Văn Đức đó tách lớp từ này thành hai loại liên từ vàgiới từ: “Ngữ pháp truyền thống gọi các hư từ cú pháp là liên từ và giới từ.Trong tiếng Việt cũn cú những thuật ngữ khác để gọi chúng, chẳng hạn làcác từ nối hoặc quan hệ từ” [10; tr 207] Như vậy, theo ông, liên từ chính làmột nhóm của quan hệ từ hay từ nối; giới từ được tách ra và gọi tên thànhmột tiểu nhóm thuộc quan hệ từ
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về tên gọi của quan hệ từ như: kết
từ, từ nối, từ quan hệ, liên từ, giới từ nhưng nhìn chung, các khái niệm đó đềuthống nhất trong chức năng kết nối các đơn vị ngôn ngữ với nhau của quan hệ
từ Khóa luận dùng thuật ngữ quan hệ từ để chỉ các từ có chức năng nối kết
các đơn vị ngôn ngữ với nhau
1.1.3 Chức năng của quan hệ từ
Mặc dù đưa ra các khái niệm khác nhau nhưng hầu hết cỏc tỏc giả đềukhẳng định chức năng nối kết của chúng Theo tác giả Bùi Minh Toán,
Nguyễn thị Lương: “Quan hệ từ không thể đảm nhận vai trò thành tố chính
lẫn vai trò thành tố phụ trong cụm từ, chúng cũng không thể đảm nhận chứcnăng của các thành phần cõu Chỳng chỉ thực hiện được chức năng liên kếtcác từ, các cụm từ, cỏc cõu với nhau Vì thế chỳng cũn gọi là từ nối, kết từhoặc từ quan hệ.” [33; tr 48]
Trang 10Ví dụ:
“Trời và bể, anh và em, cây và người cùng đối xứng”
(Đối xứng – Di cảo thơ)
Trong ví dụ trên, quan hệ từ “và” có chức năng nối kết các từ trong
cõu Nú không có ý nghĩa từ vựng, không có khả năng làm thành tố chính
hay thành tố phụ trong cụm trên Ở đây, quan hệ từ “và” đứng giữa hai yếu tố: “Trời”, “biển”; “anh”, “em”; “cõy”, “người” mà không gắn bó với bất
kì yếu tố nào
Theo các tác giả Lê A, Đinh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung: “Mỗi quan
hệ từ có thể biểu thị một kiểu ý nghĩa quan hệ riêng, nờn nú cú vai trò quantrọng nhất định trong việc tạo ra nội dung ý nghĩa của quan hệ ngữ pháp mà
nó là phương tiện biểu hiện.” [1; tr 41]
Ví dụ:
- Quan hệ từ: “và” quan hệ đẳng lập: “mẹ và tôi” Ở đây, quan hệ từ
“và” nối hai đối tượng miêu tả: “mẹ”, “tụi”.
- Quan hệ từ: “của” quan hệ chính phụ: “mẹ của tôi” Ở đây, quan
hệ từ “của” có quan hệ nối kết chính phụ, trong đó “mẹ” là thành phần chính,
“tụi” là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ trước nó Ở ví dụ này
chỉ có một đối tượng miêu tả:“mẹ”.
1.1.4 Phân loại quan hệ từ
Theo quan điểm phân loại quan hệ từ của tác giả Bùi Minh Toán,
Nguyễn Thị Lương (2007, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, NXB ĐHSP, H),
quan hệ từ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn như sau:
Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập: và, rồi, với, nhưng,
song, mà, chứ, hay, hoặc…
Trang 11Ví dụ:
“Anh đắn đo chi câu ngắn với câu dài Mưa bắc lòng hay nam lòng cũng thế Hoa sen tím, hoa sen hồng đều là em đấy cả
Và buồn lau hay buồn sậy cũng buồn thôi”
(Đằng nào cũng vậy - Di cảo thơ 1)
Trong bài thơ này, tác giả sử dụng ba quan hệ từ để nối cụm với cụm và
câu với câu: ngoài quan hệ từ “và” nối câu với cõu, cỏc quan hệ từ còn lại:
“với”, “hay” đều nối hai cụm từ có quan hệ đẳng lập.
buồn lau (hay) buồn sậy
Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ chính phụ: của, bằng, rằng, với,
vì, tại, bởi, do, nên, để, cho…
Trang 12Ví dụ:
Một nét đồi, một nét liễu, một hình hoa…
Bây giờ đây anh trân trọng từng chữ của câu thơ (Ngôi đền lãng quên – Di cảo thơ)
- Quan hệ từ: “của”
- Đơn vị nối kết: “từng chữ”, “cõu thơ”
+ cụm danh từ “từng chữ” là thành tố chính có cấu tạo là một cụm
danh từ
+ danh từ “cõu thơ” là thành tố phụ một từ ghép.
- Quan hệ nối kết: quan hệ chính phụ, trong đó danh từ “cõu thơ” là
thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ đứng trước nó
từng chữ (của) câu thơ
Trong thực tế sử dụng, các quan hệ từ có thể được dùng thành cặp đểliên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là trong các câu ghép: nếu…thỡ…; mặc dự…thỡ…; vỡ (tại, bởi, do)…nờn…; tuy…nhưng…
Ví dụ:
Trong cỏc lụng nga hôm ấy
Cú cỏi lụng nga quý nhất Từng thấm lệ và thấm mỏu đụi tình nhân Nếu có rải thì rải vào phỳt chút
Cùng với thi thể mình My Châu biết thế”
(Lông nga máu – Di cảo thơ)
Cặp quan hệ từ nối “Nếu… thỡ…” mang ý nghĩa chỉ điều kiện, giả thiết
– kết quả dùng để nối hai côm C – V, tạo thành một câu ghép Hai cụm C – Vnày đều khuyết thành phần chủ ngữ, vị ngữ là những cụm động từ
Trang 131.2 Chế Lan Viên và Di cảo thơ
1.2.1 Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920 -1989) được xem là một trong những tác giả cósức sáng tạo không mệt mỏi và là một cây đại thụ trong làng thơ ca Việt Namthế kỷ XX Trong suốt hơn 50 năm cầm bút sáng tác, ụng đó để lại một khốilượng tác phẩm đồ sộ cả về nội dung và số lượng Quê gốc ở Quảng Trị, sinh
ra ở Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở Bình Định, Chế Lan Viờn được xem làngười “cú mối duyên tiền định với dân tộc Chàm” Mười bảy tuổi, ông cho ra
đời “Điờu tàn” “như một niềm kinh dị” [29] với một nỗi buồn thời thượng
“vang lên như một dàn đồng ca thế hệ”, đến những năm cuối đời, ông viết
“Di cảo thơ” với một “nỗi đau đớn nảy sinh từ những điều trông thấy,
nghiệm thấy” [20]
Trong cuộc đời lao động nghệ thuật của mình, Chế Lan Viờn đó để lại
13 tập thơ gồm hơn một nghìn bài thơ, và trở thành một hiện tượng nổi bậttrong đời sống văn học đương đại Ông được xem là người có vốn tri thứcuyên bác, rộng rãi với một quan niệm thơ rõ ràng Quan niệm thơ ấy có sựvận động phù hợp với chặng đường sáng tác của nhà thơ nhưng vẫn có những
yếu tố ổn định, nhất quán Ba tập “Di cảo thơ” được xuất bản sau khi ông qua
đời được xem là bước chuyển thứ ba trong đời thơ của ông Sau khi Nhà xuấtbản Thuận Hóa liên tiếp cho in ba tập thơ này vào những năm: 1992, 1993,
1996, người đọc đã thực sự bất ngờ trước một Chế Lan Viên “hết sức đa dạngsâu sắc, vừa quen thuộc, vừa mới lạ” [24]
1.2.2 Tập “Di cảo thơ”
1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời
“Di cảo thơ” – bản tổng kết về thơ và đời của Chế Lan Viên gồm ba
tập với hơn 500 bài thơ chủ yếu được viết vào thời điểm rất đặc biệt khi nhà
thơ biết mình mắc bệnh hiểm nghèo khó qua khỏi Có lẽ vì thế mà ở “Di cảo
thơ”, Chế Lan Viờn đó thực sự coi sáng tạo như một sự giãi bày, tâm sự về
Trang 14chính cuộc đời mình Và ở đó người đọc cũng thấy một tâm hồn thơ da diết vànhân ái với đời.
Sau khi Chế Lan Viên qua đời, nhà văn Vũ Thị Thường cũng là ngườibạn đời của ụng đó tuyển chọn và giới thiệu những bài thơ ụng đó viết kể cả
những bài ở dạng bản thảo và cho in thành ba tập “Di cảo thơ” Ngay sau khi
ra đời, ba tập thơ đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt và giành được nhữnggiải thưởng quan trọng: được trao giải thưởng chính thức của Hội nhà văn
(cho Di cảo thơ tập 2) năm 1994, được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh năm 1996
1.2.2.2 Khái lược về “Di cảo thơ”
Từ sau 1975, đặc biệt là ở “Di cảo thơ”, Chế Lan Viờn cú sự thay đổi
lớn từ cách nhìn, cách viết đến giọng điệu, cảm xúc, tư tưởng Nói cách khác,thơ Chế Lan Viờn cú sự chuyển đổi từ kiểu thơ hướng ngoại sang kiểu thơhướng nội và có xu hướng đa dạng hóa thơ ca
Trước 1975, ông là nhà thơ đứng ở tầm cao của thời đại đối thoại với
lịch sử, với dân tộc, với đất nước thì đến “Di cảo thơ”, thơ ông có xu hướng
quay vào đối thoại với chính mình Những vấn đề sống còn của dân tộc dầngiảm, nhà thơ tăng cường kiểu thơ tâm sự chiêm nghiệm bản thân Cái tôi trữtình từ đại diện cho lý tưởng thời đại dần dần tìm lại cái tôi cá nhân trong đờisống bình thường Nhà thơ bộc lộ hết suy nghĩ về những cái có thể xảy ra vớibất kỳ ai: sống – chết, vinh – nhục, tài năng – sự nghiệp Thay đổi tư duyhướng ngoại sang hướng nội, nhà thơ thay đổi cả điểm nhìn Từ một conngười đại diện cho dân tộc, mang vẻ đẹp trong cảm xúc cũng như tư duy củathời đại, nhà thơ quay về với thế giới tâm hồn phức tạp của con người Điềunày kéo theo cả sự thay đổi không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ ông.Trước đây, Chế Lan Viên chuộng không gian cao rộng của đất nước, của lịch
sử, giờ đây ông chuyển dần về không gian đời tư, không gian của thế giới tâmlinh tinh tế huyền diệu Từ thời gian lịch sử với những thời điểm có tính quyếtđịnh vận mệnh dân tộc, ông trở về với những khoảnh khắc cảm xúc cá nhân
Trang 15Khi trở về với cuộc sống đời thường, thơ Chế Lan Viên không còn nhữnghình ảnh biểu tượng phù hợp với dòng văn học sử thi mà thay vào đó lànhững hình ảnh dân dã, bình dị nhưng vẫn giữ được phong cách đa dạngmang đầy tính trí tuệ Càng về cuối đời, thơ Chế Lan Viên càng có nhiều đổimới Từ một nhà thơ luôn hướng tâm hồn mình ra đất nước, ông có xu hướng
đi vào khám phá những trạng thái bí ẩn và tinh tế của tâm hồn Đó là một cáitôi cá nhân mang đầy dấu ấn của một con người từng trải qua nhiều thăng
trầm, biến đổi của cuộc đời Và ở “Di cảo thơ”, người ta thấy nỗi cô đơn của
một con người đang đứng ở giai đoạn cuối cuộc đời, sắp sửa bước sang mộtthế giới khác
Một điều dễ dàng nhận thấy là ở “Di cảo thơ”, thơ Chế Lan Viờn đó cú
sự đa dạng hóa cả về đề tài và giọng điệu Có khi là một giọng thơ tâm sự, thủthỉ, có khi lại là giọng tiếc nuối và cú chỳt ân hận hay một giọng châm biếm,chế giễu hoặc an ủi, động viên đã thay thế cho một giọng điệu sử thi hào
sảng ở thời kì của “Ánh sáng và phù sa”.
Những thay đổi về nội dung, tư tưởng kéo theo sự thay đổi về hìnhthức Viết về đề tài thế sự, đời tư với những số phận đời thường, những cuộcđời bình thường, Chế Lan Viờn đó sử dụng các quan hệ từ với một số lượnglớn Chúng được sử dụng như một công cụ tạo nên chất keo kết dính giữa các
từ, cụm từ trong câu đồng thời tạo nên một nét đặc trưng cho phong cách thơChế Lan Viên giai đoạn này: giọng suy tư mang màu sắc biện luận, triết luận
và giọng trữ tình suy tưởng gần với lời nói hằng ngày, gần với ngôn ngữ đờithường dung dị, xích lại gần hơn với ngôn ngữ văn xuôi và tiếng nói hằngngày
Có thể nói việc sử dụng quan hệ từ với một số lượng lớn đã góp phần
tạo nên thành công cho “Di cảo thơ” Sử dụng từ nối là một nét đặc trưng của
thơ Chế Lan Viên nhưng ở tập thơ cuối đời này, chúng được sử dụng với một
số lượng nhiều hơn hẳn Vì vậy việc tìm hiểu quan hệ từ trong “Di cảo thơ”
Trang 16và đưa ra kết luận về những giá trị mà chúng mang lại cho tập thơ có một ýnghĩa quan trọng nhằm góp phần đánh giá giá trị của tập thơ nói riêng vàphong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên nói chung.
Tiểu kết chương 1
Trong chương một, chúng tôi đã trình bày những điểm khái quát nhất
về quan hệ từ, ở mỗi đặc điểm chúng tôi đều trích dẫn những ví dụ cụ thể từtập “Di cảo thơ” của Chế Lan Viên Bên cạnh đó, chương một cũng nêu lênnhững nét cơ bản nhất về vị trí của nhà thơ Chế Lan Viên trong nền văn họcdân tộc, cũng như khẳng định giá trị và những đổi mới của hơn 500 bài thơ Dicảo Những cơ sở lí thuyết mà khóa luận trình bày là những kiến thức căn bản
để chúng tôi tiến hành khảo sát và là cơ sở lí luận tổng hợp để chúng tôi thựchiện đề tài
Trang 17Chương 2: QUAN HỆ TỪ TRONG TẬP “DI CẢO THƠ”
2.1 Dẫn nhập
Chế Lan Viên thuộc số ít những nhà thơ có sức ảnh hưởng lớn đến thế hệ
cầm bút đi sau “Di cảo thơ” – tập thơ cuối đời chủ yếu được viết khi nhà thơ
nằm trên giường bệnh là một trong những đỉnh cao của thơ ca Chế Lan Viên và làtập thơ khá đặc biệt bởi lẽ ngôn ngữ thơ được kéo gần với ngôn ngữ đời thường,một ngôn ngữ dung dị nhưng giàu tính triết lí, suy luận Có nhiều yếu tố tạo nênthành công ấy nhưng không thể không nhắc đến sự xuất hiện của quan hệ từ.Trong những vần thơ Di cảo, Chế Lan Viờn đó sử dụng quan hệ từ với một sốlượng lớn khác thường so với các tập thơ khác Vì vậy chúng tôi tiến hành khảosát quan hệ từ và tìm ra giá trị mà những quan hệ từ ấy đem lại tập thơ này
2.2 Cách thức và kết quả khảo sát
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là 814 quan hệ từ và 30 cặp quan
hệ từ được sử dụng trong toàn bộ 567 bài của tập thơ Di cảo Những quan hệ
từ và cặp quan hệ từ này biểu thị cả quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập
Sau khi thống kê số lượng và các quan hệ từ có trong tập thơ, chúng tôitiếp tục phân loại theo các tiêu chí:
- Khảo sát những quan hệ từ được sử dụng trong cả tập thơ Di cảo
- Khảo sát số lượng và tần xuất xuất hiện của quan hệ từ trong tập “Di
cảo thơ”.
- Khảo sát chức năng của quan hệ từ, bao gồm chức năng nối kết từ với
từ, từ với cụm, cụm với cụm, câu với câu
- Khảo sát vị trí của quan hệ từ, cụ thể: quan hệ từ đứng đầu câu, quan
hệ từ đứng giữa câu
Sau đây, chúng tôi, xem xét vào từng trường hợp khảo sát cụ thể:
Trang 182.2.1 Khảo sát các quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Lấy 567 bài thơ trong tập “Di cảo thơ”, chúng tôi tiến hành khảo sát
các quan hệ từ và cặp quan hệ từ Kết quả này được thể hiện qua bảng sau:
Trang 19* Nhận xét: Như vậy, hầu hết các quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong
lớp quan hệ từ tiếng Việt đều được Chế Lan Viên sử dụng trong tập “Di cảo
thơ” Kết quả khảo sát cho thấy có 31 quan hệ từ và 5 cặp quan hệ từ cùng 4
cặp quan hệ từ ở dạng kết hợp đặc biệt được sử dụng trong hơn 500 bài thơ Dicảo Trong đú cú cả những quan hệ từ được dùng phổ biến trong tiếng Việt
(và, mà, với, nhưng…) và cả những quan hệ từ được nhà thơ kết hợp với các
từ ngữ khác nhau (cho dù, thế rồi, cho nên, ) Bên cạnh đú cũn cú một số
dạng kết hợp không theo quy tắc thông thường được nhà thơ sử dụng tạo ra
những giá trị nghệ thuật cho cả tập thơ (“Nhưng thỡ…”; “Mà… thỡ…”;
“Vỡ… mà…”;…) Đây không chỉ là một sự khác biệt so với ngôn ngữ thơ ca
thông thường mà còn là một công cụ nghệ thuật độc đáo được nhà thơ sửdụng hợp lí tạo nên những thành công cho tập thơ
2.2.2 Khảo sát số lượng và tần xuất sử dụng quan hệ từ - cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Chế Lan Viờn đó sử dụng mỗi loại quan hệ từ, cặp quan hệ từ trong tập thơ cuối đời này với số lượng và tần xuất khác nhau Qua khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 20Bảng 2: Số lượng quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
* Nhận xét: Bảng số liệu cho thấy, quan hệ từ và cặp quan hệ từ trong
tập “Di cảo thơ” được sử dụng với số lượng lớn: 814 lượt quan hệ từ; 17 lượt
cặp quan hệ từ cùng 13 lượt cặp quan hệ từ được nhà thơ kết hợp không theoquy tắc kết hợp thông thường
Nhiều nhất phải kể đến quan hệ từ “và” (202/814) Đây là một quan hệ
từ có thể đứng ở cả hai vị trí: đầu câu, giữa câu; đồng thời có thể thực hiệnđược nhiều chức năng khác nhau: nối từ với từ, từ với cụm, cụm với cụm, câu
Trang 21với câu Vì vậy nó được sử dụng phổ biến với tần xuất lớn nhất trong sốnhững quan hệ từ của tập Di cảo:
Ví dụ 1: “Cho dù băng hà sẽ hủy diệt hết nhân loại và sinh vật
Và cái huyệt cá nhân sẽ vùi lấp từng người”
(Cho dù – Di cảo thơ)
Ví dụ 2: “Trời và bể, anh và em, cây và người cùng đối xứng”
(đối xứng – Di cảo thơ)
Ví dụ 3: “Chỳng ta là con của mây cha ta và sóng bể mẹ cha ta từng ly biệt”
Ví dụ: “Sức lực bé mà ham nói điều vĩ đại”
(Đất nước ta - Di cảo thơ)
Ngoài ra một còn số quan hệ từ được sử dụng với tần xuất lớn như:
“thỡ” (109/814), “nhưng” (83/814)
Các nhóm từ: “trờn”, “dưới”, “trong”, “ngoài”, “bờn”, “cạnh”, “ở”,
“giữa” được sử dụng với tần xuất ít hơn cả.
Bên cạnh quan hệ từ, trong tập thơ này, tác giả còn sử dụng nhiều cặpquan hệ từ để nối câu với câu, cụm với cụm Nhiều nhất là cặp quan hệ từ chỉ
điều kiện, giả thiết – hệ quả: “nếu… thỡ…”., ngoài ra cũn cú cặp quan hệ từ chỉ nguyên nhân – kết quả: “vỡ… nờn…”; “vớ dầu… nờn…”; “tuy…
nhưng…”…
Ví dụ 1: “Nếu có đổ thì giữa đời tháp đổ”
(Tháp cao tăng - Di cảo thơ)
Ví dụ 2: “Vì Mỵ nương rất bé
Trang 22Nên được yêu rất nồng”
(Hoàng y Mỵ Nương – Di cảo thơ)
Điều đặc biệt là trong “Di cảo thơ”, Chế Lan Viờn đó sử dụng nhiều
cặp quan hệ từ ở dạng kết hợp bất quy tắc không theo quy luật sắp xếp thôngthường Những cặp quan hệ từ này chính là một sáng tạo độc đáo của ChếLan Viên, góp phần tạo nên thành công chung cho tác phẩm Đó là những cặp
kết hợp như: “Nhưng… thỡ…”; “Vỡ… mà…”; “Mà… thỡ…”…
Ví dụ 1:
“Này, có phải vì nú yêu nhiều mà hóa thành sao Chổi?
Quá khứ các vì sao ta chưa hiờu hết mà”
(Chu kì sao Chổi – Di cảo thơ)
Ví dụ 2: “Cuộc sống là trò chơi
Cuộc đời là trò chơi
Mà không chơi khổ đau thì khụng ù được nụ cười”
(Hai chiều – Di cảo thơ)
Ví dụ 3: “Tỡnh sử ấy vựi sõu thành ánh lửa
Nhưng bên ngoài ư, thì rêu phủ xanh rỡ.”
(Đá – Di cảo thơ)
Ví dụ 4: “Giờ anh đã là bọ dòi, là sọ dừa, là cả bộ xương
Nhưng đừng tiếc nuối
Ta đã nghĩ ra cái đẻ không đau Nhưng cái chết không đau thì chưa nghĩ tới”
(Đến ngày – Di cảo thơ)
2.2.3 Khảo sát chức năng của quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Trang 23Bảng 3: Chức năng của quan hệ từ - cặp quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
* Nhận xét: Qua bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy trong tập “Di
cảo thơ”, quan hệ từ đảm nhiệm đầy đủ những chức năng nối kết có trong từ
loại tiếng Việt Trong đó nhiều nhất là quan hệ từ nối từ với từ: 387/814,
chiếm 47,5%, quan hệ từ nối từ với cụm ít hơn (46/814, chiếm 5,7%) Quan
hệ từ nối câu với câu được sử dụng với số lượng tương đối lớn (196/814,chiếm 24,1%) bởi lẽ trong tập thơ này, Chế Lan Viờn đó sử dụng cách ngắtdòng đặc biệt, các ý thơ được ngắt xuống dòng kèm theo những quan hệ từgóp phần tạo ra giá trị nghệ thuật cho cả tập thơ
Cặp quan hệ từ được dùng để nối câu với câu, cụm với cụm, trong đó chứcnăng nối kết cụm từ với cụm từ có số lượng lớn hơn: 21/30, chiếm 70,0%
2.2.4 Khảo sát vị trí của quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
Bảng 4: Vị trí của quan hệ từ trong tập “Di cảo thơ”
* Nhận xét: Quan hệ từ thường đứng ở đầu câu và giữa câu Trong tập
“Di cảo thơ”, Chế Lan Viên cũng đã sử dụng quan hệ từ ở hai vị trí này Tuy
nhiên số lượng và tần xuất sử dụng ở mỗi vị trí lại không giống nhau Qua
Trang 24bảng khảo sát có thể rút ra kết luận: số lượng quan hệ từ đứng ở giữa câu(51,96%) nhiều hơn so với quan hệ từ đứng ở đầu câu (48,04%) tuy nhiên sựhơn kém này là không đáng kể (3,92%) Hơn nữa có thể thấy, số quan hệ từđứng giữa cõu cú ba tác dụng: nối từ với từ, từ với cụm từ và cụm từ với cụm
từ nhưng quan hệ từ đứng ở đầu câu chỉ làm nhiệm vụ nối câu với câu Vì thế
có thể cho rằng trong “Di cảo thơ” số lượng quan hệ từ nối câu với câu chiếm
số lượng lớn Điều này có thể lí giải bởi cách ngắt dòng trong tập thơ này cóphần đặc biệt nhằm tạo nên những câu mang hình thức “điệu núi” gần gũi vớicuộc sống thường nhật, phản ánh những vấn đề đang diễn ra từng ngày trongcuộc sống không ngừng vận động
Ví dụ:
“Nửa thế kỉ tôi loay hoay
Kề miệng vực Leo lên các đỉnh tinh thần Chất ngất Theo các con đường ngoắt ngoéo chữ chi Gẫy gặp
Mà đâu được gì?
Khi tôi cười trờn mõy Thì máu người rên dưới đất
Mẹ tôi hỏi:
- Con lên cao mà làm chi?
Mẹ ở dưới này cơ cực
Về đi !”
(Tìm đường – Di cảo thơ 3)
Đây là một trong những bài tiêu biểu cho cách ngắt dòng có phần đặc
biệt trong những vần thơ Di cảo Hai từ nối “mà”, “thỡ” đứng ở đầu câu
Trang 25mang ý nghĩa chỉ kết quả thể hiện những hụt hẫng thất vọng của nhà thơ khiđánh giá lại chặng đường thơ của mình trong suốt những năm qua.
Chế Lan Viên là nhà thơ có ý thức cao trong việc tìm ra con đường đicho nghệ thuật thơ ca của mình nhưng đến những năm cuối đời, ông lại tự
đánh giá rằng đó là những “con đường không ra đường của kẻ tìm thơ” và thơ ông cũng là “cỏi thơ không ra thơ của kẻ tìm đường” Quan hệ từ đứng
đầu câu có tác dụng thể hiện những giằng xé nội tâm của Chế Lan Viên khinghĩ về con đường thơ ca của mình trong những năm tháng đã qua
2.3 Phân tích một số ví dụ
2.3.1 Quan hệ từ nối từ - từ
Theo kết quả thống kê, số lượng quan hệ từ làm chức năng nối kết từvới từ là 387/814 từ, chiếm 47,5% (bảng 3), nhiều hơn so với các quan hệ từnối kết từ với cụm từ (5,7% - bảng 3), cụm từ với cụm từ (22,7% - bảng 3),câu với câu (24,1% - bảng 3) Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của quan
hệ từ trong việc nối kết các từ trong cõu, nú giỳp câu thơ trở nên mạch lạc, rõràng hơn, đồng thời góp phần quan trọng vào việc thể hiện tư tưởng của nhàthơ Trong vai trò nối kết các từ, quan hệ từ đã thực hiện chức năng nối kếtdanh từ - danh từ (đại từ), động từ - động từ (tính từ), tính từ - tính từ…
Trong chức năng nối từ với từ, quan hệ từ chủ yếu được dùng trongquan hệ đẳng lập
Ví dụ 1:
“Cho dù băng hà sẽ hủy diệt hết nhân loại và sinh vật
Và cái huyệt cá nhân vùi lấp từng người Thì mỗi câu thơ hôm nay phải tiến hơn ngày qua một ớt”
(Cho dù – Di cảo thơ 3)
Ngoài những quan hệ từ nối kết câu với câu (“thế mà”, “và”, “thỡ”), trong đoạn thơ trên, nhà thơ còn sử dụng quan hệ từ “và” dùng để nối hai
Trang 26danh từ Trong phạm vi nối kết từ với từ hoặc từ với cụm từ của từ nối, chúng
tôi chỉ đi xét quan hệ từ “và” trong câu thơ thứ nhất.
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: “nhõn loại”, “sinh vật” Đây là hai danh từ chung + Một danh từ chung chỉ loài người: “nhõn loại”
+ Một danh từ chung chỉ vạn vật cùng tồn tại trên mặt đất: “sinh vật”
- Quan hệ nối kết: quan hệ đẳng lập Trường hợp này, quan hệ từ nối kếthai danh từ chung mang ý nghĩa khái quát chỉ tổng thể sự sống trên trái đất
nhân loại (và) sinh vật
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: “Nhõn loại”, “sinh vật” là hai danh từ chung, mang ý nghĩa bao quát chỉ sự sống trên trái đất Từ “và” nối
kết hai danh từ chỉ sự vật có ý nghĩa bao quát tất cả con người và sinh vậtcùng tồn tại, sinh sống trên mặt đất Theo Chế Lan Viên, cho dù tất cả nhữngđiều ấy bị hủy diệt thì nhà thơ với chức phận và trách nhiệm cao cả của mìnhvẫn phải viết những vần thơ có giá trị với thời đại và xã hội
Ví dụ 2:
“Trời và bể, anh và em, cây và người cùng đối xứng Nhưng B.52 và sinh mệnh trẻ em cùng đối xứng là sao”
(Đối xứng – Di cảo thơ 1)
Trong thơ thứ nhất có ba quan hệ từ “và” dùng để nối từ với từ Cụ thể
câu thơ bao gồm:
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: “trời”, “bể” Đây là hai danh từ chung thể hiện hai
hiện tượng thiên nhiên rộng lớn nhất
- Quan hệ nối kết: quan hệ từ đứng giữa câu nối hai danh từ có quan hệđẳng lập
Trang 27- Đơn vị nối kết: “cõy”, “người” Đây là hai danh từ chỉ sự sống nói
chung cùng tồn tại trên trái đất
- Quan hệ nối kết: quan hệ từ đứng giữa câu nối hai danh từ có quan hệđẳng lập
“cây (và) người”
- Ý nghĩa của những quan hệ từ trong câu thơ trên: Quan hệ từ trong câuthơ trên nối hai sự kiện hoàn toàn trái ngược, hai sự kiện ấy đối lập mà không
đối xứng “Trời”,“bể” là hai hiện tượng thiên nhiên rộng lớn nhất,
“anh”,“em” đều là hai danh từ chỉ người, “cõy”,“người” là những sinh vật
cùng sinh sống trên mặt đất, vì lẽ đó, nó là những phạm trù có khả năng đối
xứng với nhau Đặt trong tương quan ấy, “B.52” và “Sinh mệnh trẻ em”
thuộc về hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nên không thể đối xứng Một bên
là những mầm sống non nớt, một bên là biểu tượng của sự tàn phá hủy diệt.Đây có thể xem là cách nhìn nhận chiến tranh hoàn toàn khác so với thời kì
của “Ánh sáng và phù sa”.
Ví dụ 3:
“Cậu bé chơi tùng dinh chợt già trăm tuổi Câu hỏi thuở bé thơ, miệng huyệt trả lời
Trang 28Ừ, anh là sụng trụi, là hạt móc
Là tiếng khóc thất thanh…Nhưng anh lại
Là người Việc gì phải tủi, Việc gì phải đau! Hãy chấp nhận và cười”
(Hỏi? Đáp!) Trong đoạn thơ trên, bên cạnh quan hệ từ nối câu với câu (nhưng), tỏc giả
còn sử dụng quan hệ từ để nối từ với từ
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: “chấp nhận”, “cười” – hai động từ chỉ hai hành động
xảy ra trong diễn biến thời gian
+“Chấp nhận”: động từ thể hiện sự đồng ý tiếp nhận những yêu cầu
của người khác, trong trường hợp này nó mang ý nghĩa về sự suy tư, chiêmnghiệm
+ “cười”: động từ chỉ hành động sinh lí cụ thể, bộc lộ trạng thái vui
mừng
- Quan hệ nối kết: đẳng lập
“Hãy chấp nhận (và) cười”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Trong trường hợp này quan hệ từ
“và” dùng để nối hai hành động thể hiện một cái tôi đang học cách bằng lòng
với hiện tại sau khi mải miết đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mà nhà thơ luôn
trăn trở, day dứt “Ta là ai?” Khi tìm về với nguồn cảm hứng từ những điều
nhỏ nhặt trong cuộc đời, khi đối diện với những trò cười khóc trong cuộcsống, ông nhận thấy rằng bản thân việc làm người đã là một niềm vui lớn, vì
vậy mà “Hóy chấp nhận và cười”. Đó là con đường tìm về chõn ngó, conđường ấy chịu sự chi phối của cái nhìn thế sự nhưng không phải là cái nhìn bi
quan, bế tắc thời “Điờu tàn” mà giàu chất yêu đời, giàu suy nghĩ và biện
chứng lạc quan
Trang 29Ở “Di cảo thơ”, Chế Lan Viờn cũn sử dụng những quan hệ từ để nối
hai động từ có quan hệ đẳng lập về hình thức nhưng có sự đối lập về ý nghĩa
Ví dụ 4:
“Phớa bên này lá sen là cuộc đời quá cũ Danh vọng, giấy tờ, bàn tủ…
Hoan hô và chửi rủa…
Thế mà lật lá sen hồ, bỗng chốc phía bên kia.”
(Gió lật lá sen hồ - Di cảo thơ 2)
Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã sử dụng hai quan hệ từ: “và”, “thế
mà” Trong đó quan hệ từ “và” dùng để nối động từ với động từ.
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: Trong câu thơ trên, từ “và” nằm ở giữa câu, nối hai động từ hành động: “hoan hụ”, “chửi rủa”.
+ “hoan hụ”: động từ hành động thể hiện sự reo vui, tán thưởng; có
cấu tạo là từ láy
+ “chửi rủa”: động từ là từ ghép chỉ hành động văng tục nói chung.
- Quan hệ nối kết: đẳng lập Trong trường hợp này, về hình thức, quan hệ
từ “và” nối hai động từ có quan hệ đẳng lập nhưng thực chất đó là hai động
từ trái ngược nhau về ý nghĩa
“Hoan hô (và) chửi rủa”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Trong câu thơ này, hai động từ
hành động được nối với nhau bằng quan hệ từ “và” diễn đạt hai mặt đối lập
của đời sống Sự đối lập ấy làm nên tính đa dạng của cuộc sống, nhưng đồngthời nó cũng khiến người đọc liên tưởng đến hai mặt khác nhau của sự sống
và cái chết, khi bên này lá sen vẫn là cuộc đời nhưng “lật lá sen hồ, bỗng
Trang 30chốc phía bên kia” Ở đây vấn đề sự sống và cái chết đã được nhà thơ diễn
đạt bằng một hình ảnh gần gũi nhưng giàu sức gợi
Ví dụ 5:
“ễi, tuổi trẻ thơ ngây và khờ dại Một chút biếc ở đầu cõy, tụi ngỡ đấy là tài Sức lực bé mà ham nói điều vĩ đại”
(Hồi kớ bờn trang viết – Di cảo thơ 3)
Trong ví dụ trên, nhà thơ sử dụng hai quan hệ từ: “và”; “mà” nhưng trong phạm vi nối kết từ với từ, chúng tôi chỉ xét quan hệ từ “và”.
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: “thơ ngõy”, “khờ dại” Đây là hai tính từ chỉ đặc điểm
tính chất của con người
- Quan hệ nối kết: quan hệ đẳng lập
“thơ ngây (và) khờ dại”
- í nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Mang ý nghĩa liệt kê, quan hệ từtrong trường hợp này thể hiện chân thành nhất cái nhìn của nhà thơ về tuổi trẻ,
về những tính cách một thời non dại, cái thời con người nghĩ tất cả chỉ là sự giản
đơn nên “Sức lực bé mà ham nói điều vĩ đại” Bài thơ“Hồi kớ bờn trang viết”
có thể xem như một bản tổng kết đầy đủ về cuộc đời cầm bút của nhà thơ Ở đóhiện lên chân dung một nhà thơ cần mẫn và có ý thức cao với công việc mìnhlàm
Nếu trong trường hợp trên, quan hệ từ “và” để nối hai động từ có ý nghĩa trái ngược (“hoan hô và chửi rủa”) thì ở câu thơ này, quan hệ từ “và” dùng để
nối hai tính từ thuộc cùng một trường nghĩa Điều này thể hiện khả năng sử dụng
từ ngữ đặc biệt của Chế Lan Viên cũng như vai trò quan trọng của quan hệ từvới việc thể hiện ý nghĩa tư tưởng của cả tập thơ
Trang 31Ngoài ra, quan hệ từ nối kết từ với từ còn được sử dụng trong một số trườnghợp khác trong tập thơ.
Ví dụ 6: “Thơ chỉ sống một phần cho mỡnh cũn ba phần cho nhiệm vụ
Nghĩ mà thương”
(Sử - Di cảo thơ 2)
Ví dụ 7: “Trang giấy thì điếc lác
Mong chi anh thành tài”
(Nghịch cảnh – Di cảo thơ)
* Nhận xét: Chức năng nối kết từ với từ là một trong những chức năng
quen thuộc và quan trọng nhất của quan hệ từ tiếng Việt Trong tập thơ Dicảo, số lượng quan hệ từ đảm nhiệm chức năng này được dùng ít hơn so vớichức năng nối câu với câu, cụm với cụm nhưng nó vẫn có vai trò quan trọngđối với thành công chung của cả tập thơ Trong đó, số lượng các từ quan hệ
nối kết hai động từ chiếm tỉ lệ cao trong cả tập “Di cảo thơ”: 53/111 quan hệ
từ, chiếm 47,7% , nhiều hơn 12,5% so với quan hệ từ nối danh từ với danh từ,nhiều hơn 30,6% so với quan hệ từ nối tính từ với tính từ (bảng 3) Điều này
có thể giải thích dựa vào nội dung tư tưởng của cả tập thơ Thơ Chế Lan Viêncuối đời vừa đời thường vừa phức tạp, bí ẩn Lớp từ ngữ của cái đời thườngbình dị “đó tạo cho thơ Chế Lan Viên một khát vọng trở về với cuộc đời
thường nhật mà chúng ta đang sống và cảm nhận” [20] Đến “Di cảo thơ”, từ
tư thế đối thoại với những vấn đề lớn lao mang tính thời sự, thời đại, Chế LanViên chủ động trở về với cuộc sống đời thường phức tạp để độc thoại, đốithoại nội tâm Câu thơ vì thế xuất hiện nhiều từ cảm thán, đặc biệt là động từ
Vì vậy số lượng quan hệ từ dung để nối hai động từ chiếm số lượng lớn nhấttrong toàn bộ tập thơ
2.3.2 Quan hệ từ nối từ - cụm từ
Trang 32Trong tập “Di cảo thơ”, ngoài chức năng nối kết từ với từ, quan hệ từ
cũn cú vai trò nối từ với cụm từ trong câu Trong trường hợp nối kết từ vớicụm từ, quan hệ từ thực hiện quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập
Ví dụ 1:
“Như cốm mùa thu nằm giữa tờ sen Màu xanh của nắng trời chừng dịu lại Những yêu thương của lũng tụi, tụi gúi Trong lá thơ vừa hái ở đời lờn”
(Như cốm mùa thu – Di cảo thơ 1) Bài thơ này, tác giả sử dụng hai quan hệ từ “của Nhưng trong phạm vi
nối cụm từ với cụm từ, chúng tôi chỉ xét quan hệ từ “của” trong câu thơ thừ
hai Câu thơ thứ hai có chủ ngữ là một cụm danh từ có quan hệ từ “của”
đứng giữa
- Quan hệ từ: “của”.
- Đơn vị nối kết: Quan hệ từ “của” đứng ở giữa câu nối danh từ và cụm
danh từ chỉ sự sở hữu
+ Danh từ “màu xanh” chỉ màu sắc.
+ Cụm danh từ “nắng trời” có danh từ “nắng” làm thành tố chính.
- Quan hệ nối kết: chính phụ, trong đó danh từ “màu xanh” làm thành tố chính, cụm danh từ “nắng trời” làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa cho danh
từ đứng trước nó
“Màu xanh (của) nắng trời”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Trong trường hợp này quan hệ
từ có tác dụng chỉ sự sở hữu nhằm nhấn mạnh sắc màu của bầu trời, cũng lànhấn mạnh những cảm nhận tinh tế của tâm hồn Gam màu xanh tươi mát mànhà thơ nhấn mạnh trong câu thơ chính là một biểu hiện đầy đủ của những
Trang 33cảm xúc tinh tế nhất, nhẹ nhàng nhất Điều này góp phần tạo nên một giọngthơ trữ tình giàu cảm xúc.
(Giọng trầm – Di cảo thơ 3)
Đây là bài thơ tiêu biểu thể hiện quan niệm về thơ của Chế Lan Viên
Bên cạnh quan hệ từ có chức năng nối cụm từ với cụm từ (với), trong bài thơ trên quan hệ từ “mà” đứng giữa câu được sử dụng để nối từ với cụm từ.
- Quan hệ từ: “mà”
- Đơn vị nối kết:
+ “lặng yờn” là một tính từ được cấu tạo từ một từ ghép.
+ “thơm mựi mớt mật” là một cụm tính từ, trong đó tính từ “thơm” làm
thành tố chính
- Quan hệ nối kết: về hình thức quan hệ từ “mà” thực hiện chức năng nối
kết đẳng lập nhưng về ý nghĩa, nó chỉ sự nhượng bộ tăng tiến
“Vườn lặng yên (mà) thơm mựi mớt mật.”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Quan hệ từ “mà” có ý nghĩa
nhấn mạnh, tạo ra những bất ngờ, nhằm khẳng định giá trị của những “nốttrầm” giữa cuộc đời thường nhật
“Khu vườn” của những nốt trầm mà nhà thơ đang nhắc đến bề ngoài có
vẻ bình lặng, giản đơn nhưng chính nó lại là nơi xuất hiện những vần thơ giátrị Khi trở về với cuộc sống thường nhật, Chế Lan Viên chuyển từ giọng
“vang ngõn” sang giọng thế sự đời tư.Có điều dù là giọng cao hay giọng trầmthì đều là những phương thức tiếp cận của thơ với hiện thực Chuyển sang
Trang 34“giọng trầm”, thơ Chế Lan Viên bắt liền với hiện thực mới Từ “giọng cao”chuyển xuống “giọng trầm”, “tiếng thơ Chế Lan Viên mang nhiều âm sắcmới: có cả tin yêu, hi vọng lẫn chua chát, hoài nghi, cả cay đắng dỗi hờn lẫnbao dung thanh thản… Nói chung chất giọng ấy gần với cuộc đời hường nhật
mà chúng ta đang sống và cảm nhận.”[24]
* Nhận xét: Nhìn chung quan hệ từ nối kết từ với cụm từ là trường hợp
ít gặp trong tập thơ Di cảo (5,7%) Vì vậy chúng tôi chỉ đi vào phân tíchnhững ví dụ cụ thể và tiêu biểu nhất nhằm khẳng định khả năng kết hợp và sửdụng từ ngữ của Chế Lan Viên, đồng thời thấy được vai trò của quan hệ từtrong việc tạo ra những thành công chung của tác phẩm Tuy nhiên cần thấyrằng dù xuất hiện ít nhưng quan hệ từ nối kết từ với cụm từ thể hiện cả quan
hệ nối kết đẳng lập và chính phụ
2.3.3 Quan hệ từ nối kết cụm từ - cụm từ
Trường hợp quan hệ từ nối kết cụm từ với cụm từ chiếm số lượng lớn
trong tập “Di cảo thơ” (32,7% - bảng 3) Những quan hệ từ này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng những trang thơ giàu tính triết luận.
Ví dụ 1:
“Yờu cành hoa bên những vực sâu Yêu hoa một phần nhưng chính là yêu sự hái Biết bao tình yêu còn lại
+ Cụm động từ “yờu hoa” có động từ “yờu” là động từ chính.
+ Cụm động từ “yờu sự hỏi”, có động từ “yờu” là thành tố trung tâm.
Trang 35- Quan hệ nối kết: quan hệ đẳng lập Về hình thức, quan hệ từ trongtrường hợp này thự hiện chức năng nối kết đẳng lập nhưng về ý nghĩa nó thểhiện sự tăng cấp.
“Yêu hoa một phần (nhưng) chính là yêu sự hái”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Quan hệ từ “nhưng” trong câu
thơ mang ý nghĩa tăng cấp đã đẩy ý thơ lên một cấp độ mới với một ý tưởng
khác thường “yờu sự hỏi” Chế Lan Viờn đó phát hiện ra vẻ đẹp mảnh mai
của nhành hoa đặt trong khung cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và viết về chúngbằng tất cả sự tinh tế Nhưng điều làm người đọc bất ngờ hơn chính là sự kếthợp từ ngữ độc đáo của nhà thơ Rõ ràng trong câu thơ này, quan hệ từ đã tạohiệu quả thẩm mỹ cho ngôn ngữ thơ ca, nhằm thể hiện giọng triết lý, đặc biệt
nhấn mạnh tầm nhận thức của chủ thể trữ tình Với cách lý giải “yờu sự hỏi”
từ hình ảnh nhành hoa bên bờ vực, Chế Lan Viên không chỉ là một nghệ sĩtinh tế mà còn là một triết nhân có suy tư sâu sắc
Một trong những đề tài lớn của “Di cảo thơ” là quan niệm về thơ và
nghề thơ Để thực hiện quan niệm ấy của mình, Chế Lan Viờn đó phát huy tối
đa tác dụng của quan hệ từ
Ví dụ 2:
“Như mặt đẹp vút qua khung tàu điện Thoáng trời đêm yên tĩnh đổi ngôi sao Như người lính bắn phát cuối cùng vì Tổ Quốc
Ta vẫn yêu đời dù viết nửa chừng cõu”
(Nửa chừng câu – Di cảo thơ)
Đây là một trong những bài thơ sử dụng khá nhiều quan hệ từ Đó là
quan hệ từ chỉ sự so sánh “như” (nối câu với câu), quan hệ từ chỉ mục đích
“vỡ” (nối từ với cụm từ), đặc biệt quan hệ từ chỉ điều kiện giả thiết – kết quả
Trang 36“dự” (nối cụm C – V với cụm C – V) Ở đây, kết cấu cặp quan hệ từ “dự… thỡ…” đã được rút gọn và đảo ngược.
- Quan hệ từ: “dự”
- Đơn vị nối kết: Quan hệ từ “dự” đứng giữa câu nối hai cụm C – V là
hai thành phần nòng cốt của câu ghép
+ cụm C – V thứ nhất: “Ta vẫn yêu đời” có chủ ngữ là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “Ta”, vị ngữ là cụm động từ “vẫn yêu đời” với động từ
“yờu” làm thành tố chính.
+ cụm C – V thứ hai: “viết nửa chừng cõu”, trong đó chủ ngữ bị
khuyết, vị ngữ là cụm động từ “viết nửa chừng cõu” có động từ “viết” làm
thành tố chính
- Quan hệ nối kết: quan hệ từ nối kết hai cụm từ có quan hệ chính phụ,
trong đó cụm C – V thứ nhất “Ta vẫn yêu đời” là thành phần chính, cụm C –
V thứ hai “viết nửa chừng cõu” là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho cụm
từ đứng trước nó
“Ta vẫn yêu đời (dù) viết nửa chừng câu”
- Ý nghĩa của quan hệ từ: Quan hệ từ “dự” đứng giữa dòng thơ như một
lời khẳng định của nhà thơ về thái độ sống tích cực, một niềm lạc quan, yêuđời dù cho cuộc sống còn rất nhiều điều đáng buồn và đáng lo Bài thơ nàyđược viết ra trong một hoàn cảnh đặc biệt khi nhà thơ bị lao phổi và ngờ bịung thư khí quản, hôn nhân thì tan vỡ Mặc dù vậy khi đọc bài thơ, người đọckhông nhận thấy bất kì dấu hiệu nào thể hiện tâm trạng chán trường, thấtvọng Qua đó, người ta nhận thấy một hồn thơ mang nặng suy tư với đời, mộtcái tôi cô đơn và lẻ loi giữa cuộc đời thường nhật, điều đặc biệt là dù mangmột nỗi buồn lớn nhưng ở đó vẫn toỏt lờn niềm vui, niềm lạc quan mà thưở
“Điờu tàn” không có.
Trang 37Ví dụ 3:
“Anh chưa tìm được mẫu số chung giữa sương trên hoa và lửa trong lò
Có thể cả hai thứ đó đều là tro, đều là thơ, là tình ái nữa
Cú lúc sương cho anh một tâm hồn cháy lửa
Và lửa khi tàn vẫn để lại những màu hoa”
(Mẫu số - Di cảo thơ 3)
Trong ví dụ trờn cú bốn quan hệ từ được sử dụng: quan hệ từ “và” nối hai cụm danh từ “sương trên hoa”, “lửa trong lũ”; quan hệ từ “trờn” nối hai danh từ: “sương”, “hoa”; quan hệ từ “trong” đứng giữa hai danh từ “lửa”,
“lũ”; quan hệ từ “và” trong cõu “Và lửa khi tàn vẫn để lại những màu hoa”
nối hai câu với nhau Trong phạm vi nối cụm từ với cụm từ chúng tôi chỉ xét
quan hệ từ “và” trong câu thơ thứ nhất:
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: quan hệ từ đứng giữa câu thơ nối kết hai cụm danh từ
+ cụm danh từ“sương trên hoa” có danh từ “sương” làm thành phần
chính
+ cụm danh từ “lửa trong lũ” có danh từ “lửa” làm thành phần chính.
- Quan hệ nối kết: quan hệ từ nối hai cụm từ đẳng lập thể hiện cái nhìnbiện chứng của nhà thơ về cuộc sống
“Anh chưa tìm được mẫu số chung giữa sương trên hoa (và) lửa trong lò”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: “Sương trên hoa”, “lửa trong
lũ” là hai phạm trù gần như đối lập, một bên thì mỏng manh, thuần khiết, một
bên thì rực rỡ mãnh liệt Đó cũng là hai mặt không thể thiếu được trong đờisống Biết cân bằng hai vấn đề ấy sẽ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, có ý
Trang 38nghĩa và có giá trị hơn Đây cũng là nội dung mà nhà thơ muốn gửi gắm quabài thơ này.
Ví dụ 4:
“Như cốm mùa thu nằm giữa tờ sen Màu xanh của nắng trời chừng dịu lại Những yêu thương của lũng tụi, tụi gúi Trong lá thơ vừa hái ở đời lờn”
(Như cốm mùa thu – Di cảo thơ 1) Nếu trong câu thơ thứ hai, quan hệ từ “của” dùng để nối từ với cụm từ
thì trong câu thơ thứ ba, nhà thơ lại dùng quan hệ từ ấy với một chức năngkhác: chức năng nối kết cụm từ với cụm từ
- Quan hệ từ: “của”
- Đơn vị nối kết: Trong câu thơ thứ ba, quan hệ từ “của” đứng giữa câu
nối hai cụm danh từ thể hiện sự sở hữu
+“những yêu thương” là cụm danh từ, có danh từ “yờu thương” làm
thành tố chính
+ “lũng tôi” – cụm danh từ, có danh từ “lũng” làm thành tố chính
- Quan hệ nối kết: quan hệ từ nối hai cụm từ có quan hệ chính phụ, trong
đó cụm danh từ “lũng tụi” làm thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho cụm từ
“những yêu thương”
“Những yêu thương (của) lũng tôi, tụi gói”
- Ý nghĩa của quan hệ từ trong câu thơ: Đây được xem là một trong số ítnhững bài thơ giàu cảm xúc, khác hẳn những vần thơ đậm chất triết luận thiên
về lớ trớ của Chế Lan Viên Từ “của” đứng giữa dòng thơ có tác dụng khẳng
định quan hệ sở hữu làm tăng tính hàm súc của câu thơ
Trang 39Thông thường, quan hệ từ chỉ nối kết những từ (cụm từ) cùng loại hoặc
cú cựng trường nghĩa, nhưng ở “Di cảo thơ”, Chế Lan Viờn đó sử dụng quan
hệ từ để nối kết những cụm từ khác nhau hoàn toàn về ý nghĩa từ vựng: quan
hệ từ còn nối kết cụm động từ với cụm danh từ Mặc dù chức năng này củaquan hệ từ được sử dụng với một số lượng ít nhưng nó đã thể hiện khả năng
sử dụng ngôn ngữ độc đáo của Chế Lan Viên và là một thành tựu nghệ thuậtxuất sắc mà nhà thơ đã tạo ra được trong tập thơ này
Ví dụ 5:
“Người dệt thảm mặc rách và cuộc đời xám xịt
Ấy thế nhưng cái nghề dệt mà, ta cứ dệt thảm hoa Lật trái trang thơ, may ra anh đọc được trên đời tôi một ít Thơ không phản ánh đời mỡnh thỡ nú cũng phản ánh những đời hoa”
(Dệt thảm - Di cảo thơ 3)
Trong phạm vi nối kết cụm từ với cụm từ, ở câu thơ trên chúng tôi chỉ
xét quan hệ từ “và” trong câu thơ thứ nhất.
- Quan hệ từ: “và”
- Đơn vị nối kết: Quan hệ từ “và” trong câu thơ thứ nhất đứng giữa dòng
thơ dùng để nối hai cụm từ:
+ “mặc rỏch” là cụm động từ có động từ “mặc” làm thành tố chính.
+ “cuộc đời xám xịt” là cụm danh từ với danh từ “cuộc đời” là danh từ
trung tâm
- Quan hệ nối kết: quan hệ đẳng lập
“Người dệt thảm mặc rách (và) cuộc đời xám xịt”
- Ý nghĩa của quan hệ từ: Công việc của người thợ dệt và nhà thơ đều có
chung mục đích là sáng tạo ra cái đẹp phục vụ cuộc sống Từ “và” được dùng
Trang 40cuộc sống của những “người dệt thảm” Nhưng chỉ khi “lộn trỏi” mỡnh, “lậttrỏi” trang thơ người đọc mới hiểu được những suy nghĩ thầm kín nhất, nhữngsuy tư trăn trở nhất của nhà thơ Đây có thể coi là một trong những câu thơchân thật nhất trong cuộc đời làm thơ của Chế Lan Viên.
Ngoài ra cũn cú một số trường hợp khỏc cú sử dụng quan hệ từ để nốikết cụm từ với cụm từ:
Ví dụ 5:
“Trời và bể, anh và em, cây và người cùng đối xứng
Nhưng B.52 và sinh mệnh trẻ em cùng đối xứng là sao”
(Đối xứng – Di cảo thơ 1)
Ví dụ 6:
“Làm thơ không phải là đi cà khêu nhưng đừng đi chân đất
Mà là lia đôi hia hư thực
Bay trên đầu ngún chõn.”
(Đừng đi chân đất – Di cảo thơ 3)
* Nhận xét: Tóm lại, trong các chức năng của quan hệ từ ở tập Di cảo,
chức năng nối cụm từ với cụm từ là chức năng phổ biến, chiếm vị trí quantrọng Trong đó chức năng nối kết cụm động từ với cụm động từ được sửdụng nhiều nhất Điều này phù hợp với giọng thơ giàu tính tự vấn và nhữngcâu hỏi mang màu sắc lập luận thể hiện những chiêm nghiệm của Chế LanViên trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động Những quan hệ từ nàykhông chỉ thể hiện khả năng vận dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong từngtrường hợp cụ thể mà còn góp phần quan trọng để tạo nên thành công chungcủa cả tập thơ
2.3.4 Quan hệ từ kết nối câu với câu
Quan hệ từ dùng để nối kết câu với câu trong tập “Di cảo thơ” chiếm
số lượng khá lớn Kết quả khảo sát cho thấy, số lượng quan hệ từ dùng trongtrường hợp này là 196/814, chiếm 24,1% (bảng 3) Việc sử dụng quan hệ từ ở