1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước việt nam

26 5,4K 71

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 236,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Lý luận chung 1)Định Nghĩa2)Cơ cấu tổ chức DNNN3)Đặc điểm DNNN4)Lý do thành lập DNNNII.Thực trạng của DNNN1) Những thành tựu đạt được2) Những hạn chế, yếu kém trong DNNN3) Nguyên nhân của sự yếu kém4) Những vấn đề nổi cộm hiện nayIII.Vai trò của chính phủ trong điều tiết và quản lý DNNN IV.Kiến nghị V.Nguồn tài liệu tham khảo

Trang 1

Chủ đề : Tìm Hiểu Về Hoạt Động Doanh

Nghiệp Nhà Nước Việt Nam

Các câu hỏi chính nhóm đưa ra :

1 Tìm hiểu thế nào là dnnn, đặc điểm, lý do thành lập dnnn ?

2 Thực trạng của dnnn ?

 Những thành tựu đã đạt được ?

 Những hạn chế ,yếu kém trong dnnn ?

 Nguyên nhân còn sự yếu kém của dnnn ?

 Những vấn đề nổi cộm hiện nay là gì ?

3 Vai trò của chính phủ trong điều tiết và quản lý DNNN ?

3) Nguyên nhân của sự yếu kém

4) Những vấn đề nổi cộm hiện nay

III Vai trò của chính phủ trong điều tiết và quản lý DNNN

IV Kiến nghị

V Nguồn tài liệu tham khảo

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Trang 2

Trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta luôn khẳng định thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Lý luận về kinh tế nhà nước là một trong những vấn đề lý luận kinh tế trung tâm của các đảng cộng sản Nhất là trong giai đoạn lãnh đạo đất nước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa Hiệnnay lý luận đó vẫn mang ý nghĩa thời sự cấp bách cả về nhận thức lý luận và thực tiễn Ở Việt Nam thì kinh tế nhà nước là một bộ phận có vai trò quyết định trong cơ cấu kinh tế của nước ta Trong các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước thì khuvực doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chủ yếu có vị trí đặc biệt Nhưng thực trạng của khu vực doanh nghiệp nhà nướccủa nước ta hiện nay thì chưa thể hiện được vai trò then chốt và chủ đạo trong nền kinh tế, một

số ngành, một số lĩnh vực của doanh nghiệp nhà nước không năng động bằng khu vực kinh tế tư nhân Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do khâu tổ chức

và vận hành doanh nghiệp nhà nước chưa thật hợp lý Vậy để doanh nghiệp nhà nước có thể thể hiện được vai trò chủđạo của mình trong nền kinh tế quốc dân thì vấn đề tất yếu là ta phải tổ chức và sắp xếp lại các doanh nghiệp cho thật hợp lý

I Lý luận chung

1 Định nghĩa

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ

hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,

Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty

nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn

Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm

hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ

Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách

nhiệm hữu hạn là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn

Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ

phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp

của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống

Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn

bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ chức của tổng

công ty nhà nước

2 Cơ cấu tổ chức DNNN

Trang 3

Tuỳ thuộc đặc điểm, tính chất và quy mô của các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức quản lý đượcquy định cho doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị, doanh nghiệp nhà nước không có hộiđồng quản trị và tổng công ty nhà nước là khác nhau.

Điều 28 Luật doanh nghiệp nhà nước có quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước:

 Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn có cơ cấu tổ chức quản lý như sau:

o Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát

o Tổng giám đốc hoặc giám đốc và bộ máy giúp việc

o Hình thức tổ chức giám sát tại các doanh nghiệp này do Chính phủ quy định

3 Đặc điểm

 Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập

 Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết địnhthành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết Việc thành lập doanh

nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt,xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó

và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó

 Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh nàykhông có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản

và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn

mà Nhà nước giao

 Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế

xã hội do Nhà nước giao

+ Nhà nước quản lý doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyềntheo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung sau:

 Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó

 Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp Nhà nước như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc

Trang 4

 Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị.

+ Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao

Nếu Nhà nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp Nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công tích thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội

 Doanh nghiệp Nhà nước là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao

 Thất bại của thị trường vốn: Có một số ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn và mức độ rủi ro cao khiến cho việc huy động vốn tư nhân qua thị trường vốn rất khókhăn

 Ngoại ứng: Các nhà đầu tư tư nhân không muốn đầu tư vào các ngành mà lợi ích của nó lan tỏa sang nhiều ngành khác trong khi họ không thu được phí từ sự lan tỏa này

 Công bằng xã hội: Khu vực tư nhân nhiều khi không chịu vươn tới các khu vực nghèo đói, vùng sâu, vùng xa vì lợi nhuận thấp Vì thế, phải có các Doanh nghiệp Nhà nước làm việc này để đảm bảo quyền tiếp cận tới các dịch vụ và tiện ích tối thiểu của công chúng

II Thực trạng của DNNN Việt Nam

1 Những thành tựu đã đạt được

 Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước đã góp phần

Trang 5

quan trọng bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 Sau hơn 20 năm thực hiện sắp xếp và tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước, tính đến ngày 31-12-2013, sốlượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm khá nhiều từ hơn12.000 doanh nghiệp vào năm 1992 xuống còn 949 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước Số ngành, lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước tham gia cũng giảm từ 43 xuống còn 20 Tuy số lượng ngày càng giảm nhưng trong nhiều năm qua các doanh nghiệp nhà nước đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tếcủa đất nước (khoảng 30% GDP) Cùng với các thành phần kinh tế khác, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng như hạ tầng giao thông, hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, năng lượng, thông tin liên lạc, hạ tầng đô thị, cũng như xây dựng nhiều công trình phục vụ an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội

 Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm trong nước, tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất, nhập khẩu, hợp tác đầu tư với nước ngoài; Các DNNN nắm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% nguồn vốn hỗ trợ phát triển… là lực lượng quan trọng trong thực hiện các chính sách xã hội,khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh

Trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp nhà nước đã ngày càng thích ứng hơn với cơ chế thị trường, cơ cấu và quy mô doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nâng lên

Trang 6

các quan hệ : ai là chủ sở hữu vốn, mức độ tự chủ của doanh nghiệp đến đâu, quan hệ với cơ quan chủ quản.Nhờ xác định rõ quyền tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước nên trong việc thực hiện chủ trương liên doanh, liên kếtvới nước ngoài qua hoạt động đầu tư quốc tế các doanh nghiệp nhà nước (chiếm 96% số dựán)đã chủ động, tích cực và thực hiện khá thành công góp phần thu hút, đẩy mạnh vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước : Đã tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách

đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước Triển khai thực hiện nhiều văn bản pháp luật theo hướng tăng cường quản lý nhà nước và xác định rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp; đề cao trách nhiệm, phát huy tính tự chủ và công khai minh bạch của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường theoquy định của pháp luật và thông lệ quốc tế

 Đã triển khai Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và cung ứng các dịch vụ công thiết yếu, quốc phòng an ninh Thực hiện tái cơ cấu từng tập đoàn và tổng công ty, phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động, xác định nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh chính, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, đẩy mạnh cổ phần hóa, đổi mới quản trị doanh nghiệp, tăng cường kiểm soát nội bộ và công tác quản lý cán bộ

VD:

o Từ năm 2011 đến hết năm 2013, cả nước đã sắp xếp được 180 DN; trong đó, cổphần hóa 99 DN, nâng tổng số DN cổ phần hóa từ trước lên 4.065 DN Riêngtrong 9 tháng đầu năm 2014, đã có 92 DN được sắp xếp; trong đó, cổ phần hóa 71

DN (trong đó có Tập đoàn Dệt may và 12 tổng công ty nhà nước)

o Đã thực hiện Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ và Tổng công tyHàng hải Việt Nam Hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhànước có bước được cải thiện Doanh nghiệp nhà nước cơ bản thực hiện được vaitrò nhiệm vụ được giao Quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối vớidoanh nghiệp nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp với thể chế kinh tế thịtrường và yêu cầu hội nhập quốc tế

2 Những tồn tại , yếu kém trong DNNN

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp nhà nước vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém như :

 Thể chế, cơ chế quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước vẫn còn những sơ

hở, bất cập, chưa thực sự làm tốt vai trò, nhiệm vụ được giao, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh còn thấp; cơ cấu chưa hợp lý, còn dàn trải, một bộ phận quy mô còn nhỏ, đầu tư ra ngoài ngành kém hiệu quả; trình độ công nghệ lạc hậu, quản trị yếu kém nên năng suất lao động thấp, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt

Trang 7

động sản xuất, kinh doanh, thậm chí một số doanh nghiệp vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Về hiểu quả kinh doanh: mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía nhà nước sau

nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực dân doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng và nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do nhà nước dành cho

VD: Những DNNN càng kinh doanh càng lỗ “khủng” được Kiểm toán Nhà nước điểm mặt là: Công ty mẹ Cienco 5 lỗ đầu tư tài chính 11,4 tỷ đồng;

5/50 công ty do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đầu tư thua lỗ 3.702 tỷ đồng

11/31 công ty do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đầu tư thua lỗ 6.342 tỷ đồng

Ngoài ra, 7/24 công ty do Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) đầu tư lỗ lũy kế 339,6 tỷ đồng

6/57 công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) lỗ 118,3 tỷ đồng 3/8 công ty liên doanh, liên kết do Công ty mẹ Tổng Công ty Sông Đà đầu tư thua lỗ

5/24 công ty liên doanh, liên kết do Tổng công ty ô tô đầu tư thua lỗ

Tiếp sau là danh sách các công ty kinh doanh tới mức âm vốn chủ sở hữu như 3/10 công ty thuộcCienco 5 (âm 53,7 tỷ đồng); công ty Thực phẩm Miền Bắc thuộc Tổng Công ty Thuốc lá (âm 166,74 tỷ đồng)

Tình trạng lỗ lũy kế lớn hơn vốn điều lệ/vốn đầu tư của chủ sở hữu Nhiều chuyên gia kinh tế trêncác diễn đàn cũng đã thẳng thắn cho rằng, xét về hiệu gồm hàng loạt các công ty liên doanh vốn Việt Nam và nước ngoài, thuộc ngành bất động sản, xây dựng và cả tài chính, với tỷ lệ lỗ gấp 1,3đến 3 lần vốn chủ của khu vực DNNN trong thời gian qua chưa cao và đang ngày càng suy giảm.Giai đoạn 2000 - 2006, khu vực kinh tế nhà nước đầu tư 7,2 đồng mới làm tăng được 1 đồng GDP, nhưng đến những năm 2007 - 2012 phải đầu tư tới 9,3 đồng mới làm tăng được 1 đồng Hơn nữa, hiệu quả sản xuất nhìn từ tỷ suất lợi nhuận trên vốn rất thấp và ngày càng giảm Năm

2007, tỷ suất này của các DNNN khoảng 2,6%, nhưng đến năm 2012 giảm xuống chỉ còn 1% Trong khi đó, tỷ lệ trả lãi vay bình quân cả trong và ngoài nước khoảng 4-5% nên nhiều DNNN khó có thể trả nợ Điều này khiến áp lực nợ công ngày càng tăng

OECD khuyến nghị: “Nhà nước cần cho phép Hội đồng quản trị của DNNN thực hiện trách nhiệm của mình và tôn trọng quyền tự chủ của họ Nhà nước với tư cách chủ sở hữu tích cực phải thực hiện quyền sở hữu theo cơ cấu pháp lý của mỗi doanh nghiệp Các trách nhiệm tài chính của Nhà nước bao gồm: tham gia đại hội đồng cổ đông và biểu quyết; xây dựng quy trình

Trang 8

đề cử Hội đồng quản trị cụ thể và minh bạch ở các DNNN sở hữu toàn bộ hoặc phần lớn cổ phần

và tham gia tích cực vào việc đề cử Hội đồng quản trị của tất cả các doanh nghiệp; thiết lập hệ thống báo cáo nhằm giám sát và đánh giá thường xuyên của doanh nghiệp; trao đổi thường xuyên với cơ quan kiểm toán độc lập và các cơ quan kiểm soát của Nhà nước, khi mức độ sở hữu

và luật pháp cho phép; đảm bảo chính sách thù lao cho Hội đồng quản trị của DNNN thúc đẩy được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, có thể thu hút và khuyến khích các chuyên gia có trình độ cao.”

Về khả năng cạnh tranh: các doanh nghiệp nhà nước rất yếu kém về khả năng cạnh

tranh Có nhiều ngành,sản phảm của doanh nghiệp nhà nước đang được bảo hộ tuyệt đối hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế…) nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ được khả năng cạnh tranh của mình, thâm chí nhiều doanh nghiệp lại cố gắng luận chứng để nhà nước tăng cường các biện pháp bảo hộ mạnh hơn để duy trì việc làm và thị phần

Khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện Việt Nam đang và sẽ thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế có nguy cơ dẫn đến tình hình đất nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì các doanh nghiệp nhà nước

Về cơ cấu doanh nghiệp nhà nước : khu vực doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu còn bất

hợp lí.Cơ cấu ngành, vùng, quy mô còn bất hợp lí đều chưa được chuyển dịch theo hướngsắp xếp lại

Ví dụ điển hình về quản lý sai sót của nhà nước nhóm tìm đó là sự sụp đổ của Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin)

Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) thành lập năm 2006, được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, hoạt động theo dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

do Chính phủ làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ

Các dự án gây thiệt hại của vinanshin:

1, Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (tỉnh Nam Định) là hơn 316,5 tỷ đồng;

2 Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy nhiệt điện Diezel Cái Lân gây thiệt hại hơn 66,5 tỷ đồng;

3 Dự án đầu tư tàu Bình Định Star gây thiệt hại hơn 30,4 tỷ đồng và

4 Việc bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang gây thiệt hại hơn 27,3 tỷ đồng

Trang 9

5, Đặc biệt, Năm 2007, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Vinashin đã làm công văn, gửi Thủ tướng Chính phủ xin được mua tàu của nước ngoài về khai thác Tàu Hoa Sen (là tàu Cartour của Italia, sản xuất năm 2001, được mua với giá 60 triệu Euro tương đương 1.300 tỷ đồng Việt Nam) đã từng bị thủng đáy trong thời gian khai thác ở Italia Con tàu này sau khi về Việt Nam, phải sửa chữa và chỉ chạy được 39 chuyến rồi phải dừng vì càng chạy càng lỗ tàu Hoa Sen mỗi năm trả lãi vay gần 80 tỷ đồng Đây là một trong những phi vụ “đốt” tiền của Nhà nước lớn nhất trong vụ án “cố ý làm trái” xảy ra tại Tập đoàn Vinashin, khi bỏ hơn 1.000 tỷ đồng

ra mua tàu Hoa Sen, gây thiệt hại gần 500 tỷ đồng

Số nợ kỷ lục của vinashin

Có thể so sánh như :

Trang 10

Nguyên nhân dẫn đến sự phán sản của vinashin : có chủ quan và khách quan

- Khách quan: do khủng hoảng kt, thị trương đóng tàu và vận tải biển thế giới sụt giảm dột ngột, ngân hàng thắt chặt cho vay

- Chủ quan: do sự đầu tư dàn trải, thiếu khoa học, do sai lầm quản trị của các cấp quản li, lãnh đạo đặc biệt là do sự bao che, chủ quan cảu cấp trên Trước hết là trách nhiệm của chính phủ và bộ GTVT, nhưng cơ quan chủ quản của vinashin Kế toán nhà nước đã nhiều lần có kế hoạch thanh tra vinashin năm 2008 nhưng hoãn bị lại đến 2009 Nhưng

kế hoạch lại bị hoãn lại đến 2010 Tuy nhiên kế hoạch này lại tiếp tục bị trì hoãn bởi ko

đc phê duyệt Vinashin xuất hiện dấu hiệu của tôi pham nhưng vẫn đc bao che ch qua chuyện nguyên nhân tiếp theo đc chỉ ra là do việc quản lí nhà nước và thưc hiện quyền

sở hữu của chính phủ vs tập đoàn kinh tế ns chung và vinashin nói riêng còn nhiều bất cập, lung túng Bộ GTVT chưa phát hiện kịp thời những yếu kém trong hoạt đông và cố ýlàm trái của tập đoàn để chủ động đề nghi các cơ quan chức năng và báo cáo thủ tướng

CP để kịp thời nagwn chặn, xử lí

Trang 11

3 Nguyên nhân của sự yếu kém trong DNNN

Đầu tư sai : Trong xây dựng mới và cải tạo các doanh nghiệp nhà nước không tính đến

sự biến động của thị trường Đầu tư sai bắt đầu từ những quyết định thời bao cấp,sự quản

lí của nhà nước không đủ hiệu lực để ngăn chặn tình trạng đầu tư không tính đến thị trường, không cân đối với nguyên liệu, cũng không tính đến giá thành.Có những ngành hoặc địa phương vẫn muốn tranh thủ càng nhiều vốn nhà nước càng tốt để xây dựng cho được những doanh nghiệp không thật cần thiết của nghành mình, địa phương mình, có khi vì mục đích ngoài kinh tế

Tình trạng đầu tư sai không tính đến thi trường một phần bắt nguồn từ công tác quy hoạch.Trong nhiều trường hợp quy hoạch xuất phát từ ý muốn chủ quan,nói là tập trung mũi nhọ nhưng rồi nghành nào cũng đầu tư, địa phương nào cũng muốn tự túc, tự cấp, có

đủ “cơ cấu kinh tế” theo hướng “công nghiệp hoá”, “hiện đại hoá”, bỏ qua những nguyên tắc cơ bản của công tác này Chủ trương đầu tư đã sai ngay từ đầu, công việc xây dựng lạigiao cho ban quản lí dự án kém năng lực và không có trách nhiệm,gây ra chất lượng xây dựng thấp,vốn đầu tư thất thoát không nhỏ Tất cả dồn giá thành công trình làm cho không có giám đốc nào có thể tài giỏi đến mức khắc phục được hậu quả kém hiệu quả và năng lực cạnh tranh

Tình trạng thiếu vốn phổ biến: Doanh nghiệp do nhà nước quyết định thành lập nhưng

không cấp đủ vốn cho sản xuất kinh doanh buộc phải đi vay với lãi suât ngân hàng

Tình trạng kĩ thuật, công nghệ lạc hậu: phần lớn các doanh nghiệp nhà nước được

trang bị máy móc,thiết bị từ nhiều nguồn khác nhau, có nhiều thiết bị lạc hậu, già cỗi

Số lao động dư thừa đang rất lớn

Doanh nghiệp không được tự chủ được về tài chính: Có thể coi đây là trở ngại rất

quan trọng khiến doanh nghiệp không thể tự chủ kinh doanh

Không được chủ động về nhân sự và tiền lương: không chủ động trong việc sắp xếp lại

số lao động, giảm bớt người không phù hợp, tuyển người mới vì nhà nước chưa có đủ cácchính sách phù hợp để giải quyết công ăn việc làm và đời sống của số lao động dư thừa Chế độ tiền lương, các thang lương, bậc lương trong doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất hợp lý giữa khu vực kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp, giữa doanh nghiệp các ngành nghề khác nhau và ngay trong nội bộ doanh nghiệp

Tổ chức, quản lý không phù hợp: mặc dù đã có chủ trương xoá bỏ chủ quan nhưng

hiện đang có quá nhiều cấp, nhiều ngành trực tiếp can thiệp công việc kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Tình trạng phân cấp trên dưới, ngang dọc chưa rõ ràng đã gây ra tình trạng doanh nghiệp chịu nhiều cấp, nhiều ngành đang ra sức “tăng cường quản lý”, công tác thanh tra, kiểm tra chồng chéo gây phiền hà cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động

Môi trường kinh doanh chưa hoàn chỉnh: môi trường kinh doanh ở nước ta đang còn

nhiều bất cập, điển hình là hệ thống ngân hàng vẫn còn tình trạng buộc ngân hàng cho vay theo mệnh lệnh, ngân hàng thụ động không chịu trách nhiệm về hiệu quả vốn cho vay

và thu hồi nợ Các thị trường yếu tố sản xuất chưa hoàn chỉnh, những thủ tục hành chính,

Trang 12

cơ chế xin-cho và những hành vi nhũng nhiễu của không ít công chức đang gây khó khăn cho doanh nghiệp.

4 Những vấn đề nổi cộm

4.1 Việc các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam với hơn một nửa các khoản nợ xấu của cả

nước có nguy cơ "nhấn chìm hệ thống ngân hàng" (20.08.2013)

A Thực trạng nợ xấu của DNNN

Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện này thì vấn đề giải quyết

nợ xấu của các DN ở nước ta là bài toán nan giải nhất trong ngắn hạn Nợ xấu của DNđược các nhà khoa học bàn thảo nhiều và được xem là nguyên nhân cơ bản gây tắc nghẽn

sự lưu thông lành mạnh của nền kinh tế, gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng và cũngphản ánh khó khăn của sản xuất kinh doanh của DN nhìn từ góc độ chỉ số hàng tồn khotăng cao Nợ xấu tăng cao đã và đang tác động tiêu cực đến nền kinh tế, cản trở quá trìnhtái cơ cấu, nhất là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tái cơ cấu DNNN và làm giảm niềm tincủa người dân vào vai trò quản lý, điều hành của Chính phủ Theo đánh giá, dự báo củacác tổ chức quốc tế, các chuyên gia kinh tế (JPMorgan Chase, HSBC, Fitch Ratings ),

nợ xấu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cao nếu Chính phủ không có kế hoạch cụ thể nhằmgiải quyết kịp thời, triệt để vấn đề này

Theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mạiđang ở mức 8,6%, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán; trong đó

nợ xấu tại khu vực DNNN rất lớn Số liệu của một số nhà khoa học cho thấy khu vựcDNNN hiện đóng góp vào 70% nợ xấu của toàn hệ thống, trong đó các tập đoàn kinh tế,tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu Theo Đề án tái cấu trúc khu vực DNNN của Bộ Tàichính năm 2012 thì dư nợ của 80/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đến cuối 2010 là872.860 tỷ đồng, bằng 1,6 lần vốn chủ sở hữu Tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngânhàng của DNNN lớn đạt trên 415.000 tỷ đồng, tương đương gần 17% tổng dự nợ tín dụngtại các ngân hàng Trong đó, nợ vay của 12 tập đoàn kinh tế nhà nước lên tới gần 218.740

tỷ đồng, dư nợ lớn nhất thuộc về những DN lớn như Tập đoàn Dầu khí (PVN - 72.300 tỷđồng), điện lực (EVN - 62.800 tỷ đồng), than & khoáng sản (Vinacomin - 19.600 tỷđồng) Với những con số như trên thì nợ xấu của khu vực tập đoàn, tổng công ty trong hệthống ngân hàng sẽ chiếm tới 30-35% tổng dư nợ của khối này

Một đặc điểm nổi bật là nợ xấu của các DN Việt Nam gắn khá chặt chẽ với khu vực bấtđộng sản (BĐS) Dư nợ cho khu vực này vay chiếm dưới 16% nhưng các tài sản thế chấpbằng BĐS cho các khoản vay khác nhau chiếm tới 60-80% tổng giá trị tài sản thế chấp.Khi thị trường BĐS suy giảm, những khoản nợ xấu, nợ quá hạn được thế chấp bởi BĐSsẽ rất khó thanh lý Việc thanh lý mạnh các tài sản thế chấp sẽ tiếp tục khiến giá BĐSgiảm thêm và càng làm trầm trọng thêm tình hình nợ xấu của nền kinh tế Chính đặc điểmnày khiến cho công tác xử lý nợ xấu của các DN sẽ gặp nhiều trở ngại hơn trong bối cảnhhiện nay

Theo số lượng được cung cấp bởi kiểm toán nhà nước :

Trang 13

B Nguyên nhân khiến nợ xấu của DNNN tăng cao

Thứ nhất, tổ chức, nhân sự và biện pháp quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại cònnhiều hạn chế, chỉ có khoảng 40% ngân hàng thương mại tiếp cận được chuẩn quốc tế(Basel 3);

Thứ hai, chạy đua tăng trưởng tín dụng diễn ra trong thời gian dài, luôn trên 20%, thậmchí lên tới 51,39% (năm 2007), cùng với việc nới lỏng điều kiện cho vay khiến nợ xấutăng cao;

Thứ ba, tác động của kinh tế thế giới phục hồi chậm và kinh tế trong nước tăng trưởngchậm lại làm cho DN gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, hàng tồn kho tăng cao,không còn khả năng trả nợ ngân hàng Đối với khu vực DNNN có nợ xấu nhiều là do khuvực này được hưởng những ưu đãi về tín dụng nên các DNNN có xu hướng sử dụng đònbẩy tài chính nhiều hơn các DNkhu vực khác Tuy tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu củaDNNN có xu hướng giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn ở mức 2,52 lần vào năm

2009, cao hơn nhiều so với mức 1,78 lần của khu vực tư nhân và 1,39 lần của khu vựcvốn FDI Các DNNN trung ương thậm chí có tỷ lệ này cao hơn, lên tới 3,53 lần

Thứ tư, sở hữu chéo, đầu tư ngoài ngành của các ngân hàng và DNNN diễn ra phổ biến

đã dẫn tới các khoản cho vay, đầu tư lòng vòng, bất chấp quy định, gây hậu quả nghiêmtrọng;

Thứ năm, một số cán bộ ngân hàng suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cấu kết, móc ngoặcvới DN để trục lợi cá nhân và cho vay không đúng quy định;

Thứ sáu, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát còn hạn chế, nhất là không kịp thời pháthiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và đầu tư một sốlĩnh vực rủi ro cao

C Giải pháp xử lý nợ xấu tại DNNN

Ngày đăng: 30/11/2014, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w