Giữa cuộc đờỡ đầy náo động, đầy bon chen, xã hội phức tạp, con ngườitìm đến nhạc Trịnh để suy ngẫm về kiếp người, về những nỗi khổ của đời người,truy tìm căn nguyên của mọi khổ đau, bế t
Trang 1Đề tài: "Tứ diệu đế" của Phật giáo trong các ca khúc Trịnh Công Sơn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, hiện đại, tình trạng lệch chuẩn và thiếunghiêm túc trong nghệ thuật nói chung, trong âm nhạc nói riêng ở Việt Namhiện nay là vấn đề đang được các nhà văn hoá hết sức quan tâm và tìm cáchgiải quyết
Cuộc sống xô bồ, con người sống gấp gáp, vội vàng và quay cuồng vìmưu sinh, vì đồng tiền, khoảng cách giữa các cá nhân ngày càng xa Những lúclắng lòng, chúng ta tìm đến nhạc Trịnh như một sự chiêm nghiệm, như tìm lạichính mình giữa dòng đời xuôi ngược
Giữa cuộc đờỡ đầy náo động, đầy bon chen, xã hội phức tạp, con ngườitìm đến nhạc Trịnh để suy ngẫm về kiếp người, về những nỗi khổ của đời người,truy tìm căn nguyên của mọi khổ đau, bế tắc và tự tìm ra con đường vượt quakhó khăn cho chính mình, hướng đến hạnh phúc, bình yên trong tâm hồn nhưtìm sự an ủi, chở che, nâng đỡ nơi Đức Phật Âm nhạc Trịnh Công Sơn là khobáu của những giá trị Chân - Thiện - Mỹ đã được công luận yêu mến từ những
ca khúc đầu tiên của nửa thế kỷ trước
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trịnh Công Sơn là một hiện tượng hiếm gặp Âm nhạc của ụng đó có ảnhhưởng đến đời sống văn hoá - tinh thần người Việt Nam Thời kỳ Trịnh CôngSơn còn sống, trước năm 1975 có vài tờ báo viết về hiện tượng nhạc Trịnh CôngSơn với những nhận định chung về thiên tài âm nhạc của Trịnh Các bài viết đócho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về âm nhạc Trịnh Công Sơn trong bối cảnh xãhội chiến tranh loạn lạc, không có bài viết nào nghiên cứu sâu về ca từ TrịnhCông Sơn Năm 1991, một luận văn cao học viết về nhạc của ông do cô Yoshii
Michiko người Nhật nghiên cứu với đề tài Những bài hát nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, viết bằng tiếng Pháp chứng minh các bài hát của Trịnh Công
Sơn là kiệt tác âm nhạc Sau khi nhạc sĩ qua đời thì rất nhiều các bài báo, nhiềutác phẩm của nhiều tác giả ra đời viết về cuộc đời, âm nhạc của ông
Trang 2Cuốn sách ra đời đầu tiên viết về người nhạc sĩ tài hoa quá cố là cuốn
Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo,
Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn; sau đó được bổ sung,
biên soạn lại và xuất bản lại với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (2004) Tiếp
theo, lần lượt các cuốn khác được phát hành của các tác giả khác như Bửu Ý,Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuõn… Tại nước ngoài, bạn bè của ôngcũng có nhiều bài viết dành cho âm nhạc của ông Nhiều trang web tập hợp các
hình ảnh, bài hát, đĩa nhạc, bài viết, phê bình, thủ bút của ông như suutap.com tại Mĩ và tcs-home.org Triết học Phật giáo cũng đã được đề cập trong âm nhạc của ông như Cái chết, Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn (2007) của John C Schafer (talawas.org); (tcs-home.org), tóm lược lại từ
văn bản tiếng Anh rất đồ sộ
Trên cơ sở tiếp thu kết qủa nghiên cứu của các công trình đi trước, các bàibáo, bài viết khác nhau về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đặc biệt về ảnh hưởng củatriết học Phật giáo đối với âm nhạc của ông, đề tài này sẽ hệ thống lại và mở ramột hướng tiếp cận về nhân sinh quan Phật giáo trong các ca khúc của ông với
nội dung là Tứ diệu đế - hạt nhân của triết học Phật giáo Đề tài muốn góp phần
khẳng định giá trị nội dung các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn, qua đókhắc sâu hơn những tri thức về nhân sinh của triết học Phật giáo trong dòngchảy chung của triết học nhân loại
về triết học Phật giáo trong hệ thống tri thức người nghiên cứu đó tớch luỹ
Trên cơ sở những kết quả của đề tài, người nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu
và nghiờn cứu về triết học Phật giáo trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn vànhững đóng góp khác của Trịnh Công Sơn đối với đời sống văn hoá - tinh thầndân tộc, đối với nền âm nhạc nước nhà
Trang 34 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ "Tứ diệu đế" của Phật giáo trong các ca khúc Trịnh Công Sơn.Làm sáng tỏ ảnh hưởng của tư tưởng đó đến đời sống văn hoá - tinh thầnngười Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu
Các ca khúc trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác Lờnin
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phân tích tài liệu
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đúng góp khoa học vào việc nghiên cứu các ca khúc của nhạc sĩTrịnh Công Sơn
Đề tài cũng khích lệ tinh thần ham học hỏi, độc lập, sáng tạo trong phẩmchất người nghiên cứu
Trang 4Năm 1943, khi ụng lờn bốn, gia đình về lại Huế, ở tại vùng Bến Ngự, mộtvùng đất xanh tươi, bên dòng sông An Cựu, nơi có nhiều chùa chiền, lăng tẩm.Tiếng chuông chùa và lời cầu kinh thấm vào hồn ông từ tuổi thơ Điều đó giúpchúng ta hiểu vì sao những ca từ của ông về sau mang đậm dấu ấn Thiền, Phật
và giàu chất Huế Khi ông được tám tuổi, gia đình ụng cú cửa hàng buôn bán xeđạp và xe máy tại Sài Gòn Ông thường xuyên ra vào Huế - Sài Gòn Lên trunghọc, Trịnh Công Sơn học ở Huế là trường Lycộe Francais, rồi đổi sang trườngProvidence, rồi theo học ban Triết tại trường Chasseloup - Laubat, Sài Gòn.Điều đó chứng tỏ ông là một trong những trí thức thấm nhuần văn hoỏ Phỏpngay từ khi còn rất trẻ, phần nào lý giải ảnh hưởng nền triết học phương Tâyhiện đại như Albert Camus, J.P.Sartre… lên cuộc sống tâm thức ông Người cócông rất lớn trong việc đem triết học phương Tây hiện đại vào Việt Nam gâyảnh hưởng và ấn tượng đối với thanh niên miền Nam Việt Nam những năm 50của thế kỷ trước là giáo sư Nguyễn Văn Trung du học từ Bỉ về
Năm 1955, khi ông 15 tuổi, cha ông bị tai nạn giao thông qua đời Cái chếtđột ngột thảm khốc của người cha là cú sốc đầu đời, ám ảnh ông thường trực Từđấy, ụng luôn suy nghĩ về sự sống và cái chết Năm 1957, Trịnh Công Sơn 18tuổi, một tai nạn bất ngờ đã làm thay đổi cuộc đời ông Lúc ấy, nhạc sĩ đangtheo học trung học, vào một ngày khi đang tập judo với người em trai, ông bị
Trang 5thương nặng ở ngực và phải nằm liệt giường gần hai năm ở Huế Trong thờigian nằm dưỡng bệnh, ông có nhiều thời giờ rảnh rỗi, suy nghĩ về kiếp người,cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên Để khuây khoả nỗi buồn, ông đọcApollinaire, Marcel Pagnol, Jacques Prộvẻt, Jean-Paul Satre… Ông đặc biệt yêu
thích những tác phẩm của Albert Camus, Truyện Kiều của Nguyễn Du và triết
lý Phật giáo Ông không chỉ tiếp cận với văn học, thi ca mà còn tìm hiểu dân caViệt Nam, âm nhạc của người da đen: blues, gospel… Trịnh Công Sơn quyết
định chơi đàn guitare và bắt đầu sáng tác Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏi giường bệnh, trong tụi đó cú một niềm đam mê khác - âm nhạc Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điiờự mơ ước, khát khao đú đó ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy" (Theo Sâm Thưong).
Tai nạn trên là một cái rủi ro cho ông về thể xác nhưng là một cái may cho nền
âm nhạc Việt Nam Nếu như không có khúc quanh bất ngờ này, có lẽ ụng đótiếp tục chơi thể thao, đi học tiếp và biết đõu đã trở thành một bác sĩ, kĩ sư… vàlịch sử Việt Nam sẽ không có được một nhạc sĩ tài hoa như vậy Ca khúc được
in đầu tiên của Trịnh Công Sơn là bài Ướt mi sáng tác vào năm 1958 và công bố
năm 1959 Sau đó, đầu thập niên 60 là thời kỳ Trịnh Công Sơn sáng tác nhiềubản nhạc tình và đã trở thành những kiệt tác ca khúc Việt Nam
Những năm 1962 - 1964, chiến tranh diiễn ra ác liệt, thanh niên động viên
đi lính Để hoãn quân dịch, Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạmQuy Nhơn, trường mới thành lập và đây là thời khoá hai năm Nơi thành phốbiên hiền hoà, yên tĩnh này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác những tình ca nổi tiếng
như Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Vết lăn trầm, Dã tràng ca, Cát bụi… Những tình ca của Trịnh Công Sơn đã tạo
sự kinh ngạc cho mọi người thời đó, khi cả miền Nam vẫn quen dòng nhạc tiền
chiến sướt mướt với Biệt ly của Doãn Mẫn, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, Bóng chiều xưa của Dương Thiệu Tước,… Những hình ảnh của Trịnh Công Sơn
mang đậm nét siêu thực, với những ca từ lạ hoá hình ảnh đời thường, đã đánh
thức cả một thế hệ Lạ từ nhan đề tới hình ảnh tân kỳ trong lời ca như: Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Lời buồn thánh… Rồi những hình ảnh mắt xanh xao, hồn xanh buốt, hai bàn tay đói, bàn tay chăn gió mưa… rất độc đáo, mang nhiều
màu sắc mới lạ, gây sự chú ý và chinh phục người nghe
Trang 61.1.2 Thời "phản chiến" (1964-1975)
Năm 1964, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, ông được điềulên Bảo Lộc dạy học Trong thời gian này, cuộc chiến ở nước ta đang trong giaiđoạn ác liệt Năm 1965, quân đội Mỹ đã đổ bộ mạnh mẽ lên miền Nam ViệtNam Phong trào đấu tranh của Phật giáo và sinh viên dâng cao Giai đoạn 1965
- 1972, "nhạc phản chiến" trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong các sáng táccủa Trịnh Công Sơn Ông bắt đầu sáng tác những ca khúc về thân phận conngười trong chiến tranh, nói lên cuộc sống đầy khổ đau, bất hạnh của nhân dân.Khi có lệnh Tổng động viên Toàn quốc, không thể trốn mãi, ông bắt buộc tìmcách làm cho mình không đủ sức khoẻ để đi lính Hàng ngày, ông phải nhịn ăn,uống thêm điamox, một thứ thuốc rút bớt nước trong cơ thể làm cho sút trọnglượng cơ thể nhanh Ông đã "thành công" khi tự huỷ hoại cơ thể mình với trọnglượng cơ thể không đủ đi lính Trốn lính như một cái "nghề" đầy tính chất phiêulưu của thanh niên miền Nam lúc bấy giờ, trong số đú cú Trịnh Công Sơn Thái
độ trốn tránh ấy chứng tỏ quyết tâm không tham chiến của ông, ông từ chốichiến tranh và phản đối nó Dường như không khí thời đại đã thôi thỳc ụngtrong việc sáng tác và một gặp gỡ định mệnh giữa ông với ca sĩ Khánh Ly vàonăm 1965 tại Đà Lạt, người thể hiện rất thành công những nhạc phẩm của ông
và đã làm nên tên tuổi cả hai từ đó
Vào cuối năm 1966, buổi ra mắt đầu tiên của ông trước công chúng SàiGòn là khoảnh sân sau trường Đại học Văn khoa, với hàng ngàn sinh viên và tríthức Các tác phẩm của ụng đó làm thức tỉnh, say đắm hàng ngàn khán giả Tácphẩm đã hoà nhập vào công chúng và là tiếng lòng của công chúng Trịnh CôngSơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng và trở thành một thần tượng của lớptrẻ lúc bấy giờ Hình ảnh Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thường đi hát cộngđồng, nghĩa là hát không công, không lấy thù lao, chủ yếu là cho thớnh giả trẻtại các giảng đường, trường học đã tạo ra một hình ảnh lý tưởng trong nghệthuật, nhất là nghệ thuật ca hát - mang theo lý tưởng nhân đạo và tình yêu thểhiện sự dấn thân của người nghệ sĩ Trong khi đó, các ca sĩ khỏc hỏt để kiếmtiền Năm 1969, nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nổi tiếng khắp thế giới,ông được xem là một Bob Dylan (nhạc sĩ phản chiến số một ở Mỹ) của Việt
Trang 7Nam Trịnh Công Sơn từ đó trở thành thần tượng - Kẻ du ca bất khuất - trên đất
nước đầy bom đạn
1.1.3 Những năm đầu hoà bình (1975-1990)
Tháng 4 năm 1975, chiến tranh chấm dứt, ông là người đầu tiên lên Đài
Phát thanh Sài Gũn hỏt vang bài Nối vòng tay lớn, một bài hát nói lên niềm khao
khát hoà bình, thống nhất Uớc mơ hoà hợp dân tộc hai miền Nam - Bắc đượcông viết từ năm 1968 Ngày 30 tháng 4, người thân ông ra đi, bạn bè ông ra đi,Khánh Ly đã rời xa đất nước ễng ở lại bởi vì đó là lụgic của một con người ước
mơ được nhìn thấy ngày hoà bình thống nhất trên quê hương Trước ngày 30tháng 4 năm 1975 có nhiều lời mời đưa ông ra nước ngoài của các hãng thông
tấn quốc tế Ông nói: "Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác Ở nước ngoài tụi khụng nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình, tụi không nghe được câu thơ tôi viết ra Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy".
Thời kỳ sau năm 1975, với không khí chính trị còn tả khuynh trong chínhquyền mới, ông bị coi là một nghệ sĩ của chế độ "mục nát" của miền Nam Đểthoát khỏi không khí nghi kị của Sài Gòn lúc ấy, Trịnh Công Sơn về Huế Thếnhưng, thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào "Vệ binh đỏ" củaTrung Quốc đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to mang dòng chữ
xanh: Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn trước trường Đại
học Sư phạm Huế Ông sững sờ và câm lặng, về quê hương ông lại bị gạt ra
ngoài như vậy Và, cuộc toạ đàm luận tội Trịnh Công Sơn có công hay có tội tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế, có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa
Điềm, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Viết Ngạc… Có ngườilên án nhưng cũng có người bảo vệ Xấp tài liệu đăng lệnh của cựu Tổng thốngThiệu cấm phổ biến nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số 33ngày 8 tháng 2 năm 1969 đã có sức thuyết phục lớn đối với những người tham
dự toạ đàm, sau cuộc toạ đàm, Trịnh Công Sơn phải viết bản kiểm điểm, nhữngbản kiểm điểm "nói không đúng vấn đề" thường bị viết lại Trịnh Công Sơnchưa quen lối sinh hoạt ấy nên rất đau khổ, chán chường
Trong thời hậu chiến, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác,Trịnh Công Sơn cũng được đưa đi lao động sản xuất trên những cánh đồng
Trang 8đầy bom đạn chưa tháo gỡ Thời gian này, ông không thể sáng tác được, làmsao một người làm tình ca mang tính triết lý trừu tượng nổi tiếng lại một sớmmột chiều có thể chuyển mạch bắt sáng tác theo hướng hiện thực xã hội chủnghĩa Bên cạnh thực tế ấy, Trịnh Công Sơn lại không đủ sức chống đỡ nhữngthế lực khác kèn cựa tài năng của mình Hiểu được bi kịch của ông, biết rõ tàinăng, nhân cách của người nhạc sĩ tài hoa này, một nhà lãnh đạo nổi tiếng ởphía Nam đó dỏnh tiếng gọi ông vào Sài Gòn Năm 1979, Trịnh Công Sơn từgiã Huế vào Sài Gòn Từ những năm 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác
lại Tác phẩm của ông sau chiến tranh có những bài nổi tiếng như: Chiều trên quê hương tôi, Em còn nhớ hay em đó quờn, Huyền thoại mẹ, Hà Nội mùa thu, Tiến thoái lưỡng nan, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Lặng lẽ nơi này, Xin trả nợ người, Lời thiên thu gọi… Những sáng tác này thường là tình ca, không có
bài hát nào liên quan đến chiến tranh, chủ yếu là các tác phẩm viết cho cácphim Những tác phẩm sau này thường viết về thân phận con người, kiếpngười trong cõi tạm mang đậm chất Thiền
Năm 1983, Trịnh Công Sơn định lập gia đình nhưng không thành Tháng
5 năm 1985, Trịnh Công Sơn sang thăm Moskva Năm 1989, ông sang Pháptheo lời mời của nhà Việt Nam tại Paris Tại đây, ngoài những bài thân thuộcvới khán giả, ông và Thanh Hải từ Đức sang, hát một loạt bài trong giai đoạn
1972 - 1975 nhưng chưa được phổ biến rộng rãi và thêm một số bài mới viếtsau 1975 mà tại Paris ít người biết tới Ông đã gặp Khánh Ly tại Paris sau 14năm xa cách
1.1.4 Những năm sau ngày đất nước đổi mới đến khi nhạc sĩ qua đời
Năm 1990, Trịnh Công Sơn có ý định cưới vợ lần nữa nhưng vẫn khôngthành và trong tình yêu ông vẫn là chàng lãng tử cô độc " từng người tình bỏ ta
đi như những dòng sông nhỏ"… cho đến cuối đời Năm 1992, sau khi mẹ mất,ông suy sụp hoàn toàn, ông sang Canada thăm những người em để mong tìmthấy chút hơi ấm tỡnh thõn Trịnh Công Sơn đã viết: "Khi một người mất mẹ ởtuổi 50 điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được Cái sa mạc để lạitrong lòng bạn cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như mộtcánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn" Những năm 90 sau thời kỳđổi mới của đất nước, nhạc của ông lại được hát rất nhiều trong các chương trình
Trang 9ca nhạc, chủ yếu là những bản tình ca Những bài hát phản chiến của ông vẫncấm được lưu hành Cuối năm 1998, sau 35 năm ra trường, lần đầu tiên ông trởlại trường Sư phạm Quy Nhơn nhân dịp thành phố Quy Nhơn tổ chức Bình Định
400 năm tuổi Cùng đi lúc ấy với ụng cú cỏc nhạc sĩ trong nhóm "Những ngườibạn" như Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thiện,Nguyễn Văn Hiên… Đó là một đêm đầy cảm động Hội trường Đại học QuyNhơn đông người, sinh viên Đại học Quy Nhơn đún ụng như đón một người anhtrai lâu ngày trở về
Festival Huế 2000 là một sự kiện văn hoá của cả nước Trong Nhật ký Huế ông viết: "Tháng tư năm nay ở Huế có tổ chức Festival 2000… cuối cùng tôi cũng đến Huế trong những ngày nằm giữa bề dài của cuộc Festival… vỡ tôi là thằng con của Huế… Khi bạn có một xứ sở trở về hoặc là thỉnh thoảng trở về thì bạn có hạnh phúc nhiều lắm!" Trở lại Sài Gòn, ông ngã bệnh phải đưa vào
bệnh viện, sức khoẻ giảm sút rõ rệt Ca khúc cuối cùng ông sáng tác trên giường
bệnh là ca khúc Biển nghìn thu ở lại Và ngày 01 tháng 4 năm 2001, Trịnh Công Sơn đã qua đời "Con chim nhỏ hát trên đầu ngọn lau" không còn nữa, vết chim
hạc để lại trên cõi trần 62 năm Cái chết của Trịnh Công Sơn làm chấn dộngnhững người dân Việt cả trong và ngoài nước Hàng triệu trái tim lặng lẽ khócthương, hàng ngàn người đi sau linh cữu ông, chưa có một đám tang nào mà mọingười lại yêu thương nhau đến vậy, tất cả cùng nắm tay và hát trong nước mắt
bài Cát bụi và Một cõi đi về theo tiếng kèn thống thiết của Trần Mạnh Tuấn.
Người đời tinh lắm, Trịnh Công Sơn đã cho cuộc đời trái tim ông, ngày ông mấtngười đời đã cho lại ông tất cả
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Số lượng nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn khoảng hơn 600 tác phẩm đượcphân loại dưới ba đề mục lớn là: Tình yêu lứa đôi - Nhạc phản chiến - Thânphận con ngưũi
Quan niệm sáng tác của ông là một triết lý: "Tôi chỉ là tên hát rong đi quamiền đất này để hỏt lờn những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo".Gỉải thưởng, giá trị ca khúc của ụng đó đạt được to lớn Nhiều ca khúc
được dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Nhật… Năm 1970, ở Nhật Bản, bài Diễm xưa được tuyển vào vòng chung kết những bài hát hay của nước ngoài và bài Ca
Trang 10dao mẹ được giải Đĩa vàng và bán được hai triệu bản Tiếp theo thành công này,
vào năm 1972, Mainichi Broadcasting đã đề nghị Trịnh Công Sơn sáng tác mộtbài hát đặc biệt dành tặng cho Hiroshima và Nagasaki và Trịnh đã sáng tác ca
khúc Như tiếng thở dài Nhạc Trịnh đặc biệt được người Nhật yêu thích vì
những giai điệu bài hát của ông như những lời ru rất gần gũi, quen thuộc với
người Nhật Năm 1980, ca khúc Diễm xưa và bản dịch Utsukushii Mukashi được
đài truyền hình lớn nhất ở Nhật Bản chọn làm nhạc phẩm chính cho một bộphim nội dung trình bày những khác biệt văn hoá giữa một người Nhật có vợ
Việt Nam Tháng 7 năm 2004, Diễm xưa trở thành nhạc phẩm châu Á đầu tiên
được Viện Đại học Kansai Gakuin đưa vào chương trình giáo dục của Việntrong một bộ môn Văn hoá và Âm nhạc
Năm 2004, "Giải thưởng Âm nhạc hoà bình thế giới " (WPMA) được traocho Trịnh Công Sơn vì một lý tưởng hoà bình mà ụng đó đấu tranh không mệt
mỏi cho hạnh phúc của nhân loại Tờn ông được ghi trong bộ bách khoa Le Million của Pháp (tập 8 trang 122, Genốve 1973).
Trang 11CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA "TỨ DIỆU ĐẾ"
2.1 Nhân sinh quan Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
2.1.1 Thuyết luân hồi
Nghiệp báo luân hồi trong Phật giáo là khái nệm dùng để chỉ sự chuyểnsinh vô tận của đời sống Trong vòng bánh xe sinh tử đó, kiếp sau sẽ gặt háinhững hậu quả của kiếp trước rồi để lại gieo nhân cho những kiếp sống kế tiếp.Bức tranh hậu kiếp được hình thành từ những nét vẽ tiền kiếp
Trong lịch sử nhân loại, tư tưởng nghiệp báo luân hồi đã được đề cập tới ởnhững mức độ khác nhau, đặc biệt là tư tưởng về luân hồi tái sinh Sự mongmanh, bất ổn của đời sống đã nảy sinh ở con người nỗi sợ hãi và khát vọngtrường tồn bất diệt Không chấp nhận cái chết là đặt dấu chấm hết cho tất cả, conngười tìm cách nối dài cuộc đời bằng tư tưởng tái sinh sau khi chết Khác vớicác quan niệm, Phật giáo không thừa nhận có linh hồn bất tử song lại thừa nhận
có nghiệp báo luân hồi, nghiệp gắn bó với đời sống, chi phố đời sống, nghiệptheo con người như bóng với hình Người ta gieo nhân nào thì gặt quả ấy, làmđiều lành thì được quả tốt, làm điều ác thì gặt quả xấu, Sức mạnh của nghiệp chiphối con người bề ngoài tưởng rất tự do Nghiệp mang tính chất công bằng tuyệtđối vỡ nú khụng chừa một ai Nói đến luân hồi là nói đến vòng quay của mườihai nhân duyên qua ba đời mà sức đẩy của vòng quay đó là năng lượng củanghiệp Dù sống thiện hay sống ỏc thỡ con người vẫn không thể thoát ra khỏivòng quay ấy nếu vẫn còn ảo tưởng vào sự trường tồn của cái ngã cá nhân biệtlập Tình yêu cuộc sống, sự tha thiết đối với bản thân khiến con người khôngthoát khỏi ý chí về sự trở thành hay lòng ham muốn tiếp tục sinh thành Bởi thế
họ mãi trôi nổi trong vòng sinh tử luân hồi để gánh những hậu quả đã tạo ra từkiếp trước để rồi lại tạo nhân cho một kiếp sống tiếp theo
Nhiều ca khúc của Trịnh Công Sơn thể hiện được tư tưởng đó của nhà Phật,muôn vật được tái sinh làm kiếp khác, tuỳ theo nghiệp của mỗi cá thể ở kiếphiện tại Trong những bài hát của mình, Trịnh Công Sơn như muốn nhắc đếnmột cõu rất phổ thông trong Phật giáo: "Hiện tại là chiếc bóng của quá khứ,tương lai là chiếc bóng của hiện tại"1 Cao Huy Thuần cho rằng Trịnh Công Sơn
Trang 12như vừa đứng ở hiện tại vừa linh cảm cùng trong một lúc quá khứ và tương lai.Anh như thấy tiền kiếp rộo tên và cái chết vẫy gọi"2
Trong ca khúc "Cát bụi", ông tự hỏi:
"Hạt bụi nào hoá kiếp thõn tụi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoàiTiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi
Bao nhiêu năm làm kiếp con ngườiChợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầyCho trăm năm vào chết một ngày"
Cát bụi là điểm xuất phát rồi lại trở về với cát bụi chở che, cuộc đời trải quabao thăng trầm, sóng gió, đến một ngày bước chân như đã mỏi mệt, kiếp sốngtrần gian như quán trọ, đến một ngày lỏ trờn cõy đó úa vàng, tóc con người đãbạc trắng, nghĩa là ở tuổi đã xế chiều nên con người tìm về một chốn bình yên,trở về điểm khởi đầu, trở về với tạo hoá thiên nhiên để xoá đi mọi bỏm vớu củatrần gian, kiếp ngưũi
Trong những bài hát khác, sự ám chỉ về sự tái sinh phần nào đó giántiếp hơn:
" Dưới ngọn đèn một bóng chim quaGiữa đường đi một người đứng gọi
Có biết gì về ngày chưa tới
Những ngày ngồi rủ tóc âm uNghe tiền thân về chào tiếng lạNhững mai hồng ngồi nhớ thiên thu"
(Cỏ xót xa đưa - 1969)
"Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô
Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa
Trang 13Rừng thu lá úa em vẫn chưa về Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ.
Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi
Ta thấy em đang ngồi hát khi rừng về nhiều mâyRừng thu thay lá mưa bay buồn rầu
Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào"
(Rừng xưa đó khộp - 1972)
"Về ngồi trong những ngàyNhìn từng hôm nắng ngờiNhìn từng khi mưa bay
Có những ai xa đời quay về lại
Về lại nơi cuối trờiLàm mây trôi
Thôi về đi Đường trần đâu có gìTóc xanh mấy mùa
Có nhiều khi
Từ vườn khuya bước vềBàn chân ai rất nhẹTựa hồn những năm xưa"
" Cú điều gì gần như niềm tuyệt vọng
Trang 14Sông bao lần sụng đó ra điNhững ngàn xưa trôi đến bây giờ Sông ra đi hay mới bước về".
(Gần như niềm tuyệt vọng - 1973)
Khi nói về cái chết, Trịnh Công Sơn hay xoá nhoà giữa đi và về vì trongPhật giáo cuộc hành trình từ cái sống đến cái chết ví như dòng nước, nó là mộtquá trình luân chuyển nhẹ nhàng, khác với triết học phương Tây, nói như RenộMuller: "Từ sống đến chết là một sự gián đoạn cay độc" Và ông nói thêm rằngđiều nay cũng đúng với ngay cả "những tín đồ Thiên chúa vốn có niềm tin vàođời sau và sự sống muôn đời"1 Phật giáo dạy ta về cái chết với một thái độ khác.Các Phật tử tin rằng "không có một cá thể, một linh hồn hay một cái tôi vĩnh cửunào ngoài quá trình biến chuyển không ngừng của tinh thần và vật chất, cải tạonên sự tồn tại của chúng ta"2 Tuy vậy, theo lời dạy của Phật, một chút gì đótrong một sinh vật khi chết đi sẽ được tồn tại trong sinh vật đó sau khi tái sinh.Harvey giải thích như sau:
Mỗi con người trước tái sinh không giống và cũng khụng khác con ngườisau tái sinh "Con người đó sẽ không giữ hoàn toàn bản tính cũ và cũng khôngkhác hoàn toàn bản tính cũ"3 Không có một thực thể nào đi từ kiếp này sangkiếp khác mà không thay đổi nhưng cái chết của một thực thể này dẫn đến cáisống của một thực thể khác, giống như thắp một ngọn nến này đến một ngọn nếnkhác42 Người "kiếp trước" và người "kiếp sau" kết nối với nhau bởi dòng xoỏycủa ý thức và luật nhân quả nên đặc tính của một kiếp này bắt nguồn từ nhữngđặc tính của "kiếp khác"
Mỗi con người trong vòng sinh - tử - tái - sinh giữ được một số khía cạnhcủa tiền kiếp khi tái sinh thì quá trình nỏy cú cả sự ra đi và sự trở về - "một cõi
đi về" như Trịnh Công Sơn đã đặt tựa đề cho một bài hát nổi tiếng của ông
"Mây che trên đầu và nắng trên vaiĐụi chân ta đi sông còn ở lại
1 Xem René Mulle, Beyond Marginality; Constructing a self in the twilight of western culture
(Westport, CT:Praeger, 1998), 121
2 Xem Thích Thiên Ân, Zenphilosophya, 84.
23 Harvey trích dẫn từ Di Lan Đà Vấn Đạo, một đoạn đối thoại giữa Di Lan Đà, một vị vua Hi Lạp cai trị đế quốc Ân - Hy Lạp vào những năm cuối thế kỉ thứ hai trước Công nguyên và một vị sư tên Na Tiên Di Lan Đà Vấn Đạo là một quyền quan trọng của tín lý Phật giáo, đặc biệt là nhánh Theravada (Tiểu Thừa) Để biết thêm về giáo lí Phật liên quan đến vấn đề tái sinh, xem thêm Thích Thiên Ân,
"The matter of soul in buddhism", trong cuốn Zenphilosophya, 165-170 Giải thích về tái sinh, Thích Thiên Ân cũng nói đến Di Lan Đà Vấn Đạo và hinh ảnh ngọn đèn
4 Harvey, Introduction to Buddhism, 58
Trang 15Con tim yêu thương vô tình chợt gọiLại thấy trong ta hiện bóng con người".
Trong ca khúc "Ngẫu nhiên", Trịnh Công Sơn cho rằng không thể phântách giữa ra đi và trở về Ở đây, chúng ta có lẽ cũng thấy quan niệm của Phậtgiáo là con người không thể biết được vòng tái sinh bắt đầu từ đâu và bao giờ sẽkết thúc:
"Không có đâu em này, không có cái chết đầu tiên
Và có đâu bao giờ, đâu có cái chết sau cùng
Tự mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta ………
Mệt quỏ thõn ta này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơiMệt quỏ thõn ta này, nằm xuống với đất muôn đờiKỡa còn biết bao người, dìu dặt tới quanh đây"
(Ngẫu nhiên - 1972)
Bởi vì không có sự khởi đầu hay kết thúc rõ ràng của vòng tái sinh nêncũng rất khó phân biệt giữa ra đi và trở về Vua Trần Nhõn Tụng (1279-1293),một Phật tử đã viết bài thơ trong di chúc:
"Hết thảy phỏp khụng sinhHết thảy phỏp khụng diệtNếu hay hiểu như vậyChư Phật thường trước mặtĐến đi sao cú đõy"1
Trong âm nhạc Trịnh Công Sơn đó cú sự hoà trộn giữa ra đi và trở về, nhưgiữa "sắc" và "không", đó là sự dung nạp, hài hoà của những mặt đối nghịch,vừa thống nhõt, vừa đấu tranh đối lập và chúng quy định ràng buộc chi phối lẫnnhau Sự ra đi và trở về, sự luân hồi như một lẽ tất nhiên của đời người Trên đại
lộ lớn của cuộc đời, Trịnh Công Sơn đó giỳp cho con người thấy được thân phậncon người mình, ai cũng phải ra đi theo quy luật, con người hiểu được mình là aitrên cõi đời này và nhạc của ụng giỳp ta nhìn thấy giá trị thực trên cõi đời, điểmdừng chân là trở về hoá kiếp và khụng buụng xuôi cuộc sống
2.1.2 Tứ diệu đế (hạt nhân của triết học Phật giáo)
Trang 16Tư tưởng của Phật giáo nguyên thuỷ được hiểu là những lời Thích Cathuyết pháp trong 45 năm kể từ khi thành đạo cho đến khi ông mất Về sau này,
có một số dị biệt trong quan niệm của hai trường phái Tiểu thừa và Đại thừasong về cơ bản hai trường phái này vẫn dựa trên cơ sở những tư tưởng trọng yếu
của Phật giáo nguyên thuỷ mà nền tảng là Tứ diệu đế (Tứ đế, Tứ thánh đế) với
bốn nội dung:
1 Đời người là khổ (Khổ đế)
2 Nguyên nhân nỗi khổ (Tập đế)
3 Phương châm diệt khổ (Diệt đế)
4 Con đường, biện pháp diệt khổ (Đạo đế)Đây là phát hiện căn bản của Thích Ca, đặt nền móng cho tất cả các trườngphái Phật giáo sau này khi bàn về giải thoát Tư tưỏng nhà Phật về kiếp nhânsinh sớm thấm sâu vào tâm hồn từ thuở nhỏ nên tư tưởng đi vào các ca khúc của
ông và trong đó Tứ diệu đế là một phần không thể không nhắc đến.
2.2 Tứ diệu đế của Phật giáo trong các ca khúc Trịnh Công Sơn
Khổ đế là chân lý nói về sự khổ Đây là quan điểm của Phật giáo về bản chất của nhân sinh Theo Phật giáo, con người phải tìm giải thoát bởi vì cuộc đời là bể khổ: "Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới tích lại còn nhiều
hơn nước ngoài bốn bể"1, nỗi khổ nhiều hơn cỏt sụng Hằng (hằng hà sa số), áo
cà sa tượng trưng cho vô lượng nỗi khổ Nỗi khổ khiến con người khắc khoảitìm giải thoát Bi kịch cuộc đời được Thích Ca đúc kết thành tám nỗi khổ trong
bài thuyết pháp đầu tiên với năm đệ tử ở thành Benares: "Thế nào là biết như thật về khổ? Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, lão khổ, tử khổ, oán tăng hội khổ, ái biệt ly khổ, thủ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ, nói tóm lại 5 ấm xí thạnh là khổ" 2
Trong các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn, chúng ta thấy được nỗikhổ của con người qua giai điệu, ca từ nói lên từng cung bậc khổ đau Trước hết
là ngoại khổ con người khổ do chiến tranh, chiến tranh khiến bao người, bao gia
đình chìm trong tang thương li biệt, bao cảnh đời lầm than, con mất cha, vợ mất
chồng, mẹ già mất con… Mở đầu tập Ca khúc da vàng viết năm 1967, Trịnh
Trang 17Công Sơn bày tỏ nỗi đau thống thiết: "Tất cả đã bể, đã vỡ toang Tiếng thét đãchìm xuống biển thành tiếng nói trầm tư, thành lời kêu uất về thân phận ViệtNam Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên cùng khắp Ơi những bạn bèthân yêu đã chết từ vực thẳm hay đỉnh cao Con người đó hoỏ thõn làm vếtthương Cái chết hoỏ thõn làm biểu tượng vô nghĩa, đã biến hình đổi dạng từnhững cơn hiểm hoạ cay nghiệt nhất của nhân loại Lìa cha mẹ, anh em, bằnghữu yêu dấu vô cùng Hãy kết hoả châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ, đốt đuốc chongười điên ấm phố mùa đông Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ miềnTriết Giang đổ về bây giờ như thế đó Hỡi người yêu da vàng của tôi hãy duỗitay thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn Tôi sẽlàm người tiều phu đi nhặt từng cánh tay, từng bàn chân, từng đốt xương, sọngười vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng cho đêm tìm lại dấu vết của mộthành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau.Hãy thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó"1.
Trong ca khúc Gia tài của mẹ, Trịnh Công Sơn cho rằng đây là cuộc
chiến tranh mà trong đó:
"Một ngàn năm nô lệ giặc TàuMột trăm năm đô hộ giặc TâyHai mươi năm nội chiến từng ngàyGia tài của mẹ một rừng xương khôGia tài của mẹ một núi đầy mồ
……
Một ngàn năm nô lệ giặc TàuMột trăm năm đô hộ giặc TâyHai mươi năm nội chiến từng ngàyGia tài của mẹ ruộng đồng khô khanGia tài của mẹ ruộng cháy từng hàng"
(Gia tài của mẹ - 1965)
Với trái tim nhạy cảm và lòng nhân ái bao la, ông đã nói lên nỗi thống khổcủa con người trong chiến tranh, chiến tranh gieo bao chết chóc, huỷ hoại làng
quê, huỷ hoại những gì là thiêng liêng nhất Trong bài nói chuyện Trịnh Công
1 "Da vàng ca khúc", Trịnh Công Sơn
Trang 18Sơn vì hoà bình và tình yêu do Hội Văn hoỏ Trịnh Công Sơn tổ chức tại Paris đêm 3 - 5 - 2003, giáo sư Cao Huy Thuần đặt câu hỏi: "Có cái gì nổi bật trong nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn?" và khẳng định: "Chẳng có gì ngoài chữ tình" Nhạc chiến tranh của ông bắt nguồn từ tình yêu thương, nó là
những bài tự tình dân tộc, ông nói hộ cho thân phận khổ ải của kiếp người trongchiến tranh, là tiếng kêu thương tuyệt vọng của con người trong cảnh thịt nátxương tan
"ễi da vàng Việt Nam vỡ nátThịt xương đó thiêng liêng vô cùng"
khắp đất nước đầy tràn những xác người:
"Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh nàyBên xác người già yếu, cú xỏc cũn thơ ngâyXác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai
Xác người nằm bên nhau treo trên gầm cầu Trong góc nhà đổ nát dưới những hào thụng sõuXác người còn xương khô trong khắp bụi bờSau những hè phố vắng trên dốc đường mấp mô"
(Bài ca dành cho những xác người - 1968)
Điều bi thảm nhất là cùng là người Việt Nam nhưng lại bắn giết lẫn nhau.Trong thực tế hàng ngày, có khi họ là anh em, cha con, là người yêu nhưng vỡkhỏc chiến tuyến nờn nhìn nhau xa lạ và sẵn sàng hại nhau:
"Tôi có người yêu chết trận Chu ProngTôi có người yêu bỏ xác trôi sôngChết ngoài ruộng đồng, chết rừng mịt mùChết lạnh lùng, mỡnh cháy như than
………
Tôi có người yêu chết trận AsaoTôi có người yêu nằm chết còng queoChết vào lũng đốo, chết cạnh gầm cầuChết nghẹn ngào mỡnh khụng manh áo"
Trang 19(Tình ca người mất trí - 1967)
Trịnh Công Sơn cho rằng đó là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồngthuỷ Một cái chết không nằm trong dự tính của họ, họ bị những cơn hiểm hoạcay nghiệt nhất của nhân loại vô hình xô đẩy nhau vào mâu thuẫn, hận thù Nói
như Bửu Ý : "Chiến tranh diễn ra không phải ở chiến trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh… Giữa một nền trời như vậy, thân phận con người là một vấn nạn, ta nờn núi ngay: đây là một chủ đề tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý…" Theo Lê Thương, những bài ca nổi tiếng trong giai đoạn đó như Tình ca của người mất trí, Ca dao mẹ, Gia tài của mẹ, Đi tìm quê hương là những bài hát có ca từ rất buồn thảm, giai điệu blues dìu dặt, thở
than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối rồi bỗngnhiên nức nở gào thét thảm thiết Ông nói hộ những tâm hồn quá đau đớn, u uấtbởi sự giày xéo của chiến tranh Những con người đã bị tước hết quyền tự do,hạnh phúc… tất cả nỗi đau ấy đã được Trịnh Công Sơn nói lên với một tình yêuthương con người tha thiết tận đáy lòng Ông như nhìn thấu được những thảmcảnh mất mát trong chính trái tim mình:
"Chiều đi qua những bãi dâu, hỏt trên những xác ngườiTụi đã thấy, tụi đã thấy
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em"
(Hỏt trên những xác người - 1968) Chính nhạc sĩ đã từng viết: "Đã có điều gì không thật suốt hai mươi năm nay, một lầm lỡ đã lên đường và phải đi cho trót con đường máu xương Như một mũi tên vô tri bỗng lỗi thời trong một nhiệm kì vô định Chúng ta dù muốn,
dự không, được biến thành những mũi tên định hướng được bắn đi từ những đồ hình huy hoàng tưởng tượng và ngắn hạn Dân ta tàn phế hai mươi năm Nước mắt và mỏu đó làm thành những con suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo" 1
Chiến tranh là nguyên nhân bên ngoài, tác động bên ngoài khiến con ngườikhổ đau, con người muốn tìm một sự giải thoát khỏi sự khổ đau đó không còncách nào khác là cầm súng đứng lên đấu tranh :
"Nước Việt Nam từ trong máu lửa
Trang 20Rũ bùn đứng dậy sáng loà".
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi) Nỗi khổ của đời người trong nhạc Trịnh Công Sơn không chỉ do ngoại khổ
mà còn do hành khổ, đú chính là sự vô thường của cuộc đời mà ụng đó tiếp thu
tư tưởng về khổ đế của đạo Phật Cuộc đời cứ chảy trôi, mọi thứ cứ trôi dạt đi,
thời gian không chờ đợi ai và những giọt nước mắt cũng không thể níu kéo đượctháng năm Đời ngưũi trở nên ngắn ngủi, con người như thờ ơ hơn với nhau bởicuộc sống quá nhiều điều lo toan vì đồng tiền, vì sự mưu sinh thường nhật Cuộcsống trở nên ngột ngạt, vô cảm và bỗng một lúc con người nhìn lại mình nhưtiếc nuối mọi thứ đã qua, trong những lúc lắng lòng suy ngẫm bất chợt cảm thấy
cô đơn và buồn trong lòng bởi sự vô tình của dòng đời, khi nhận ra những người
thân và những gì là thân thuộc nay bỗng trở nên xa lạ Trong Gần như niềm tuyệt vọng, những câu ca như toỏt lờn nỗi buồn trước sự chảy trôi không ngừng
của dòng đời ngược xuôi:
"Đời sống mỗi khi đưa tiễn người
Là tôi lắng nghe lũng tụi rã rời
Có điều gì gần như niềm tuyệt vọng Trong xuõn thỡ thấy bóng trăm năm
Bỗng một hôm qua phố hoang tànTôi quen như tụi đó cú lần
Có điều gì gần như niềm tuyệt vọngMôi em hồng như lá hư không
Có nhiều khi bên gối tôi nằm Nghiêng sang em tôi thấy nắng vàngDường như bão qua dòng sông nước lênĐời không có mưa mà vẫn ướt mềm"
(Gần như niềm tuyệt vọng - 1973) Trong Gọi đời lên mau, nhạc sĩ cũng thể hiện một cách kín đáo mà sâu sắc
nỗi khổ của con người về sự vô tình của cuộc đời, sự vô tình của lòng người:
"Buồn trong mắt sâu
Trang 21Nhạc hồn dâng caoTớm lờn mụi sầuNghìn đời trông nhauGọi vào cơn đau
Lá ru thay màu"
(Gọi đời lên mau - 1964)
Nỗi buồn như thấm sâu vào tâm hồn, trong tâm thức nhận ra điều đó, nónhư tiếng nhạc du dương đang dâng đầy trên đôi mắt sâu, đôi môi sầu mà khôngthể diễn đạt Phải chăng đó là sự chiêm nghiệm, sự cảm nghiệm của mỗi tâmhồn khi đang cảm và nghĩ về cuộc đời nhiều vô tình này?
Trong ca khúc Hành hương trên đồi cao, Trịnh Công Sơn viết về sự ờm
trụi nhẹ nhàng của thời gian, của kiếp người và sự lãng quên vô tình của conngười đối với mọi thứ, kể cả tình yêu, sự lãng quên ấy là sự khắc nghiệt củacuộc đời đem lại:
"Chiều đã chiều hơnNgười vẫn âm thầm gõ buồn gót chânNgười đi hành hương buồn đời viễn vôngCòn ai nhớ mong, còn ai nhớ mong
………
Cũn đêm mù sươngNgười vẫn quên về ngại buồn chiếu chănNgười đi hành hương
Hằn sâu vết nhănMột mai đó quờn, buồn ơi là buồn"
(Hành hương trên đồi cao - 1962)
Đó là nỗi khổ vì sự vô thường của cuộc đời, của con người, bên cạnh đó là
sự vô tình, vô thường của sự vật Đau khổ do hoại khổ tức sự vật tan vỡ, vạn vật
mất đi Theo Phật giáo, thế giới là vô thường vỡ nú nằm trong dòng trôi chảykhông ngừng, không nghỉ Mọi sự vật, hiện tượng đều phải trải qua bốn thời kỳ
là "sinh, trụ, dị, diệt" hay "thành, trụ, hoại, không" Trong bốn thời kỳ đó, thời
kỳ trụ lại hết sức ngắn ngủi, chỉ bằng một satna - một đơn vị đo thời gian cực
nhỏ của nhà Phật, bằng một cái nháy mắt Luật vô thường là luật về sự luân
Trang 22chuyển không ngừng của vạn vật trong không gian vũ trụ: "Nên biết tất cả các hành là vô thường, biến dịch, hư hoại, không đáng nương tựa" 1
Kinh Phật thường có cụm từ "sắc sắc, khụng không" để nói về sự vôthường Thế gian vô thường nên mọi vật đều vô tự tính (không có tự tính haykhông có bản thể riêng) Phật giáo cho rằng không có một cái ngã thường hằng,
ổn định tuyệt đối ở con người và ở tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.Cuộc sống được ví như một dũng thỏc đổ, chảy mau và trôi xa, không có mộtphút nào ngừng nghỉ Mọi cái chỉ là phù du, ảo ảnh, tan hợp vô thường trong sựbiến ảo khôn cùng của đời sống Trên thế giới này, mọi cái đều đổi thay, chỉ có
sự đổi thay là không bao giờ thay đổi Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã nắmbắt lấy tư tưởng đó của Phật giáo để đưa vào các ca khúc của mình, từ đó nói lênnỗi khổ của con người vì sự đời vô thường, vạn vật luôn biến đổi Trong các ca
khúc Chiếc lá thu phai, Có một dòng sông đã qua đời, Gọi tên bốn mùa… đã thể
hiện được nỗi niềm của con người:
"Về đây đứng ngồiĐường xa quá ngại
Để lòng theo chút nắng bên ngoàiMùa xuân quá vội
Mười năm tắm gộiGiật mình ôi chiếc lá thu phai"
(Chiếc lá thu phai - 1973)
Trong bài "Gọi tên bốn mùa", Trịnh Công Sơn đã thể hiện một nỗi buồn vìvạn vật thay đổi quá nhanh, muốn níu giữ sự bất biến, thường hằng mà khôngthể nờn ụm một nỗi buồn gửi gắm trong ca từ, đó cũng là nỗi khổ của con ngườikhi muốn níu giữ mọi thứ trong cuộc đời, muốn những thứ mỡnh yờu thương làchẳng bao giờ phải chia lìa, rời xa nhưng cuộc đời và sự vật vẫn vận động theođúng quy luật khách quan của nó, không gì có thể ngăn lại sự đổi thay ấy:
"Em đứng lên mùa xuân vừa nở
Nụ xuân xanh cành thênh thangChim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùngRồi mùa xuân không về
Mùa thu cũng ra đi
Trang 23Mùa đông vời vợiMùa hạ khúi mõyRồi từ nay em gọiTình yêu dấu chim bayGọi thân hao gầyGọi buồn ngất ngây".
(Gọi tên bốn mùa - 1963)
Trong bài "Nhìn những mùa thu đi", ông nói về tuổi trẻ, nhất là nhữngnăm tháng của tuổi đôi mươi, là thời gian đặc biệt buồn bã của cuộc đời Mùathu cứ trôi qua và lặp lại theo một chu trình tuần hoàn đúng quy luật của trờiđất, còn đời người thì mỗi năm mỗi tuổi, nhìn quanh đã đến xế chiều như tựnhiên vào thu:
"Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài songNghe tờn mỡnh vào quên lãngNghe tháng ngày chết trong thu vàng
Nhìn những mùa thu điTay trơn buồn ôm nuối tiếc Nghe gió lạnh về đêmHai mươi sầu dâng mắt biếcThương cho người rồi lạnh lùng riêng
Gớú heo may đã vềChiều tím loang vỉa hè
Và giú hụn tóc thềRồi mùa thu bay đi"
(Nhìn những mùa thu đi - 1961)
Không chỉ vậy, con người còn khổ bởi quy luật vật chất - sinh lý, nỗi khổ
mà không một ai trên đời không phải trải qua Đó là nỗi khổ của sinh lão
Trang 24-bệnh - tử Thích Ca đã coi đó là những nỗi khổ căn bản của đời người và cốt lõi
trong giáo lý của mình Sinh ra là khổ, trong ca khúc "Gọi tên bốn mùa", cuốibài ông thốt lên:
"Nghe xót xa hằn lên tuổi trờiTrẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi
Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người"
Sinh ra trên cõi đời, với tiếng khóc chào đời như báo hiệu một cuộc đời đầykhổ đau, đời là bể khổ Ông đã sống và đã cảm nờn ụng thấu hiểu sự vật vã củakiếp người trong trốn hồng trần Cuộc sống tràn ngập những vất vả, bi lụy cùngnhững giọt nước mắt xót xa Do vậy, sinh ra trên đời để gánh chịu những đớnđau, do vậy mà sinh ra là khổ
Sinh ra rồi trải qua các giai đoạn biến đổi, phát triển của con người theoquy luật tự nhiên Con người cũng như cỏi cõy, sinh ra rồi lớn lên, đến một giaiđoạn sẽ héo úa, tàn phai Con người cũng vậy, qua trẻ thơ rồi trưởng thành, rồilóo niên Tuổi già đi liền với sự yếu ớt, ốm đau, bệnh tật Ai đó đã nói rằngngười già như ngọn đèn trước gió, quả đúng là vậy Ốm đau, bệnh tật, già yếu lànhững nỗi đau giày vò con người về mặt thể xác và tinh thần Khi không còn sứckhoẻ, con người trở nên bất lực trước cuộc đời, mất niềm tin vào cuộc đời Ai đãtừng lâm vào bệnh tật, ốm đau sẽ thấu hiểu hơn bao giờ hết nếu đứng ngoài nhìnvào Trịnh Công Sơn là người đã từng phải nằm viện một thời gian dài, nỗi đau
về mặt thể chất đã đưa cuộc đời ông rẽ sang một lối khác Bệnh tật của tuổi già
sẽ đưa con người đến một nỗi đau khác, nỗi đau cuối cùng và là nỗi đau nhấttrong cõi đời là cái chết Ai rồi cũng phải từ biệt cuộc đời theo quy luật của tạohoá nhưng sao nghe nhói đau trong trái tim? Cuộc đời là vô thường, mọi thứ đềuxoay vần theo con tạo nhưng ai cũng muốn bỏm vớu lấy cuộc đời, trong nhữngranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, con người càng khao khát đượcsống hơn bao giờ hết, cái chết kéo đi một kiếp người, người ra đi khổ đau và sựkhổ đau hằn sâu trong trái tim người ở lại Phải chăng mọi thứ và mọi mối quan
hệ trên cõi đời này đều do nhân - duyên hoà hợp mà tạo thành, rồi khi duyờn đú
đó hết thì tất cả chia lìa, chỉ có cái nghiệp là theo ta mãi mãi như triết lý nhà
Phật? Một câu thật ý nghĩa và sâu sắc, chúng tôi đã được nghe:
Trang 25"Một đời ta, muôn vạn đời nó"
Trong ca khúc "Giọt lệ thiên thu", Trịnh Công Sơn đã viết lên nỗi buồn khổcủa con người trong khoảng cách sinh - tử mong manh đến vô cùng, không aiđoán trước được mình sẽ ra sao, mọi thứ chẳng có gì là ổn định, chắc chắn: "Sống có bao năm vui vui buồn buồn, người người ngợm ngợm
Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi nonCuộc đời cho tôi, cho tôi tiếng nói đôi khi vui tươi
Cuộc đời cho tôi, cho tôi tiếng nói đôi khi ngậm ngùiGớú núi bay qua lao xao bụi bờ lao xao bờm ngựaNắng quái yêu ma lung linh thành trì, lung linh cửa nhàBước tới hư vô khoác áo chân như long lanh giọt lệLong lanh giọt lệ, giọt lệ thiên thu"
(Giọt lệ thiên thu - 1973, 1974)
Khổ vì sinh ra được làm kiếp người đã đi vào nhạc Trịnh Công Sơn như
một lẽ tự nhiên Quan niệm hữu thân hữu khổ của Thích Ca gần gũi với Lão Tử
- nhà triết gia Trung Hoa cổ đại đã từng than thở trong Đạo đức kinh:
"Ta sở dĩ đau khổ nhiều vỡ cú tấm thân mình".
Trang Tử đã phát triển tư tưởng này trong Đại tông sư :
"Trời đất cho ta hình hài, làm ta lao khổ vì phải sinh tồn".
Sau này, một triết gia phương Tây - Schpennhauer của nước Đức cũngthừa nhận:
"Cuộc đời là một cơn ác mộng".
Vâng! Sinh - lão - bệnh - tử là một quá trình từ lúc bắt đầu sinh ra cho đến
khi kết thúc, sau đó sẽ là một kiếp khác Trong cả quá trình sống ấy, con người
đã phải sẵn sàng đón nhận những nỗi đau khổ rồi sẽ đến với mình trong một chu
trình sống của chính mình Qỳa trình sinh - lão - bệnh - tử của đời người cũng là quá trình thành - trụ - hoại - không hay sinh - trụ - dị - diệt của vạn vật trong
trời đất
Đó là những nỗi đau buồn vì quy luật khách quan của tạo hoá, còn nỗi khổ
do chính lòng người, do sự chia ly Đó là nỗi khổ của thụ biệt ly khổ, nỗi buồn
đau của tình yêu thương mà phải xa cách nhau, trong ca khúc của Trịnh Công
Trang 26Sơn đã đề cập tới nỗi khổ này, trước nhất và thiêng liêng nhất là tình cảm giađình bị chia cắt bởi chiến tranh khốc liệt Ông như đã nói đến nỗi khổ này rấtnhiều qua các tác phẩm phản chiến của mình.
Trong các ca khúc phản chiến của Trịnh, ta thấy hình ảnh mẹ già và ngườiphụ nữ xuất hiện nhiều lần, người mẹ đêm ngày ngóng trông và mong con trở
về, người vợ trẻ và con thơ nhớ thương chồng ngoài trận địa khói bom, nhưngtất cả đã ra đi, khi không ai trở về:
"Đêm nay hoà bình sao mắt mẹ chưa vui
Mẹ hãy ra xem đường phố ngập ngưũiĐêm nay hoà bình mắt mẹ buồn như kinhLời kinh đêm ra căn nhà lạnh
Ru cha bỏ mình
Ru đời chỉ còn mẹ và con"
(Sao mắt mẹ chưa vui - 1968)
Hay trong bài "Nước mắt cho quê hương" mà ông viết trong thời gian chiếntranh đang diễn ra ác liệt nhất:
"Giọt nước mắt thương chimChim bỏ xa rừng
Giọt nước mắt thương đêmĐêm đẩy xe tang
Giọt nước mắt thương em Trên vận nước điêu linhGiọt nước mắt không tênXin để lại quê hương"
(Nước mắt cho quê hương - 1965)
Trang 27Ca khúc Những giọt máu trổ bông của nhạc sĩ cũng nói lên nỗi đau của sự
chia lìa của những người thân trong gia đình thật thấm thía và nghẹn ngào:
"Bao năm máu anh em ngăn nụ cườiMáu ngăn chặn qua tỡnh ngưũiMáu cho mụi khụ thở dàiTừng dòng máu chia lòng mẹ cha nơi đó đây"
(Những giọt máu trổ bông - 1969)
Trong ca khúc "Nhưng hôm nay", ông cũng thốt lên nỗi đau đớn khi cảnhchia lìa, mất mát của trẻ thơ ông chứng kiến trước mắt:
"Quê hương làm nhà hầmQuê hương thở đạn mìnNhững đứa trẻ chạy bom
……
Quê hương là tàu bayQuê hương là đồng cháyQuê hương là ruộng gầyNhưng hôm nay
Quê hương là Hà NộiQuê hương là cuộc đờiNhững đứa trẻ mồ côi"
(Nhưng hôm nay - 1967)
Qua một số ít dẫn chứng, chúng ta đã thấy chiến tranh đã khiến bao mốiquan hệ ruột thịt thiêng liêng phải chia lìa đôi ngả, có những nỗi đau không thểnói lên trong trái tim người ở lại, đó là sự mong nhớ người thân Có nỗi đau tinhthần nào lớn hơn sự mất mát của cha mẹ, vợ chồng, con cái, đó là sự chia li củanhững giọt máu đang cùng dòng chảy Thật bi ai và đau đớn, nỗi đau ấy vẫn cònđến tận bây giờ khi đất nước ta đang từng ngày đổi mới và phát triển, đó là vếthằn của quá khứ chiến tranh để lại
Thụ biệt ly khổ trong các nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn còn được thể
hiện qua sự chia tay, ra đi trong tình yêu Tình yêu lứa đôi đẹp mà cũng thậtbuồn, yêu nhau phải xa nhau là điều không ai mong muốn Tuy vậy, con ngườivẫn không tránh khỏi sự chia li trong tình cảm, một người ra đi, để trong lòng
Trang 28người ở lại bao nỗi niềm Nỗi khổ trong tình yêu ly tan được nhạc sĩ diễn tả vớicác cung bậc cảm xúc khác nhau, các tác phẩm tiêu biểu diễn đạt được nỗi đau
khổ vì tình yêu đó như Biển nhớ, Tình sầu, Tình xa, Tình nhớ…
Trong "Biển nhớ", nhạc sĩ mượn hình ảnh "biển" để nói lên tiếng lòng củanhân vật trữ tình trước sự ra đi của người tình:
"Ngày mai em điThành phố mắt đêm đèn vàngHồn lẻ nghiêng vai gọi buồnNghe ngoài biển động buồn hơn
………
Ngày mai em điBiển có bâng khuâng gọi thầm Ngày mưa tháng nắng còn buồnBàn tay nghe ngóng tin sang"
(Biển nhớ - 1962)
Trong "Tình sầu", nhạc sĩ cũng đã viết rất sâu sắc về nỗi buồn của mộtngười trong tâm trạng cô đơn nhớ người tình, suy ngẫm về hợp - tan trongtình yêu:
"Tình yêu như trỏi chớnTrờn cây rụng rời
Một mai thức dậyChuyện trò với lá câyRồi buồn như lá bayMột dòng sông nước cuốnMột cuộc tình không may
Tình yêu như thương áoQuen hơi ngọt ngàoRời nhau hôm nàoHồn mình như vỏ khõuBuồn mình như lũng sâuRồi tình trong im tiếng
Trang 29Rồi tình ngoài hư hao".
Sự khổ đau trong tình yêu khiến con người trở nên yếu đuối, thân xác haogầy héo hon vì nhớ nhung và mất niềm tin vào tình yêu nên có đoạn trong cakhúc ông viết:
"Tình yêu như nỗi chếtCơn đau thật dài
Tỡnh khõu mụi cườiHình hài xưa đã thayMặn nồng xưa cũng phaiTình chia nhau gian dốiTình đày tỡnh đụi nơi
Tình yêu như cơn bão
Đi qua địa cầuTình thắp cơn sầuTỡnh dìu qua hố sâuTình vời lên núi caoRồi trong cơn yêu dấuTình đày tình xa nhau"
(Tình sầu - 1965)
Tình yêu có sức mạnh diệu kì, nâng đỡ tâm hồn con người vượt qua baogian nguy, khó khăn Tình yêu giúp mỗi người cảm thấy yêu đời hơn, sống nhạycảm hơn và thấy cuộc đời tươi đẹp, ý nghĩa hơn Tình yêu làm đẹp cho cuộcsống, khơi dậy tình yêu thương, sự cảm thông trong trái tim mỗi người dù ở bất
cứ tầng lớp nào Nhưng, nếu phải chia lìa trong tình yêu thì sự đổ vỡ ấy khó cóthể hàn gắn và tạo một vết thương trong trái tim, vết thương lòng ấy phải cần cóthời gian để có thể xoa dịu, nguôi ngoai Mỗi mối tình đi qua đều để lại nhữngdấu ấn, dư vị, kỉ niệm đẹp và khi chia xa thỡ đú chỉ còn là kí ức Ca khúc "Tìnhxa" của ụng đó thể hiện được điều ấy:
"Từng người tình bỏ taNhư những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ
Trang 30Lời hẹn thề là những cơn mưa
Khi bước chân ta vềĐêm khuya nhìn đường phốThành phố hoang vu
Như một lần qua cuộc tìnhLàm sao em biết đời sống buồn tênh
Đôi khi ta lắng nghe taNghe sóng âm u
Dội vào đời buốt giáHồn ta giú cỏt phù du bay vềĐôi khi trờn mỏi tỡnh taNghe những giọt mưaTỡnh rộo tỡnh âm thầmSầu réo sầu bên bờ vực sâu"
(Tình xa - 1966 - 1967)
Qua các ca khúc của ông, ta càng thấu hiểu sự cao cả, quý giá của tình yêulứa đôi nhưng tình yêu ấy cũng thật mong manh vô thường và sự ra đi nào trongtình yêu đều để lại trong lòng người một nỗi đau xót xa, tê tái Điều đó khiếncon người rơi vào đau khổ, buồn thương
Các ca khúc của Trịnh Công Sơn nói lên những nỗi đau khổ của con người
ở mọi thời Ông đã tiếp thu tư tưởng của Phật giáo về nỗi khổ một cách rất sâusắc, nỗi khổ trong quan niệm của Phật giáo chính là bản chất của nhân sinh vànỗi khắc khoải của con người tìm giải thoát Những nỗi khổ đó làm nên bi kịchcuộc đời mỗi người Và, bi kịch nào cũng có nguyên nhân Vậy, nguyên nhânlàm nên nỗi khổ của con người trong đời sống là do đâu?
Nhân đế hay tập đế là nguyên nhân của nỗi khổ, Phật giáo cho rằng vấn đề
khổ đau chính là vấn đề sống - chết Tại sao cuộc đời lại là một chuỗi những khổ
đau do sự sống và cái chết? Nhân đế hay tập đế trong Tứ diệu đế đã làm rõ vấn
đề này Mười hai nhân duyên dẫn tới nỗi khổ của đời người Trong mười hai
nhân duyên, nguyên nhân sâu xa của nỗi khổ là vô minh Theo Phật giáo, vô
Trang 31minh mang ý nghĩa là sự mê lầm, không sáng suốt, lẫn lộn thực giả, không hiểu
lẽ vô thường, vụ ngã và Tứ diệu đế Kinh Tạp A hàm giải thích: Vô minh là không biết… Đối với năm thọ ấm này, không thấy, không biết như thật, không
có giác tuệ tương tục, ngu si, không sáng suốt, gọi là vô minh Buddhaghosa cũng khẳng định: "Vô minh là không biết về khổ" 1, "Vô minh kể như sự không biết, không thấy, không thâm nhập các chân lý" 2
Vô minh là nguyên nhân của ái dục bởi vì vô minh đã khiến con người
không nhận thấy ngoại giới vô thường, nội giới vụ ngó nờn cố gắng níu giữ một
cái ngã thường hằng, bất biến (ngã chấp) Lòng yêu bản thân (ngó ái) đã thúc
đẩy con người hành động sai lầm Cũng vì quá yêu bản thân nên khi các yếu tốsắc, thọ, tưởng, hành, thức bị hoại diệt, con người mới cảm thấy đau đớn, khổ
sở, sầu bi
Trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn, người nghe như nhận ra được âm
hưởng của nhân đế, ụng đã ngầm nói lên căn nguyên của nỗi khổ đời người Con
người sai lầm mà tham lam, tranh chấp nên gây ra chiến tranh Trong chiếntranh, người yêu nước thiết tha, kẻ quay lưng lại với Tổ quốc Bọn bán nước ấy
đã khiến dân tộc đau khổ hơn Trong Gia tài của mẹ, ụng đã viết:
"Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngàyGia tài của mẹ, một bọn lai căngGia tài của mẹ, một lũ bội tình"
(Gia tài của mẹ - 1965)
Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong ca từ bài hát mang nhiều ý nghĩaquan trọng Lai căng tức là bỏ con người văn hoá dân tộc của mình để biếnthành một người khác Lai căng là phụ thuộc bên này hay bên kia, bằng cách nàyhay cỏch khỏc Bọn lai căng trở thành một lũ bội tình dân tộc vỡ luụn đứng sátvới ngoại bang để bóc lột, mưu cầu quyền lợi, hãm hại đồng bào mình Điều đócũng do vô minh mà có, vỡ vô minh mà không phân biệt được chính nghĩa vàbất nghĩa Do vậy, trở thành những kẻ phản bội quê hương, Tổ quốc