1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng hồ chí minh về giải phóng phụ nữ

55 668 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 269,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số luận văn cử nhân cao cấp đề cập đến vấn đề phụ nữ như: "Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Văn Vinh 2000; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Thị Thúy Nhơn 20

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, phụ nữ (PN) đã có vaitrò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (XH), từ phạm vi giađình đến cả cộng đồng Vì vậy, phụ nữ là một lực lượng XH to lớn

Phải khẳng định, sức sống mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh(TTHCM) chính là chủ nghĩa nhân đạo cao cả, tất cả vì con người, lấy conngười làm điểm xuất phát, là mục tiêu của mọi tư tưởng (TT), hành động cáchmạng (CM) Tư tưởng này được thể hiện sinh động nhất trong cách nhìn củaNgười đối với vấn đề PN Ngay trong thời kỳ tìm đường cứu nước, Hồ ChíMinh đã đánh giá đúng đắn vị trí và tầm quan trọng của PN đối với sự pháttriển của XH nói chung và dân téc (DT) Việt Nam (VN) nói riêng Không chỉdừng lại ở đó, là nhà TT, lý luận CM lớn của DT, Hồ Chí Minh còn thấy rõtầm quan trọng của sự nghiệp giải phóng PN, coi đó là thước đo của trình độvăn minh: "Nếu không giải phóng phụ nữ (GPPN) thì không GP một nửa loàingười" Có thể nói, đây chính là lý do quan trọng nhất để TTHCM không bịlỗi thời bởi sự vận động nghiệt ngã nhưng rất công bằng của lịch sử (LS).Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, TTHCM là nền tảng tư tưởng, kim chỉ namcho hành động CM của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, PNVN ở thời đại Hồ Chí Minh đã được

GP về cơ bản và có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp GPDT, GP giaicấp (GC) và GPXH

Ngày nay, Đảng CSVN đang kế thừa, vận dụng và phát triển TTHCM

về vấn đề GPPN lên tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại Vì vậy,chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn nữa TTHCM vềvấn đề đó trong các giai đoạn phát triển của DT, đặc biệt là ở thời kỳ đổi mới

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN được nhiều nghiên cứu đềcập tới với những hình thức và mức độ khác nhau Ngay từ những ngày đầucủa cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành sự quan tâm thích đáng trongviệc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách nhằm thực hiện vấn đề giảiphóng phụ nữ

Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong TTHCM đến nay chúng tôi thấy có

một số Ên phẩm của Nhà xuất bản phụ nữ: "Hồ Chí Minh với vấn đề giải

phóng phụ nữ" (1970); "Bác Hồ với phát triển phụ nữ Việt Nam" (1982);" Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ" (1990) Trong đó chủ yếu thống

kê các bài nói, bài viết của Người về vấn đề giải phóng phụ nữ Một số luận

án thạc sĩ Lịch sử Đảng, Triết học, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải

phóng phụ nữ: "Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ trong cách mạng

Việt Nam" của Đặng Thị Lương (1993); "Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Lê Minh Hà (1995) Một số luận văn cử nhân cao cấp đề cập đến

vấn đề phụ nữ như: "Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Văn Vinh (2000); "Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Thị Thúy Nhơn (2000); "Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ" của Đào Tố Uyên (2003); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào hoạt

động thực tiễn của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" của

Trương thị Thu Thủy (2006), v.v

Gần đây, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (TWHLHPNVN),Trung tâm nghiên cứu khoa học về PN, Bảo tàng PN đã tổ chức nhiều hộithảo khoa học về vấn đề này và sản phẩm của nó đã được công bố trên các tạpchí, sách, báo và các hình thức xuất bản khác Các luận án tiến sĩ cũng đã đềcập đến nội dung cụ thể của TT này Theo đó, các nhà khoa học đã khái quátmột số nội dung của TTHCM về GPPN và biểu hiện sinh động của TT Êytrong quá trình CMVN Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một đề tài có tínhchuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề này

Trang 3

3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

- Đề tài chỉ nghiên cứu nội dung TTHCM về vấn đề GPPN và biểuhiện giá trị thực tiễn trong CMVN TT này vừa giàu tính lý luận vừa có giá trịthực tiễn Vì vậy, đề tài có nhiệm vụ sau:

- Chứng minh tính tất yếu của vấn đề GPPN trong LS phát triển nhânloại, theo đó cũng chính là yêu cầu của LSVN

- Làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN và

sự vận dụng trong công cuộc đổi mới Theo đó bước đầu đề xuất một sốnhững giải pháp với Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện di huấn của Chủtịch Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN trong thời kỳ hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu và tài liệu

Trên cơ sở vận dụng tổng hợp những quan điểm cơ bản của chủ nghĩaMác- Lênin, đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp kết hợp chặt chẽ giữaphương pháp duy vật biện chứng và duy vật LS; LS - lôgic; phân tích- tổnghợp; lý luận - thực tiễn từ các nguồn tài liệu: Các tác phẩm của Hồ Chí Minh;các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các tài liệu nghiên cứu LS phát triển củaphong trào PNVN Đề tài còn kế thừa có chọn lọc những công trình khoa họcnghiên cứu TTHCM của các nhà khoa học trong nước và quốc tế

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tàigồm 3 chương 7 tiết

Trang 4

Chương 1

GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ - YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM

1.1 YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Phụ nữ là một nửa của nhân loại, điều đó được xác định từ khi có loàingười Tuy vậy, trong quá trình phát triển của LS, vai trò của PN không phảilúc nào cũng được đánh giá và nhận thức giống nhau

Dưới chế độ công xã thị téc, vai trò của PN rất lớn LS đã ghi nhậntừng tồn tại một chế độ mà quan hệ XH là mẫu hệ hay mẫu quyền Bản chấtcủa chế độ này không phải là vai trò thống trị của PN đối với đàn ông, mà làvai trò của họ đối với cuộc sống của cả cộng đồng Lúc này, do chiếm vị thếchủ đạo trong nền sản xuất theo phương thức săn bắt, hái lượm nên vật chấtđảm bảo cho đời sống cộng đồng được làm ra bởi PN; con cái sinh ra chỉ biết

mẹ, mang họ mẹ; chia cái ăn, cái mặc cho các thành viên của cộng đồng cũng

là PN Chế độ XH này kéo dài hàng triệu năm, và cũng bấy nhiêu thời gianvai trò của PN được khẳng định

Đến thiên niên kỷ I trước công nguyên, loài người tìm thấy kim loại,

vì vậy sản xuất ngày càng phát triển bởi sự tiến bộ của công cụ lao động.Thựctrạng này đòi hỏi nhiều hơn sức lao động của đàn ông và theo đó, đảm bảocuộc sống cho cộng đồng lại chính là đàn ông, XH phụ quyền ra đời thay thế

XH mẫu quyền Và khác với XH mẫu quyền, đàn ông không chỉ xác lập uytín của mình trong gia đình và XH, mà còn cả quyền áp bức PN Của cải vậtchất làm ra nhiều dẫn đã xuất hiện tư hữu, hệ quả là GC ra đời và cuộc đấutranh GC cũng bắt đầu, nhằm đòi các quyền tự do, bình đẳng của cá nhân.Trong quá trình đó, đấu tranh GPPN, đòi quyền bình đẳng và nâng cao vị trícủa người PN trong XH là một nội dung mang tính phổ biến và là yêu cầu tấtyếu của LS, nó phản ánh một mặt của nền văn minh nhân loại trong từng nấcthang khác nhau

Trang 5

Suốt thời kỳ trung cổ, chế độ phong kiến vốn là cơ sở kinh tế (KT), XHcủa các hệ TT bảo thủ và phản động đối với vấn đề PN Những quy định hà khắccủa lễ giáo phong kiến và TT đẳng cấp trong XH đã kìm hãm tận cùng sựphát triển của cá nhân người, trong đó PN bị khinh miệt, coi thường, rẻ róng và

bị tước hết quyền làm người Khổng Tử đã viết: " Chỉ có bọn tớ gái và bọn tôitrai là mình khó ở cho họ vừa lòng Hễ mình gần gũi, dễ dãi với họ thì họkhinh lờn Còn nh mình xa cách nghiêm nghị với họ thì họ oán ghét" [9, tr.283] Phải chăng khi phát ngôn nh vậy, người sáng lập đạo Nho mà chữ

"hiếu" được đặc biệt coi trọng đã quên rằng mình cũng có mẹ Từ chỗ khinhmiệt PN đến tột cùng, Nho giáo đã có tư tưởng phi lý đến phi nhân đối với PNvới các thuyết: tam cương, tam tòng…

Có thể khẳng định, suốt hàng ngàn năm, giáo lý phong kiến đã cóchung quan niệm: phụ nữ là loại người khó giáo dục; nam ngoại nữ nội; đạotam tòng; trai 5 thê 7 thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng; một con traicoi là có, 10 con gái coi là không…Đó thực chất là nhà tù vô hình giam cầmbao thân phận PN, biến họ thành nô lệ của đàn ông và nô lệ của cả XH Thực

tế đó đặt ra cho nhân loại một nhiệm vụ tất yếu: giải phóng phụ nữ

Thời trung cổ, một số người mang trong mình chủ nghĩa (CN) nhânvăn đã có vài động thái hướng tới quyền làm người ở giai đoạn văn hóa phụchưng Sự tiến bộ đó đã le lói chút ánh sáng cho TTGPPN Nhưng trên tư cáchcông dân và cá nhân người, TT đó chỉ được bắt đầu hình thành tương đối đầy

đủ trong quá trình phát triển của XH tư sản TT tù do, bình đẳng xuất hiện từthời phục hưng được GC tư sản nắm lấy và coi là vũ khí sắc bén để tấn côngvào chế độ phong kiến, xác lập vị trí của GC tư sản trong lịch sử Người Mỹnói: " Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được; trong các quyền Êy, có quyềnđược sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phóc" [16, tr 1], còn ngườiPháp lại quan niệm " Người ta sinh ra tù do và bình đẳng về quyền lợi và luônluôn được tự do bình đẳng về quyền lợi" [16, tr 1] Theo đó, nhân loại vượtqua bóng đêm u ám của thời Trung cổ để vươn tới ánh sáng của văn minh,

Trang 6

đồng thời làm cho 2 bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp trở nên bất hủ Tuy vậy,

do hạn chế về bản chất GC, tính nhân văn của các TT đó đã bị vi phạm thôbạo GC tư sản đã quay lưng lại những người từng là bạn đường của mìnhtrong cuộc đấu tranh chống CN phong kiến và biến họ thành kẻ bị thống trị.Ách áp bức GC không chỉ vẫn tồn tại mà còn rất tàn bạo thể hiện ở mức độtinh vi hơn nhiều Trong số những người thuộc giai cấp bị trị, PN lại là nhữngnạn nhân bi thảm nhất Họ bị tước đoạt mọi thứ, kể cả những quyền sơ đẳngtrong đời sống XH Thực tế đó làm nảy sinh hàng loạt vấn đề mới, mà tự dobình đẳng của GC vô sản trong đó có PN là một đòi hỏi khách quan Nhậnthức được yêu cầu của lịch sử, CNXH không tưởng đã xuất hiện ở đầu thế kỷXIX với các nhà tư tưởng lớn: Xanh-xi-mông, Phu ri-ê (Pháp), Ô-oen (Anh).Mỗi người có một ý tưởng, một phương pháp riêng, nhưng nhìn chung cácông đều phê phán hạn chế của CM tư sản, lên án sự bóc lột tàn bạo của GC tưsản đối với ND nói chung và PN nói riêng và dự đoán về một XH tương laitốt đẹp, không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng Đểthực hiện, theo các ông, nhất định một cuộc CM mới sẽ phải nổ ra Nếu Phu-ri-ê coi trình độ GPPN là biểu hiện của GPXH thì Ô-oen lại áp dụng TT tù do,bình đẳng cho PN và trẻ em ngay trong chính công xưởng của mình Song cácnhà CNXH không tưởng có hạn chế lớn, họ chỉ nhìn thấy sự cùng khổ và coiquần chúng ND lao động là đám đông phải cứu vít mà không thấy yếu tố CMtrong sự cùng khổ đó Chính vì vậy, quần chúng ND lao động không được coi

là động lực của các cuộc CM xã hội Các ông cho rằng, phải dùa vào vĩ nhânnào đó hay chân lý vĩnh cửu; cải tạo XH bằng cải cách dần dần, hòa hợp GC chứkhông phải bằng bạo lực CM, và hạn chế lớn nhất là các ông không phát hiệnđược lực lượng GPXH chính là GCCN Chính vì vậy, trào lưu TT này đã không

có sức sống, đến những năm 40 của thế kỷ XIX thì trở nên lỗi thời, thậm chíphản động Tuy vậy, ở vào thời điểm LS đó, với TT và hành động của mình,các nhà sáng lập CNXH không tưởng- phê phán cũng đã góp phần thức tỉnhquần chúng lao khổ đấu tranh Và nh vậy, họ góp một phần thúc đẩy LS tiếnlên, đặt một trong những dấu son ghi nhận sự phát triển của LSTT nhân loại

Trang 7

Cách mạng công nghiệp ở Anh và một số nước hoàn thành, nền đạicông nghiệp phát triển Giai cấp tư sản củng cố hơn nữa vai trò thống trị củamình, mâu thuẫn GC trong XH tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt Giai cấp

vô sản cũng lớn mạnh và trở thành một lực lượng độc lập, bước lên vũ đàichính trị (CT) LS đòi hỏi phải có một TTCM tiên tiến hơn, đáp ứng yêu cầukim chỉ nam cho cuộc đấu tranh của GC vô sản

Chủ nghĩa XH khoa học ra đời với tên tuổi của các nhà TT vĩ đại:C.Mác và Ph.Ăngghen Lý luận CM của CNXH khoa học không chỉ thấmđẫm bản chất nhân văn sâu sắc mà còn vượt lên những hạn chế của các TTtrước đó Với quan điểm duy vật biện chứng, duy vật LS, CN Mác đã coi conngười là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, trong đócông lao lớn và cũng là nhân văn nhất chính là ở chỗ các ông đã ghi nhận, đánhgiá đầy đủ vai trò và vị trí của PN: Trong lịch sử nhân loại, không có một phongtrào to lớn nào của những người bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao độngtham gia Phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả nhữngngười bị áp bức, nên không bao giê họ đứng ngoài và không thể đứng ngoàicác cuộc đấu tranh giải phóng, kể từ phong trào nô lệ đến các phong trào của

XH đương thời Đặc biệt trong phong trào Công xã Pari (1870), PN đã thamgia đông đảo và có vai trò lớn, họ đã sát cánh chiến đấu cùng đàn ông để đánh

đổ GCTS Từ thực tế đó, C.Mác đã khái quát: " Ai đã biết LS thì biết rằngmuốn sửa sang XH mà không có PN giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi"[11, tr 217] Hơn nữa, các ông còn lấy chính mức độ GPPN làm một trongnhững tiêu chuẩn để đánh giá trình độ văn minh của nhân loại: " Xem TT vàviệc làm của đàn bà con gái thì biết XH tiến bộ như thế nào" [11, tr 217]

Cách mạng vô sản có nhiệm vụ xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xâydựng một XH mới văn minh và nhân đạo hơn Đối tượng được giải phóng vàcũng chính là một trong những động lực của CM là PN Theo đó, đây là cuộc

CM triệt để nhất trong LS, là hòn đá tảng phân biệt bản chất của các cuộcCMXH V.I.Lênin cho rằng: "Chõng nào mà PN không những chưa được tự

do đời sống chính trị nói chung và cũng chưa được quyền gánh vác một công

Trang 8

việc thường xuyên và chung cho cả mọi người, thì chõng Êy chưa có thể nóiđến CNXH được, mà cũng chưa thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ toànvẹn và bền vững được" [10, tr 158] Theo ông, Đảng Cộng sản phải có nhiệm

vụ tổ chức và lãnh đạo họ tham gia CM

Khi nêu lên các giải pháp GPPN, các nhà kinh điển của CNXH khoahọc đã xuất phát từ một quan điểm rất khoa học và thực tế Đó là việc PN bịloại khỏi các hoạt động kinh tế, dẫn tới bị tước đoạt quyền bình đẳng với đànông về mọi mặt Ph.Ăngghen đã có cách nhìn rất biện chứng: "Sù GPPN,quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có được và mãi mãi khôngthể có được, chõng nào mà PN còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất XH vàcòn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư của gia đình" [11, tr 506] Nhưvậy, muốn GPPN, điều tiên quyết là phải để PN tham gia sản xuất trên mộtquy mô XH rộng lớn và chỉ làm công việc nội trợ Ýt thôi Nhưng một mâuthuẫn khó giải quyết sẽ xẩy ra, đó là, người PN lại không đảm bảo chức nănglàm vợ, làm mẹ trong gia đình Lại cũng Ph.Ăngghen, bằng tư duy chính trị củamình đã đưa ra giải pháp như sau: biến công việc nội trợ thành công việcchung của XH và thành lao động hàng hóa Giải pháp này trở thành hiện thựcbởi V.I.Lênin

Cách mạng XHCN tháng Mười Nga (1917) thành công, nước Nga xôviết ra đời, chấm dứt tình trạng áp bức GC và XH ở nước Nga Vấn đề GPPN

có điều kiện thực hiện Vừa là nhà lý luận CM, vừa là người hoạt động thựctiễn, sự nghiệp GPPN theo V.I.Lênin phải thực hiện hai bước:

- Bước 1: Vạch trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp và chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất của chế độ tư sản Đem chính quyền CM trao cho sốđông quần chúng ND lao động Chính quyền CM phải thủ tiêu bất bình đẳngtrong pháp luật về hôn nhân, gia đình và con cái

- Bước 2: GPPN ra khỏi cảnh " nô lệ gia đình" bằng cách chuyển côngviệc nội trợ gia đình vụn vặt thành công việc lớn của XH, để PN tham gia laođộng sản xuất chung

Theo V.I Lênin, đây là một việc làm không dễ, vì thực chất là chúng

Trang 9

ta đang thay đổi một trật tự thâm căn cố đế, đã thành thãi quen của toàn XH.Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhà nước Xô viết đã từng bướcthực hiện GPPN bằng các chủ trương và chính sách khác nhau Việc lập một

số cơ quan làm mẫu nh nhà ăn, nhà trẻ; để PN tham gia hoạt động chính trị,quản lý nhà nước và các xí nghiệp công cộng là một biện pháp hiệu quả nhất.Lúc đó, nước Nga xô viết là nơi đầu tiên trên thế giới, PN đã được bình đẳnghoàn toàn về mọi mặt với đàn ông ở trong gia đình cũng như ngoài XH Thựctiễn của CMXHCN tháng Mười Nga đã khẳng định chân lý: Chỉ có giảiphóng giai cấp, phụ nữ mới được giải phóng, giai cấp vô sản sẽ không được

tự do hoàn toàn nếu PN không được tự do

Như vậy, kế thừa, phát triển những TT của nhân loại về GPPN, chủnghĩa Mác- Lênin thể hiện tính vượt trội ở chỗ, đã chỉ rõ nguyên nhân sự bấtbình đẳng giữa nam và nữ để từ đó nêu lên nguyên lý và những giải pháp cótính khả thi cho sự nghiệp GPPN Đó là phải gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữvới cuộc cách mạng XHCN, đặt vấn đề giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu,vừa là động lực của cuộc cách mạng vô sản Song để nó trở thành hiện thựctrong cuộc sống, yêu cầu các lãnh tụ cách mạng phải biết vận dụng sáng tạovào hoàn cảnh LS cụ thể của nước mình, bởi không có một công thức cũngnhư một biện pháp tuyệt đối nào cho từng trường hợp riêng biệt cụ thể

1.2 VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ TRONG LỊCH SỬ DÂN TÉC VIỆT NAM

Trong quá trình phát triển của LSDT, PNVN cũng đã có một thời kỳđược nhận thức đúng và đánh giá rất cao bởi vai trò của mình trong xã hội

mẫu quyền Chả thế mà, ở Việt Nam, người ta có khái niệm "cái" để gọi một

số thứ mang tính chất và ý nghĩa "quan trọng", "đứng đầu", "to lớn" như:

đường cái, sông cái, cổng cái, cửa cái, đũa cái,…Thế nhưng khi tư hữu và

GC xuất hiện, nhất là chế độ phong kiến ra đời lại lấy Nho giáo, thuyếtKhổng- Mạnh làm mực thước và công cụ củng cố trật tự xã hội thì thân phậncủa PN bị đảo lộn ghê gớm Điều này thể hiện trong sách Việt Nam văn hóa

sử cương: Trong chế độ phụ quyền, đàn ông là gia trưởng có uy quyền tuyệt

Trang 10

đối trong nhà Ví dô:

+ Có quyền sở hữu và quản lý tài sản của gia đình, vợ con phải làmlụng cho gia trưởng

+ Có quyền sở hữu đối với vợ con và có thể bắt đi làm thuê hay đembán đi được Gia trưởng là một vị chủ nhân chuyên chế, cũng như một vị quânchủ chuyên chế

Luật nhà Lý quy định: Vợ con người bị tội lưu đày đều bị sung công

Lệ nhà Trần cho phép người chồng có vợ ngoại tình được coi vợ là nô tỳ và tự

ý đem cầm bán [25, tr 125]

Đến thời nhà Lê, Nho giáo với yếu tố tiêu cực nhất là coi khinh PN đãtrở thành TT chính thống, vượt lên trên đạo Phật, thâm nhập vào triềuđình,vào nhân dân và phong tục tập quán xã hội Từ đó trở đi, chế độ tôn pháp

và lễ giáo Khổng - Mạnh ngày càng gắn bó với chế độ phong kiến thì thânphận PN lại càng bi thảm hơn bao giê hết

Đặc biệt đến đầu thế kỷ XIX, luật Gia Long lại tròng lên đầu, lên cổngười PN những điều khoản hà khắc nặng nề Nạn nhục hình PN bằng cácbiện pháp khiếp đảm vừa chà đạp thô bạo lên thể xác, vừa xúc phạm nhânphẩm ghê gớm mà di chứng của nó mãi không xóa được, như gọt gáy bôi vôi;voi dày, ngựa xé; thả trôi sông được coi là phổ biến Và không chỉ vậy, GCphong kiến còn sử dụng cả sự đàm tiếu độc ác của dư luận để đe dọa và trừngtrị những người PN muốn thoát khỏi vòng trãi buộc của lễ giáo phong kiến.Thực trạng đó làm cho nhiều thế hệ PNVN bị gông cùm trong xích xiềng đồngsắt và đau khổ bất công suốt cả cuộc đời Lúc ở nhà phải "tòng phô" Mất quyền

tự do hôn nhân không được chọn người lấy làm chồng người con gái trở thànhmón hàng mua bán với gánh nặng gia đình nhà chồng cả cuộc đời với thuyết

"tòng phu" Ngoài ra, họ còn bị chôn sống ngay trong buồng ngủ của mình bởicảnh ngộ " phu tử tòng tử"nếu không may là góa phô khi còn trẻ Một tìnhtrạng xấu xa như vậy đã vây hãm PN, làm hạn chế vai trò của PN vào sự

Trang 11

nghiệp chung của đất nước Theo đó GPPN cũng là một yêu cầu tất yếu trong

LS phát triển của XHVN nhằm chống lại các TT phi nhân đối với PN

Đáp ứng yêu cầu đó, từ rất sớm sự phản kháng của con người nóichung và PN nói riêng đã xuất hiện dưới những hình thức phong phú mà vănhọc dân gian là hình thức hay và rất có hiệu quả Bằng lời lẽ hóm hỉnh, hàihước, trí tuệ dân gian đã lưu truyền những câu ca dao nhằm chống lại nhữngnhà tù vô hình giam cầm PN:

Chống lại TT trọng nam khinh nữ, ND nói: Lệnh ông không bằngcồng bà Bác bá quan điểm về tiết thì:

Mẹ ơi con muốn lấy chồng;

Con ơi mẹ cũng một lòng nh conKhẳng định hạnh phóc lứa đôi là một thực tế thì ca dao cất lên nhưngcâu thuyết phục:

Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơCâu thơ ba chữ rành rànhChữ trung, chữ hiếu, chữ tình là baChữ trung thì để thờ cha

Chữ hiếu thờ mẹ, đôi ta chữ tình

Ca ngợi phẩm chất anh hùng của PN thì có những vần thơ đầy khíphách:

Con ơi con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành con voiMuốn coi lên núi mà coiCoi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Trang 12

Hoặc:

Nước sông trộn lẫn nước ngòiCon gái Bình Định cầm roi đi quyền

Quan trọng hơn, chính phụ nữ đã khẳng định vai trò của mình trong lịch

sử giữ nước và dựng nước để dân téc tồn tại và phát triển Những người đầutiên đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc là phụ nữ " Từ đầu thế kỷ thứ nhất,Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước cứu dân" [22, tr.148].Tục ngữ có câu: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" là truyền thống đặc biệtcủa phụ nữ Việt Nam từ thời đại Hùng vương- Trưng vương đến thời đại HồChí Minh chống Mỹ cứu nước Lịch sử đã khắc sâu một chân lý: Phụ nữ ViệtNam không chỉ lo việc nhà mà còn lo việc nước: Hai Bà Trưng cùng các nữtướng của mình; bà Triệu và các thế hệ phụ nữ kế thừa ở những giai đoạn lịch

sử tiếp theo là một bằng chứng tường minh

Không chỉ góp công sức đánh giặc giữ nước mà người phụ nữ cònđảm nhiệm cả những công việc xã hội, tổ chức và quản lý xã hội Chúng ta cóthể nhìn thấy điều này qua hình ảnh của Nguyên Phi Ỷ Lan, Thái Hậu DươngVân Nga- những phụ nữ tài ba đã thay chồng lãnh đạo đất nước vượt quanhững khó khăn thách thức Và vô số những phụ nữ khác thay chồng và contrai quản lý xóm làng khi có giặc xâm lăng Ngoài ra, trên diễn đàn văn hóanghệ thuật, nhiều phụ nữ đã để lại những áng văn thơ nổi tiếng lưu truyền đếntận ngày nay: Nhạn Khanh; Lý Ngọc Kiều; Nguyễn Thị Điểm Bích; Đoàn ThịĐiểm; Nguyệt Đình; Lê Ngọc Hân; Ngô Chi Lan; Bà Huyện Thanh Quan…

Công lao của người phụ nữ không chỉ được dân gian ví như nguồnnước vô tận của sông, suối mà những truyện Nôm khuyết danh còn lưu truyềnmuôn đời lòng nhân hậu, tình nghĩa thủy chung của biết bao PNVN vớinhững phẩm chất cao cả mà đàn ông mấy ai có được: Cúc Hoa, Phương Hoa,

vợ Trương Viên, Thoại Khanh, Phương Cơ…rồi khát vọng yêu đương cháybỏng, vượt lên lễ giáo phong kiến và thãi đời đen bạc vì hạnh phóc của riêngmình mà Thị Mầu, Xúy Vân là tiêu biểu Đến thế kỷ XVIII- XIX, sự phản

Trang 13

kháng của PN thể hiện rõ hơn trong di sản văn chương bác học thể hiện quanhững tên tuổi Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc;Đặng Trần Côn với Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm dịch ra thơ quốc âm);tiếp đến Nguyễn Du với Truyện Kiều và đặc biệt nhất là bà chóa thơ Nôm HồXuân Hương Thông qua dòng văn học này, các tác giả đã tập trung sự phẫn

nộ của mình vào việc lên án sâu sắc hiện thực tàn bạo, bất công của XH, tấncông vào lễ giáo phong kiến, mang nặng lòng yêu thương PN và khát vọngGPPN

Mặc dù còn những hạn chế do yếu tố lịch sử và còn nhiễm các độc tốcủa hệ TT thống trị nên không chỉ ra được con đường GPPN, nhưng vănchương bác học đã góp một tiếng nói nhân ái, một cách nhìn nhân bản về PN,khác hẳn với sự độc ác phi nhân của Nho giáo và hệ TT phong kiến phảnđộng Nhờ đó, PNVN đã có cơ hội để có thể thoát khỏi bóng đêm tăm tối,vượt lên sự bủa vây của những ước lệ đạo đức phong kiến hà khắc

Trong lĩnh vực luật pháp, một số bậc minh quân cũng có quan điểmtương đối tiến bộ về vấn đề PN Ví dụ:

Năm 1429, khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã ban hành phép công điền,lấy ruộng công chia cho tất cả mọi người, tùy theo phẩm tước và không phânbiệt nam –nữ

Cuối thế kỷ XV, người PN có cơ giảm thiểu thân phận tôi đòi bởi một

số điều tiến bộ trong Luật Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tôn (1483)

+ Điều 307: quy định trách nhiệm của người chồng phải chăm sóc vợ,nếu chồng bỏ rơi vợ 5 tháng(vợ chồng son), một năm (vợ chồng đã có con) thì

có quyền làm giấy trình quan đi lấy chồng

+ Điều 372, 374: người PN có quyền sở hữu về tài sản, gặp trườnghợp phải phân chia tà sản giữa vợ và chồng thì luật pháp công nhận cho người

PN có quyền sở hữu tài sản riêng của mình do cha mẹ cho khi đi lấy chồng vàquyền hưởng thụ bình đẳng (chia đôi) đối với tài sản do hai vợ chồng chungsống gây dựng nên

Trang 14

+ Điều 387: Con gái được quyền chia tài sản bình đẳng như con trai.+ Điều 390: Nhà nào không có con trai, con gái được hưởng quyềnthừa kế hương hỏa.

Tất cả những điều đó không chỉ thể hiện trên giấy mà đã được hiệnthực hóa trong đời sống XH Nh vậy Bé luật Hồng Đức ở một mức độ nào đó

đã công nhận và hợp pháp hóa mét sè phong tục, phản ánh truyền thống đoànkết thương yêu và tinh thần dân chủ của ND lao động Tuy còn nhiều khoản

gò bó, áp bức, coi khinh PN, Luật Hồng Đức được coi là bộ luật có tính tiến

bộ ở phương Đông, thậm chí còn hơn cả một số bộ luật phương Tây lúc đó.Tuy vậy, kể cả văn học dân gian; văn chương bác học và pháp chế phong kiếnmới chỉ manh nha ý tưởng giải phóng PN, vì vậy chưa thể cho ra đời một hệ

TT cao hơn, không thể chỉ ra con đường giải phóng con người nói chung vàGPPN nói riêng

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam,dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, dân téc Việt Nam sống trong nỗi nhụcmất nước, phụ nữ càng khèn khổ hơn Gông xiềng cũ – mới làm cho PNVNphải chịu ách một cổ 3 tròng: là người bản xứ; người lao động và người PN.Câu kết với chế độ PK phản động, thực dân Pháp không từ một thủ đoạn nàotrong việc áp bức, bóc lột, làm nhục PN, làm cho họ đau đớn ê chề cả về thểxác và tinh thần

Trong xu thế chuyển mình của thời đại, ở Việt Nam xuất hiện các nhàyêu nước tiến bộ theo khuynh hướng hệ TTTS, đại diện cho trào lưu này làPhan Bội Châu

Là nhà hoạt động chính trị và lãnh tụ CM đầu thế kỷ XX, Phan BộiChâu nổi tiếng không chỉ ở tâm huyết với dân, với nước, cụ còn là người đầutiên có chủ trương GPPN với việc kêu gọi đoàn kết toàn dân mà PN cũng làmột lực lượng cần được động viên trong sự nghiệp GPDT Về vấn đề này,năm 1926, cô Phan có 2 bài diễn văn quan trọng, một bài đọc tại trường nữhọc Đồng Khánh, một đọc tại Hội nữ công Huế [3, tr 49, 55] thể hiện quan

Trang 15

điểm của mình về các nội dung:

- Đánh giá cao vị trí và vai trò của PN: PN là "một phần cao quý củaloài người và của DT", "là mẹ của quốc dân và công thần của XH"

- Phê phán quan điểm khinh thường PN, bác bỏ thuyết " tam tòng", coi

đó là xiềng xích giam cầm và biến PN thành nô lệ Đồng thời cụ nêu bật mốiquan hệ cha – con, chồng – vợ theo nguyên tắc của sự phục tùng: "Cha cónghĩa vụ làm cha, con có nghĩa vụ làm con; chồng có nghĩa vụ làm chồng, vợ

có nghĩa vụ làm vợ Cha có nên cha thì con mới nên con, chồng có nên chồngthì vợ mới nên vợ " [3, tr 57]

- Về vấn đề nhân quyền và bình đẳng giới, cụ Phan cho rằng chính chị em

PN phải tự nhận thức quyền lợi và nghĩa vụ của mình: rằng mình cũng là người,

là dân trong nước, cũng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang với đàn ông [3, tr 52]

- Về vấn đề GPPN: Cô Phan có quan điểm rất biện chứng và khoa họcrằng: PN phải có tinh thần tự lập, phải biết đấu tranh giành lấy nữ quyền; phải

lo và gánh vác một phần việc nước: "Ta hết lòng gánh vác việc XH tức là biếtnghĩa vụ làm người thì quyền người mới khôi phục được Quyền người đãkhôi phục thì quyền gái chẳng cần nói nữa" [3, tr 91] Cụ khẳng định, PNphải tự cởi trãi cho mình, không thể trông chờ vào ai khác…

Nh vậy, bằng sự kế thừa truyền thống văn hóa DT, kết hợp luân lýĐông-Tây trong vấn đề PN, cô Phan đã đánh giá cao vai trò của PN, phê pháncác quan điểm khinh thường PN, đề ra quan điểm về nghĩa vụ và quyền lợicủa PN một cách đúng đắn Đó chính là công lao lớn nhất của Phan Bội Châu.Tuy vậy, vào thời điểm LS này, cũng như bao người khác, tâm huyết có thừa,lòng dũng cảm không thiếu, song Cô Phan chưa chuyển hóa được những chủtrương đúng đắn của mình thành hiện thực sinh động của đời sống XH.PNVN biết ơn Cụ Phan lắm, nhưng để được "làm người" đúng nghĩa và cókhả năng tự GP, PNVN còn phải chờ đợi

Chế độ phong kiến mục nát, giai cấp tư sản yếu đuối, không thể đáp

Trang 16

ứng nổi yêu cầu chung của lịch sử dân téc và bức bách riêng của phụ nữ vềnhân quyền, tự do và giải phóng Tất cả vẫn chờ ở một lực lượng cách mạngđang phôi thai, đó là giai cấp công nhân; là sự lãnh đạo kiên định và đầy trítuệ của một tổ chức chính trị tiên phong và một con người mang trong mìnhkhông chỉ khát vọng của dân téc mà cả tư duy tiến bộ của nhân loại: lãnh tụ

Hồ Chí Minh

Trang 17

Chương 2

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

1.1 CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sinh ra trong mét gia đình khoa

bảng, giàu lòng yêu nước, yêu lao động, lại ở một quê hương có truyền thốngđánh giặc cứu nước, tụ nghĩa vì dân Ngay từ những năm tháng Êu thơ, HồChí Minh đã được sống trong mái nhà thấm đẫm chất nhân đạo của ông, bà,cha, mẹ Qua đấng thân sinh, các bậc cha chú và các thày giáo ưu thời mẫnthế đầy trách nhiệm, Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng và sớm tiếp cận và tiếpthu những thành tựu văn hóa của dân téc trên các mặt: lịch sử, triết lý, vănchương Có thể nói, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng thâu hái những tinh hoa, hạtnhân nhân bản đồng thời nhận thức sâu sắc những hạn chế của các tôn giáo đangtồn tại lúc đó ở Việt Nam, như Nho giáo, Phật giáo, Thiên chóa giáo Với Phậtgiáo, Hồ Chí Minh đã có những nhận xét rất công bằng: tư tưởng của đạoPhật là vô ngã vị tha, cứu khổ cứu nạn; Đức Phật tổ đại từ bi, tốt biếtbao Còn với thiên chóa giáo, Người cũng có những đánh giá rất trân trọng:

"Cách đây gần 2000 năm, trong một đêm đông lạnh lẽo, đức Chóa đã giángsinh để cứu vít nhân loại, Đức Chóa là một tấm gương hy sinh triệt để vìnhững người bị áp bức, vì những dân téc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý"[16, tr 67] Tấm gương hy sinh đó đã làm xúc động hàng triệu người, Hồ ChíMinh nguyện làm theo tấm gương đó của đức Chóa

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh còn tiếp nhận tưtưởng yêu nước vĩ đại mà Người cho là phù hợp với Việt Nam của Tôn TrungSơn Đó là chủ nghĩa tam dân: dân téc độc lập, dân quyền tự do, dân sinhhạnh phóc Đồng thời những tư tưởng nhân văn: tự do, bình đẳng, bác ái củađại cách mạng Pháp; tư tưởng nhân quyền của cách mạng Mỹ cũng từng bướcđược Người thâu hái trong suốt những năm tháng bôn ba khắp các châu lục,

Trang 18

làm giàu thêm bản chất nhân văn trong tư duy cứu nước của mình Những tưtưởng này đóng một vai trò khá lớn trong tư tưởng, tình cảm của Hồ ChíMinh Song phải đến khi đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn

đề dân téc thuộc địa" của Lênin (7-1920), thì Hồ Chí Minh mới gặp gỡ và tiếpcận với chủ nghĩa Lênin và từ đó đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đến với chủnghĩa Mác- Lênin, các trí thức phương Tây nhằm tìm hiểu một học thuyết,còn Hồ Chí Minh cố gắng tìm ở đó con đường giải phóng dân téc nên Ngườinhanh chóng nhận ra chủ nghĩa Mác- Lênin là học thuyết cách mạng tiên tiến,thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn mới, mà khẩu hiệu hành động của nó là: sựphát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọingười Sinh thời, Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Khổng tử, Giê-Su, Mác, TônDật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phóccho loài người, mưu lợi cho xã hội Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này,nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ chung sống với nhau rất hoàn mỹ nhnhững người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị Êy"[24, tr 158]

Như vậy, trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống nhân ái của dântéc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là cơ sở lý luận, phương phápluận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư duy kiệt xuất của mình, Hồ Chí Minhluôn nhấn quán một quan điểm lịch sử, đánh giá đúng đắn, khẳng định đúngmức, với một thái độ trân trọng những giá trị văn hóa mà người xưa đạt được;đồng thời cũng triệt để phê phán, bác bỏ các quan điểm không đúng Vì vậy,Người đã thu hái được những giá trị văn hóa quý báu nhất của thời đại trướchình thành tư tưởng nhân văn ngời sáng Có thể khẳng định chủ nghĩa nhânvăn Hồ Chí Minh thật độc đáo, khác người xưa khi có quan niệm rất khoa học

về con người, đó là không có con người chung chung, trừu tượng, phiến diện

Hồ Chí Minh đã vượt lên ngang tầm văn minh của loài người, quan tâm đến

số phận của con người cụ thể, đồng thời còn vạch ra những biện pháp hữuhiệu nhằm thực hiện triệt để việc giải phóng con người, trong đó tư tưởngGPPN là một trong những điểm sáng nhất, thể hiện tầm nhìn sâu xa và triết

Trang 19

luận CM của Người

2.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

Đảm bảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụngsáng tạo những vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đápứng yêu cầu GPPN bằng những quan điểm rất đúng đắn, vừa mang tính quyluật, vừa mang tính đặc thù, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, tạonên cú hích vĩ đại làm biến đổi hoàn toàn thân phận lực lượng chiếm một nửasức mạnh của dân téc

2.2.1 Chống áp bức nô dịch phụ nữ

Trong sự phát triển của lịch sử, phụ nữ có vị trí và vai trò thật lớn laotrong mỗi gia đình cũng như ngoài xã hội Song phụ nữ lại bị đối xử hết sứcbất công, thân phận bị rẻ róng, coi thường và chỉ là vật sở hữu, là nô lệ củađàn ông Sự bất bình đẳng của phụ nữ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và tồntại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhất là dưới chế độ xã hội có áp bức, bóclột Theo đó, lịch sử phát triển của nhân loại cũng chính là lịch sử từng bướcGPPN bằng những quan điểm tiến bộ của các đấng minh quân, các nhà chínhtrị và tư tưởng Dù còn nhiều hạn chế do yếu tố lịch sử và giai cấp nên vấn đềGPPN chưa được đặt ra đúng với yêu cầu bức thiết của nó nhưng lịch sử đãghi nhận đó là những người có tấm lòng nhân ái và trong tư tưởng của họ đãmanh nha chủ nghĩa nhân văn

Chủ nghĩa thực dân một biểu hiện vô nhân đạo nhất của chủ nghĩa tưbản, không những đi ngược lại tiến trình của xã hội loài người đấu tranh vươntới tự do, bình đẳng, văn minh, tiến bộ, trong đó có vấn đề GPPN mà còn táilập ách áp bức bóc lột ở trình độ dã man đến khủng khiếp, chẳng khác gì thờitrung cổ ở các thuộc địa

Khi còn ở trong nước còng nh trên hành trình đi tìm đường cứu nước,

Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi nhục của người dân vong quốc mà trước hết làphụ nữ Có lẽ, không ai nhận thức được nỗi khổ của phụ nữ nói chung và PNVN

Trang 20

nói riêng dưới chế độ thuộc địa bằng Hồ Chí Minh Bằng sự hiểu biết sâu sắcbản chất vô luân của chế độ thực dân, Hồ Chí Minh đã phản ánh thực trạng của

chế độ này rất đầy đủ trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).

Trong đó nỗi khổ của phụ nữ bản xứ là một nội dung được Hồ Chí Minh phảnánh sinh động đầy nước mắt: " Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏinhững hành động bạo ngược Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay thôn quê, đâuđâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan cai trị, sĩ quancảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga" [13, tr 435] Thãi dâm bạo của bọn thựcdân không có giới hạn, thãi ăn cướp bóc lột của chúng cũng không kể xiết Thuế

má nặng nề, nhiều phụ nữ khèn khổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đườngchỉ vì tội không nép nổi thuế Họ và trẻ em còn bị đầu độc bởi thuốc phiện, rượu

và chế độ ngu dân Người khái quát: "Người ta thường nói " chế độ thực dân là

ăn cướp" Chóng tôi xin thêm là hiếp dâm và giết người" [13, tr 436]

Hồ Chí Minh đã tố cáo các tội ác tày trời của thực dân Pháp Chẳnghạn khi chúng đến một làng thì: "Tất cả dân chúng đều chạy trèn, chỉ còn lạihai cô già, một thiếu nữ và một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú, taynắm một em gái lên tám…Ông già bị 2 tên trong bọn lính đem thiêu trongmột đống củi hàng mấy giê liền để làm trò vui với nhau Trong khi đó thì mộttên khác giở trò đồi bại với 2 phụ nữ và bé gái Xong chúng vật ngửa cô thiếu

nữ ra, trãi lại, nhét giẻ vào miệng rồi một tên đâm lưỡi lê vào bông cô, chặtngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng" [23, tr 10,11]

Vô luân hơn khi chóng coi phụ nữ nh mét con chã, bắt phải hiến thâncho chã, nếu không chịu chúng giết ngay bằng lưỡi lê Tất cả những tội ác nhvậy thật không kể xiết: "Thãi dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không cógiới hạn nào cả Cái tinh vi của một nền văn minh khát máu cho phép chúngtưởng tượng được đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác lạnh ling củachúng tới đó" [7, tr 443]

Không những bị xâm phạm nhân phẩm, phụ nữ còn bị bóc lột sức laođộng hết sức nặng nề Họ phải làm những công việc nặng nhọc, không có

Trang 21

điều kiện tối thiểu đảm bảo cho cuộc sống của một con người bình thường,khiến nhiều người chết vì bệnh tật và tai nạn lao động ở đó không có luật hay

sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột, người thợ bản xứ bị coi nh sócvật Đã vậy, chúng còn đặt nhiều luật lệ cấm đoán, duy trì những tập tục lạchậu để ngăn cấm chị em phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị – xã hội.Bằng chính sách ngu dân triệt để Thực dân Pháp đã làm cho 98% phụ nữViệt Nam trong tình trạng tối tăm ngu dốt Có thể nói, các thuộc địa là nơi hội

tụ tất cả sự dã man của thời trung cổ và chủ nghĩa tư bản Nguyễn Ái Quốcmỉa mai rằng: "Cứ 1000 làng thì có 1500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện,nhưng lại chỉ vẻn vẹn có 10 trường học" [5, tr 339] Không dừng lại ở đó,giai cấp thống trị còn khuyến khích các hủ tục mê tín, dị đoan để xoa dịu lòngcăm phẫn của chị em, khiến cho phụ nữ cam chịu kiếp sống nô lệ Chính vìvậy, sinh ra làm thân gái, phụ nữ vốn bị những thiên kiến độc ác, lạc hậu cầm

cố, lại bị chính sách chính trị –kinh tế –xã hội của chủ nghĩa thực dân trònglên đầu lên cổ gông xiềng nên phụ nữ bị trở thành líp người u mê, đần độn, dễ

bề sai bảo Bằng lý lẽ sắc bén và sâu sắc, Hồ Chí Minh đã tố cáo đanh thép

âm mưu đen tối trong chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với phụ nữViệt Nam: " Chủ nghĩa tư bản bóc lột, dìm anh chị em trong cảnh tối tăm, ngudốt, áp bức anh chị em về mặt tư tưởng và tiêu diệt nòi giống của anh chị embằng rượu và thuốc phiện Chế độ bản xứ bỉ ổi của bọn đế quốc tư bản đặt ra,tước mất của chị em mọi quyền tự do cá nhân, mọi quyền lợi chính trị và xãhội, do đó đã hạ anh chị em xuống thân phận trâu ngựa" [5, tr 462]

Trong những ngày lao động ở các thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc,chứng kiến tội ác của chúng đối với các dân téc thuộc địa, Hồ Chí Minh đãkết luận rằng ở đâu chủ nghĩa thực dân cũng tàn ác, ở đâu các dân téc thuộc địacũng đau khổ Chính từ nhận thức đó, lòng yêu thương con người nô lệ mấtnước Việt Nam đã mở rộng thành lòng yêu thương giai cấp cần lao thế giới.Theo đó, Người không chỉ đau nỗi đau của phụ nữ Việt Nam mà dưới ngòibót của Người, sự thật về thân phận bi thảm của phụ nữ và tội ác của chủnghĩa thực dân đối với phụ nữ khắp các thuộc địa đã được hiện lên một cách

Trang 22

bà cụ 70 tuổi, và những bà mẹ đang cho con bú suốt hơn một tháng trời…

- Năm 1929, Đảng Ku- Khec luc-Khamlan đã hành hình 12 phụ nữ ởMitxixipi, 7 phụ nữ ở Alabima, 6 phụ nữ ở Tếchdat, 5 phụ nữ ở ác - căng- da-

xơ, 5 phụ nữ ở Giooc-gi-a…

- "Công nhân phụ nữ ở Đông Dương chiếm một phần lớn trong giaicấp vô sản Bọn tư bổn và bọn đế quốc ngày càng mở rộng cách hợp lý hóa:dùng công đàn bà cho rẻ, bởi vậy, số công nhân phụ nữ lại ngày càng thêmđông Trong đám quần chúng lao khổ ở thành phố và nhà quê, phụ nữ cũngchiếm một phần lớn Tình hình sinh hoạt của 2 hạng phụ nữ Êy rất cực khổ.Ngoài những cảnh bóc lét nh: nhiều giê làm, Ýt tiền lương, họ lại bị phongtục bó buộc, bị coi là hạng người tôi mọi rất đê tiện trong xã hội, không cómột chút tự do nào hết" [14, tr 153]

Không chỉ đau nỗi đau của họ, mà khát vọng giải phóng phụ nữ ViệtNam của Người được mở rộng thành khát vọng giải phóng phụ nữ ở tất cá cácdân téc thuộc địa

Phân biệt rạch ròi giai cấp thống trị và nhân dân lao động ở các nước

tư bản chính quốc, Hồ Chí Minh đã thật lòng xót thương các bà mẹ, nhữngngười vợ, người chị, người em bị bọn thực dân cướp mất người thân ném vàocác cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa bằng những lời lẽ chứa chan chủnghĩa nhân văn và chủ nghĩa quốc tế Trong việc làm, Người và Đảng ta đã

Trang 23

cùng những người cộng sản và nhân loại tiến bộ tổ chức sự đoàn kết giữa phụ

nữ Việt Nam với phụ nữ tất cả các nước, trong đó có phụ nữ Pháp và phụ nữ

Mỹ đấu tranh chống chiến tranh xâm lược và bảo vệ hòa bình thế giới

Từ những dẫn chứng cụ thể, Hồ Chí Minh đã biến sự phản ánh nhữngđau thương, tủi nhục của phụ nữ thuộc địa thành vũ khí sắc bén phê phán chủnghĩa thực dân Theo Người, chủ nghĩa thực dân- con đẻ của chủ nghĩa đếquốc và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc là chế độ dã man nhất, là thủ phạmgây nên những tội ác, kìm hãm sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung

và các thuộc địa nói riêng trong nghèo đói, lạc hậu, bất công Chủ nghĩa thựcdân là kẻ thù của dân téc, đồng thời là kẻ thù nguy hiểm nhất của phụ nữ vàtrẻ em Chống áp bức, nô dịch phụ nữ và trẻ em phải gắn liền với xóa bá chủnghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới Có thể khẳng định nội dung nàychứa đựng chất nhân văn sâu sắc

2.2.2 Đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò và khả năng của phụ nữ Việt Nam để tổ chức họ vào trận tuyến đấu tranh của cả dân téc

Trải mấy nghìn năm, phụ nữ Việt Nam đã từng có những cống hiếnhết sức to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân téc Trước lịch sử,trước dân téc, họ đã khẳng định được khả năng và lòng dũng cảm của mình

Mặc cho tư duy truyền thống phủ nhận, đánh giá thấp vai trò của phụ

nữ, trí tuệ dân gian đã sớm đề cao vai trò phụ nữ Nếu người cha được so sánhvới núi Thái Sơn thì người mẹ được đánh giá nh nguồn của sông suối Núi dùcao còn có đỉnh, nguồn của sông suối là vô tận Khái niệm " cái" nh đã nóicũng là một minh chứng cho trí tuệ công bằng của dân gian Đặc biệt, mở đầucho trang sử vàng chống giặc ngoại xâm, cứu nước của dân téc lại là các vịnữ: Hai Bà Trưng, sau đó là Bà Triệu đã trở thành những anh hùng đầu tiêncủa dân téc Việt Nam Nh vậy, không phải ai khác, chính phụ nữ đã khẳngđịnh vai trò của mình trong lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sớm

và đặt niềm tin vững chắc vào khả năng to lớn của phụ nữ: "Từ đầu thế kỷ thứnhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước, cứu dân, cho đến

Trang 24

nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên gópphần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ" [11, tr 64 ] Trongnhận thức của Hồ Chí Minh, lịch sử là do nhân dân lao động sáng tạo nên,trong đó phụ nữ là một lực lượng to lớn Người nói: "Xem trong lịch sử cáchmệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia… Vậy nên muốnthế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà con gái công nôngcác nước" [14, tr 219] Từ thực tiễn cách mạng nhiều nước trên thế giới, Hồ ChíMinh đã đi đến kết luận có tính nguyên tắc: "Dân chúng công nông là gốc củacách mệnh, đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều" [14, tr.193]

Với Hồ Chí Minh, phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cáchmạng Không chỉ nhận thức sức mạnh của phụ nữ, Hồ Chí Minh còn biết đánhthức những khả năng đó và đưa họ vào trận tuyến đấu tranh chung của dân téc

Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Người luôn kêu gọi và cóbiện pháp tổ chức để phụ nữ tham gia Trong tài liệu huấn luyện "ĐườngKách mệnh", Người viết: "Cách mạng Nga mau thành công nh thế, đứngvững nh thế, cũng nhờ đàn bà con gái giúp vào An Nam cách mệnh cũngphải có nữ giới tham gia mới thành công" Hưởng ứng lời kêu gọi đó, từ 1927đến 1930, phụ nữ ở cả 3 miền đất nước đã tham gia tổ chức " Việt Nam cáchmạng thanh niên" như các chị Hoàng Thị ái, Nguyễn Thị Minh Lãng, TháiThị Bôi, Nguyễn Thị Nhỏ…Một số chị: Nguyễn Thị Minh Khai,Tôn Thị Quế,Nguyễn Thị Xân đã tham gia hoạt động trong Tân Việt cách mạng Đảng.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2-1930) đã mở ra một thời kỳ mới có tínhbước ngoặt đối với vấn đề GPPN Các chị lần lượt trở thành đảng viên củaĐảng khi mới 19-20 tuổi Bằng chính mồ hôi, công sức, thậm chí cả máuxương của mình, các chị đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp GPDT Trướctòa đại hình của kẻ thù, chị Nguyễn Thị Nhâm đã đanh thép trả lời: " tôi làmcách mạng để lấy lại nước tôi, tôi không có tội gì cả, nếu các người muốnbuộc tội tôi thì hãy buộc tội bà Gian Đa, anh hùng cứu nước của nước Pháp điđã" Lòng yêu nước, tên tuổi và tấm gương hy sinh của các chị đã sáng lên

Trang 25

trên Diễn đàn Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII (7-1935) bởi báo cáo củađại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương Nguyễn Thị Minh Khai

Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, phù hợp với sự chuyển hướngchỉ đạo chiến lược của Đảng, phụ nữ đã tích cực tham gia vào việc chuẩn bịmọi mặt cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn vàkhởi nghĩa Nam Kỳ (1940) đã thu hót đông đảo phụ nữ tham gia, có nhiều chịtrực tiếp chỉ huy nh Nguyễn Thị Bảy- tỉnh ủy viên Chợ Lớn; chị Nguyễn ThịHồng- Bí thư huyện ủy Vòng Liêm… Nhiều chị đã anh dòng hy sinh, trong đãlịch sử dân téc Việt Nam còn mãi mãi ghi nhớ tấm gương của người Xứ ủyviên Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn: Nguyễn Thị Minh Khai lúc mới 31tuổi Càng tiến tới ngày tổng khởi nghĩa toàn quốc, hưởng ứng lời kêu gọi củaMTVM, phô nữ trong cả nước đã tham gia rộng rãi với nhiều hình thức đấutranh, từ việc nuôi giấu cán bộ như mẹ Tơm (Thanh Hóa); mẹ Luật ở Bần(Hưng Yên); Bà Hai Vẽ ở Chèm… đến công tác lãnh đạo quần chúng đấutranh, làm giao thông liên lạc, chuyển tài liệu, đưa đón cán bộ, làm tài chínhcho Đảng, vận động binh lính địch quay về với cách mạng Sát ngày khởinghĩa, phụ nữ chiếm 20% trong các đơn vị tự vệ chiến đấu "An toàn khu".Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, nhiều chị giữ các trọng trách:Chị Hà Thị Quế lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Bắc Giang và được cử vào

ủy ban nhân dân tỉnh kiêm phụ trách công tác quân sự toàn tỉnh Chị NguyễnThị Định dẫn đầu đội quân giành chính quyền ở tỉnh Bến Tre…

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời, công lao thuộc về khối đại đoàn kết dân téc mà phụ nữ cónhững đóng góp không nhỏ các chị là những Bà Trưng, Bà Triệu ở thời đại

Hồ Chí Minh

Đất nước được độc lập, thân phận của phụ nữ đã thay đổi Họ càng cóđiều kiện tham gia việc xã hội Góp phần vào củng cố cơ quan quyền lực caonhất của Nhà nước, 48% phụ nữ trong tổng số cử tri đã đi bầu cử Quốc hộingày 6-1-1946 Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử dân téc, 10 đại biểuphụ nữ đã tróng cử vào Quốc hội khóa I của nước VNDCCH

Trang 26

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, phụ nữ lạicùng chồng con mình có mặt khắp nơi, từ tiền tuyến đến hậu phương Ngày 1-5-1952, tại Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I, trong 7người được bầu là anh hùng có 1 người PN: anh hùng Nguyễn Thị Chiên.Ngoài ra, trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, còn có hàng trăm, hàngngàn nữ chiến sĩ thi đua Trên mọi nẻo đường ra trận, những bước chân khôngmỏi của những Bà Trưng, Bà Triệu ở thế kỷ XX đã làm sáng lên lẽ sống củacác thế hệ PNVN và góp phần to lớn viết tiếp bản anh hùng ca bách chiếnbách thắng của DT Một bại tướng của Pháp tại mặt trận Biên Giới (1950) đãnhận ra một điều thó vị, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh - một lãnh tụ đã kêu gọiđược cả đàn bà và trẻ con ra trận: " Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người giàngười trẻ…." [16, tr 480] Trong thư gửi PNVN nhân lễ kỷ niệm Hai BàTrưng và ngày Quốc tế PN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ lòng kính trọngđối với PNVN và các liệt nữ đã hy sinh cho Tổ quốc: " Nhân dịp 8/3, tôi kínhcẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc Tôikính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của cácliệt sĩ… tôi và Chính phủ rất biết ơn các cụ, các bà" [23, tr 28]

Chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp bị chôn vùi ở Đông Dương.Thất bại trong âm mưu quốc tế hóa và kéo dài cuộc chiến tranh Đông Dương,với chính sách "lấp chỗ trống" của Tổng thống Aixenhao, người Mỹ đã nhảyvào thay thế, hòng biến miền Nam Việt Nam và Đông Dương thành thuộc địakiểu mới của chúng CMVN lại đứng trước những thử thách, khó khăn Pháthuy thành quả đạt được, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại độngviên cả DT, trong đó có PN vào trận tuyến đấu tranh."Đội quân tóc dài" đã làmột lực lượng được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Người vừa khẳng địnhnhững thành tích của phụ nữ hai miền,vừa khích lệ động viên chị em rất kịpthời, đúng lúc và cụ thể, không quên, không bỏ sót, không chung chung, đưaphụ nữ vào trận tuyến đấu tranh với niềm tin thắng lợi Nh sù tiếp nối của quákhứ với hiện tại, phản đối chiến tranh đâu phải cùng con "đi hóa đá", mà bằngniềm tin sắt đá vào sức mạnh của mình, "Đội quân tóc dài" của đất "Thành

Trang 27

đồng" lại cùng chồng con vào trận mới Họ đã đem hết khả năng và tài sáng tạocủa mình để phục vụ cách mạng, không hề có sự toan tính cá nhân, được mất,sống chết, chịu hy sinh, thiệt thòi mà vẫn mãn nguyện Từ trong máu lửa, nhiềutấm gương sáng chãi đã xuất hiện, tiêu biểu là các nữ anh hùng: út Tịch, Tạ ThịKiều, Kan Lịch; Lê Thị Hồng Gấm, Mười Lý… Đằng sau song sắt bạo tàn củanhà tù đế quốc, nhiều chị đã làm kẻ thù hoặc run sợ hoặc khâm phục mà chịX; chị Y; chị Võ Thị Thắng mãi chãi sáng trong sử vàng của lịch sử phụ nữViệt Nam Trong líp líp PNVN anh hùng Êy, chị Nguyễn Thị Định đã là Hộitrưởng Hội Liên hiệp phụ nữ miền Nam, phó Tổng tư lệnh quân giải phóngMNVN Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt tự hào: " Phó tổng tư lệnh quân giảiphóng là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân gái

nh vậy Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả DT ta" [23, tr 61] Thế rồi, tạiHội nghị Pari (1969-1973), một người PNVN khác đã để lại sự khâm phục và

Ên tượng rất tốt cho ND quốc tế bởi thiện chí hòa bình cùng trí tuệ và tài ứng

xử thấm đẫm chất văn hóa sang trọng của nền văn minh Lạc Hồng và chủnghĩa nhân văn cao cả Việt Nam Người PN đó là Bé trưởng Ngoại giaoChính phủ CM lâm thời CHMNVN Nguyễn Thị Bình Sau này, ở cương vịChủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, rồi Phó Chủ tịch nướcCHXHCNVN, các bà vẫn phát huy được phẩm chất của mình, góp phần cùngchị em phụ nữ Việt Nam viết thêm vào sử sách Rồng Tiên những trang hàohùng nhất Họ xứng đáng với kết luận trân trọng của Hồ Chí Minh: " Nh thế

là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, PNVN ta thật anh hùng"[23, tr 62] và 8 chữ vàng "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" màNgười đã tặng họ

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hết sức đề cao vai trò người PN ở hậuphương- một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc khángchiến Phụ nữ ở hậu phương phải chịu bao gian nan vất vả, vừa phải tăng giasản xuất để đảm bảo cuộc sống và cung cấp cho tiền tuyến, vừa phải đảmđang công việc gia đình cho chồng, con đi đánh giặc, vừa phải nuôi dạy con

Ngày đăng: 30/11/2014, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo của các tổ chức phi chính phủ về 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh tại Việt Nam; (2-2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của các tổ chức phi chính phủ về 10 năm thực hiện Cương lĩnhhành động Bắc Kinh tại Việt Nam
2. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2000), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ViệtNam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
3. Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1990
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 - 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng2001 - 2004
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959,1980, 1992
Tác giả: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Khổng Tử (1950), Luận ngữ, (Dịch giả: Đoàn Trung Còn) in kỳ 3, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
Tác giả: Khổng Tử
Năm: 1950
10. V.I. Lênin (1980), Toàn tập, Tập 24, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
11. C. Mác - Ph. Ăngghen (1967), Tuyển tập, Tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C. Mác - Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967
12. C.Mác - Ph. Ăngghen, V.I.Lênin, J. Stalin (1967), Về vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giải phóng phụnữ
Tác giả: C.Mác - Ph. Ăngghen, V.I.Lênin, J. Stalin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967
13. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
14. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
15. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
20. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w