Cụ thể hơn, khi viết lời trong bài văn văn tự sự, HS còn mắc nhiều lỗi khá phổ biến như: chưa biết sử dụng các đại từ xưng hô, cỏc lớp từ định danh, các từ ngữ miêu tả hành động, tính ch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự của đề tài
1.1 Văn bản tự sù là một trong 6 kiểu văn bản (VB) đang được giảng
dạy trong nhà trường phổ thông từ bậc tiểu học, trung học cơ sở (THCS) đến phổ thông trung học (PTTH) Ở bậc THCS, trong chương trình Ngữ văn, kiểu văn bản tự sự (VBTS) được dạy học ở cả hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (khối 6 và 7)
và giai đoạn 2 (khối 8 và 9) với yêu cầu về khối lượng kiến thức, mức độ kiến
thức và kỹ năng ngày càng cao hơn Nội dung dạy học kiểu VBTS cũng dùa
trên nguyên tắc chung của chương trình Ngữ văn - nguyên tắc đồng tâm và phát triển, tích hợp với tiếng Việt và Tập làm văn - gắn với mục tiêu làm cho
HS nắm được những tri thức về kiểu VBTS và biết cách tạo lập VBTS theo đặc trưng kiểu loại
Trên phương diện thực tế, dạy học kiểu VBTS ở THCS trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả nhưng chưa mấy khả quan Đặc biệt, khả năng vận dụng tri thức lý thuyết vào thực hành viết bài văn tự sự của HS còn nhiều bất cập Bệnh khuôn sáo, máy móc; lối viết khoa trương, thiếu tính chân thực và viết theo các "mẫu" "mang tính chất cử nghiệp chủ yếu phục vụ cho thi cử" [91, tr 5] cũn khỏ phổ biến trong bài làm văn của HS Hoặc nữa, khi làm văn, HS "về cơ bản chỉ chú ý chạy theo nội dung, bám sát các ý chưa quan tâm đến việc lùa chọn phương tiện thể hiện nội dung đó nh thế nào một cách đầy đủ… nên ý khụng thoỏt và lời không đạt" [3, tr 237]
Cụ thể hơn, khi viết lời trong bài văn văn tự sự, HS còn mắc nhiều lỗi khá phổ biến như: chưa biết sử dụng các đại từ xưng hô, cỏc lớp từ định danh, các từ ngữ miêu tả hành động, tính chất để kể người, kể việc; chưa biết sử dụng các kiểu câu trần thuật, câu miêu tả, câu tồn tại, cỏc phộp liên kết câu để thể hiện trình tự, diễn biến của sự việc, hành động nhân vật; chưa biết cách
1
Trang 2chuyển đổi ngôi kể phù hợp với nội dung biểu đạt và ý nghĩ, tình cảm của người viết, v.v… Những tồn tại, hạn chế trên khiến cho bài làm của HS chưa thể hiện đúng đặc trưng của kiểu VBTS và thiếu "chất văn".
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng một trong những
nguyên nhân cơ bản là do việc rèn luyện các năng lực, trong đó có năng lực
diễn đạt (NLDĐ) viết lời văn cho HS trong dạy học kiểu VBTS chưa được
đầu tư tích cực và đúng mức Tất nhiên, rèn luyện năng lực diễn đạt
(RLNLDĐ) không chỉ là độc quyền trong tạo lập VBTS ở dạng viết mà là yêu cầu chung, một năng lực cần đạt tới trong quá trình tạo lập ở tất cả các kiểu VB
1.2 Khi trang bị tri thức và cách thức tạo lập kiểu VBTS, các soạn giả chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) Ngữ văn đã
định hướng cho HS rèn luyện nhiều năng lực khác nhau: cách tổ chức cốt truyện; lùa chọn và sắp xếp các sự việc, chi tiết tiêu biểu; xây dựng nhân vật; cách sử dụng ngôi kể… nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở những định hướng
khái quát về lý thuyết Riêng về cách thức tổ chức RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS chưa được đề cập nhiều Các tiết dạy học về: Lời văn, đoạn văn
tự sù (Ngữ văn 6, tập 1), Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm (Ngữ văn 8, tập 1), Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự (Ngữ văn 9, tập 1)… cũng mới bước đầu đặt ra vấn
đề này Vẫn biết, việc RLNLDĐ khi tạo lập kiểu VBTS còn gián tiếp được đề cập trong lồng ghép khi dạy tiếng Việt và đọc hiểu văn bản, nhưng như thế vẫn là chưa đủ Mặt khác, hệ thống bài tập luyện tập trong dạy học kiểu VBTS ở THCS tuy đã được SGK, SGV cung cấp khá phong phú và hướng tới rèn luyện các kĩ năng chung trong quá trình tạo lập VBTS: xây dựng cốt truyện; lùa chọn nhân vật, sự việc; lập dàn ý… nhưng, riêng hệ thống bài tập RLNLDĐ vẫn còn sơ lược, chưa tập trung thành hệ thống, chưa hướng tới rèn luyện kỹ năng bộ phận với hướng dẫn cụ thể Đây cũng là một thực tế khiến cho việc RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS gặp không Ýt khó khăn
Trang 3Với những lý do như đã nêu trên về CT, SGK, SGV và thực tế dạy học kiểu VBTS ở THCS, luận án đặt ra vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học vừa
có giá trị thực tiễn: Rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh trung học cơ
sở trong dạy học kiểu văn bản tự sự.
2 Lịch sử nghiên cứu
NLDĐ và RLNLDĐ trong dạy học Ngữ văn ở các cấp học phổ thông không phải là vấn đề hoàn toàn mới mà đã và đang được chú ý đến trong nghiên cứu và giảng dạy Các giáo trình, tài liệu, SGK, SGV dù trực tiếp hay gián tiếp Ýt nhiều cũng đã đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, việc
RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu VBTS lại là vấn đề chưa được đề
cập nhiều, chưa có những công trình nghiên cứu chuyờn sõu và mang tính hệ thống Nếu có, các công trình nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở những định hướng, hoặc gợi ý ở một số khía cạnh nhất định
Phần lịch sử nghiên cứu đề cập tới các nội dung sau: Những nghiên cứu
về NLDĐ trong dạy học Tập làm văn ở trường phổ thông và những nghiên cứu
về RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu VBTS.
2.1 Những nghiên cứu về vấn đề năng lực diễn đạt trong dạy học Tập làm văn ở trường phổ thông
Trong một số tài liệu, công trình nghiên cứu, các tác giả đã chó ý đến vấn đề NLDĐ và xem đó như là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng giảng dạy Tập làm văn của GV và bài làm văn của HS
Trong giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt, khi bàn đến các kỹ
năng làm văn cần rèn luyện cho HS, các tác giả cho rằng: Bên cạnh 5 kỹ năng (kỹ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và phương hướng triển khai bài viết; kỹ năng lập dàn ý; kỹ năng viết đúng theo dàn ý; kỹ năng lập luận; kỹ năng
hoàn thiện bài viết) thì hành văn là kỹ năng không thể thiếu khi đánh giá bài
làm văn của HS Trong tài liệu này, các tác giả không gọi là NLDĐ mà quan
3
Trang 4niệm: "Có thể gộp vào kỹ năng hành văn cả những năng lực sử dụng các đơn vị ngôn ngữ ở HS Đó là kỹ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn" [3, tr 236]
Như vậy, mặc dù không trực tiếp nói đến NLDĐ nhưng các tác giả đã quan tâm đến khả năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn trong bài làm của HS và khẳng định: "Khi rèn luyện kỹ năng hành văn, học sinh phải tập dượt thường xuyên để sao cho bài viết của mình vươn tới được cái đích: trong ý và sáng trong lời" [3, tr 237] Đây được xem là một định hướng cho GV cách thức rèn luyện kỹ năng hành văn của HS trong dạy học Tập làm văn
Các tác giả cuốn Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ
Cao đẳng Sư phạm- 2001), khi nói đến yêu cầu của một bài văn, bên cạnh việc khẳng định: "Bài văn trước hết phải đúng" [4, tr.8], "Bài văn không những đúng
mà còn phải hay" [4, tr.10], còn cho rằng: "Nội dung hay phải được thể hiện bằng hình thức hấp dẫn" [4, tr.13] Hình thức hấp dẫn của bài văn liên quan đến việc "diễn đạt chính xác, sử dụng lời văn biểu cảm, giàu hình ảnh" [4, tr
14] Các tác giả cũng khẳng định: kỹ năng diễn đạt là mét trong 5 kỹ năng cần
rèn luyện cho HS trong dạy học Tập làm văn:
Người viết phải huy động, lùa chọn từ ngữ, các mô hình câu,
mô hình đoạn phù hợp tạo nên lời văn chuẩn mực, giàu cảm xúc, hấp dẫn, độc đáo Bài văn còn là một chỉnh thể thống nhất chặt chẽ nên người viết cũng phải biết sử dụng các phương tiện để liên kết cỏc cõu thành đoạn, các đoạn thành bài Việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ cần phải phù hợp với các đặc điểm của phong cách văn bản, tức
là phù hợp với từng kiểu loại của bài viết [4, tr 28]
Cũn các tác giả giáo trình Làm văn (dùng cho các trường Cao đẳng
Sư phạm- 2007), khi bàn tới hệ thống kỹ năng tạo lập VB đã xếp kỹ năng diễn
đạt là một trong 4 nhóm kỹ năng trong dạy học Tập làm văn ở THCS (bên
Trang 5cạnh cỏc nhúm kỹ năng: kỹ năng tìm hiểu, phân tích đề; kỹ năng tìm ý, lập ý;
kỹ năng trình bày) Theo các tác giả:
Kỹ năng diễn đạt tạo nên bài văn hay Nhiệm vụ của kỹ năng này là bằng các phương tiện ngôn ngữ (dùng từ, đặt câu, so sánh, dùng hình ảnh, chi tiết ) tạo ra được chất văn, cảm xúc và giọng điệu độc đáo, sắc sảo Kỹ năng này giúp người viết tránh được các lỗi như viết văn cứng nhắc, khô khan; diễn đạt thụ vụng, ngô nghê [141, tr 274]
Kỹ năng diễn đạt lại được chia thành các tiểu kỹ năng như: Kỹ năng
mở bài và kết bài; kỹ năng viết có hình ảnh; kỹ năng dùng từ và viết câu; kỹ năng so sánh
Bên cạnh các giáo trình viết về NLDĐ trong dạy học Tập làm văn cũn cú một số tài liệu, bài viết bước đầu cũng đã đề cập đến nội dung này
Tác giả bài viết Mấy suy nghĩ về dạy môn Văn - Tiếng Việt ở trung học cơ sở [135] đã đưa ra những nhận xét khái quát về chất lượng bài làm
Tập làm văn của HS những năm qua, bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều hạn chế: "Bài văn của các em thường mắc nhiều lỗi về từ ngữ, ngữ pháp, bố cục Nội dung thường khô khan, cạn ý, nhàn nhạt, lan man, hời hợt, lạc đề " [135, tr 61] Những lỗi mà tác giả nêu có liên quan trực tiếp đến NLDĐ của HS Theo tác giả, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên (gia đình, xã hội, nhà trường và bản thân HS), trong đó có nguyên nhân cơ bản là cách dạy học môn Văn chưa hướng tới mục đích rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn
Trong bài viết Dạy học văn miêu tả trong sách Ngữ văn 6 theo hướng đổi mới [84], mặc dù không trực tiếp bàn đến NLDĐ nhưng tác giả cũng đã
đưa ra một số định hướng cho GV THCS khi dạy luyện tập về văn miêu tả và nhấn mạnh ở hai kỹ năng: kỹ năng lập dàn ý và kỹ năng viết bài: "Học sinh cần
5
Trang 6lùa chọn, cân nhắc khi sử dụng từ ngữ và kiểu câu diễn đạt sao cho có hiệu quả biểu đạt cao nhất" [84, tr 23] Còng trong bài viết này, tác giả còn đề cập đến một số cách thức rèn luyện kỹ năng viết bài văn miêu tả cho HS THCS Chẳng hạn, GV lấy dẫn chứng chứng minh cho quá trình trăn trở, tìm tòi từ ngữ của các nhà văn; tập trung chữa lỗi về diễn đạt trong bài làm của HS
Trong CT, SGK, SGV Ngữ văn THCS tuy không trực tiếp đưa vấn đề
về NLDĐ và việc RLNLDĐ cho HS thành từng tiết học riêng biệt nhưng đã xem NLDĐ là một trong những yêu cầu cơ bản để đánh giá khả năng học văn, khả năng tư duy của HS: "Trong văn chương chỉ khác nhau một chữ, hoặc thêm bớt một chữ là có độ chuẩn xác cao thấp khác nhau Để học văn giỏi, phải biết coi trọng việc cân nhắc từng li, từng tí trong khi dùng từ, trong khi diễn đạt ý tứ" [91, tr 226]
SGV Ngữ văn 10 cũng đã xem kĩ năng diễn đạt là một trong những
công đoạn cần rèn luyện cho HS: "Làm văn là quá trình gồm nhiều công đoạn khác nhau: lập ý, lập dàn ý đến diễn đạt và kiểm tra, sửa chữa hoàn thiện văn bản" [67, tr 15] Kĩ năng này được rèn luyện trong suốt quá trình học làm văn của HS, được cụ thể hoá qua yêu cầu về bài làm của các em
SGK Ngữ văn 12 còng đã đề cập đến kĩ năng diễn đạt trong văn nghị
luận, trong đó nhấn mạnh về một số cách diễn đạt hay như: "dùng từ chính xác, độc đáo; viết câu linh hoạt; viết văn có hình ảnh; lập luận chặt chẽ, sắc sảo; giọng văn biểu cảm" [68, tr 168-169]
Tuy nhiên, NLDĐ cũng chỉ được nhấn mạnh như một tiêu chí để rèn luyện kĩ năng làm văn và đánh giá chất lượng bài làm của HS trong các bộ
SGK Ngữ văn THCS và THPT Còn vai trò RLNLDĐ như thế nào đối với
chất lượng bài làm của HS vẫn là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách đầy
đủ và có tính hệ thống
Trang 7Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về NLDĐ trong dạy học Tập làm văn ở trường phổ thông đã hướng tới một số phương diện:
Thứ nhất, các tài liệu nghiên cứu đã khẳng định: kỹ năng diễn đạt là
một trong những kỹ năng quan trọng cần hình thành và rèn luyện cho HS, là mục tiêu cần đạt được trong dạy học Tập làm văn, đồng thời cũng là tiêu chí
để đánh giá bài làm văn của HS
Thứ hai, cỏc giáo trình, công trình nghiên cứu, tài liệu đã được khảo sát
bước đầu đã đưa ra một số định hướng để RLNLDĐ cho HS trong dạy học Tập làm văn, trong đó đặc biệt chú ý tới hình thức thực hành - luyện tập Tuy nhiờn, những định hướng này chỉ là những gợi ý và chưa tập trung thành hệ thống
2.2 Những nghiên cứu về vấn đề rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh trung học cơ sở trong dạy học kiểu văn bản tự sự
So với vấn đề NLDĐ, vấn đề RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS ở THCS chưa được chú ý nhiều trong các giáo trình, tài liệu, các bài viết nghiên cứu Trong giới hạn phạm vi đề tài luận án, chúng tôi lược dẫn một số nhận xét -
đánh giá về RLNLDĐ viết lời văn cho HS trong dạy học kiểu VBTS của một
số công trình nghiên cứu tiêu biểu
Cùng với việc giới thuyết khái niệm về lời văn, cuốn Cơ sở lý luận văn cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa lời văn trong tác phẩm tự sự với lời
văn trong tác phẩm trữ tình hay kịch do đặc trưng của thể loại quy định: "Lời văn tự sự luôn hướng người đọc ra thế giới đối tượng, khác hẳn lời trữ tình hay lời thoại của kịch, hướng chú ý tới cảm xúc, ý định của người nói Nhà văn thường dùng câu tồn tại, hoặc miêu tả thuộc tính, đặc trưng, hình dáng, động tác của sự vật, gọi tên các sự vật ra" [122, tr 233] Còn vấn đề cách thức RLNLDĐ viết lời văn cho HS trong quá trình tạo lập VBTS chưa được đề cập đến
7
Trang 8SGV Ngữ văn 6 trực tiếp bàn đến lời văn trong kiểu VBTS:
Khái niệm lời văn ở đây được hiểu là "cách thức diễn đạt, kiểu diễn ngôn" Người ta phân biệt diễn ngôn thi ca, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn lí luận Ở đây nói về lời văn bằng diễn ngôn tự sự Lời văn này bao gồm các thành phần như lời giới thiệu, kể sự việc, miêu tả, đối thoại, độc thoại, bình luận [91, tr 110]
Trong cuốn Làm văn [141], tuy các tác giả không bàn trực tiếp đến cách
thức RLNL viết lời văn cho HS THCS nhưng cũng đã khẳng định: "Cái hay của mét văn bản truyện thường bộc lé nhiều và bộc lộ rừ qua lời văn Lời văn phải
có cảm xúc thì mới có giọng, có hình ảnh thì mới gợi tả, có nhịp điệu, tiết tấu nhanh, chậm thì mới tạo ra được dư âm trong lòng người đọc" [141, tr 66]
Cùng với lời văn, lời kể, giọng kể và cách kể còng được một số tài liệu,
bài viết, SGK đề cập đến như Một sè kinh nghiệm viết văn của tôi [39], Sổ tay viết văn [40], Về văn miêu tả và kể chuyện, sách Tập làm văn 7 [60],
v.v
Về lời kể, sách Tập làm văn 7 viết: "Lời kể thực thực chất là lời giới
thiệu, thuyết minh giúp người đọc hiểu về nhân vật, sự việc Lời kể cũng là lời nhận định, đánh giá, bày tỏ thái độ Do đó, lời kể phải rõ ràng, khúc chiết, đủ để hiểu nhân vật, phù hợp với đặc điểm nhân vật và thái độ nờn cú" [60, tr 40]
Như vậy, sách cũng chỉ giới thuyết khái niệm về lời kể và những yêu cầu cần đạt tới của lời kể trong văn tự sự Còn vấn đề về cách thức rèn luyện kỹ năng này chưa được đề cập tới
Trong cuốn Về văn miêu tả và kể chuyện, các nhà văn Vũ Tó Nam,
Phạm Hổ, Bùi Hiển đã bàn đến một số nội dung về cách kể chuyện như: ý
nghĩa của chuyện được kể, nhân vật, tỡnh huống, ngôi kể, cách mở đầu - kết
thỳc… trong đó có lưu ý về giọng kể:
Trang 9Giọng kể thường phụ thuộc vào câu chuyện Thường chuyện
vui thì người ta hay kể bằng giọng vui, còn chuyện buồn thì hay kể bằng giọng buồn Nhiều chuyện cú lỳc vui, cú lỳc buồn thì giọng kể
tùy theo đó mà thay đổi Nhưng cũng có trường hợp, người kể lại dùng một giọng không vui cũng không buồn Nghĩa là họ kể một cách
bàng quan, có khi lạnh lùng nữa [72, tr 27].
Cũng bàn về cách kể, các tác giả cuốn Về văn miêu tả và kể chuyện
[72] đã mượn hình thức trò chuyện với trẻ thơ để tâm sự với các em về cách
kể chuyện như thế nào cho hay, cho hấp dẫn: kể theo trình tự thời gian; kể
ngược lại; kể đan xen trước - sau, sau - trước, và khẳng định:
Có vô vàn cách kể chuyện Cú cỏch kể ở ngôi thứ nhất
thường là tự thuật, hồi ức: Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng ven
biển Cú cách kể ở ngôi thứ ba là chủ yếu: Xuân đi dạy học đã được
ba năm, anh được đồng nghiệp và các em học sinh quý mến nhưng
đan xen vào đó lại là những đoạn kể ở ngôi thứ nhất (tự thuật nội
tâm): Xuân đang trên đường về nhà:
- Sao hôm nay mình lại không tự kìm chế được mình và đã mắng các em học sinh quá lời như vậy [72, tr 24].
Liên quan trực tiếp đến lời văn trong kiểu VBTS còn là vấn đề ngôi
kể Việc sử dụng ngôi kể, thay đổi ngôi kể cũng chính là biểu hiện của năng
lực viết lời văn Vì vậy, vấn đề về ngôi kể còng được giới nghiên cứu quan
tâm ở nhiều góc độ và ở các cấp học khác nhau
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt (1999) và Dạy và học Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới, các tác giả đã dành mét số mục cho
nội dung dạy học văn kể chuyện Đặc biệt, tài liệu đã nhấn mạnh đến yêu cầu rèn
luyện kỹ năng tạo lập VB, trong đú có mục bàn về: Sử dụng biện pháp chuyển
9
Trang 10đổi ngôi kể để dạy học văn kể chuyện ở tiểu học Theo tác giả: "Chuyển đổi ngôi
kể trong văn kể chuyện là một biện pháp nghệ thuật và sư phạm" [144, tr 97], và tác dụng của sự chuyển đổi ngôi kể: "là chuyển cách nhìn toàn bộ câu chuyện, là nhận ra những điểm nhấn mới trong các tình tiết của truyện trên cơ sở không được thay đổi cốt truyện và ý nghĩa câu chuyện" [144, tr 99] Mặt khác, khi chuyển đổi ngôi kể "cú lúc phải sắp xếp lại bố cục của truyện và phải lùa chọn ngôn
từ để kể cho phù hợp với ngôi kể mới" [144, tr 100]
Trong giáo trình Làm văn (dành cho các trường Cao đẳng Sư phạm-
2007), khi bàn về ngôi kể, các tác giả cũng cho rằng: khi chọn lựa ngụi kể là
người viết đã chọn lựa cỏch kể, lời văn phù hợp với ngôi kể: "Khi kể chuyện,
ta có thể chọn một hay nhiều ngôi kể (vai kể) Việc lùa chọn vai kể, điểm nhìn phải có ý nghĩa, tức là có dụng ý và đạt hiệu quả nghệ thuật" [141, tr 62]
Như vậy, các tác giả của cả hai tài liệu trên mặc dù đã đề cập đến vấn
đề ngôi kể và việc lùa chọn ngôn từ cho phù hợp khi chuyển đổi ngôi kể Còn cách thức rèn luyện kĩ năng này như thế nào trong quá trình tạo lập VB cũng chưa được đề cập đến
Trong cuốn Làm văn [4], các tác giả có cái nhìn khá tổng quan khi đặt
văn kể chuyện trong mối quan hệ với văn miêu tả, văn tường thuật, văn nghị
luận Sách tập trung vào hai nội dung chính: khái quát về văn kể chuyện và
phương pháp làm bài kể chuyện Về văn kể chuyện, các tác giả khẳng định: có
chuyện để kể; có nhân vật, tình huống, chi tiết; dựa trờn một cách kể nhất
định Đặc biệt, khi nói đến ngôi kể và cách sử dụng ngôi kể, các tác giả đó cú
sự phân loại khá đầy đủ về ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba và việc chuyển đổi ngôi
kể trong bài văn kể chuyện Tuy nhiên, sách cũng chỉ dừng lại ở những vấn đề
lý thuyết về ngôi kể, chưa có sự định hướng cụ thể về những thao tác khi RLNL sử dụng ngôi kể cho HS qua các hình thức luyện tập
Trang 11Trong CT, SGK Ngữ văn THCS, vấn đề về RLNLDĐ cho HS trong
dạy học kiểu VBTS đã được cụ thể hoá qua 2 tiết dạy: Lời văn, đoạn văn tự sù
và Ngôi kể trong văn tự sự (Ngữ văn 6, tập 1) SGK Ngữ văn 6 quan niệm, lời
văn tự sự gồm hai yếu tố (thành phần) chính: lời văn giới thiệu nhân vật và lời
văn kể việc "Văn tù sự chủ yếu là kể người và kể việc Khi kể người có thể
giới thiệu tên, họ, lai lịch, quan hệ, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động Êy đem lại" [89, tr 59]
SGV Ngữ văn THCS cũng đã bước đầu định hướng các bước chiếm
lĩnh tri thức về lời văn từ "giới thiệu bài" [91, tr 110] đến luyện tập qua một
số bài tập tiêu biểu Đó là quy trình gồm 3 bước: Cho HS tiếp xúc với ngữ liệu, phân tích ngữ liệu, luyện tập Tuy nhiên, RLNL viết lời văn như thế nào, cách thức tiến hành cụ thể ra sao , trong khuôn khổ có giới hạn của một tiết
dạy, SGK, SGV, SBT Ngữ văn THCS chưa đề cập, xem xét, nghiên cứu vấn
đề này một cách cụ thể
Như vậy, vấn đề về lời văn, lời kể, ngôi kể cũng như vị trí của chúng
trong văn tự sự đã được một số SGK, SGV, giáo trình và tài liệu đề cập đến Còn vấn đề RLNLDĐ theo mét quy trình cụ thể, hệ thống trong tạo lập kiểu
VB trong dạy học kiểu VBTS chưa được đề cập nhiều và quan tâm đúng mức
2.3 Tiểu kết phần lịch sử nghiên cứu
Qua việc thống kê và khảo cứu một số tài liệu nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi đưa ra những nhận xét sau:
Thứ nhất, diễn đạt là kỹ năng quan trọng cần được hình thành và rèn
luyện cho HS trong quá trình dạy học Tập làm văn ở phổ thông Kĩ năng này
có mối quan hệ chặt chẽ với các kĩ năng khác trong quá trình tạo lập VB Nói đến kĩ năng diễn đạt là nói đến cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, liên kết câu
11
Trang 12trong đoạn, liên kết đoạn trong bài văn để viết văn có hình ảnh, có cảm xúc, đúng với quy tắc ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa bàn cụ thể về cách thức, biện pháp NLDĐ cho HS khi tạo lập VB.
Thứ hai, vấn đề về đặc trưng của kiểu VBTS, cách thức phân tích đề, lập
dàn ý, cỏch lựa chọn và xây dựng sự việc, cốt truyện đã được đề cập khá đầy
đủ và hệ thống, trong khi đó vấn đề RLNLDĐ cho HS trong dạy học kiểu VBTS chưa được nghiên cứu nhiều, chưa có những định hướng cụ thể về cách thức tiếp cận, rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học
Thứ ba, riêng vấn đề RLNL viết lời văn trong kiểu VBTS hầu như
chưa được giới thiệu, nếu có cũng chỉ dừng lại ở những tri thức lý thuyết khái quát, chưa có sự định hướng cụ thể để rèn luyện kỹ năng này Mặc khác, việc
cụ thể hóa những tri thức về NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS, lùa chọn, sắp xếp, tổ chức những tri thức Êy theo hệ thống và luyện tập - thực hành như thế nào để đạt mục tiêu dạy học theo hướng tích hợp và tích cực vẫn còn là những vấn đề cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa
Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu về những tiền đề lý thuyết liên quan đến NLDĐ, luận án hướng đến nghiên cứu và triển khai vấn đề:
Rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh trung học cơ sở trong dạy học kiểu văn bản tự sự.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình tổ chức RLNLDĐ cho HS
trong dạy học kiểu VBTS Quá trình này bao gồm:
- Lùa chọn, xác định nội dung, cách thức tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức về NLDĐ theo hướng tích hợp, tích cực trong dạy học kiểu VBTS
Trang 13- Xây dựng và vận dông hệ thống bài tập RLNLDĐ cho HS trong dạy học kiểu VBTS.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về mặt cơ sở lý luận
NLDĐ trong dạy học được hiểu rất rộng nhằm biểu đạt một nội dung giao tiếp nhất định Mỗi một phần trong bộ môn Ngữ văn, mỗi một kiểu
VB đều có nhiệm vụ RLNLDĐ cho HS theo những cách thức khác nhau Tuy
nhiên, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề RLNLDĐ cho HS THCS trong
dạy học kiểu VBTS
RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu VBTS liên quan trực tiếp
đến 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Bèn kĩ năng này có mối quan chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Tuy nhiên, luận án chỉ hướng tới RLNLDĐ trong dạy
học kiểu VBTS ở dạng viết, và tập trung vào năng lực viết lời văn.
Tri thức lý thuyết về lời văn và về kiểu VBTS đã được các tài liệu đề cập khá đầy đủ Vì thế, những vấn đề liên quan đến lí thuyết về lời văn cũng
như về kiểu VBTS chỉ được luận án lùa chọn, giới thuyết làm cơ sở cho quá
trình RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS
Chương 2 và Phụ lục).
13
Trang 14- Thực nghiệm trong luận án được tiến hành ở một số trường thuộc địa bàn địa bàn miền núi, nông thôn miền xuôi và thành phố… của tỉnh Thanh Hóa, Thái Bình và Hà Nội.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, luận án nhằm đạt tới các mục đích sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc RLNLDĐ; định hướng cách thức tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức về NLDĐ nhằm tạo cơ sở cho quá trình RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS ở THCS
- Xây dựng hệ thống bài tập để RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu VBTS Hệ thống bài tập này vừa cú sự kế thừa hệ thống bài tập trong
SGK Ngữ văn THCS, vừa có sự lùa chọn, bổ sung mét số kiểu, dạng mới, có
tính sư phạm, tính khả thi
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án hướng vào các nhiệm vụ sau:
- Xõy dùng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về NLDĐ và việc RLNLDĐ
cho HS trong dạy học kiểu VBTS ở THCS
- Lùa chọn, xác định nội dung và cách thức tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức về NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS theo hướng tích hợp và tích cực
- Xây dựng, giới thiệu và miêu tả hệ thống bài tập RLNLDĐ cho HS
THCS trong dạy học kiểu VBTS thành các nhóm, loại, kiểu, dạng khác nhau Trong từng nhóm, loại, kiểu, dạng bài tập, luận án tiến hành phân tích mục
đích, nội dung, cấu tróc và các thao tác thực hiện của các bài tập Mặt khác,
trong quá trình miêu tả, luận án cũng phân loại cụ thể những kiểu, dạng bài tập
đó có trong SGK, SGV và những bài tập mà luận án đề xuất, bổ sung.
Trang 15- Chỉ ra cách thức vận dụng hệ thống bài tập RLNLDĐ vào thực tiễn dạy học kiểu VBTS ở THCS.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá khả năng thực hiện của những tri thức lý thuyết và hệ thống bài tập mà luận án đó nờu, đồng thời phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của luận án
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai một cách khoa học và hệ thống những nhiệm vụ đó nờu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp điều tra - khảo sát
Phương pháp điều tra - khảo sát sẽ giúp tác giả luận án có cái nhìn toàn diện về việc dạy học kiểu VBTS nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung ở THCS Phương pháp này được áp dụng khi luận án điều tra - khảo sát CT, SGK; điều tra - khảo sát về cách dạy kiểu VBTS của GV THCS; điều tra - khảo sát về NLDĐ của HS qua bài làm Tập làm văn
5.2 Phương pháp phân tích - đánh giá
Phương pháp phân tích - đánh giá được luận án sử dụng khi xem xét
và lý giải các vấn đề mang tính lý luận về kiểu VBTS; phân tích và đánh giá thực tế RLNLDĐ dạy học kiểu VBTS của GV và chất lượng bài làm của HS ở THCS; phân tích và phân loại cỏc nhúm, loại, kiểu, dạng bài tập trong quá trình RLNLDĐ cho HS THCS Phương pháp nghiên cứu này là cơ sở để tác giả luận án lý giải những vấn đề lý thuyết cũng như xử lý tư liệu khảo sát về dạy học kiểu VBTS ở THCS
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
15
Trang 16Phương pháp thực nghiệm được sử dụng nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý, khả thi của tri thức lý thuyết và hệ thống bài tập mà luận án
đã đưa ra Các loại thực nghiệm cơ bản sẽ được sử dụng trong luận án là:
Thực nghiệm thăm dò nhằm tìm hiểu khả năng vận dụng những tri thức
lý thuyết và hệ thống bài tập trong thực tế để đánh giá khả năng thực hiện những nội dung của luận án
Thực nghiệm đối chứng là cách áp dụng cựng lỳc hai loại giáo án có
và không có áp dụng những tri thức lý thuyết và hệ thống bài tập nhằm đánh giá hiệu quả của giả thuyết mà luận án đã đưa ra
Ngoài các phương pháp chủ yếu nói trên, luận án còn sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ trong quá trình triển khai đề tài: phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp đọc - nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thống kê - phân loại được sử dụng khi xử lý những kết
quả thu được khi khảo sát - điều tra CT, SGK, SGV; thực tế RLNLDĐ cho HS
và khi tiến hành thực nghiệm sư phạm Cụ thể hơn là sự thống kê và phân loại
hệ thống bài tập trong SGK; một số ý kiến của GV tham gia phỏng vấn; thống
kê và phân loại chất lượng bài làm văn của HS về kiểu VBTS
Phương pháp đọc- nghiên cứu tài liệu được sử dụng khi tìm hiểu cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc RLNLDĐ cho HS trong dạy học kiểu VBTS
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức cho HS chiếm lĩnh được tri thức về NLDĐ trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động và RLNLDĐ thông qua hệ thống bài tập đa dạng, được vận dụng linh hoạt, hợp lý thì luận án sẽ góp phần nâng cao NLDĐ của HS trong dạy học kiểu VBTS ở THCS
7 Đóng góp của luận án
Trang 17- Luận án giới thiệu và hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến NL, NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS Bước đầu, phân biệt NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS với NLDĐ ở một số kiểu văn bản khác như miêu tả, nghị luận , tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học kiểu VBTS nói riêng, dạy học Ngữ văn ở THCS nói chung.
- Khảo sát thực trạng RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu
VBTS ở các đối tượng: CT, SGK, SGV Ngữ văn; cách thức tổ chức
RLNLDĐ của GV; NLDĐ qua bài làm của HS
- Sắp xếp, chọn lùa và đề xuất các biện pháp, các hình thức dạy học về
hệ thống tri thức NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS
- Xây dựng hệ thống bài tập RLNLDĐ cho HS THCS trong dạy học kiểu VBTS; có hướng dẫn về cách thức tổ chức và sử dụng hệ thống bài tập một cách linh hoạt, sáng tạo Hệ thống bài tập này vừa có sự kế thừa hệ thống
bài tập trong SGK Ngữ văn THCS, vừa có sự bổ sung ở một số kiểu dạng
mới
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Năng lực diễn đạt và rèn luyện năng lực diễn đạt cho học
sinh trung học cơ sở trong dạy học kiểu văn bản tự sù
Chương 2: Tổ chức rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh trung
học cơ sở trong học học kiểu văn bản tự sù
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
17
Trang 19Chương 1
NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT VÀ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC
KIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ
Năng lực diễn đạt là vấn đề đã và đang được quan tâm trong quá
trình dạy học, đặc biệt là dạy học Ngữ văn Qua một số thực nghiệm sư phạm những năm gần đây ở các cấp học phổ thông cho thấy: NLDĐ nói chung và NLDĐ viết các kiểu VB nói riêng của HS phổ thông còn nhiều những điểm yếu cần được khắc phục Hướng khắc phục tồn tại về NLDĐ của HS tích cực nhất là thông qua quá trình RLNLDĐ khi dạy học các kiểu VB, trong đó có VBTS
Chương 1 luận án tập trung nghiên cứu hai nội dung: vấn đề về
NLDĐ và NLDĐ cần rèn luyện cho HS trong dạy học kiểu VBTS
1.1 QUAN NIỆM VỀ NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT VÀ NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC KIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ
1.1.1 Quan niệm về năng lực diễn đạt
Năng lực diễn đạt có liên quan đến khái niệm năng lực, năng lực ngôn ngữ Vì thế, cần phải hiểu và phân biệt được các khái niệm này.
Theo quan niệm của Triết học, năng lực của con người là sản phẩm
của sự phát triển xã hội: "Sự hình thành năng lực đòi hỏi cá thể phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử xã hội Vì vậy, năng lực của con người không chỉ do bộ não của
nó quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được" [117, tr 397]
19
Trang 20Tâm lý học quan niệm: "năng lực là những đặc điểm tâm lý giúp cho việc tích lũy tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo được dễ dàng và nhanh chóng hơn" [142, tr 69].
Còn theo cách hiểu thông thường, năng lực là: "Khả năng, điều kiện chủ
quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó" [87, tr 693]
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng tựu trung, năng lực được
hiểu là: 1) Sự nắm vững tri thức; 2) Sự thuần thục kỹ năng, kỹ xảo
Nói đến năng lực của con người không thể không nói đến năng lực
ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ có thể hiểu là "một vốn những đơn vị và kết cấu
ngôn ngữ học được tích lũy trong trí óc cùng những kỹ năng thực tại hóa các đơn vị và kết cấu đó trong quá trình nghe, nói, đọc, viết, trong quá trình hoạt
động ngôn từ" [137, tr 24] Nói cách khác, năng lực ngôn ngữ bao gồm
những tri thức về đơn vị, cấu trúc, quy tắc hành dụng của ngôn ngữ và kĩ năng hiện thực húa cỏc tri thức nói trên trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nhằm đạt một hiệu quả giao tiếp tối ưu trong những tình huống giao tiếp nhất định.
Như vậy, năng lực ngôn ngữ của cá nhân đòi hỏi phải có: vốn ngôn
ngữ (đơn vị ngôn ngữ, các quy tắc kết hợp các đơn vị ngôn ngữ) và kỹ năng
sử dụng vốn ngôn ngữ Êy trong việc tạo lập VB (nói, viết) và tiếp nhận VB
(nghe, đọc) Năng lực ngôn ngữ phát triển nhờ quá trình rèn luyện ngôn ngữ, trong đó không chỉ tri thức ngôn ngữ được hình thành, phát triển mà tư duy và các kỹ năng sử dụng vốn ngôn ngữ cũng được củng cố, hoàn thiện và nâng cao
Năng lực diễn đạt là sự cụ thể hóa khái niệm năng lực ngôn ngữ "Diễn
đạt là làm cho nội dung tư tưởng, tình cảm được tỏ rõ bằng ngôn ngữ hoặc
hình thức nào đó" [87, tr 257] Nói cách khác, NLDĐ là khả năng hiện thực
hóa những tri thức về ngôn ngữ và quy tắc sử dụng ngôn ngữ bằng câu chữ, ngôn từ, hình ảnh sao cho mạch lạc, phù hợp với mục đích, yêu cầu của
Trang 21hoạt động giao tiếp Khả năng hiện thực thực hóa những tri thức về ngôn ngữ
và quy tắc sử dụng ngôn ngữ phụ thuộc vào năng lực của cá nhân Cùng một
nội dung nhưng nếu năng lực hiện thực hóa của người viết bằng câu chữ, ngôn
từ, hình ảnh khác nhau sẽ có những hiệu quả giao tiếp khác nhau Vì thế, các biểu hiện của NLDĐ kém thường là: diễn đạt lủng củng, diễn đạt tối nghĩa, diễn đạt dài dòng, diễn đạt khô khan, thiếu "chất văn", thiếu tính mạch lạc
Như vậy, NLDĐ một mặt gắn với năng lực ngôn ngữ, mặt khác gắn liền với tư duy, phản ánh trình độ và khả năng của tư duy Muốn có NLDĐ
tốt, đòi hỏi phải có tư duy sáng sủa, mạch lạc và có đủ vốn ngôn ngữ để thể
hiện trung thành, chính xác, sáng tỏ và mạch lạc nhưng suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm NLDĐ vì thế, liên quan trực tiếp đến khả năng giao tiếp của cá nhân, như một tiêu chuẩn để đánh giá kết quả của quá trình tư duy được thể hiện qua ngôn ngữ Người ta có thể diễn đạt bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ là hình thức diễn đạt cơ bản nhất của xã hội loài người
Diễn đạt bằng ngôn ngữ chủ yếu có hai dạng: nói và viết Ở dạng viết,
VB được xem là đơn vị giao tiếp lớn nhất và cũng là cơ bản nhất của ngôn ngữ:
"Làm văn là làm ra các loại văn bản để giao tiếp" [3, tr 193] Sù thành công của một bài văn (VB) phụ thuộc vào nhiều phương diện: vốn sống, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo cá nhân, sự hiểu biết về nội dung của vấn đề liên quan đến bài văn Nói cách khác, không có nội dung thì không có bài văn Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, có nội dung nhưng không có kĩ năng tổ chức bài văn, không biết cách sử dụng ngôn ngữ để chuyển "ý" thành "lời", không biết lùa chọn phương tiện biểu đạt phù hợp , tức là không có NLDĐ để truyền đạt nội dung
Êy đến người đọc, người nghe thì cũng chưa thể có bài văn đúng và hay Một cách khái quát, bài văn là sự thể hiện của nhiều năng lực khác nhau, trong đó
21
Trang 22NLDĐ là một trong những năng lực giữ vai trò hết sức quan trọng, cụ thể hóa các năng lực khác
1.1.2 Năng lực diễn đạt trong dạy học kiểu văn bản tự sự
Khi tạo lập bất cứ kiểu VB nào ở dạng viết cũng cần đến một NLDĐ, yêu cầu người viết:
Phải biết diễn đạt ý thành lời văn cụ thể Một bài văn hay phải có những ý sâu sắc, mới mẻ, phù hợp với yêu cầu của đề, đồng thời phải được diễn đạt bằng những từ ngữ, câu văn, đoạn văn chính xác, sinh động, truyền cảm và giàu sức thuyết phục Dù là loại văn bản nào, người viết cũng cần dùng từ đúng nghĩa, đặt câu đúng ngữ pháp, hành văn trong sáng, phù hợp với nội dung biểu đạt, thể hiện chính xác
ý nghĩ và tình cảm của bản thân [68, tr 167]
Có điều, ở mỗi kiểu VB khác nhau, do mục đích giao tiếp và phương thức biểu đạt khác nhau nên cách diễn đạt cũng có sự khác nhau
Chẳng hạn, kiểu VB miêu tả nhằm tái hiện trạng thái sự vật, con người
trong đời sống hiện thực Do đó, dạy học kiểu VB miêu tả cần rèn luyện các
năng lực quan sát, liên tưởng, tưởng tượng… Vì thế, NLDĐ cần rèn luyện cho
HS trong dạy học kiểu VB miêu tả là khả năng sử dụng các từ ngữ có tính tạo hình (từ láy, thành ngữ, từ ghép phân nghĩa ), các biện pháp tu từ (so sánh, nhõn hoỏ, Èn dụ, hoán dụ, đảo ngữ ), sử dụng âm thanh ngôn ngữ tạo nên nhạc tính
của câu văn trong quá trình viết lời văn miêu tả.
Hoặc, đối với kiểu VB nghị luận, đặc trưng của nó lại nhằm nêu lên
những ý kiến, đánh giá của người viết trước một vấn đề, một hiện tượng trong văn học hoặc trong đời sống xã hội, là sản phẩm của tư duy lụ gớc; thể hiện mạnh mẽ sự khẳng định hay phủ định; mang tính thuyết phục cao Vì thế, dạy học kiểu VB nghị luận lại hướng đến rèn luyện cho HS các năng lực: cách xây
Trang 23dựng các luận điểm, luận cứ, luận chứng, các hình thức lập luận… Cho nên,
NLDĐ trong VB nghị luận được biểu hiện qua cách viết lời văn nghị luận, gắn
với yêu cầu "sử dụng đúng và nhất quán các thuật ngữ chuyên môn, các từ ngữ lập luận; sử dụng các kiểu câu và mở rộng thành phần câu hợp lý khi trình bày lý lẽ" [68, tr 167]
Tương tự thế, đặc trưng của kiểu VBTS "là phương thức trình bày mét chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thóc, thể hiện một ý nghĩa" [89, tr 28] Cho nên, dạy học kiểu VBTS trước hết cần hướng tới rèn luyện các kỹ năng: tổ chức cốt truyện; biết tạo tình huống cho câu chuyện; biết lùa chọn và sắp xếp sự việc, chi tiết theo trình tự diễn biến của câu chuyện;
khả năng xây dựng và miêu tả nhân vật, v.v NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS
cần hình thành cho HS là khả năng sử dụng có hiệu quả những tri thức về kiểu VBTS như: kỹ năng tổ chức cốt truyện; lùa chọn và sắp xếp chi tiết, sự việc; xây dựng và miêu tả nhân vật thành lời văn tự sự Cụ thể hơn, đó là khả năng sử
dụng từ ngữ, câu văn, đoạn văn mang đặc trưng ngôn ngữ của kiểu VBTS nhằm hiện thực hóa diễn biến của sự việc, thể hiện một ý nghĩa nào đó và bày
tỏ thái độ của người viết
ĐÓ có một NLDĐ tốt khi viÕt lời văn trong kiểu VBTS, người viết cần chú ý những yêu cầu sau đây:
- Lời văn tù sự là lời kể người, kể việc nên phải biết lùa các từ ngữ gọi tên sự vật, sự việc, đối tượng; các đại từ xưng hô; các từ ngữ chỉ thời gian, không gian diễn ra sự việc; các từ ngữ chỉ mối quan hệ giữa nhân vật với sự việc, mối quan hệ giữa các nhân vật trong câu chuyện…
Mặt khác, việc lùa chọn và sử dụng các kiểu loại từ ngữ trong lời văn tự
sự liên quan trực tiếp đến việc lùa chọn ngôi kể - điểm nhìn của người kể chuyện
và đối tượng mà người viết hướng tới Bởi, nội dung câu chuyện cũng như các mối quan hệ giữa các nhân vật trong câu chuyện bao giê cũng phải được hiện lên
23
Trang 24qua một lối xưng hô cụ thể và được xác định ở mét điểm nhìn cụ thể Vì thế, người viết phải lùa chọn ngôi kể sao cho phù hợp với nội dung biểu đạt của câu chuyện đồng thời cũng thể hiện được tình cảm, thái độ của bản thân viết.
Ví như, truyện Lão Hạc của Nam Cao được kể lại theo ngôi thứ nhất, vai ông giáo, người xưng tôi trong câu chuyện Ông giáo vừa là người chứng
kiến, vừa là người tham gia vào câu chuyện Sự đời, số phận và nhân cách lão Hạc, chủ yếu được nhìn theo điểm nhìn của nhân vật này, đôi khi có kết hợp với điểm nhìn của lão Hạc (nhìn cậu Vàng), vợ ông giáo (việc lão có tiền mà không dám ăn), Binh Tư (việc lão Hạc xin bả chó) Cỏch lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn như thế là có tính toán, có dụng ý Nú giỳp cho người đọc thấm thía chân lý: hiểu và đánh giá một con người không phải dễ, nhất là khi người ta không có sự cảm thông
- Xuất phát từ cách thức biểu đạt và mục đích biểu đạt của kiểu VBTS nên lời văn thường sử dụng các kiểu câu trần thuật, đặc biệt là câu trần thuật
đơn có từ là để định danh, giới thiệu, miêu tả (miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật); câu chỉ sự tồn tại, xuất hiện (có từ "có") để chỉ sự xuất hiện, tiêu
biến của sự vật, hiện tượng Ngoài ra, lời văn tự sự còn sử dụng kiểu câu rút gọn, tỉnh lược (khuyết vắng chủ thể) hoặc mở rộng các thành phần câu phù hợp với ngôn ngữ đối thoại và tính cách nhân vật trong các tình huống giao tiếp
Vớ dô:
- Hôm Êy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt
À, hắn nhí ra rồi, hắn toét miệng cười
- Chả hôm Êy thì hôm nay vậy Này, hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã
- Cú ăn gỡ thỡ ăn, chả ăn giầu [68, tr 26]
Trang 25Đoạn đối thoại đã tái hiện thành công số phận những con người nghèo khổ trong nạn đói năm 1945 Đó là những câu nói lửng lơ, khuyết vắng chủ thể, tỉnh lược của hai kẻ tận cùng chân đất, bất ngờ bỗng nhận ra nhau trong cuộc mưu sinh để tìm cách tồn tại qua ngày Việc sử dụng các kiểu câu như thế có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách các nhân vật và thái độ, tình cảm trân trọng, cảm thông của nhà văn với nhân vật, sự việc.
- Còng do đặc trưng của VBTS (hướng đến việc kể lại sự việc, nhân vật,
mối quan hệ giữa các nhân vật, các sự việc) nên trong lời văn còn xuất hiện kiểu
"đoạn văn tự nhiên", ứng với một nhiệm vụ nhất định (giới thiệu nhân vật; miêu
tả sự việc; bình luận về sự việc, nhân vật) và đoạn văn có lời đối thoại giữa các nhân vật
Một lát sau Nhĩ còn nghe thấy tiếng vợ đi lại dọn dẹp và dặn
dò con điều gì đú Liờn hóm nớc thuốc ở cỏi siờu đất ra chiếc bát chiết yêu, Nhĩ đoán thế, nghe tiếng nước rót ra lẫn mùi thuốc bắc bay vào nhà Rồi Liên xuống thang, vẫn cái tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mũn lừm
Chờ Liên xuống dưới rồi Nhĩ mới lên tiếng:
- Tuấn, Tuấn à!
Anh con trai đánh trần ngồi tựa vào bức tường đầu cầu thang, tay nhặt rau muống, mắt cói xuống một cuốn truyện dịch
25
Trang 26Nghe bố gọi, Tuấn chạy vào trong nhà, tay vẫn cầm cuốn sách dày cộp gập đôi:
- Bè mỏi rồi, con đỡ bố nằm xuống nhé!
- Cha [108, tr 102]
Phần VB trên được xem là hai đoạn văn vì hướng đến hai nội dung:
Những cảm nhận của Nhĩ về Liên và thái độ của anh đối với cậu con trai "E
Longacre (1979) cho rằng loại dấu hiệu hình thức để nhận diện đoạn văn
trong diễn ngôn (văn bản) truyện kể là những biểu thức trạng từ tính chỉ sự
tiếp nối trong thời gian Đó có thể là một líp chung các yếu tố trạng từ có thể
xuất hiện ở đầu câu đánh dấu sù "chuyển đổi đề tài" [21, tr.199]
Tóm lại: NLDĐ trong dạy học kiểu VBTS là khả năng lùa chọn, sắp
xếp và sử dụng các từ ngữ phù hợp lời kể, ngôi kể; sử dụng các kiểu cõu, cỏc đoạn văn mang đặc trưng của kiểu VBTS nhằm hiện thực hóa diễn biến của
sự việc, thể hiện một ý nghĩa và bày tỏ thái độ khen chê
1.2 RÈN LUYỆN NĂNG LỰC DIỄN ĐẠT TRONG DẠY HỌC KIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ
Như đã nói ở trên, NLDĐ trong VB viết chủ yếu được thể hiện ở việc tạo lời văn (viết lời văn - hành văn), là khả năng hiện thực hóa những tri thức
về ngôn ngữ và quy tắc sử dụng ngôn ngữ thành lời văn tự sù sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của hoạt động giao tiếp Với kiểu VBTS, lời văn có những đặc điểm riêng Luận án sẽ giới thuyết điều này, sau khi giới thuyết về khái niệm lời văn nói chung
1.2.1 Lời văn và lời văn trong kiểu văn bản tự sự
1.2.1.1 Quan niệm về lời văn
Trang 27Từ điển tiếng Việt (2005) giải thích: "Lời văn là hình thức diễn đạt
bằng ngôn ngữ được viết thành văn"
Cuốn Lý luận văn học còng viết: "Lời văn thực chất cũng là một dạng
của ngôn từ nhưng đã được tổ chức theo quy luật của nghệ thuật về nội dung, phương pháp và phong cách" [122, tr 2] Như vậy, "lời văn của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật", "vận dụng toàn bộ khả năng và phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ toàn dân thuộc bình diện ngữ âm, từ vựng, cú pháp, các phương thức tu từ" [69, tr 320]
Lời văn trong tác phẩm cú cỏc đặc trưng: tính hình tượng, tính tổ chức cao Lời văn được tổ chức theo các nguyên tắc: "cụ thể hóa có định hướng đối tượng miêu tả"; "tỉnh lược sự cố tình và thường xuyên im lặng một số phương diện nào đó của nhân vật"; "truyền cho người đọc một điểm nhìn cá thể hóa mang tính sáng tạo của người trần thuật hoặc của nhân vật, hoặc kết hợp đan xen cả hai" [122, tr 136-139]
Lời văn là mặt biểu hiện của hình thức trong tác phẩm văn học Chính
vì thế, lời văn luôn gắn bó và thể hiện nội dung tác phẩm Các phương tiện tổ chức lời văn từ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện pháp tu từ bao giê cũng phải gắn liền với nội dung cụ thể của một tác phẩm, góp phần đắc lực trong việc biểu đạt nội dung Tuy nhiên, lời văn bao giê cũng mang đậm dấu
Ên chủ quan của nhà văn, thể hiện cách nhìn cuộc sống và ý đồ sáng tác của tác giả
1.2.1.2 Lời văn trong kiểu văn bản tự sự
Khác với lời văn trong các kiểu VB khác, lời văn trong kiểu VBTS có những đặc điểm nổi bật sau đây:
27
Trang 28- Lời văn trong kiểu VBTS là lời kể người, kể việc Nhân vật và sự việc cũng như diễn biến của sự việc là đối tượng chính mà lời văn tự sự hướng tới nhằm giúp người đọc nhận thức được hiện thực đời sống
Vớ dô:
"Vũ Thị Thiết, người con gỏi quờ ở Nam Xương, tớnh đó thùy mị, nết
na, lại thêm tư dung tốt đẹp ( ) Cuộc xum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nờn tờn phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu" [107]
- Lời văn trong kiểu VBTS thường xuất hiện yếu tè miêu tả và thuyết
minh đặc điểm, giữ vai trò quan trọng trong việc tái hiện và phân tích sự vật,
hiện tượng, chân dung, tâm trạng
- Trong lời văn của kiểu VBTS còn xuất hiện lời nhân vật, lời gián
tiếp, lời trực tiếp
Vớ dô:
Một buổi chiều, tôi cho con đi dạo chơi Nó kể:
Trang 29- Ba! Có bao giê ba thấy có một bài văn nào không điểm không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà.
- Bài văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm?
- Bài văn cô cho: "Trũ hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố"
- Con được mấy điểm?
- Con được sáu điểm
- Con tả ba như thế nào?
- Thì ba làm việc sao con tả vậy [4, tr.111]
- Lời văn trong kiểu VBTS bao gồm nhiều yếu tố (thành phần): lời
giới thiệu, lời kể việc, lời miêu tả, lời đối thoại, lời độc thoại, lời bình luận
Các thành phần, các kiểu loại lời văn này vừa có tính độc lập, vừa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sử dụng đan xen nhau để hướng đến "trình bày một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa’, nhằm "giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê" [89, tr 28]
Từ việc nhận diện các đặc điểm về lời văn trong kiểu VBTS, chóng ta
sẽ có cơ sở và những định hướng đúng trong việc RLNL viết lời văn trong dạy học kiểu VBTS
1.2.2 Rèn luyện năng lực viết lời văn trong dạy học kiểu văn bản
tự sự
Như đã nói ở trên, lời văn trong VBTS bao gồm nhiều đặc điểm và
nhiều kiểu loại (thành phần) khác nhau: lời giới thiệu, lời kể sự việc, lời miêu
tả, lời đối thoại, lời độc thoại, lời bình luận Tuy nhiên, để phù hợp với CT,
SGK Ngữ văn, với nhận thức và tư duy của HS THCS nên việc RLNL viết lời
văn trong dạy học kiểu VBTS, luận án chỉ tập trung vào hai kiểu loại (thành
29
Trang 30phần): lời giới thiệu nhân vật và lời kể việc Sự lùa chọn này cũng phù hợp với
sự định hướng của SGV Ngữ văn:
Ở đây nói về lời văn bằng diễn ngôn tự sự Lời văn này bao
gồm các thành phần: lời giới thiệu, kể sự việc, miêu tả, đối thoại, độc
thoại, bình luận Ở đây cho HS làm quen với hai yếu tố (thành phần):
+ Cách giới thiệu nhân vật
+ Cách kể sự việc [91, tr 110]
Tuy nhiên, bên cạnh lời giới thiệu nhân vật và lời kể việc, luận án cũng tập trung giới thiệu và rèn luyện cho HS sự kết hợp giữa các kiểu loại lời văn trên với các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận
1.2.2.1 Lời giới thiệu nhân vật
Trong kiểu VBTS, lời giới thiệu nhân vật có ý nghĩa quan trọng Bởi, không giới thiệu nhân vật, người đọc không thể hiểu được nhân vật là ai (lai lịch, họ tên, quê quán), tính cách và tài năng thế nào, đang ở trong tâm trạng
và hoàn cảnh ra sao, hành động thế nào, và vì sao lại hành động như thế? v.v
Đó là những "dữ kiện", những thông tin cơ bản thường xuất hiện trong quá trình xây dựng nhân vật Và bản thân cách giới thiệu Êy cũng đã thể hiện thái
độ, cách nhìn, cách đánh giá của người viết về nhân vật
Tuy nhiên, lời giới thiệu nhân vật ở kiểu VBTS bao hàm cả sự miêu
tả, sự đánh giá của người viết Vì thế, trong lời giới thiệu nhân vật có sự kết hợp đan xen của các yếu tố khác như: miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh Sự kết hợp của các yếu tố này khiến cho lời giới thiệu nhân vật trở nên
cụ thể, sinh động, hấp dẫn hơn với người đọc
Để giới thiệu nhân vật, lời văn thường sử dụng các kiểu câu: câu trần
thuật đơn có từ "là"; cõu có từ "có" chỉ sự tồn tại - xuất hiện; các danh từ chỉ
sự vật, hiện tượng; các động từ, tính từ miêu tả ngoại hình, tính cách, hành
Trang 31động của nhân vật… Lời văn giới thiệu nhân vật có khi làm nhiệm vụ mở đầu câu chuyện, cũng có khi lại nhằm giới thiệu - thuyết minh về nhân vật trong phần triển khai câu chuyện.
Vớ dô 1:
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bõy giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống ở trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ Thần giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Méc Tinh - những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành Thần dạy dõn cỏch trồng trọt, cách chăn nuôi
và cách ăn ở Xong việc, thần thường về thủy cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên [189, tr 5]
Đoạn văn giới thiệu nhân vật Lạc Long Quõn trờn cỏc phương diện: lai
lịch (con trai Long Nữ, ở miền đất Lạc Việt), tên (Lạc Long Quân), hình dáng
(mình rồng), đặc điểm về tính cách, tài năng (sức khỏe vô địch, có nhiều phép
lạ ) Để giới thiệu về nhân vật, lời văn sử dụng hai kiểu cõu chớnh: cõu trần
thuật đơn có từ là; câu chỉ sự tồn tại, xuất hiện (sử dụng từ có); sử dụng các từ ngữ miêu tả: mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống ở trên cạn,
sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ; các động từ và cụm động từ thể hiện tính
cách, hành động của nhân vật: dạy dõn cỏch trồng trọt, cách chăn nuôi và cách
ăn ở
Vớ dô 2:
(1) Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là
Mỵ Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng xứng đáng
31
Trang 32(2) Một hôm có hai chàng đến cầu hôn Một người ở vùng núi Tản Viên, có tài kỳ lạ [ ] Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém Người ta gọi chàng là Thủy Tinh [ ]; cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng [189, tr 58].
Đoạn văn (1) gồm hai câu văn Câu 1 nhằm giới thiệu hai ý, tương ứng với hai nhân vật - vua Hùng và Mỵ Nương Câu 2 lại giới thiệu, thuyết minh mét
ý khác: tình cảm và nguyện vọng của vua Hùng với Mị Nương Cách giới thiệu ngay từ đầu đã hàm ý đề cao, khẳng định về Mị Nương và tình cảm của vua Hùng đối với Mị Nương Điều đó được hiện lên qua lối so sánh về hình thức
(đẹp như hoa); về tính cách (hiền dịu); về quan hệ, tình cảm (yêu thương hết mực).
Đoạn văn (2) gồm 6 câu Câu 1 có tính chất giới thiệu chung Câu 2,
3 giới thiệu về Sơn Tinh Câu 4, 5 giới thiệu về Thủy Tinh Câu 6 làm nhiệm
vụ kết lại Lai lịch, tài năng của Sơn Tinh và Thủy Tinh đều được hiện lên rất
rõ Khi giới thiệu về nhân vật, đoạn văn sử dụng cỏc cõu trần thuật đơn, kết
hợp với các danh từ chỉ tên riêng: Sơn Tinh, Thủy Tinh Do tài năng của hai
chàng ngang nhau nên người kể chuyện cũng đã tạo ra cách giới thiệu song song, tạo nên sự nhịp nhàng, cân đối cho lời văn Sự giới thiệu về tài năng, tính cách của nhân vật chính là điều kiện để sau này, câu chuyện tả về trận đánh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh có sức hấp dẫn hơn Nói cách khác, sự giới thiệu về lai lịch, họ tên, tài năng, tính cách của Sơn Tinh và Thủy Tinh chính là dấu hiệu dự báo cho cuộc chiến dữ dội trong phần sau của câu chuyện Nhờ lời giới thiệu này mà người đọc có thể hình dung cụ thể về nhân vật và sự phát triển của câu chuyện
Lời văn giới thiệu về nhân vật trong kiểu VBTS thường đa dạng, tùy thuộc vào nội dung câu chuyện và cách viết của người kể chuyện Tuy nhiên,
Trang 33nhìn một cách tổng quát, có hai cách giới thiệu chính: giới thiệu trực tiếp nhân vật và giới thiệu gián tiếp về nhân vật.
Giới thiệu trực tiếp nhân vật thường do người dẫn truyện đứng ra giới
thiệu về đặc điểm, tính nết, lai lịch… của nhân vật Ví dụ 1 và 2 (ở trên) là cách giới thiệu trực tiếp nhân vật Cũng có trường hợp, nhân vật này lại được
một nhân vật khác giới thiệu Truyện ngắn Chiếc lược ngà sử dụng cách giới
thiệu này Nhân vật tôi - với tư cách là người dẫn truyện, giới thiệu về anh Sáu, đồng đội của mình:
(…) Trong những ngày hòa bình lập lại, tụi cựng về thăm quê với một người bạn Nhà chúng tôi ở ngay cạnh nhau, gần vàm kinh nhỏ, đổ ra sông Cửu Long Chúng tôi cựng thoỏt li đi kháng chiến đầu năm 1946, sau khi tỉnh nhà bị chiếm Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh- và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một tuổi Anh thứ sáu và cũng tên là Sỏu… [107, tr 195]
Còn giới thiệu gián tiếp nhân vật là cách mà người dẫn chuyện Èn
mình đi, kể lại câu chuyện, nhân vật Người đọc phải thật tinh mới phát hiện
ra được điều mà tác giả muốn giới thiệu về nhân vật
Chẳng hạn, truyện ngắn Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan là
một ví dụ tiêu biểu cho cách giới thiệu về nhân vật theo hình thức gián tiếp Hành động của quan huyện Hinh "dịch đế giày ra một tớ,… thò tay nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giày bám vào, bỏ tọt vào tỳi…" chính là hình thức thể hiện cách giới thiệu về thãi ăn bẩn, mất vệ sinh của tên quan huyện này Hoặc, khi giới thiệu về nhõn Chớ Phốo, nhà văn Nam Cao cũng sử dụng hình thức giới thiệu gián tiếp ở đoạn văn mở đầu tác phẩm Phải đến phần giữa của câu chuyện, người đọc mới hình dung được lai lịch, tính cách, số phận nhân vật: một thân phận mồ côi, bị bỏ rơi, không cha, không mẹ, không thước đất cắm dùi, bị xã hội thực dân phong kiến cướp đi cả
33
Trang 34nhân tính lẫn nhân hình, từ một người nông dân "hiền như đất" trở thành "con quỷ dữ" của làng Vũ Đại.
Từ những đặc điểm đó nờu về lời giới thiệu nhân vật trong kiểu VBTS, khi rèn luyện năng lực viết lời giới thiệu nhân vật, GV cần định hướng cho HS những kỹ năng sau đây: hiểu, nhận diện được khái niệm về lời giới thiệu nhân vật và biết cách viết lời giới thiệu nhân vật theo từng tiểu loại (lời giới thiệu về bối cảnh xuất hiện của nhân vật, lời giới thiệu về ngoại hình, về tên tuổi, lai lịch nhân vật, v.v…)
Khi rèn luyện cho HS viết lời giới thiệu nhân vật trong dạy học kiểu
VBTS cần chó ý các kiểu, loại chính: lời giới thiệu lai lịch, hoàn cảnh xuất hiện
nhân vật; lời miêu tả ngoại hình nhân vật; lời miêu tả tính cách nhân vật và thay đổi lời giới thiệu nhõn vật khi chuyển đổi ngôi kể và kết hợp hai ngôi kể
Khi kể việc, lời văn thường sử dông các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm
cụ thể liên quan đến nhân vật; sử dụng các kiểu câu gắn liền với các hành
động Các hành động này liên quan đến nhân vật và có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, tạo nên diễn biến của câu chuyện để thể hiện một ý nghĩa
Vớ dô 1:
Thủy Tinh đến muộn, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân theo đòi cướp Mị Nương Thần hô mưa, gọi gió, làm thành giụng bóo, rung chuyển cả trời đất, dâng nước sụng lờn cuồn
Trang 35cuộn đánh Sơn Tinh Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu nổi lên lềnh bềnh trên mặt nước [189, tr 59].
Đây là đoạn văn kể lại sự việc Thủy Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh trong phần kể về diễn biến câu chuyện Lời văn kể về trận đánh được triển khai theo thứ tự từ trước đến sau, từ nguyên nhân đến kết quả Mặt khác, người kể
đã sử dụng hàng loạt các động từ mạnh nhằm miêu tả hành động của nhân vật:
đùng đùng, hô mưa, gọi gió, rung chuyển, dâng ngập Chớnh các hành động
Êy đã dẫn đến kết quả: "thành Phong Châu nổi lềnh bềnh trên mặt nước" Bên cạnh các động từ mạnh chỉ hành động của các nhân vật, đoạn văn còn sử dụng các
từ ngữ chỉ địa điểm: ruộng đồng, nhà cửa, lưng đồi, sườn núi, thành Phong
Châu Người kể đã sử dụng lời kể trùng điệp: nước ngập nước ngập nước dâng giúp người đọc hình dung rõ sự việc, tạo sắc thái hùng hồn cho câu
chuyện
Vớ dô 2:
"Những quả bom nổ Một thứ tiếng kỡ quỏi, đến vỏng úc Ngực tụi nhúi, mắt cay mãi mới mở ra được Một mùi thuốc bom buồn nôn Ba tiếng nổ nữa tiếp theo Đất rơi lép bép, tan đi âm thầm trong những bụi cây Mảnh bom xé không khí, lao và rít vô hình trên đầu" [108, tr 118].
Đoạn văn trên tập trung kể lại việc phá bom của Phương Định Sự việc này được hiện lên đậm nét nhờ cách kể sự việc kết hợp với miêu tả cảnh bom nổ theo thứ tự từ trước đến sau, càng ngày càng dữ dội hơn, khốc liệt hơn Điều
đó được hiện lên qua cách dùng các động từ miêu tả âm thanh: nổ, nhói, rơi,
lép bép, tan, xé, la, rít kết hợp với các kiểu câu ngắn, nhịp độ nhanh, dồn
dập, nhằm tái hiện không khí của chiến trường, sự dũng cảm của những cô thanh niên xung phong đang từng phót, từng giê đối diện với hiểm nguy và chết chóc
35
Trang 36Như vậy, tùy tuộc vào tính chất của mỗi sự việc trong diễn biến câu chuyện và chủ đề câu chuyện mà người viết chọn lùa từ ngữ, các kiểu cõu, cỏch diễn đạt sao cho truyền đạt được nội dung cần thông báo cũng như thể hiện được tình cảm của mình
Từ những đặc điểm trên của lời kể việc trong kiểu VBTS, khi RLNLDĐ viết lời kể việc cho HS, GV hướng tới những mục đích sau đây: nắm được đặc trưng của lời kể việc và biết cách viết lời kể việc sao cho phù hợp với nội dung, diễn biến và ý nghĩa câu chuyện Mặt khác, khi rèn luyện cho HS viết
lời kể việc, cần chú ý tới một số kiểu, loại chủ yếu sau: lời kể về chi tiết tạo
nên sự việc; lời kể về mối quan hệ giữa các sự việc; thay đổi lời kể việc khi chuyển đổi ngôi kể và kết hợp hai ngôi kể
* Lưu ý:
Tuy luận án chỉ giới thiệu hai kiểu lời văn mang đặc trưng rõ nhất của kiểu VBTS là lời giới thiệu nhân vật và lời kể việc, nhưng trong quá trình rèn luyện cho HS viết hai kiểu loại lời văn này, GV cần lưu ý rèn luyện cho HS kĩ năng kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận, tạo sự sinh động, hấp dẫn cho câu chuyện Bởi vì, khi giới thiệu nhân vật hay kể việc, Ýt khi người viết giới thiệu hoặc kể một cách khách quan mà thường kết hợp với các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận để thể hiện thái độ, sự đánh giá của mình về nhân vật, sự việc
Trong khi kể người, kể việc, có miêu tả thì nhân vật, sự vật mới trở nên
cụ thể, hữu hình, sinh động và miêu tả còn có tác dụng rất lớn trong việc thể hiện nội tâm con người Nhà văn Phạm Hổ đã khẳng định: "Muốn chia văn miêu tả, văn kể chuyện riêng, nhưng không được Vì chỉ có một đôi lời văn đơn thuần
là miêu tả hoặc thuần là kể chuyện, còn phần lớn, cả hai thể loại đan xen lẫn vào nhau" [72, tr 27]
Trang 37Có nhiều hình thức miêu tả: miêu tả ngoại hình, miêu tả nội tâm, miêu
tả phong cảnh
Quan sát các lời văn sau đây:
1) Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của
người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch Mụ rỗ mặt Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ [68, tr 91].
2) Mặt lão đột nhiên co róm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, Ðp
cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu nh con nít [107 tr.117]
Trong hai đoạn trích trên, khi kể lại sự việc, tái hiện các nhân vật, các tác giả đã có dụng ý vừa kể, vừa lồng các yếu tố miêu tả: hình dáng, nét mặt, nội tâm làm cho lời kể trở nên hấp dẫn hơn Cùng với sự xuất hiện của yếu tố miêu tả, cả hai đoạn văn còn xuất hiện những yếu tố biểu cảm nhằm thể hiện tình cảm của nhân vật cũng như của nhà văn với nhân vật
Đoạn trích (1) tập trung miêu tả nhân vật người đàn bà hàng chài -
mét nhân vật không có tên mà chỉ xuất hiện một cách phiếm định qua đại từ
xưng hô: mô Cách gọi nhân vật bằng đại từ mô như thế vừa phiếm định vừa
xác định; vừa cụ thể lại vừa có ý nghĩa khái quát, thể hiện được sự đồng cảm pha lẫn chút xót xa của nhà văn với nhân vật Lời giới thiệu nhân vật sử dụng hàng loạt các tính từ (cao lớn, thô kệch, mệt mỏi, tái ngắt), các từ ngữ miêu tả động tác (đứng lại, ngước mắt, đưa tay lờn, gói, sửa lại tóc, buông thõng xuống), kết hợp với cách sử dụng các kiểu câu miêu tả, câu trần thuật, câu mở rộng thành phần, đã dựng lên trước mắt người đọc chân dung một người một người phụ nữ vùng biển vất vả, cam chịu, bất hạnh Lời miêu tả ngoại hình đầy Ên tượng Êy khiến người đọc có cảm giác như nhân vật "thật hơn cả con người thật"
37
Trang 38Còn ở đoạn trích (2), nhà văn lại tập trung miêu tả chân dung đầy đau khổ của lão Hạc khi lóo bỏo cho ông giáo việc mỡnh đó bỏn con Vàng Chính
những yếu tố miêu tả về nụ cười, gương mặt, những nếp nhăn, cái đầu nghẹo,
cái miệng móm mém đã khắc sâu vào lòng người đọc một lão Hạc khèn khổ
về hình dáng bên ngoài và sự đau đớn, quằn quại về nội tâm trong giõy phút
ân hận vì phải "đánh lừa một con chã"
Để nhận diện yếu tố miêu tả và biểu cảm trong lời văn tự sự, cần căn
cứ trên một số dấu hiệu chính sau:
- Khi giới thiệu, thuyết minh về nhân vật hoặc khi kể việc, lời văn tự
sự thường sử dụng kết hợp các yếu tố miêu tả như: hình dáng, màu sắc, diện mạo, tính chất, mức độ của sự việc, nhân vật, hành động vơi mục đích làm cho câu chuyện trở nên sinh động hơn Yếu tố biểu cảm xuất hiện khi kể giúp người viết thể hiện được thái độ, tình cảm của mình trước sự việc đó, hoặc, buộc người đọc, người nghe phải trăn trở, suy ngẫm trước những sự việc đang
kể, ý nghĩa của câu chuyện càng trở nên sâu sắc hơn
- Về mặt hình thức, lời văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả hoặc biểu cảm thường sử dụng các từ ngữ như: tính từ, danh từ, các động từ chỉ hành động, trạng thái của nhân vật, sự việc hoặc, sự đánh giá mang tính chủ quan của người viết với sự việc, nhân vật; các kiểu câu nghi vấn, mở rộng thành phần để ghi lại cảm nhận, cảm nghĩ, phát biểu cảm tưởng
Tương tự thế, cùng với yếu tố miêu tả, biểu cảm, yếu tè nghị luận
còng thường xuất hiện trong lời giới thiệu nhân vật và lời kể việc Bởi, tự sự là
kể việc để qua đó "giải thích sự vật, sự việc, con người và bày tỏ thái độ khen chê" [89, tr 28] Cách "bày tỏ thái độ khen chờ’ Êy liên quan đến việc lùa chọn lời văn để thể hiện ý kiến chủ quan của người viết
Vớ dô:
Trang 39Thì ra thằng con trai của anh chỉ mới đi được đến hàng cây bằng lăng bên kia đường Thằng bé vẫn cắp cuốn sách bờn nỏch đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trờn hố phố Suốt đời Nhĩ cũng đã chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra được Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày, Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nú
đó thấy có cái gì đáng hấp dẫn ở bên kia sụng đõu? Họa chăng chỉ
có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bên bờ bên kia, cả trong những nột tiờu sơ, và cái điều riêng anh khám phá giống như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giê giải thích hết [108, tr 105]
Đoạn trích trên sử dụng lời miêu tả nhân vật qua hình thức độc thoại nội tâm của nhân vật Nhĩ Dòng độc thoại nội tâm này nhằm hướng tới mục đích: thức tỉnh con người về những cỏi vũng vèo, chùng chình trong cuộc đời Lời văn được triển khai dựa trờn lối lập luận:
Nêu tình huống (vấn đề): Nhĩ phát hiện ra cậu con trai chưa sang được
bãi bồi bên kia sông
Phát triển vấn đề: Liên tưởng đến những đam mê thời tuổi trẻ của mình Kết thúc vấn đề: Rót ra những chiêm nghiệm về quy luật của cuộc đời,
và chỉ có những người từng trải mới hiểu và trân trọng vẻ đẹp đơn sơ mà thiêng liêng, dự đú chỉ là một bãi bồi bên kia sụng…
Đó là lối lập luận đi từ cụ thể đến khái quát, từ số phận của một cá nhân đến những chân lý cuộc đời Chính sự kết hợp yếu tố nghị luận trong lời
39
Trang 40văn kể về nhân vật Nhĩ như thế, ý nghĩa câu chuyện được khắc họa sâu hơn và
mở ra những trường liên tưởng sâu xa trong tâm hồn người đọc
Để nhận ra yếu tố nghị luận trong lời văn tự sự thường căn cứ trờn cỏc dấu hiệu sau:
- Nghị luận thực chất là sự đối thoại, đối thoại của nhân vật với chính mình hay với người nghe nhằm mục đích thuyết phục người đọc, người nghe, thuyết phục chính mình hiểu, tin, chấp nhận một vấn đề nào đó Vì vậy, lời văn tự sự khi kể người, kể việc thường sử dụng hình thức lập luận theo kiểu: nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thóc vấn đề hoặc theo lối diễn dịch, quy nạp
- Người viết thường sử dụng các từ ngữ, kiểu câu mang tính chất nghị luận để giới thiệu nhân vật hoặc để kể sự việc Đó là cỏc cõu hụ ứng thể hiện
các phán đoán dưới dạng: nếu thì; vì thế cho nên; sở dĩ là vì; khi A thì
B hoặc, các kiểu câu khẳng định, ngắn gọn, khúc chiết nh những chõn lớ.
Tuy nhiên, trong VBTS, nghị luận chỉ là yếu tè "thấp thoáng", đan xen, gắn với mục đích làm nổi bật sự vật và con người trong những tình huống cụ thể: "… nghị luận trong tự sự chỉ là yếu tố đơn lẻ, biệt lập trong một tình huống cụ thể, một sự việc hay một nhân vật cụ thể nào đó của câu chuyện" [109, tr 156] Việc sử dụng yếu tố nghị luận trong bài văn tự sự phụ thuộc vào đặc điểm nhân vật, sự việc và chủ đề- tư tưởng của câu chuyện
Tóm lại, RLNLDĐ trong dạy học kiểu VBTS bao gồm nhiều yêu cầu,
nhiều nội dung, trong đó RLNL viết lời văn có một vị trí quan trọng Luận án
giới thiệu hai kiểu loại lời văn thể hiện rõ nhất đặc trưng của kiểu VBTS: lời giới thiệu nhân vật và lời kể việc Tuy nhiên cũng cần lưu ý, trong từng kiểu loại lời văn, tùy thuộc vào nội dung câu chuyện và mục đích biểu đạt, người viết có thể kết hợp linh hoạt các yếu tố miêu tả, biểu cảm hay nghị luận làm cho lời văn sinh động, hấp dẫn, thuyết phục được người đọc, người nghe Mặt