Qua tìm hiểu thực tế trong quá trình công tác tại trường, tôi thấy nguyên nhân của sự yếu kém đó là ở khâu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Cụ thể: Chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới, sinh hoạt chuyên môn còn mang nặng tính hình thức, thiếu sự đa dạng về tổ chức và phong phú về nội dung. Chính vì vậy chưa khuyến khích và lôi cuốn giáo viên vào hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ khối ở nhà trường. Đứng trước những đòi hỏi cấp bách của vấn đề này, tôi đã chọn đề tài: “ Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối ở trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội”. Mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên của nhà trường nơi tôi đang công tác.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TÂM
@@@@@@@@@@@@@
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn
của tổ khối ở trường tiểu học
Trang 2PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TÂM
@@@@@@@@@@@@@
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Biện pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn
của tổ khối ở trường tiểu học
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT CNH HĐH - Công nghiệp hoá hiên đại hoá
NQTW – Nghị quyết trung ương.
BCHTW – Ban chấp hành trung ương.
CHXHCN – Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
GD&ĐT – Giáo dục và đào tạo.
GVTH – Giáo viên tiểu học.
GD – Giáo dục.
HS – Học sinh.
BDGV – Bồi dưỡng giáo viên.
QLGD – Quản lý giáo dục.
BDGVTH – Bồi dưỡng giáo viên tiểu học.
BDCM – Bồi dưỡng chuyên môn.
SHCM – Sinh hoạt chuyên môn.
CBQL – Cán bộ quản lý.
BDCBQL – Bồi dưỡng cán bộ quản lý.
GDTH – Giáo dục tiểu học.
CĐ - Chuyên đề.
DỰ ÁN PEDC - Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khókhăn.
GDVS&DDHĐ - Giáo dục vệ sinh và dinh dưỡng học đường.
Trang 4LỜI NGỎ
Kính thưa quý vị và các đồng nghiệp thân mến! Trong quá trình làm công tác
quản lý giáo dục ở trường tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội
tôi thấy chất lượng sinh hoạt chuyên môn của trường chưa thật sự hiệu quả; chưa
đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay Tôi
thiết nghĩ nếu làm tốt được công tác này, chắc chắn chất lượng dạy và học của
nhà trường sẽ tốt hơn rất nhiều chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên
cứu đề tài này, mong sao tìm ra được một số giải pháp cho vấn đề Trong quá
trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót lớn nhỏ Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, các đồng nghiệp và những ai quan tâm
đến đề tài này mọi sự góp ý của quý vị sẽ giúp cho đề tài của tôi hoàn thiện và có
tính ứng dụng cao hơn; giúp tôi vận dụng có hiệu quả hơn trong công tác quản lý,
chỉ đạo của mình Tôi luôn sẵn sàng đón nhận mọi sự đóng góp, nhận xét của quý
vị xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ, giáo viên của trường tiểu hoc Đồng Tâm
đã giúp đỡ tôi nghiên cứu đề tài này, đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành nội dung
đề tài !
Tác giả
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong xu thế phát triển của thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nhất là trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế (WTO), toàn cầu hoá trên mọi phương diện hiện
nay Đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi cấp,ngành cần phải tự vận động, đổi mới mình để
đáp ứng đầy đủ yêu cầu của xã hội Việt Nam nói chung và giáo dục Việt Nam
nói riêng cũng đang từng bước đổi mới và hoàn thiện mình để theo kịp sự đổi mới
của đất nước, sự phát triển của cộng đồng thế giới Những đổi mới đó được cụ thể
hoá bằng các NQTW Đảng khoá VI, VII, VIII, IX Đặc biệt đến đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã xác định “đổi mới Giáo dục phải đổi mới toàn
diện từ giáo dục Mầm non đến giáo dục Phổ thông và Đại học…” Nhà nước
CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã thể chế hoá các
NQTW Đảng thành hành động cụ thể, giao cho Bộ GD&ĐT chủ động xây dựng
chương trình đổi mới toàn diện Giáo dục Việt Nam Nội dung đầu tiên được Bộ
GD&ĐT thực hiện, đó là: đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa và
phương pháp dạy học theo hướng tích cực từ Tiểu học đến Trung học Phổ
thông v.v Trong đó có dự án phát triển GVTH và chuẩn nghề nghiệp đối với
GVTH Các chương trình này đã tạo ra bước đột phá lớn cho hệ thống giáo dục
Việt Nam nói chung và GDTH nói riêng Kết hợp với sự quyết tâm đưa giáo dục
Việt Nam thoát khỏi tình trạng trì trệ , chạy theo thành tích bề nổi Chính phủ và
Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục, các tỉnh, ngành thực hiện nghiêm túc
phong trào “ Hai không” với bốn nội dung ( Nói không với tiêu cực và bệnh
thành tích trong giáo dục; nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi
nhầm lớp) Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chất lượng giáo dục của các bậc
học đã chuyển biến tích cực, được xã hội công nhận và toàn dân ủng hộ
Tuy nhiên chất lượng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu của sự đổi
mới GD hiện nay Nhiều giáo viên không đủ năng lực sư phạm, trình độ chuyên
môn,kĩ năng nghề nghiệp để tham gia giảng dạy và giáo dục HS Đáng tiếc, cá
Trang 6biệt có số ít nhà giáo không đủ tư cách đạo đức đứng trên bục giảng Nguyên
nhân của hiện tượng này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có vấn đề về
công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Thực tế tại trường: Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội, nơi
tôi đang công tác, cũng còn có thầy cô giáo chưa đáp ứng được đòi hỏi của đổi
mới phương pháp dạy học theo chương trình và sách giáo khoa mới Hiệu quả
chuyên môn còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa thoả mãn được sự mong đợi của
HS và cha mẹ HS Qua tìm hiểu thực tế trong quá trình công tác tại trường, tôi
thấy nguyên nhân của sự yếu kém đó là ở khâu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên Cụ thể: Chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối chưa đáp ứng được
nhu cầu đổi mới, sinh hoạt chuyên môn còn mang nặng tính hình thức, thiếu sự
đa dạng về tổ chức và phong phú về nội dung Chính vì vậy chưa khuyến khích
và lôi cuốn giáo viên vào hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ khối ở nhà
trường Đứng trước những đòi hỏi cấp bách của vấn đề này, tôi đã chọn đề tài: “
Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối ở
trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội” Mong muốn
góp một phần nhỏ bé vào công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
của nhà trường nơi tôi đang công tác
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài: Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt
chuyên môn của tổ khối ở trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành
phố Hà Nội , nhằm mục đích đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn
của tổ khối Tạo ra động lực mới, giúp giáo viên hứng thú với hoạt động sinh
hoạt chuyên môn ở tổ khối Từ đó, giáo viên phát huy hết khả năng sáng tạo của
bản thân, tạo ra những sản phẩm lao động sư phạm có giá trị Góp phần tích cực
vào công tác nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường Đồng thời giúp cho
tổ khối trưởng có kĩ năng tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn linh hoạt và
khoa học Sao cho các buổi sinh hoạt chuyên môn sẽ là những buổi trao đổi kinh
Trang 7nghiệm giảng dạy nghiêm túc và bổ ích nhất đối với tất cả các giáo viên
3 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối ở
trường Tiểu học.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt
chuyên môn của tổ khối ở trường Tiểu học.Dựa trên những cơ sở khoa học đã
được khẳng định của các nhà nghiên cứu để tìm ra giải pháp tối ưu cho công tác
chỉ đạo của nhà trường
4.2 Phân tích thực trạng công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt
chuyên môn của tổ khối ở trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành
phố Hà Nội Tìm ra những thành công cần phát huy và các tồn tại, hạn chế cần
khắc phục Từ đó giúp định hướng cho kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ
giáo viên, tổ khối trưởng chuyên môn có tay nghề cao
4.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên
môn của tổ khối ở trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà
Nội Đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo BDGV nói
chung và công tác tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở các tổ khối chuyên môn tiểu
học nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
-Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết BCHTW và cấp uỷ Đảng các cấp
Nghiên cứu các chỉ thị, quyết định của chính phủ và Bộ GD&ĐT; UBND thành
phố và Sở GD&ĐT Hà Nội; các văn bản hướng dẫn, các công văn chỉ đạo của
Phòng GD Mỹ Đức, về đổi mới giáo dục và nân
g cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
Trang 8đáp ứng sự phát triển của xã hội ngày càng cao.
- Nghiên cứu các tài liệu BDGV Tiểu học theo chu kỳ BDTX, Tài liệu BDGV
theo chương trình sách giáo khoa mới; Tài liệu BDCBQL trường Tiểu học;Tạp
chí Giáo dục& nhà trường, Tạp chí Thế giới trong ta, báo Giáo dục và Thời
đại.v.v
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Khi triển khai nghiên cứu đề tài tại cơ sở trường Tiểu học Đồng Tâm, Tôi đã sử
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp điều tra thông tin
- Phương pháp nghiên cứu kết quả hoạt động
- Phương pháp luận đa chiều
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
5.3 Nhóm Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ:
- Phương pháp thống kê toán học
-Phương pháp dự giờ khảo cứu.v.v…
6 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài “ Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ
khối ở trường Tiểu học” được nghiên cứu trong thời gian từ năm học
2008-2009 đến năm học 2012 – 2013, tại 5 tổ khối chuyên môn của trường Tiểu học
Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CỦA TỔ KHỐI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC.
Truyền thống hiếu học và nền giáo dục Việt Nam đã tồn tại và phát triển cùng
với sự phát triển của dân tộc Việt Nam Trong mỗi thời kỳ lịch sử, nền giáo dục
Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp trồng người, xây dựng và
bảo vệ đất nước
Ngày nay, trong sự phát triển của thế giới đương đại cũng như của các quốc
gia, giáo dục và đào tạo ngày càng trở lên vô cùng quan trọng Nhận thức rõ điều
đó, Đảng và nhà nước ta xác định giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầuvà đầu
tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho sự phát triển Thực hiện đường lối do
Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, trong những năm qua, nền
giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển mới, góp phần chuẩn bị tiền đề
mạnh mẽ và vững chắc hơn của sự nghiệp giáo dục trong thế kỷ XXI…( Giáo dục
Việt Nam 1945 – 2005 – Nhà xuất bản chính trị Quốc gia – 2005 tr 11)
Quan điểm chỉ đạo của nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng
cộng sản Việt Nam đó là: nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp
học, bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích
cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều,… khắc phục
những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục ( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X, tr97)
Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán , từ mục tiêu, chương trình, nội
dung , phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được
chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ
giáo dục của khu vực và thế giớ; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn
tổng thể thiếu kế hoạch đồng bộ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại của
dân do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo
Trang 10điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH
đất nước
Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ GV và
tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập
suy nghĩ của HS Coi trọng bồi dưỡng cho HS… khát vọng xây dựng đất nước
giầu mạnh, gắn liền lập nghiệp của bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân
tộc, trau dồi cho HS phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam và hiện đại
Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất lượng giáo
dục , đào tạo
Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân
luồng đào tạo…Đẩy mạnh XHHGD&ĐT…Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và
đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tiếp tục hoàn chỉnh
hệ thống trường lớp , cơ sở vật chất, mở thêm các trường nội trú, bán trú và có
chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho các trường các vùng …Đổi mới và nâng cao
năng lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; nhà nước thực hiện đúng chức
năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát
việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và
đào tạo, chống bệnh thành tích (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X –
Tr 206-209 )
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng đã được cụ thể hoá thành các văn bản pháp quy của
nhà nước Bộ GD-ĐT đã thay mặt chính phủ xây dựng chiến lược phát triển giáo
dục và đào tạo trong giai đoạn 2010 – 2020 Nội dung cơ bản của chiến lược là:
khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực ; tiếp tục đổi mới một cách có hệ
thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục;
phục vụ CNH-HĐH, chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền
vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Tạo
chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên
tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát
Trang 11triển kinh tế-xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một
xã hội học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng thụt hậu
trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực Ưu tiên nâng cao
chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học-công nghệ
trình độ cao, cán bộ quản lý kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực
tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; … Đổi mới mục tiêu, nội
dung, chương trình giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, … Đồng thời
thích ứng với nhu cầu nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất
nước, của từng vùng và từng địa phương; thực hiện nguyên lý học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo
dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chú trọng giáo
dục thể chất và bồi dưỡng nhân cách người học Hiện đại hoá trang thiết bị giảng
dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thục hành Nhanh chóng áp dụng công
nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lý giáo
dục
Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn
về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu
quả giáo dục
Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri
thức thụ động, thầy giảng trò nghe sang hướng dẫn người học chủ động tu duy
trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu
nhận thông tin một cách hệ thống và có tu duy phân tích, tổng hợp; phát triển
được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học
sinh trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các
hoạt động xã hội
Trong báo cáo của Chính phủ trước quốc hội khoá XI đã nhấn mạnh việc đẩy
mạnh đổi mới phương pháp dạy học, coi đó là giải pháp trọng tâm nhằm củng cố
và phát triển giáo dục một cách vững chắc Cụ thể là: khắc phục kiểu quản lý dạy
Trang 12học buộc giáo viên phải lệ thuộc vào những quy trình, khuôn mẫu sẵn có, động
viên và tạo điều kiện để giáo viên được chủ động phát huy sáng kiến trong việc
lựa chọn và sử dụng các phương pháp giáo dục, thực hiện đều đặn các chuyên đề
đổi mới phương pháp dạy học Đẩy mạnh sản xuất và cung cấp các phần mềm
dạy học, những băng hình dạy học để các nhà trường tham khảo.v.v…(Tài liệu
BDQL, Công chức nhà nước nghành giáo dục và đào tạo-Phần 1( Đường lối,
chính sách))
Xây dựng và phát triển đội ngũ trong trường Tiểu học là một biện pháp của
người quản lý nhằm xây dựng đội ngũ đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, đáp
ứng yêu cầu phát triển thực tế xã hội của đất nước, yêu cầu phát triển của giáo
dục nói chung và yêu cầu phát triển của nhà trường Tiểu học nói riêng Mục tiêu
cụ thể là: Số lượng và cơ cấucủa đội ngũ CBQL, giáo viên nhân viên trong nhà
trường đủ và đồng bộ; năng lực của đội ngũ nói chung và năng lực của từng thành
viên nói riêng đảm bảo được chất lượng và hiệu quả các hoạt động theo chức
năng, nhiệm vụ Mọi thành viên trong nhà trường đoàn kết, thống nhất để thực
hiện mục tiêu chung của nhà trường… Đội ngũ giáo viên Tiểu học ở nước ta tăng
nhanh về số lượng và có số lượng lớn nhất Theo thống kê của Bộ giáo dục năm
học 1992-1993 cả nước có 264.808 giáo viên Tiểu học Mười năm sau, năm học
2002-2003 số GVTH đã tăng lên 358.606 người Hiện nay số lượng GVTH chiếm
hơn 50% giáo viên các cấp Trong 10 năm, đội ngũ GVTH tăng lên xấp xỉ
100.000 người, mỗi năm bình quân tăng 10.000 giáo viên Do sự gia tăng về số
lượng, 10 năm qua ngành giáo dục đã dần khắc phục được tình trạng thiếu
GVTH Nếu năm học 1992-1993 chúng ta thiếu 60.000 giáo viên thì đến nay,
hiện tượng thiếu GVTH chỉ còn ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng cao,
vùng sâu, hải đảo
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về số lượng đội ngũ GVTH có một số đặc điểm
đặc thù về chất lượng Trình độ đào tạo ban đầu là năng lực chuyên môn của đội
ngũ GVTH có sự không đồng đều Mấy chục năm qua GVTH chủ yếu được đào
tạo ở trình độ thấp, gồm nhiều hệ đào tạo đa dạng Đa số được đào tạo ở trình độ
Trang 13trung học sư phạm Do yêu cầu bức thiết của sự phát triển quy mô GDTH, do
thiếu nguồn tuyển ở địa phương nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa Nhiều địa
phương đã phải mở lớp đào tạo ngắn hạn, cấp tốc, như các hệ: 5+3, 7+1,9+1,…
thậm chí có những địa phương tuyển thẳng người đã học xong THCS(các năm
học cuối thập niên 80 đầu thập niên 90) vào dạy TIểu học Đến năm học
1998-1999 những năm cuối cùng hệ 5+3 mới kết thúc, đồng thời chấm dứt việc đào tạo
ngắn hạn, cấp tốc GVTH Nhìn qua lịch sử đào tạo GVTH chúng ta thấy rõ hơn
đặc điểm đội ngũ GVTH đa số là trình độ đào tạo thấp Về năng lực chuyên môn
đội ngũ GVTH ở các vùng miền khác nhau, thậm chí ngay trong một tỉnh, huyện
hay một trường cũng có sự không đồng đều Các giáo viên được đào tạo ở nhiêu
trrình độ khác nhau thì năng lực chuyên môn cũng khác nhau Đặc điểm trên cũng
bộc lộ rõ khi GDTH hoàn thành phổ cập chuyển sang nâng cao chất lượng
Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ IX đã đề ra yêu cầu hiện đại hoá, chuẩn hoá
với nghành giáo dục nói chung, với việc xây dựng đội ngũ nói riêng Để nâng cao
chất lượng đội ngũ GVTH, cần phải hiện đại hoá và chuẩn hoá đội ngũ này Việc
chuẩn hoá đội ngũ GV không chỉ là việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cho đạt
chuẩn do luật giáo dục quy định mà còn là quá trình phấn đấu để khắc phục sự
không đồng đều của đội ngũ này về mọi mặt, từ phẩm chất đạo đức tới trình độ
kiến thức văn hoá, kỹ năng sư phạm Như vậy trình độ đào tạo mới là yếu tố đầu
tiên bước vào nghề dạy học Đối với mỗi giáo viên đứng trên bục giảng cần phải
phấn đấu tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức và trình độ
văn hoá chung, cần rèn luyện không ngừng để nâng cao năng lực sư phạm Bộ
GD&ĐT đã đưa ra chuẩn GVTH, coi đó là tiêu chí mà mỗi giáo viên cần vận
dụng để xem xét bản thân và xác dịnh con đường phấn đấu, rèn luyện Chuẩn GV
còn là căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo, đào tạo lại GVTH của trường sư
phạm, là cơ sở để các cấp QLGD xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ “Chuẩn
GVTH” là những yêu cầu về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đối với người
GVTH trong giai đoạn đất nước đang CNH- HĐH, trước công cuộc đổi mới
chương trình GDPT nói chung và GDTH nói riêng.” Chuẩn GVTH’ thể hiện ở ba
Trang 14lĩnh vực: phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, kiến thức, kỹ năng sư phạm Mỗi
lĩnh vực có các nội dung cốt lõi, nội dung cốt lõi của mỗi lĩnh vực được cụ thể
hoá thành các yêu cầu cần đạt đối với từng cấp độ GVTH Vì vậy, việc xây dựng
và phát triển đội ngũ, trọng tâm là việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ là
một vấn đề vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt của GDTH, vừa có ý nghĩa to lớn
trong việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia
CHƯƠNG 2:
2.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CỦA TỔ
KHỐI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TÂM HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH
PHỐ HÀ NỘI.
2.1 Đặc điểm chung của trường Tiểu học Đồng Tâm huyện Mỹ Đức Thành
Phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế – xã hội của địa phương; sự quan
tâm của các cấp , ngành đến công tác giáo dục của nhà trường.
Xã Đồng Tâm chính thức được thành lập năm 1958 sau khi cải cách ruông đất
gồm 2 thôn là thôn Hoành của Thượng Lâm Trang và thôn Đồng Mít của tổng
Phúc Lâm Ngay cả trước khi sát nhập và sau khi sát nhập nền kinh tế của xã vẫn
còn nhiều hạn chế và yếu kém Nguồn thu nhập chủ yếu của người dân địa
phương dựa vào làm nông nghiệp và là nền kinh tế tự cung, tự cấp Đời sống
kinh tế của họ còn gặp vô vàn khó khăn, nhận thức xã hội chưa đầy đủ, nên vấn
đề học tập của con em thiếu đi sự quan tâm cần thiết
Tuy nhiên cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương rất quan tâm đế sự nghiệp
giáo dục của nhà trường Họ đã tạo điều kiện tối đa cho nhà trường hoàn thành sứ
mệnh cao cả mà Đảng và nhà nước phân công đó là sự nghiệp trồng người Cụ
thể như: các NQ của cấp uỷ, HĐND-UBND, các đoàn thể đều tập trung vào công
tác nâng cao dân trí, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng GD; Tạo điều kiên về
cơ sở vất ngày một đầy đủ , nhà trường chỉ có trách nhiệm quản lý dạy học và
giáo dục HS đạt mục tiêu theo quy định chung Phòng giáo dục luôn tạo điều kiện
Trang 15cho nhà trường và giáo viên phát triển năng lực chuyên môn Họ đã trao cho nhà
trường, GV tự chủ trong việc lựa chọn phương pháp dạy học và hình thức sinh
hoạt chuyên môn sao cho đáp ứng được nhu cầu thực tế của nhà trường Bên cạnh
đó Phòng GD còn giúp nhà trường BDGV theo chương trình chung của Bộ và các
dự án đào tạo BDGVTH.v.v
2.1.2 Đặc điểm của nhà trường:
* Những thuận lợi:
-Trường Tiểu học Đồng Tâm được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1992 Sau 21
năm xây dựng và trưởng thành nhà trường đã được đầu tư kiên cố nhờ các
chương trình kiên cố hoá do nhà nước đầu tư
-Trang thiết bị dạy và học đang được đầu tư, mua sắm đảm bảo đủ phục vụ
cho mỗi HS có một bộ đồ dùng học tập; mỗi giáo viên có một bộ đồ dùng dùng
chung cho giáo viên Trong những năm qua, nhà trường cũng đón nhận được sự
hỗ trợ, đầu tư của nhiều nguồn dự án cho GD của đơn vị để trường đạt chuẩn
quốc gia năm 2012
Hình ảnh của trường tiểu hoc Đồng Tâm
Trang 16-Giáo viên nhiệt tình, hăng hái, sáng tạo trong lao động sư phạm Nhiều giáo
viên có trình độ chuyên môn, có tâm huyết với nghề Sẵn sàng khắc phục khó
khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao Đời sống vật chất, tinh thần đã được cải
thiện đáng kể; đa số giáo viên có mức sống từ trung bình trở lên, không có giáo
viên dưới mức nghèo( theo tiêu chuẩn mới) Chất lượng tổ khối trưởng chuyên
môn phần nào đáp ứng được yêu cầu thực tế của nhà trường và đòi hỏi sự đổi mới
trong quản lý chuyên môn theo chương trình GD mới
Hình ảnh cô và trò lớp 1 trong tiết tập viết
- Đại bộ phận HS ngoan , tích cực hoàn thành nội dung chương trình học tập của
mình Các em bước đầu đã theo kịp sự đổi trong giáo dục, đổi mới phương pháp
học tập theo hướng chủ động chiếm lĩnh tri thức trên cơ sở hướng dẫn của giáo
viên…
* Những khó khăn:
Trang 17-Tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học trong một bộ phận giáo viên còn
chậm tiến, nhất là số giáo viên hạn chế về trình độ và năng lực chuyên môn Vẫn
còn tình trạng giáo viên dự sinh hoạt chuyên môn còn mang tính hình thức,
không chú trọng học hỏi, trao đổi
-Giáo viên còn qua quýt trong nhận xét giờ dự, ngại đấu tranh phê bình trong
chuyên môn Không thẳng thắn nhận ra thiếu sót của mình và góp ý cho đồng
nghiệp Sợ những góp ý của mình làm mất lòng đồng nghiệp, gây phương hại đến
tình cảm cá nhân
-Hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn chưa đa dạng, nội dung bồi dưỡng
chưa phong phú, phong cách làm việc của tổ khối trưởng chuyên môn chưa khoa
học Chính vì vậy không hấp dẫn được giáo viên tham gia SHCM
-Sự không đồng đều về trình độ đào tạo, kiến thức sư phạm, năng lực dạy học,
phương pháp giáo dục cũng là một trở ngại lớn với trường Tiểu học Đồng Tâm
-Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thiếu về số lượng, không đồng bộ, ít có khả năng
áp dụng vào thực tế của nhà trường Đây cũng là yếu tố làm ảnh hưởng tới chất
lượng sinh hoạt chuyên môn của tổ khối
-Hiện trong năm hoc tới, nhà trường lại thiếu phòng học phục vụ cho học tập
nên công tác bố trí giáo viên sinh hoạt chuyên môn tập chung toàn trường rất khó
khăn Giáo viên ít có cơ hội được dự giờ, trao đổi chuyên môn với các tổ khối
khác trong nhà trường
-Sự chuyển đổi cơ chế hoạt động, quản lý, chỉ đạo chuyên môn từ Sở Giáo dục
và đào tạo nên sự bắt nhịp; hoà đồng vẫn còn một khoảng cách chưa thể hoàn
thiện trong thời gian ngắn Sự chuyển đổi cơ chế quản lý cần phải có một quá
trình để chan hoà và bắt nhịp
- HS là chủ yếu là con những gia đình nông nghiệp người chiếm đa số nên khả
năng tiếp thu bài, sự sáng tạo trong phương pháp học tập còn han chế Chính vì
vậy chất lượng học tập của các em còn nhiều hạn chế Chính vì thế, sự ủng hộ
cho giờ dạy của giáo viên cũng gặp không ít khó khăn