1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về việc thực hiện và ký kết hợp đồng nhập khẩu tại Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng

98 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 624 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang hòa mình vào sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong xu thế đó, Thương mại quốc tế đã trở thành hoạt động mang tính chất sống còn đối với sự lớn mạnh của đất nước cũng như của từng doanh nghiệp và là con đường tốt nhất và nhanh nhất để các doanh nghiệp, các quốc gia hòa mình vào dòng chảy kinh tế thế giới, hội nhập sâu và rộng tới các nền kinh tế khác.Cùng với quá trình đó Việt Nam cũng đang từng bước tham gia vào dòng chảy này, với việc tham gia và thực hiện đúng lộ trình cam kết gia nhập WTO,đã và đang không ngừng cố gắng đẩy mạnh sự nghiệp CNHHĐH đất nước, đưa nền kinh tế hòa nhập vào khu vực Đông Nam Á và các nước phát triển trên thế giới. Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về trình độ khoa học kĩ thuật thì con đường nhanh nhất để tiến hành CNHHĐH đất nước là cần nhanh chóng tiếp cận những công nghệ và kĩ thuật tiên tiến của các nước phát triển. Để làm được điều này thì nhập khẩu đóng một vai trò vô cùng quan trọng.Nhập khẩu cho phép phát huy tối đa nội lực trong nước đồng thời tranh thủ được các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ của thế giới. Trước bối cảnh đó đã đặt cho ngành thương mại nói chung và Trung tâm XNK nói riêng những cơ hội và thử thách lớn lao. Đó là làm thế nào để có những máy móc thiết bị có công nghệ tốt nhất, hiện đại nhất với thời gian và chi phí ít nhất, đạt hiệu quả cao. Trung tâm XNK chuyên nhập khẩu máy móc thiết bị xây dựng phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước. Để đáp ứng nhu cầu chất lượng cao của khách hàng thì Trung tâm XNK phải có nhiệm vụ nhập khẩu những máy móc và thiết bị hiện đại của các nước phát triển thông qua các hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài. Để hỗ trợ cho công tác nhập khẩu thì việc làm tốt khâu tổ chức thực hiện, ký kết hợp đồng nhập khẩu là rất quan trọng. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm nhiều công việc kế tiếp, đan xen nhau, thực hiện tốt một công việc sẽ là cơ sở để thực hiện tốt các công việc tiếp theo của cả hợp đồng nhập khẩu. Xuất phát từ thực tế trên, trong thời gian thực tập tại Trung tâm XNK trực thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng e đã chọn đề tài: “Pháp luật về việc thực hiện và ký kết hợp đồng nhập khẩu tại Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng” Kết cấu của đề tài gồm 3 chương: Chương I: Pháp luật về hợp đồng nhập khẩu Chương II: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy móc tại Trung tâm XNK (COMAIMEX) thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng nhập khẩu cũng như việc áp dụng tại Trung tâm XNK (COMAIMEX) thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng. Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của thầy Nguyễn Vũ Hoàng và tập thể cán bộ nhân viên Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng để tôi có thể hoàn thành bài viết này. Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian thực tập tại công ty chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong chuyên đề thực tập. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để chuyên đề thực tập của tôi được hoàn chỉnh hơn.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang hòa mình vào sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tếkhu vực và thế giới Trong xu thế đó, Thương mại quốc tế đã trở thành hoạtđộng mang tính chất sống còn đối với sự lớn mạnh của đất nước cũng như củatừng doanh nghiệp và là con đường tốt nhất và nhanh nhất để các doanhnghiệp, các quốc gia hòa mình vào dòng chảy kinh tế thế giới, hội nhập sâu vàrộng tới các nền kinh tế khác.Cùng với quá trình đó Việt Nam cũng đang từngbước tham gia vào dòng chảy này, với việc tham gia và thực hiện đúng lộtrình cam kết gia nhập WTO,đã và đang không ngừng cố gắng đẩy mạnh sựnghiệp CNH-HĐH đất nước, đưa nền kinh tế hòa nhập vào khu vực ĐôngNam Á và các nước phát triển trên thế giới

Với xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạnchế về trình độ khoa học kĩ thuật thì con đường nhanh nhất để tiến hànhCNH-HĐH đất nước là cần nhanh chóng tiếp cận những công nghệ và kĩthuật tiên tiến của các nước phát triển Để làm được điều này thì nhập khẩuđóng một vai trò vô cùng quan trọng.Nhập khẩu cho phép phát huy tối đa nộilực trong nước đồng thời tranh thủ được các tiến bộ khoa học kỹ thuật, côngnghệ của thế giới Trước bối cảnh đó đã đặt cho ngành thương mại nói chung

và Trung tâm XNK nói riêng những cơ hội và thử thách lớn lao Đó là làm thếnào để có những máy móc thiết bị có công nghệ tốt nhất, hiện đại nhất vớithời gian và chi phí ít nhất, đạt hiệu quả cao

Trung tâm XNK chuyên nhập khẩu máy móc thiết bị xây dựngphục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước Để đáp ứng nhu cầuchất lượng cao của khách hàng thì Trung tâm XNK phải có nhiệm vụ nhậpkhẩu những máy móc và thiết bị hiện đại của các nước phát triển thông quacác hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài Để hỗ trợ cho công tác nhập khẩu thìviệc làm tốt khâu tổ chức thực hiện, ký kết hợp đồng nhập khẩu là rất quantrọng Thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm nhiều công việc kế tiếp, đan

Trang 2

xen nhau, thực hiện tốt một công việc sẽ là cơ sở để thực hiện tốt các côngviệc tiếp theo của cả hợp đồng nhập khẩu Xuất phát từ thực tế trên, trongthời gian thực tập tại Trung tâm XNK trực thuộc Tổng công ty cơ khí xây

dựng e đã chọn đề tài: “Pháp luật về việc thực hiện và ký kết hợp đồng nhập khẩu tại Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng”

Kết cấu của đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Pháp luật về hợp đồng nhập khẩu

Chương II: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy móctại Trung tâm XNK (COMA-IMEX) thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng

Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về hợpđồng nhập khẩu cũng như việc áp dụng tại Trung tâm XNK (COMA-IMEX)thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của thầy Nguyễn VũHoàng và tập thể cán bộ nhân viên Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơkhí xây dựng để tôi có thể hoàn thành bài viết này Do kiến thức và kinhnghiệm còn hạn chế, thời gian thực tập tại công ty chưa nhiều nên không thểtránh khỏi những thiếu sót trong chuyên đề thực tập Tôi rất mong nhận được

sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để chuyên đề thực tậpcủa tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 3

CHƯƠNG I PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU

I Khái quát chung về hợp đồng nhập khẩu

1 Khái niệm nhập khẩu

Nhập khẩu là sự trao đổi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằmmục đích lợi nhuận giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốcgia khác nhau

Theo Điều 28.2 Luật Thương mại 2005: “Nhập khẩu hàng hoá là việchàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặcbiệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy địnhcủa pháp luật”

Đây là hình thức thường áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước có

đủ điều kiện tài chính, điều kiện nhân lực, điều kiện địa lý, có khả năng muahàng nhập khẩu và được Nhà nước, Bộ Thương mại cấp giấy phép, cho phéptrực tiếp giao dịch, ký kết các hợp đồng về nhập khẩu hàng hoá với nướcngoài và thanh toán bằng ngoại tệ (chủ yếu là ngoại tệ mạnh)

2.2 Nhập khẩu uỷ thác

Trang 4

Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động của doanh nghiệp trong nước có vốnngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu nhưng không có đủ điều kiện tham gianhập khẩu trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp khác nhập khẩu hàng theo yêucầu của mình Bên nhận uỷ thác đàm phán, ký kết hợp đồng để nhập hàngtheo yêu cầu và được hưởng phí uỷ thác.

Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện cụthể của từng doanh nghiệp Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp áp dụng cả 2hình thức nhập khẩu trên nhằm tối đa hoá hiệu quả trong kinh doanh Thôngthường tổ chức nhập khẩu theo hình thức trực tiếp có lợi hơn vì doanh nghiệp

có thể chủ động nắm bắt thông tin, tìm hiểu thị trường một cách sâu sắc vàtoàn diện, có điều kiện mở rộng quan hệ, uy tín với bạn hàng nước ngoài

3 Khái niệm hợp đồng nhập khẩu

Để hiểu về hợp đồng nhập khẩu trước tiên phải tìm hiểu về hợp đồngmua bán hàng hoá quốc tế

“Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoátrong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại tại các nước khác nhau, hànghoá được chuyển từ nước này đến nước khác, hoặc việc trao đổi ý chí ký kếthợp đồng giữa các bên được thiết lập ở các nước khác nhau” (Định nghĩa theocông ước La haye 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình)

Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tếcũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định: “Công ước này

áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên cótrụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” (Điều 1 Công ước Viên 1980

về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế)

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa cácbên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó thiếtlập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể với nhau

Trang 5

Vậy, ta có thể định nghĩa hợp đồng nhập khẩu hàng hóa là sự thỏathuận giữa các bên đương sự có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau,theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu hàng cho bên mua, bên mua có nghĩa

vụ nhận hàng và trả tiền

4 Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu

Hợp đồng nhập khẩu vừa chứa đựng những đặc điểm của hợp đồngthương mại vừa có yếu tố quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập dựa trên cơ sở tự nguyệnthoả thuận của các bên tham gia, nghĩa là hợp đồng phải xây dựng trên sự tựnguyện, không có sự ép buộc, cưỡng bức hay lừa dối

Chủ thể là các thương nhân có quốc tịch khác nhau và có trụ sở kinhdoanh tại các quốc gia khác nhau.( Điều 6 LTM 2005)

Hàng hóa – đối tượng của hợp đồng được chuyển qua biên giới quốcgia hoặc giai đoạn chào hàng, chấp nhận chào hàng đựơc diễn ra tại các quốcgia khác nhau.( Khoản 2 Điều 3 LTM 2005)

Nội dung của hợp đồng bao gồm quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việcchuyển giao sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua ở các quốc giakhác nhau Do đó hợp đồng là cơ sở để các bên thực hiện nghĩa vụ của mình

và yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ của họ

Đồng tiền thanh toán theo điều khoản của hợp đồng là ngoại tệ đối với

ít nhất 1 bên

Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, luật quốc tế và tập quánquốc tế về thương mại và hàng hải

5 Nguồn luật điều chỉnh

Luật pháp là cơ sở và yếu tố đầu tiên đảm bảo cho các bên trong hợp đồng

có được môi trường bình đẳng và thuận lợi Không có một thương nhân nào khitham gia ký kết hợp đồng ngoại thương lại không chú ý đến yếu tố này

Trang 6

Trên thực tế, một hợp đồng nhập khẩu dù có được các bên thoả thuận

kỹ lưỡng thì cũng không thể lường trước được đầy đủ các vấn đề, các tìnhhuống phát sinh có thể xảy ra với hàng hoá Vì vậy luật điều chỉnh hợp đồngmua bán hàng hoá nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêngluôn là vấn đề mà các bên cần quan tâm vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của cácbên và nó là cơ sở pháp lý đầu tiên để giải quyết tranh chấp nếu có

Hợp đồng nhập khẩu là một hình thức pháp lý của quan hệ thương mạiquốc tế Vì vậy việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hợp đồng này tương đốiphức tạp Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá có thể chịu sự điều chỉnh của cácnguồn luật khác nhau như các điều ước quốc tế về mua bán hàng hoá quốc tế,các tập quán quốc tế về thương mại, pháp luật của các quốc gia… tuỳ từngtrường hợp cụ thể

5.1 Điều ước quốc tế

Luật quốc tế chính là các quy phạm pháp luật quốc tế, hay chính là cáccam kết của các quốc gia với nhau trong các lĩnh vực nhất định Công ướcViên 1969 về Luật điều ước quốc tế định nghĩa: “Điều ước quốc tế là tất cảcác văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh”

Theo luật Việt Nam, tại Điều 2, pháp lệnh về ký kết và thực hiện điềuước quốc tế 24/8/1998 định nghĩa: “Điều ước quốc tế là thoả thuận bằng vănbản được ký kết giữa nước CHXHCN Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia,

tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác nhau của luật quốc tế, không phụ thuộc vàotên gọi như: hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, công hàmtrao đổi và danh nghĩa ký kết…”

Như vậy có thể định nghĩa điều ước quốc tế về thương mại là sự thoảthuận bằng văn bản giữa hai hay nhiều nước ký kết phù hợp với nhữngnguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứtquyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế

Trang 7

Công ước Viên là kết quả của quá trình thống nhất hoá luật về mua bánhàng hoá quốc tế của Liên hiệp quốc, nhằm loại bỏ những trở ngại do nhữngquy định khác nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về thủ tục ký kết vàthực hiện hợp đồng giữa các bên Việt Nam chưa là thành viên của công ướcViên nhưng các doanh nghiệp Việt Nam có thể lựa chọn công ước này làmcông cụ điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá của mình với các chủ thể kýkết ở nước ngoài.

5.2 Tập quán thương mại quốc tế

Các tập quán được hình thành lâu đời trong các quan hệ thương mạiquốc tế, khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận

sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh mối quan hệ hợp đông giữa các chủ thể

ấy với nhau

Tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào hợp đồng mua bán hànghoá quốc tế sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết Hiệnnay, Incoterm là tập quán thông dụng trong buôn bán hàng hoá quốc tế đượcPhòng Thương mại quốc tế (ICC) tổng kết, soạn thảo và ban hành Cácthương gia thoả thuận thừa nhận Incoterm trong thương mại quốc tế là do nógiúp các bên tiết kiệm nhiều công sức và thời gian khi tham gia quan hệ hợpđồng, khi nó có các quy định cụ thể về nội dung từng điều kiện và các bên chỉcần lựa chọn một điều kiện là đã chấp nhận tất cả các nội dung của điều kiện

đó Chẳng hạn nó giúp người bán chào giá một cách rõ rang về chi phí và rủi

ro trong chuyên chở quốc tế giữa người bán và người mua Tương tự như vậy

là trách nhiệm bảo hiểm và nghĩa vụ làm và chịu chi phí về thủ tục hải quan

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Namcàng ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn

5.3 Luật quốc gia

Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế, bên cạnh các điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế,… luật quốc

Trang 8

gia đóng vai trò quan trọng và trong nhiều trường hợp nó là nguồn luật điềuchỉnh các quan hệ hợp đồng.

Luật quốc gia được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tếtrong các trường hợp sau:

- Khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận áp dụng luật của một bên như

là một điều khoản trong hợp đồng

- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế đượcquy định trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc giađương nhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó Luật quốc gia ápdụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là luật của nước bên bán,nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua, luật của một nước thứ 3, luật nơi

ký kết hợp đồng, luật của nước nơi thực hiện hợp đồng…

Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điềukhoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng đểtránh tình trạng khó xác định luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng.Việc thoả thuận chọn luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phảithông thạo luật nước mình, mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước mình cóquan hệ hợp đồng, luật của nước mình thoả thuận áp dụng cho hợp đồng đểđảm bảo quyền lợi của mình, tránh những thiệt thòi do thiếu hiểu biết phápluật gây ra

5.4 Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại

Các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn xét xử của toà án đượcgọi là tiền lệ pháp Tại các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, các toà ánthường dùng một hoặc một số phán quyết của toà án đã được công bố để làmkhuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp tương tự Trongthương mại quốc tế việc công nhận và cho sử dụng các phán quyết củ toà án

Trang 9

cũng như thừa nhận vai trò tich cực của các án lệ có xu hướng gia tăng tại cácnước có hệ thống pháp luật khác nhau.

5.5 Quy tắc chọn luật

Các nguồn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế rất đa dạng,

vì vậy, trong một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên tham gia hợpđồng phải có sự lựa chọn luật áp dụng rất cụ thể Việc lựa chon áp dụngnguồn luật nào hoàn toàn theo sự lựa chọn của các bên theo nguyên tắc tôntrọng quyền tự quyết của đương sự và không trái pháp luật các bên Nếu cácbên thoả thuận áp dụng luật Việt Nam thì theo quy định tại Điều 759 Bộ luậtdân sự 2005:

Các quy định của pháp luật dân sự của nước CHXHCN Việt Nam được

áp dụng đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp bộluật này quy định khác

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thànhviên có quy định khác với quy định của bộ luật này thì áp dụng quy định củađiều ước quốc tế

Nếu pháp luật Việt Nam, hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên dẫn chiếu đến việc áp dung pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đóđược áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái vớicác nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Nếu pháp luật của nước ngoài đódẫn chiếu ngược lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam

Nếu các bên thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật đóphải không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam

Việc áp dụng tập quán quốc tế được sử dụng trong trường hợp các quan

hệ quốc tế này không được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam, các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên, hay quan hệ hợp đồng giữa các bên Vớiđiều kiện là việc áp dụng tập quán quốc tế hay hậu quả của việc áp dụngkhông trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Trang 10

II Chế độ pháp lý về hợp đồng nhập khẩu theo công ước Viên 1980

Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được ký kếtngay 11/4/1980 tại Viên (Áo) Ban đầu chỉ có 6 quốc gia thành viên, đến nay sốlượng các quốc gia phê chuẩn cồng ước ngày càng tăng lên và trở thành nguồnluật chủ yếu để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hiện nay

1 Phạm vi áp dụng

Công ước được áp dụng trước hết đối với hợp đồng mà các bên tham gia

có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau và các quốc gia này đã tham giaCông ước Theo điều 1 của Công ước thì Công ước chỉ coi trọng nơi đặt trụ sởthương mại chứ không chú ý đến quốc tịch của các bên tham gia hợp đồng

Công ước cũng được áp dụng nếu chỉ một bên có trụ sở tại nước phêchuẩn công ước, nhưng quy định về luật điều chỉnh đã dẫn tới việc áp dụngluật của nước này Ví dụ như khi các bên thoả thuận áp dụng luật của nướcbên bán, mà bên đó là thành viên của Công ước hoặc thoả thuận áp dụng luậtcủa nước thứ 3 mà nước này lại là thành viên của Công ước

Ngoài ra công ước cũng được áp dụng đối hợp đồng được ký kết giữacác bên không có trụ sở thương mại tại các nước đã phê chuẩn công ướcnhưng lại thoả thuận áp dụng nó Tuy nhiên Công ước cũng cho phép các bên

có thể thoả thuận, trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng là không áp dụnghoặc áp dụng không hoàn toàn một điều khoản nào đó của Công ước.1

2 Giao kết hợp đồng nhập khẩu theo công ước Viên

2.1 Chào hàng

Chào hàng là đề nghị về việc ký kết hợp đồng được gửi đích danh chomột hoặc một vài người (Điều 14) Chào hàng có thể là bất kỳ một lời đề nghịnào “đủ rõ ràng” và “chỉ rõ tên hàng hoá, xác định một cách trực tiếp hayngầm định về giá cả” Chào hàng chỉ phát sinh hiệu lực khi nó tới nơi người

1 Trần Văn Nam - Trần Thị Hoà Bình (đồng chủ biên) “Giáo trình Luật thương mại quốc tế” Đại học Kinh tế

Trang 11

được chào hàng (Điều 15.1) Chào hàng có thể bị huỷ nếu thông báo củangười chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi tới nơi người được chào trướchoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15.2) Chào hàng sẽ mất hiệu lực nếungười chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều 17).

2.2 Chấp nhận chào hàng

Chấp nhận chào hàng là một tuyên bố hay một hành vi khác của ngườiđược chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng (Điều 14.1) Nếu người nhậnđược chào hàng nhưng im lặng hoặc không hành động thì không được coi làchấp nhận chào hàng (Điều 18.1) Người nhận được chào hàng sau khi đãchấp nhận cũng có thể xem xét lại và nếu thấy chào hàng đó không có lợi chomình thì có thể huỷ chấp nhận mà mình đã gửi Tuy nhiên việc huỷ chấp nhậnchào hàng chỉ có thể được chấp nhận nếu thông báo về việc huỷ chấp nhậnchào hàng tới nơi người chào hàng trước hoặc cùng thời điểm chấp nhận cóhiệu lực (Điều 22)

Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm chấp nhận chào hàng

có hiệu lực (Điều 23) Bắt đầu từ thời điểm này các bên có những quyền vànghĩa vụ được quy định trong hợp đồng

3 Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng

3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bán

3.1.1 Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá

Công ước Viên quy định về giao hàng và chuyển giao chứng từ liênquan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 35 Theo đó, bên bán có nghĩa vụgiao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá cho người mua theo đúngthoả thuận trong hợp đồng về thời gian Đó là thời điểm mà các bên đã thoảthuận trong hợp đồng hoặc nếu không có thoả thuận thì có thể căn cứ vào hợpđông để xác định được Nếu các bên không thoả thuận một thời điểm cụ thể

mà thoả thuận một khoảng thời gian thì bên bán được coi là giao hàng đúngthời hạn nếu hàng được giao vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian

Trang 12

đó Ngoài các trường hợp trên bên bán được giao hàng vào một thời hạn hợp

lý sau khi hợp đồng được ký kết (Điều 33) Bên bán có nghĩa vụ giao hàngđúng chất lượng, số lượng, quy cách phẩm chất mô tả trong hợp đồng Về địađiểm giao hàng, nếu các bên không có thoả thuận thì địa điểm giao hàng ápdụng theo điều 31 Công ước

3.1.2 Quyền của bên bán

Bên bán có quỳên được thanh toán theo những quy định trong hợpđồng Trong trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ thì bên bán có quyền thựchiện các biện pháp bảo hộ pháp lý theo quy định của Công ước như sau:

Yêu cầu bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng và thực hiện cácnghĩa vụ khác của bên mua (Điều 62)

Cho phép bên mua một thời gian để bổ sung thực hiện các nghĩa vụchưa hoàn chỉnh (Điều 63)

Tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp Công ước quy định (Điều 64).Yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 74)

Yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán (Điều 78)

3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên mua

3.2.1 Nghĩa vụ của bên mua

Điều 53 Công ước quy định bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng

và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước

Thứ nhất về thanh toán tiền hàng, bên mua có nghĩa vụ trả tiền vàongày thanh toán đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng hoặctheo Công ước mà không cần có yêu cầu hoặc việc thực hiện một thủ tục nào

về phía bên bán (Điều 59) Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của bên bán baogồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà hợp đồng hoặcluật lệ đòi hỏi để thực hiện việc thanh toán tiền hàng tại địa điểm nhất định

Thứ hai về nhận hàng, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng bao gồm việcthực hiện mọi hành vi tạo điều kiện cho bên bán giao hàng và tiếp nhận hànghoá (Điều 60) Theo đúng quy định trong hợp đồng và Công ước

3.2.2 Quyền của bên mua

Trang 13

Khi bên bán vi phạm các nghĩa vụ của mình thì bên mua có quyền thựchiện một số biện pháp để bảo về lợi ích của mình như:

Yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như: cung cấp hànghoá đúng với thoả thuận trong hợp đồng (nếu hàng hoá chưa phù hợp), tiếptục bổ sung hàng hoá (nếu còn thiếu về số lượng), sửa chữa hoặc thay đổihàng mới (nếu hàng hoá được cung cấp có khuyết tật)…

Nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có thể yêu cầubên bán giao hàng thay thế hoặc sửa chữa sự không phù hợp ấy Bên mua cóthể cho phép bên bán có thêm thời gian nhất định để thực hiện sự sửa chữa ấy(Điều 46)

Nếu bên bán không đảm bảo được thời hạn giao hàng thì bên mua cóthể cho phép một thời hạn nhất định để thực hiện hợp đồng (Điều 47)

Bên mua có quyền huỷ hợp đồng trong trường hợp bên bán không thựchiện nghĩa vụ theo hợp đồng tạo thành một vi phạm cơ bản hợp đồng hay khibên bán không giao hàng trong thời hạn bên mua gia hạn thêm hoặc bên bántuyên bố sẽ không giao hàng trong thời hạn bổ sung này (Điều 49)

4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi

mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng.Các hình thức trách nhiệm pháp lý theo Công ước Viên bao gồm:

Trang 14

Nếu người bán giao hàng thiếu, người mua có quyền yêu cầu người bángiao bổ sung.

Nếu người mua chậm thanh toán: Người bán vẫn yêu cầu người mua trảtiền theo hợp đồng và trả phần lãi suất cho số tiền chậm thanh toán

Người bán giao hàng không phù hợp hoặc không theo quy định của hợpđồng: Người bán phải giao hàng thay thế hoặc sửa chữa khuyết tật trừ việcsửa chữa là không hợp lý căn cứ vào tình tiết của sự việc (Điều 46)

Người mua không nhận hàng: Người bán yêu cầu người mua nhậnhàng, nếu trong thời hạn ngươi bán ấn định mà người mua vẫn không nhậnhàng thì người bán buộc phải huỷ hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại phátsinh (Điều 62)

4.2 Bồi thường thiệt hại

Các thiệt hại mà bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường cho bên bịthiệt hại là: tổn thất mà bên vi phạm phải gánh chịu; các thu nhập bị bỏ lỡ

do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia

Công ước quy đinh: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên viphạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ

mà bên kia đã phải chịu di hậu quả của sự vi phạm hợp đồng” Tiền bồithường thiệt hại không thể cao hơn thiệt hại thực tế và những khoản đáng

lẽ thu được nhưng bị bỏ lỡ là những khoản mà bên vi phạm đã dự liệuđược hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào thời điểm ký hợp đồng

4.3 Huỷ hợp đồng

Bên bị vi phạm có thể huỷ hợp đồng nếu hành vi vi phạm hợp đồngcủa bên kia tạo thành một vi phạm nghiêm trọng (Điều 49.1.a, Điều46.1.a) Tức là sự vi phạm đó làm cho bên bị thiệt hại, trong một chừngmực đáng kể bị mất đi cái mà họ chờ đợi trên cơ sở hợp đồng (Điều 25)

Việc không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của hợp đồng tạo thànhmột vi phạm chủ yếu đối với hợp đồng như:

Trang 15

- Giao hàng không đúng chủng loại đã quy định trong hợp đồng;hàng kém phẩm chất, hàng giao thiếu bộ phận nào đó mà việc giao thiếunày dẫn đến việc không thể khai thác, sử dụng được hàng đã giao…

- Bên bán không giao hàng trong thời hạn gia hạn thêm của bênmua, hoặc bên bán tuyên bố không giao hàng trong thời gian gia hạnthêm đó

- Bên mua không trả tiền, hay không nhận hàng; hoặc tuyên bốkhông trả tiền, hay không nhận hàng trong thời gian gia hạn thêm mà bênbán quy định

Công ước Viên không có các điều khoản quy định về giải quyếttranh chấp tròn trường hợp có sự vi phạm hợp đồng

III Chế độ pháp lý về hợp đồng nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam

1 Pháp luật về hợp đồng nhập khẩu trước năm 2005

Nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoại thương thể hiện: Mọi hoạtđộng ngoại thương được tập trung trong tay Nhà nước, chỉ các tổ chức đượcNhà nước cho phép mới được tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu; Nhànước quyết định và thực hiện mọi đường lối ngoại thương thông qua bộ máythống nhất cả nước; mọi hoạt động ngoại thương được tiến hành trên cơ sở kếhoạch chung về trao đổi hàng hoá với nước ngoài, được Nhà nước hoạchđịnh, kiểm soát và quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương Nộidung của nguyên tắc “Nhà nước độc quyền ngoại thương” đã chi phối mọi

Trang 16

hoạt động xuất nhập khẩu, là cơ sở, nền tảng pháp lý cho toàn bộ công tác xâydựng pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu và tạo thành đặc điểmđặc trưng của hoạt động ngoại thương trong thời kỳ này.

Thời kỳ trước năm 1980, xuất phát từ nguyên tắc trên, mọi hoạt độngxuất nhập khẩu được Nhà nước giao cho Bộ Ngoại thương độc quyền thựchiện Bộ lập “Tổng công ty xuất nhập khẩu” được quyền trực tiếp trao đổi,mua bán hàng hoá với nước ngoài Hoạt động xuất nhập khẩu trong thời kỳnày gần như bó hẹp trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa Mọi vấn

đề phát sinh thường được giải quyết dựa vào các quy phạm pháp luật thốngnhất quy định trong các hiệp định thương mại và đặc biệt trong điều kiệnchung giao hàng tay đôi giữa Việt Nam với từng nhà nước xã hội chủnghĩa, sau này có thêm điều kiện chung giao hàng SEV – các nước thuộchội đồng tương trợ kinh tế Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động xuấtnhập khẩu chưa hình thành

Các bản điều kiện chung giao hàng là công cụ quan trọng trong việcđiều tiết xuất nhập khẩu Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt làđiều tiết những vấn đề liên quan đến thủ tục giao kết và thực hiện hợp đồngxuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu; trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng; cơquan xét xử tranh chấp; hay vấn đề áp dụng luật… Các tổ chức ngoại thươngcủa các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có các Tổng công ty xuất nhập khẩutrên cơ sở các điều kiện chung giao hàng đã tiết kiệm được thời gian đàmphán, loại bỏ những điểm bất đồng do có sự quy định khác nhau trong hệthống luật của mỗi quốc gia(2)

Từ cuối 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do Đại hôi VI củaĐảng Cộng sản Việt Nam đề ra, kinh tế đối ngoại được coi là một “mũi nhọn”của sự đổi mới3 Ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu đã được Chính phủ đề cao,

2 Trần Văn Nam, Trần Thị Hoà Bình (đồng Chủ biên): tlđd Trang 30.

Trang 17

coi đó là 1 trong 3 chương trình kinh tế trọng điểm của Việt Nam Ngoài việcduy trì quan hệ thương mại với các nước XHCN (vẫn được tiến hành theo cơ chế

cũ là phối hợp kế hoạch dưới hình thức nghị định thư và Việt Nam vẫn được tiếptục vay bù nhập siêu bằng tín dụng Nhà nước), do có những đổi mới thôngthoáng hơn trong cơ chế quản lý, chính sách kinh tế đối ngoại nên quan hệ giữaViệt Nam với các nước ngoài XHCN ngày càng mở rộng hơn

kỳ họp thứ 11 ngày 19/5/1997 đã thông qua Luật Thương mại 1997, (bắt đầu

có hiệu lực từ ngày 01/01/1998 Luật Thương mại 1997 ra đời đã thể chế hoácác đường lối, chính sách của Đảng, cơ chế quản lý thương mại của Nhànước, trong đó có chính sách về kinh tế đối ngoại Riêng về hợp đồng muabán hàng hoá với thương nhân nước ngoài, Luật dành mục 2 Chương II gồm

37 điều, Điều 82 cũng xác định hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhânnước ngoài phải tuân theo các quy định về mua bán hàng hoá của Luật Cáchành vi mua bán hàng hoá có nhân tố nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh củacác quy định về mua bán hàng hoá nói chung, được quy định trong Luật

Các vấn đề về điệu kiện hiệu lực của hợp đồng và giao kết hợp đồng,Luật Thương mại 1997 có quy định trong mục riêng dành cho hợp đồng kýkết với thương nhân nước ngoài Những nội dung chủ yếu của hợp đồng ngoạithương này sẽ tuân theo quy định của hợp đồng nói chung (Điều 50) Các vấn

đề về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cũng tuân theo quy định đốivới hợp đồng chung Song, bên có quyền lợi bị vi phạm được lựa chọn một

Trang 18

trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại (khác với Pháplệnh Hợp đồng kinh tế ngày 28/9/1989 áp dụng đồng thời hai hình thức tráchnhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm).

Cũng trong thời gian này, pháp luật Việt Nam đã có những sửa đổi khá

cơ bản về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của thương nhân (đến nay vẫn cóhiệu lực) góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phát triểnnhư: theo quy định tại Nghị định số 33/CP ngày 19/4/1994, những doanhnghiệp chưa có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu không phải là chủ thểcủa hợp đồng mua bán ngoại thương Mọi hợp đồng mua bán ngoại thương docác doanh nghiệp này ký đều không có hiệu lực vì chủ thể ký kết phía ViệtNam không hợp pháp Nghị định 57/1998/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý từ ngày1/9/1998 đã tạo bước đột phá trong quy định về quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu đối với thương nhân Theo đó, thương nhân là doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế, thành lập theo quy định của pháp luật, được phép xuấtkhẩu, nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh xuấtnhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố, không phải xin Giấy phép kinhdoanh xuất nhập khẩu tại Bộ thương mại Và kể từ ngày Nghị định 57 có hiệulực pháp lý, các Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mại đã cấphết hiệu lực thi hành Như vậy, theo Nghị định 57, quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu đối với thương nhân đã được mở rộng cho tất cả các doanh các doanhnghiệp Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩutại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, không cònphải xin phép Bộ thương mại Và cũng không còn sự phân biệt giữa doanhnghiệp được quyền và doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu nữa Nghị định 44/2001/NĐ-CP đã tiếp tục mở rộng quyền kinh doanhxuất khẩu cho doanh nghiệp khi quy định thương nhân có thể xuất khẩu tất cảcác loại hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề được ghi trong Giấy chứng

Trang 19

nhận đăng ký kinh doanh, trừ những hàng hoá thuộc danh mục cấm xuất khẩu.Tuy nhiên, quyền kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp vẫn còn bị hạn chế.

Cụ thể, thương nhân chỉ được nhập khẩu những hàng hoá theo ngành nghề,ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…

Hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nóiriêng không ngừng phát triển cùng với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoánền kinh tế Về hoạt động thương mại quốc tế, trong 10 năm trở lại đây, hoạtđộng này ngày càng mở rộng thêm nhiều lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, đầu tư,dịch vụ… Ngày càng nhiều các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩuđược hình thành, mặt hàng kinh doanh ngày càng đa dạng…

Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 thay thế cho LuậtThương mại 1997 đã góp phần tích cực trong khung pháp lý điều chỉnh hợpđồng thương mại quốc tế Luật Thương mại 2005 không tách rời hẳn một mụccho hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế như Luật Thương mại 1997, mà quyđịnh cùng với hoạt động thương mại trong nước thành “các quy định chungđối với hoạt động mua bán hàng hoá” Hợp đồng thương mại quốc tế cũngđược đề cập trong Bộ Luật Dân sự 2005 phần quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài Theo quy định của Luật Thương mại 2005, hợp đồng mua bán hànghoá quốc tế không chỉ dừng lại ở trường hợp các bên giao kết hợp đồng cóquốc tịch khác nhau mà còn bao gồm những trường hợp khác như một bên cótrụ sở kinh doanh ở nước ngoài, hay mua bán hàng hoá ở khu chế xuất…

Cùng với Luật Thương mại 2005, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bánhàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hànghoá với nước ngoài đã góp phần củng cố khung pháp lý quy định cho hoạtđộng thương mại quốc tế nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá quốc tếnói riêng

Trang 20

Sau khi Luật Thương mại 2005 ra đời, quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu của doanh nghiệp cũng được mở rộng hơn nữa bởi sự ra đời của Nghịđịnh 12/2006/NĐ-CP Nghị định 12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày1/5/2006 và thay thế cho Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Nghị định44/2001/NĐ-CP Theo Nghị định 12, thương nhân được xuất khẩu nhập khẩuhàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóathuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danhmục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu

Pháp luật Việt Nam cũng đã có sửa đổi khá cơ bản về yêu cầu đối vớinội dung của hợp đồng theo hướng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế

- Theo quy định của Luật thương mại năm 1997 đã hết hiệu lực thihành kể từ ngày 1/1/2006, hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dungchủ yếu là: tên hàng; số lượng; quy cách, chất lượng; giá cả; phương thứcthanh toán; địa điểm và thời hạn giao nhận hàng Việc quy định hợp đồngphải có 6 nội dung không thể thiếu như trên mâu thuẫn với nguyên lý cơ bảncủa pháp luật thương mại, theo đó quy định các chủ thể tham gia kinh doanhđược tự do thoả thuận mọi giao dịch của mình Mâu thuẫn rõ ràng là giữa việccác chủ thể cùng lúc phải tuân thủ quy định bắt buộc gồm sáu nội dung củahợp đồng với việc pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền tự do thoả thuậnhợp đồng Hơn nữa, Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) hiện có hơn 60 nước phêchuẩn quy định tối thiểu về các nội dung bắt buộc này, chỉ xoay quanh bađiều khoản: tên hàng; số lượng và giá cả (Điều 14 Công ước Viên 1980)

- Vì những lý do trên, để phù hợp hơn với pháp luật quốc tế cũng nhưtôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận hợp đồng của các chủ thể, Bộ luật Dân

sự năm 2005 đã quy định khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về

những nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá cả,phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm

Trang 21

hợp đồng; các nội dung khác (Điều 402) Rõ ràng, quy định mới về nội dungcủa hợp đồng là nhằm giúp các bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa họchứ không phải để ràng buộc hay hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ.

2 Pháp luật về hợp đồng nhập khẩu từ năm 2005 đến nay

2.1 Điều kiện hiệu lực hợp đồng

Làm thế nào để hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hợpđồng nhập khẩu nói riêng có hiệu lực pháp lý là vấn đề được các bên giao kếthợp đồng đặc biệt quan tâm Vì chỉ khi hợp đồng giao kết giữa các bên cóhiệu lực pháp lý thì quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên mới được bảo đảm vàthực hiện theo hợp đồng đã thoả thuận, nếu có tranh chấp xảy ra thì mới đảmbảo việc khiếu nại hay tố tụng được giải quyết trước Toà án hay Trọng tài Đểmột hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có hiệu lực thì:

2.1.1 Giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện thoả thuận ý chí giữa các bên

Cơ sở tự nguyện thoả thuận ý chí giữa các bên ở đây chính là sự thuậnmua vừa bán Người bán giao hàng mà người mua muốn mua; người muanhận hàng và trả tiền theo cam kết Hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp lý nếu việcgiao kết không vi phạm các trường hợp ngăn cấm như: có sự cưỡng bức, đedoạ; có sự lừa dối; có sự nhầm lẫn

2.1.2 Điều kiện về chủ thể

Chủ thể của hợp đồng là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tạicác quốc gia khác nhau và có đủ tư cách pháp lý Trong đó, tư cách pháp lýcủa các thương nhân được xác định căn cứ theo pháp luật của nước màthương nhân đó có trụ sở Theo quy định của Luật thương mại 2005, thươngnhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, các nhân hoạt độngthương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều

6 Khoản 1) Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nướcngoài công nhận (Điều 16 Khoản 1)

Trang 22

Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩutại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, khôngphải xin phép Bộ Thương mại (nay đổi là Bộ Công thương) Hiện nay phápluật Việt Nam không còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp được quyền haydoanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu như trước nữa.

2.1.3 Điều kiện về người có thẩm quyền giao kết hợp đồng

Người giao kết hợp đồng là người đại diện cho thương nhân đó theopháp luật hoặc theo uỷ quyền Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luậtquy định, là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhânhoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đại diện theo uỷ quyền

là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người đượcđại diện Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền vàngười đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm đại diện Uỷ quyềnphải được làm bằng văn bản và người uỷ quyền phải hoàn toàn chịu tráchnhiệm về hành vi của người được uỷ quyền trong phạm vi quy định của sự uỷquyền (Điều 140-142 Bộ Luật Dân sự 2005)

2.1.4 Điều kiện về đối tượng của hợp đồng nhập khẩu

Hàng hoá - đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải làhàng hoá được phép mua bán theo quy định pháp luật của nước bên mua vànước bên bán

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thương nhân đượcnhập khẩu hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừnhững hàng hoá thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theogiấy phép của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) hoặc các bộ quản lýchuyên ngành (Điều 3, 4 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP) Danh mục hàng hoáthuộc diện quản lý chuyên ngành theo quy định của Việt Nam được quy định

Trang 23

trong phụ lục số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Nghị định số

12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006

2.1.5 Điều kiện về nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng.Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể được các bên thoả thuận quy địnhtrong hợp đồng Nếu không quy định trong hợp đồng thì việc xác định nguồnluật điều chỉnh hợp đồng sẽ áp dụng quy tắc xung đột pháp luật: “luật nướcngười bán”; “luật nơi xảy ra tranh chấp”; “luật nơi ký kết hợp đồng”; “luật nơithực hiện nghĩa vụ”

Để phù hợp với pháp luật quốc tế và nguyên tắc tự do thoả thuận hợpđồng của các chủ thể, Bộ luật dân sự 2005 quy định khi ký kết hợp đồng, cácbên có thể thoả thuận về những nội dung: đối tượng hợp đồng; số lượng, chấtlượng; giá cả, phương thức thanh toán; thời gian, địa điểm, phương thức thựchiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm pháp lý do vi phạmhợp đồng; các nội dung khác (Điều 402 Bộ luật dân sự) Quy định này giúpcác bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa họ chứ không phải để ràng buộchay hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ

Trang 24

2.1.6 Điều kiện về hình thức của hợp đồng

Hình thức của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng.Luật Thương mại 2005 quy đinh rõ: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải đượcthực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giátrị pháp lý tương đương” (Điều 27 Khoản 2) Các hình thức có giá trị pháp lýtương đương văn bản như: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15Điều 3) Như vậy hình thức của hợp đồng nhập khẩu cũng tuân theo nhữngquy định trên

2.2 Giao kết hợp đồng nhập khẩu

2.2.1 Cách thức giao kết hợp đồng

Hợp đồng nhập khẩu có thể được giao kết bằng các phương thức trựctiếp hoặc gián tiếp

Giao kết hợp đồng trực tiếp: Các bên tham gia giao kết hợp đồng cử

người đại diện để trực tiếp gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng và thoảthuận thống nhất về các nội dung của hợp đồng và cùng ký tên vào văn bảnhợp đồng Kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng, hợp đồng đượcxác lập và phát sinh hiệu lực pháp lý Trường hợp có quy định điều kiện kháctrong hợp đồng như có quota hoặc một giấy phép đặc biệt hoặc mở L/C… thìhợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu những điều kiện này được thực hiện

Giao kết hợp đồng gián tiếp: Các bên không trực tiếp gặp nhau để bàn bạc,thảo luận mà thực hiện trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, điện báo,đơn đặt hàng, đơn chào hàng…có ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch Trình

tự giao kết hợp đồng theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn: Đề nghị giaokết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Những vấn đề này khôngđược Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể, vì vậy các quy định của Bộ LuậtDân sự 2005 sẽ được áp dụng, và áp dụng chung cho cả hợp đồng mua bán hànghoá quốc tế nói chung và hợp đồng nhập khẩu nói riêng

Trang 25

2.2.2 Thời điểm giao kết hợp đồng

Về nguyên tắc, hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các bênđạt được sự thoả thuận Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể về thờiđiểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng như hợp đồng muabán hàng hoá nói chung, vì vậy áp dụng Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 có cáctrường hợp sau:

- Với hợp đồng giao kết trực tiếp bằng văn bản, thời điểm giao kết hợpđồng là thời điểm các bên cùng ký vào văn bản;

- Với hợp đồng giao kết gián tiếp bằng văn bản, thời điểm giao kết làkhi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng;

Hợp đồng giao kết bằng lời nói không áp dụng cho hợp đồng nhập khẩu

vì theo quy định của Điều 27 Luật Thương mại 2005 “Hình thức hợp đồngmua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện bằng văn bản hoặc hình thứckhác có giá trị pháp lý tương đương”

Thời điểm giao kết hợp đồng cũng được coi là thời điểm hợp đồng cóhiệu lực, trừ phi các bên thoả thuận một thời điểm khác hoặc vào một thờiđiểm mà một điều kiện của hợp đồng được thực hiện như thời điểm mở L/Ckhi thoả thuận thanh toán bằng tín dụng thư, hay thời điểm có quota khi hànghoá theo quy định phải được cấp hạn ngạch

Luật thương mại 2005 không quy định bắt buộc các bên phải thoảthuận những nội dung cụ thể nào trong hợp đồng nhập khẩu cũng như tronghợp đồng mua bán hàng hoá nói chung Điều 402 Bộ Luật Dân sự 2005 đưa racác nội dung chủ yếu của hợp đồng mang tính “khuyến nghị”, “định hướng”của pháp luật giúp hạn chế những rủi ro pháp lý những tranh chấp trong hoạtđộng mua bán hàng hoá đặc biệt là hoạt động nhập khẩu hàng hoá.4

2.3 Thực hiện hợp đồng

2.3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng

4 Giáo trình Luật Thương mại II Đại học Luật Hà Nội NXB Công an nhân dân 2006 Trang 23-24.

Trang 26

Sau khi hợp đồng có hiệu lực pháp lý, các bên phải thực hiện đúng nghĩa

vụ mà mình đã cam kết trong hợp đồng Bên cạnh các nguyên tắc cơ bản tronghoạt động thương mại tại (Mục 2 Điều 10-15 Luật Thương mại 2005), nguyêntắc thực hiện hợp đồng dân sự (Điều 412 Bộ Luật Dân sự 2005), hợp đồng phảiđược thực hiện một cách trung thực trên tinh thần cùng có lợi

Hợp đồng nhập khẩu có những thủ tục là điều kiện để hợp đồng có giátrị pháp lý mà các bên phải hoàn thành trước khi đi vào thực hiện như: Xinphép nhập khẩu hoặc quota; mở thư tín dụng (nếu cần thiết)

Sau khi các điều kiện trên đã hoàn thành thì các bên thực hiện cácnghĩa vụ cụ thể khác đã thoả thuận trong hợp đồng như: Thuê tàu, mua bảohiểm hàng hoá; Giao hoặc nhận hàng; Làm thủ tục hải quan; Kiểm tra hànghoá; Thanh toán hợp đồng; Thông báo cho đối tác và các nghĩa vụ khác khi cóyêu cầu Việc thực hiện các nghĩa vụ trên là thuộc nghĩa vụ của bên nào cònphụ thuộc vào điều kiện giao hàng mà các bên đã lựa chọn trong hợp đồng.2.3.2 Quyền, nghĩa vụ của người bán

Nghĩa vụ của người bán: Người bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng

từ liên quan Người bán phải giao hàng đúng những thoả thuận trong hợpđồng, bao gồm: đúng về số lượng, chất lượng, quy cách, bao bì, đúng thời hạn

và địa điểm đã thoả thuận trong hợp đồng (Điều 34 đến Điều 49 Luật Thươngmại 2005) Người bán cũng có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu cho ngườimua đối với hàng hoá Ngoài ra, tuỳ theo những điều kiện quốc tế mà các bên

đã thoả thuận lựa chọn, nghĩa vụ của người bán có thể có những quy địnhkhác nữa, vì vậy người bán cần hiểu rõ nội dung điều kiện thương mại quốc tế

mà mình lựa chọn

Quyền của người bán: nhận tiền bán hàng Nếu người bán không nhận

được hoặc nhận được chậm tiền hàng do lỗi của người mua thì có quyền ápdụng các biện pháp theo luật định để bảo vệ lợi ích của mình như: ngừng giao

Trang 27

hàng, buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại vàhuỷ hợp đồng (Điều 67, Điều 292 Luật Thương mại 2005).

2.3.3 Quyền nghĩa vụ của người mua

Nghĩa vụ: người mua có nghĩa vụ tiếp nhận hàng và trả tiền (Điều 52

và Điều 56 Luật thương mại) Người mua vẫn có các nghĩa vụ trên trongtrường hợp mất mát hư hỏng xảy ra sau thời điểm quyền sở hữu hàng hoáđược chuyển từ người bán sang người mua, trừ trường hợp do lỗi của ngườibán gây ra (Điều 71)

Quyền: Người mua có quyền nhận hàng theo thoả thuận Trong trườnghợp người mua phát hiện bên bán lừa dối, hàng không phù hợp với hợp đồng,hoặc hàng hoá đang là đối tượng của tranh chấp thì có quyền ngừng thanhtoán tiền hàng theo Điều 51 LTM 2005 hoặc áp dụng các biện pháp quản lýtrong trường hợp khẩn cấp (Điều 72)

Quyền, nghĩa vụ của người bán và người mua còn phụ thuộc vào nhữngđiều kiện thương mại àm các bên đã thoả thuận lựa chọn Vì vậy các bên cầnhiểu rõ về các điều kiện thương mại quốc tế mà mình đã lựa chọn

2.3.4 Các vấn đề chủ yếu trong qúa trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu

Giấy phép nhập khẩu: Khi doanh nghiệp muốn nhập khẩu hàng hoá

thì cần phải có giấy phép nhập khẩu theo năm hoặc theo chuyến Đây là mộthình thức quản lý hoạt động nhập khẩu của Nhà nước

Mở LC: Thanh toán là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động

thương mại quốc tế Do tính chất của hợp đồng thương mại quốc tế luôn chứađựng nhiều rủi ro, nên các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế luôn tìmcách thanh toán an toàn nhất Thanh toán bằng tín dụng chứng từ (LC) đápứng được yêu cầu này Đây là phương thức thanh toán mà ngân hàng (ngânhàng mở tín dụng) theo yêu cầu của người xin mở tín dụng trả tiền cho bênthứ ba khi xuất tình đầy đủ các chứng từ và mọi điều kiện đặt ra đều đượcthực hiện đầy đủ

Trang 28

Để mở LC thì chủ thể cần gửi đơn đến ngân hàng mà mình muốn mởthư tín dụng, đồng thời gửi hai uỷ nhiệm chi để trả phí mở LC và trả cho việc

ký quỹ mở LC

Thuê tàu: Tuỳ thuộc vào các điều kiện mà các bên thoả thuận với

nhau, nghĩa vụ vận chuyển hàng sẽ thuộc về bên mua hoặc bên bán Căn cứvào điều kiện cơ sở giao hàng Incoterm của hợp đồng thương mại quốc tế:

+ Nếu điều kiện giao hàng là CFR, CIF, DES, DEQ, DDU, DDP thìbên xuất khẩu phải thuê phương tiện vận tải

+ Nếu điều kiện giao hàng là EXW, CIP, CIP, FAS, FOB thì bên nhậpkhẩu phải tiến hành việc thuê phương tiện vận tải

Tuỳ thuộc vào nhu cầu và để đáp ứng tối đa hoá lợi ích, các doanhnghiệp kinh doanh quốc tế có thể thuê tàu theo nhiếu phương thức như là thuêtàu chợ, thuê tàu chuyến hoặc thuê tàu hạn định

Mua bảo hiểm hàng hoá: Tuỳ thuộc vào loại hàng hoá, loại phương

tiện vận chuyển và điều kiện giao hàng doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phảiphân tích nhu cầu bảo hiểm cho hàng hoá và lựa chọn loại hình bảo hiểm chophù hợp Theo pháp luật Việt Nam có 3 loại điều kiện bảo hiểm là: Điều kiện A(bảo hiểm mọi rủi ro); Điều kiện B (bảo hiểm có tổn thất riêng): Điều kiện C(bảo hiểm mọi tổn thất) được sắp xếp theo mức giảm dần của phạm vi bảo hiểm

Thanh toán: Hiện nay có nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác

nhau như: Thanh toán bằng LC, thanh toán bằng cách ghi sổ; thanh toán bằngphương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, bằng thư uỷ thác mua, thư bảođảm trả tiền Tuỳ vào quan hệ giữa các doanh nghiệp và điều kiện riêng của cácdoanh nghiệp, có thể lựa chọn một trong các phương thức thanh toán trên

Làm thủ tục hải quan: Là các thủ tục cần thiết mà các daonh nghiệp

nhập khẩu phải làm với cơ quan Hải quan để:

+ Khai báo với hải quan cửa khẩu về tình hình hàng hoá xuất nhậpkhẩu và nộp các giấy tờ do hải quan yêu cầu

Trang 29

+ Xuất trình hàng hoá nhập khẩu đến địa điểm quy định để hải quankiểm tra.

+ Chấp hành quyết định của hải quan cho hàng hoá được hay khôngđược xuất nhập khẩu

Bộ hồ sơ hải quan mà bao gồm: Tờ khai hải quan, hợp đông thươngmại, bản kê chi tiết hàng hoá, hoá đơn thương mại, vận đơn (bản sao), cácgiấy tờ khác (với hàng hoá kinh doanh có điều kiện hoặc có quy định riêng)

Sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ đưa ra một trong cácquyết định sau:

- Cho phép hàng hoá qua biên giới

- Cho phép hàng hoá qua biên giới nhưng với điều kiện phải sửa chữa,khắc phục lại, phải nộp thuế xuất nhập khẩu

- Không được phép xuất nhập khẩu

Trách nhiệm của chủ hàng là phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định

mà cơ quan Hải quan đã đưa ra

Giao hàng và nhận hàng: Khi hàng hoá chuyển từ nước người bán

sang nước ngưòi mua, các bên tuỳ theo nghĩa vụ của mình mà thực hiện việcgiao nhận hàng theo đúng các quy định đã thoả thuận trong hợp đồng trongquá trình giao nhận cần có sự kiểm tra kỹ lưỡng hàng hoá, tránh những rủi ro

về giao hàng không phù hợp với hợp đồng, giao hàng thừa, thiếu hoặc khôngđúng quy cách phẩm chất…

3 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có hành vi vi phạm sẽphát sinh hậu quả pháp lý là họ sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tàisản, đó chính là trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, bao gồm: buộcthực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm; buộc bồi thường thiệt hại; tạm ngừngthực hiện hợp đồng; đình chỉ thực hiện hợp đồng; huỷ bỏ hợp đồng; và cácbiện pháp khác mà các bên thoả thuận áp dụng phù hợp pháp luật

Trang 30

3.1 Yếu tố cấu thành trách nhiệm pháp lý:

- Có hành vi không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng đãgiao kết;

3.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng (Điều 297 LTM 2005)

Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ nghĩa vụ quy định trong hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên

vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồngđược thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh

Nếu bên vi phạm giao thiếu hàng thì phải giao đủ hàng, nếu giao hàngkém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá hoặc giao hàng khácthay thế Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hoá khác chủng loạithay thế nếu không được sự đồng ý của bên bị vi phạm

Nếu bên vi phạm không thực hiện theo các quy định trên thì bên bị viphạm có quyền mua hàng của người khác để thay thế theo đúng chủng loạihàng hóa trong hợp đồng và bên vi phạm phải thanh toán khoản chênh lệch vàcác chi phí liên quan nếu có, có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá vàbên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý

3.2.2 Phạt vi phạm

Phạt vi phạm là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạmtrả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng, nếu hợp đồng có thoảthuận (Điều 300 LTM 2005)

Các bên thoả thuận mức phạt vi phạm trong hợp đồng nhưngkhông được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301LTM 2005)

Trang 31

Phạt vi phạm áp dụng khi có hành vi không thực hiện hợp đồng hoặcthực hiện không đúng hợp đồng mà bên vi phạm có lỗi Nếu người vi phạmkhông chứng minh được là mình vi phạm hợp đồng trong trường hợp bất khảkháng, hoặc do chính bên bị vi phạm gây ra, hoặc các trường hợp khác màpháp luật có quy định thì bị coi là có lỗi và bị chịu phạt.

3.2.3 Bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất dohành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệthại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu dobên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ đượchưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302 LTM 2005)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau: cóhành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm là nguyênnhân trực tiếp gây ra thiệt hại Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứngminh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trựctiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm

Theo quy định tại Điều 307 thì trường hợp các bên không thoả thuận vềchế tài phạt vi phạm thì bên bị thiệt hại chỉ có thể yêu cầu bồi thường Nhưngnếu trong hợp đồng có điều khoản về phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có thể

Khi hợp đồng tạm ngưng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực và bên

bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.3.2.5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 310, 311 LTM 2005)

Trang 32

Là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc mộttrong các trường hợp sau: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận làđiều kiện để đình chỉ hợp đồng; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

Khi hợp đồng bị đình chỉ thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bênnhận được thông báo về việc đình chỉ Các ben không phải tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanhtoán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng và bên bi vi phạm có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại theo quy định của pháp luật

3.2.6 Huỷ bỏ hợp đồng (Điều 312 đến Điều 315)

Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm huỷ bỏ toàn bộ hoặc huỷ bỏ một phần củahợp đồng Huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ toàn bộ việc thực hiện tất

cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng Huỷ bỏ một phần hợpđồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, phần còn lại vẫncòn hiệu lực Khi vi phạm xảy ra là điều kiện để huỷ bỏ hợp đồng hoặc mộtbên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thì bên bị vi phạm thực hiện quyềnhuỷ hợp đồng, nhưng phải thông báo ngay cho bên kia biết, nếu bên huỷ hợpđồng vi phạm nghĩa vụ thông báo này dẫn đến thiệt hại cho bên kia thì cũngphải bồi thường

4 Giải quyết tranh chấp

Tranh chấp trong thương mại quốc tế là những bất đồng xảy ra trongquá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế Tranh chấp là điều khó

có thể tránh khỏi vì giữa các bên tham gia hợp đồng nhập khẩu thường có sựcách biệt địa lý, có truyền thống pháp luật, tập quán thương mại, sự thiếu hiểubiết và tin cậy lẫn nhau, hay bản thân ý thức thực hiện, tuân thủ hợp đồng củacác bên… khác nhau 5 Hơn nữa điều kiện ngoại cảnh ở mỗi nước đều có thểgây ra những khó khăn khó lường trước mà đôi khi là bất khả kháng cho mỗibên khi thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Các tranh chấp xảy ra đỏihỏi phải được giải quyết Do đó, các điều khoản liên quan đến vấn đề giải

Trang 33

quyết tranh chấp, cũng như lý do phát sinh tranh chấp trong hợp đồng nhậpkhẩu có ý nghĩa rất quan trọng.

4.1 Các điều khoản liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhập khẩu

4.1.1 Chọn luật áp dụng

Đặc điểm quan trọng của hợp đồng nhập khẩu là yếu tố “quốc tế” tức làcác bên tham gia hợp đồng khác nhau về hệ thống pháp luật nên cần phải cócăn cứ pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra; nên ngay khiđàm phán, soạn thảo hợp đồng, các bên cần phải lựa chọn luật áp dụng chohợp đồng Có các cách để lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng:

Cách thứ nhất: Các bên ký kết đàm phán, thoả thuận và ghi rõ vào hợpđồng nhập khẩu chi tiết, cụ thể tất cả các quy tắc, quy định pháp luật nội dung

để giải quyết bất cứ tranh chấp nào có thể phát sinh Cách này thường áp dụngvới những hợp đồng nhỏ Với các hợp đồng lớn, phức tạp thì cách làm này sẽcần nhiều thời gian, công sức, làm cho hợp đồng trở nên quá đồ sộ, khi giảiquyết tranh chấp dễ làm cho các cơ quan xét xử nhầm lẫn những nội dungchính, phụ Ngoài ra, cách thức ghi chi tiết, tỉ mỉ từng tranh chấp có thể xảy racũng như cách thức giải quyết cũng không thể lường trước được hết các bấtđồng khác có thể phát sinh

Cách thứ hai: Các bên tham gia ký kết đàm phán, thoả thuận nhữngđiều khoản chính, sau đó chọn luật áp dụng chung để giải quyết mọi tranhchấp có thể phát sinh từ hợp đồng Đây là cách làm phổ biến và có ưu điểm là

dễ hiểu, không gây nhầm lẫn và cũng làm cho hợp đồng gọn nhẹ mà vẫn đầy

đủ nội dung Song, các bên cần chú ý khi chọn luật là luật áp dụng cho hợpđồng phải dễ tiếp cận, dễ nghiên cứu, có uy tín trong thương mại quốc tế và

có hiệu lực tại thời điểm hợp đồng được thực hiện Các bên có thể thoả thuậnchọn một hệ thống luật nhất định hoặc chọn các hệ thống luật khác nhau để áp

Trang 34

dụng cho các phần khác nhau của hợp đồng, hoặc chọn một nguyên tắc chungđược thừa nhận rộng rãi trong thương mại quốc tế để áp dụng cho hợp đồng.

Nếu trong hợp đồng nhập khẩu không có điều khoản về chọn luật ápdụng hoặc trong trường hợp điều khoản này ghi quá chung chung, không rõràng thì khi tranh chấp xảy ra được đưa đến trọng tài hay toà án giải quyết,nguyên tắc xung đột pháp luật sẽ được coi là căn cứ để lựa chọn luật áp dụng

4.1.2 Điều khoản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhập khẩu

Không chỉ lựa chọn luật nội dung để làm căn cứ giải quyết tranh chấp,các bên tham gia thoả thuận, ký kết hợp đồng còn cần phải thương lượng đểđưa vào hợp đồng một điều khoản riêng về giải quyết tranh chấp với các nộidung: Phương thức giải quyết tranh chấp do các bên nhất trí lựa chọn; Thủ tụclựa chọn bên thứ ba tham gia và giúp đỡ giải quyết tranh chấp như người hoàgiải, trọng tài, trọng tài viên, toà án…; Các quy tắc tố tụng áp dụng cho quátrình giải quyết tranh chấp; Cơ chế đảm bảo thi hành kết quả giải quyết tranhchấp Khi lựa chọn phương pháp thích hợp cần chú ý đến mục tiêu của tranhchấp, mối quan hệ giữa các bên, chi phí, thời gian phải bỏ ra để giải quyếttranh chấp…

Mỗi phương thức khi được sử dụng độc lập đều có những ưu, nhượcđiểm riêng, nhưng khi kết hợp với những phương thức khác một cách hợp lý

sẽ phát huy được tối đa ưu điểm và hạn chế các nhược điểm Do đó hiện naycác doanh nghiệp thường đưa vào hợp đồng điều khoản giải quyết tranh chấptheo một trình tự: trước tiên các bên tự đàm phán, thương lượng lại; nếukhông được thì nhờ bên thứ ba; nếu vẫn không được thì đưa ra giải quyếtbằng trọng tài hay toà án

4.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhập khẩu

4.2.1 Thương lượng giữa các bên

Trang 35

Khi tranh chấp bắt đầu phát sinh, hầu hết các trường hợp, các bên tựnguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng Thương lượng

là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùngnhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranhchấp với mục đích gìn giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữahọ.Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quátrình tố tụng tại toà án hoặc trọng tài

Pháp luật của các quốc gia thông thường đều quy định hình thức pháp

lý của việc ghi nhận kết quả thương lượng là Biên bản Nếu kết quả thươnglượng không được một bên tự giác thực hiện, biên bản thương lượng sẽ đượcbên kia sử dụng như một chứng cứ quan trọng yêu cầu các cơ quan tài pháncông nhận và cưỡng chế thi hành những thoả thuận đó

4.2.2 Hoà giải giữa các bên

“Hoà giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng

tư, trong đó hoà giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấpđạt được một sự thoả thuận” 6

Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia củabên thứ ba làm trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranhcháp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh Phươngpháp giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có ưu điểm là bảo vệ bí mật kinhdoanh, điều mà sẽ không thực hiện được khi tiến hành tố tụng tại toà theoquy tắc công khai, tranh tụng và theo các quy tắc về thu thập chứng cứtrong tố tụng tư pháp

Hiệu lực pháp lý của hoà giải: Thoả thuận hoà giải không có tính chấtbắt buộc nên trên thực tế, không có toà án nước nào lại ra lệnh đình chỉ vụkiện chỉ vì một bên không thực hiện thoả thuận hoà giải Hiệu lực cao nhấtcủa thoả thuận giải quyết bằng hoà giải giống như một điều khoản hợp đồng

có tính rằng buộc các bên, không có tính chất bắt buộc thi hành như phánquyết của trọng tài hay toà án

6 Black’s lă dictionnery – West Pub Co 1991

Trang 36

4.2.3 Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Trọng tài

Để tranh chấp được đưa ra giải quyết bằng con đường trọng tài thìphải có sự thoả thuận của các bên Thoả thuận này có thể là một điều khoảntrọng tài trong hợp đồng hoặc là một thoả thuận trọng tài riêng biệt đượclập sau khi tranh chấp phát sinh Điều khoản thoả thuận trọng tài dù cóđược ghi ngay trong hợp đồng chính hay là một thoả thuận riêng biệt thì nóvẫn luôn độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng chính Vì vậy,ngay cả khi hợp đồng chính đã kết thúc hay bị vô hiệu thì cũng không làmcho điều khoản thoả thuận trọng tài vô hiệu tương ứng (Điều 11 Pháp lệnhTrọng tài Thương mại 2003)

Trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài phải tuân theo các quy trình, thủtục nhất định để ra được phán quyết Dưới góc độ này trọng tài gần với toà ánnhưng giải quyết bằng trọng tài có một số ưu điểm là: Tính phù hợp vềchuyên môn và nghiệp vụ kinh doanh của các quyết định trọng tài (do cáctrọng tài viên thường là các chuyên gia trong các lĩnh vực kỹ thuật, cácthương nhân có uy tín, kinh nghiệm…); Tính khách quan, trung lập của trọngtài quốc tế và của quá trình trọng tài được đảm bảo hơn so với việc xét xử tạitoà án của một nước sở tại, trong quá trình giải quyết tranh chấp hoàn toàn cóthể sử dụng ngôn ngữ, hay pháp luật của nước thứ 3, tùy từng trường hợp cụthể; Là phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng, mang tính chungthẩm cao; Quyết định, phán quyết của trọng tài cũng được công nhận rộngrãi do phạm vi Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hànhphán quyết của trọng tài nước ngoài rộng; Đây là phương thức giải quyếtkhông mang nặng tính đối kháng, uy tín, các bí mật kinh doanh của các bêntranh chấp cũng được bảo mật vì phán quyết trọng tài không công khaitheo nguyên tắc trọng tài xét xử kín (Điều 38.3 pháp lệnh trọng tài thươngmại 2003)

Quyết định và phán quyết của trọng tài có thể được Toà án công nhận

và cho thi hành thông qua một thủ tục tư pháp được quy định tại các điều ước

Trang 37

quốc tế và pháp luật của các quốc gia Công ước New York về công nhận và chothi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài 1958 là văn bản pháp lý nổi bật vàquan trọng nhất trong lĩnh vực này Luật mẫu UNCITRAL, các hiệp định khuvực và pháp luật các quốc gia…cùng với Công ước New York đã góp phần tạonên hệ thống quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh để nhằm điều chỉnh việc côngnhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thương mại quốc tế 7

Một số cơ quan trọng tài thương mại quốc tế được giới kinh doanh thế

giới sử dụng nhiều như:

- Toà án trọng tài thuộc Phòng Thương mại quốc tế (International Court

of Arbitration of the International Chamber of Commerce ICC) được thànhlập tại Paris năm 1923 giải quyết các tranh chấp thương mại có tính chất quốc

tế bằng thủ tục trọng tài phù hợp với quy tắc trọng tài của ICC;

- Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID) thành lập

1965 trên cơ sở Công ước quốc tế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các nướcvới kiều dân của các nước khác

- Tòa án trọng tài quốc tế Luân Đôn (London Court of InternationalArbitration LCIA) là tổ chức trọng tài thường trực thương mại lâu đời nhất.Chức năng cơ bản của LCIA là chỉ định uỷ ban trọng tài, quyết định khước từtrọng tài viên và kiểm soát chi phí, tuy nhiên LCIA không xem xét kỹ phánquyết trọng tài

- Trung tâm giải quyết tranh chấp quốc tế của Hiệp hội trọng tài Hoa

Kỳ (International Center for Dispute Resolution of the American ArbitrationAssociation) được thành lập năm 1926, cung cấp rất nhiều dịch vụ, kể cả giáodục và đào tạo

Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại ở Việt Namđược quy định trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 Thủ tục côngnhận và cho thi hành quyết định, bản án của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

7 Nguyễn Vũ Hoàng: “Các liên kết kinh tế - Thương mại quốc tế” NXB Thanh Niên 2003 Tr 329

Trang 38

được quy dịnh trong Pháp lệnh công nhận và cho thi hành quyết định củatrọng tài nước ngoài ở Việt Nam

4.2.4 Giải quyết tranh chấp tại Toà án

Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhập khẩu bằng toà án là hìnhthức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhànước - cơ quan có quyền nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết buộc các bên

có nghĩa vụ phải thi hành Thực tế cho thấy rằng chưa có một toà án quốc tếnào giải quyết hữu hiệu các tranh chấp thương mại quốc tế mà chỉ có thể giảiquyết tại một toà án của một nước nào đó theo quy tắc tố tụng của pháp luậtquôc gia đó

Việc lựa chọn Toà án nước nào để giải quyết tranh chấp là do sự thoảthuận của các bên, lưu ý đến tính khách quan của Toà án được chọn với cácchủ thể có tranh chấp, hiệu lực thi hành bản án ở các nước có liên quan, thờigian xét xử, mức án phí…

Ưu điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp bằng Toà án: Phươngthức giải quyết bằng Tòa án được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt,chặt chẽ nên đảm bảo cho tính khách quan và công bằng cho các bên; Bản ánhay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuânthủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước (tínhcưỡng chế thi hành trên lãnh thổ quốc gia có Toà án); Với các tranh chấp kinhdoanh trong mua bán hàng hoá quốc tế, quyết định của Toà án ngày nay cũngđược công nhận khá rộng rãi bằng việc các nước có thoả thuận công nhận vàcho thi hành quyết định, bản án của Toà án nước ngoài Ở Việt Nam, thủ tụcgiải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tuân theo các quy định của Bộ luật

Tố tụng Dân sự 2004

Trang 39

CHƯƠNG II THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU TẠI TRUNG TÂM XUẤT NHẬP KHẨU THUỘC TỔNG

CÔNG TY CƠ KHÍ XÂY DỰNG (COMA-IMEX)

I.Giới thiệu về Tổng công ty cơ khí xây dựng

1.Quá trình hình thành và phát triển:

Tổng công ty cơ khí xây dựng (viết tắt là COMA) là một doanhnghiệp Nhà nước được thành lập theo quyết định số 993/BXD-TCLĐ ngày20/11/1975 của Bộ trưởng Bộ xây dựng trên cơ sở liên hiệp các xí nghiệp cơkhí xây dựng thành lập từ năm 1975

Tổng công ty đã đề lên Bộ xây dựng về việc tách phòng xuất nhậpkhẩu trực thuộc Tổng công ty để trở thành công ty con của mình.Trung tâmxuất nhập khẩu được thành lập vào cuối tháng 7 năm 2000.Ngày 19 tháng 8năm 2002, tổng công ty cơ khí xây dựng quyết định sát nhập phòng xuất nhậpkhẩu của tổng công ty với trung tâm xuất nhập khẩu

Tổng công ty là một doanh nghiệp nhà nước bao gồm nhiều công ty làcác đơn vị thành viên, trong đó có Trung tâm xuất khẩu lao động (COMA-IMEX)

10 Công ty xây lắp và kinh doanh vật tư thiết bị COMA-CONSTRACO

11 Công ty cơ khí xây dựng và lắp máy điện nước COMAEL

13 Công ty tư vấn xây dựng và phát triển cơ khí COMA-ENGINEERING

Trang 40

14 Công ty công nghệ tự động và cơ điện lạnh COMA-AUTOMATION

17 Trường đào tạo công nhân kĩ thuật cơ khí xây dựng

20 Công ty liên doanh cơ khí xây dựng Hà Nội

21 Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

22 Văn phòng đại diện tại Cộng hòa liên bang Nga

23 Văn phòng đại diện tại CHND 8 Lào

24 Văn phòng đại diện tại Sơn La

Đứng đầu Tổng công ty cơ khí xây dựng là Chủ tịch hội đồng quảntrị-ông: Dương Văn Sơn

Tiếp đó là Tổng giám đốc: Bùi Doãn Tạo

Giám đốc: Nguyễn Hải Cường là người đứng đầu trung tâm xuấtnhập khẩu COMA-IMEX.Ông sinh ngày 19/10/1969

Hiện tại trung tâm đang có trụ sở chính tại địa chỉ số 125D MinhKhai, Ngõ Hòa Bình 6, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Mọi liên lạc với công ty được thực hiện qua số điện thoại: 84 4

36242337 hoặc Fax: 84 4 36242115

Và để biết thêm thông tin chi tiết có thể truy cập vào website:http://www.coma.com.vn

Tổng công ty cơ khí xây dựng chuyên sản xuất, kinh doanh thiết bị

cơ khí phục vụ ngành xây dựng và các ngành khác, thi công lắp đặt các côngtrình xây dựng theo quy hoạch, kế hoạch, các ngành xây dựng trong và ngoàinước xây theo yêu cầu của thị trường.Song song với đó công ty còn đào tạo

và cung cấp lao động xuất khẩu và thực hiện hoạt động cho thuê tài chính Thịtrường chính của công ty là các quốc gia như Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia,Hàn Quốc

2.Dấu ấn quan trọng trên con đường phát triển

Ngày đăng: 30/11/2014, 12:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.Tình hình vốn và lao động của COMA-IMEX (2007-2009) - Pháp luật về việc thực hiện và ký kết hợp đồng nhập khẩu tại Trung tâm XNK thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng
Bảng 1. Tình hình vốn và lao động của COMA-IMEX (2007-2009) (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w