nó thể hiện phơng pháp thu thuế theo phần trên giá trị gia tăng của hàng hoá,dịch vụ ở từng công đoạn sản xuất hoặc lu thôngđiều này cũng giải thích cho việc ở khâu nhập khẩu,thuế GTGT đ
Trang 1Lời mở đầu
Theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì hiện nay trên thế giới
có khoảng hơn 100 nớc đang áp dụng chế độ thuế giá trị gia tăng,một chế độ thuế gián thu cơ bản và đặc biệt quan trọng trong việc huy động nguồn thu cho Ngân sách nhà nớc, đem lại số thu chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số thu Ngân sách nhà nớc.Do vậy,trong hệ thống pháp luật thuế,pháp luật về thuế giá trị gia tăng có vị trí rất quan trọng
Việc áp dụng chế độ thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam thay thế cho chế
độ thuế doanh thu trong thời gian qua có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội.Qua ba năm thực hiện,bên cạnh những thành công bớc đầu
và những giá trị kinh tế – xã hội đáng ghi nhận của chế độ thuế giá trị gia tăng đã chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn và sự cần thiết của việc áp dụng chế độ thuế này Mặt khác,thực tiễn áp dụng chế độ thuế GTGT bộc lộ những bất cập trong các quy định của pháp luật đã gây ra những vớng mắc khi áp dụng,đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cha cao,hoạt động của các doanh nghiệp còn thấp,sự suy giảm kinh tế do những tác động và ảnh hởng hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khu vực,cùng với thiên tai liên tiếp diễn ra đã càng tạo ra nhiều khó khăn hơn trong việc triển khai áp dụng trên thực tế.Điều đó đặt ra nhiệm vụ phải nghiên cứu đánh giá những quy định pháp luật hiện hành về thuế GTGT từ đó rút ra những gì đã đạt đợc
và những gì cha đạt đợc nhằm mục đích sửa đổi,bổ sung các văn bản pháp luật
về thuế GTGT để nâng cao hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng,đáp ứng những yêu cầu của đời sống kinh tế luôn luôn vận động và phát triển
Tuy nhiên,bản thân pháp luật và chất lợng của nó không thể tự thể hiện trong đời sống xã hội mà phải thông qua cơ chế bảo đảm thực hiện.Do đó,để
đảm bảo phát huy vai trò của chế độ thuế GTGT thì cùng với việc hoàn thiện pháp luật cần thiết phải hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện.Mối liên hệ giữa
Trang 2pháp luật về thuế GTGT và cơ chế bảo đảm thực hiện đặt ra yêu cầu là cần nghiên cứu làm sáng tỏ những yếu tố ảnh hởng tới hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng từ đó đa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng.
Đến nay ở nớc ta,đã có rất nhiều công trình nghiên cứu,hội thảo,bàn luận về thuế giá trị gia tăng,trong số các công trình nghiên cứu đó có các công trình nghiên cứu điển hình là : Báo cáo khảo sát về thuế giá trị gia tăng ở các nớc Pháp,Thuỵ Điển,Trung Quốc (Tổng cục thuế,Bộ tài chính,1993);Mô…hình áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ của Tổng cục thuế,Bộ tài chính năm 1993);Báo cáo tổng kết công tác triển khai thực hiện các Luật thuế mới(Tổng cục thuế,Bộ tài chính,5/2000);Một số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành…
Với mong muốn góp sức vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuế GTGT,tác giả đã lựa chọn đề
tài: “Các biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng ở
n-ớc ta hiện nay ”
Với đề tài trên,tác giả luận văn không mô tả lại toàn bộ những nội dung
điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng,mà việc nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về thuế giá trị gia tăng ,hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng và các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng.Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và phát hiện những vớng mắc trong áp dụng và nguyên nhân của nó từ đó kiến nghị những biện pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế giá trị gia tăng
Phơng pháp nghiên cứu của đề tài là phơng pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phơng pháp phân tích tổng hợp,đối chiếu,so sánh.Phơng pháp phân tích,so sánh,đối chiếu đợc sử dụng nhằm làm sáng tỏ các khái niệm,các vấn đề đặt ra trong các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế giá trị gia tăng Phơng pháp phân tích tổng hợp đợc sử dụng chủ yếu để đa ra những
Trang 3nhận xét mang tính chất khái quát hoá từ đó luận chứng cho những kiến nghị thích hợp.
Về mặt bố cục,ngoài lời mở đầu,kết luận,danh mục tài liệu tham khảo thì Luận văn đợc chia làm ba chơng :
Ch
ơng I : Những vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc và hiệu quả pháp
luật của thuế giá trị gia tăng
Trang 4Chơng I Những vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc và hiệu quả pháp luật của thuế giá trị gia tăng
I./ Khái niệm, bản chất và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
1.Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Cùng với sự ra đời của nhà nớc,sự xuất hiện của thuế nh là một sự đảm bảo cho hoạt động bình thờng của các cơ quan nhà nớc,bởi thuế là một nguồn thu quan trọng nhất của nhà nớc,là cơ sở để đảm bảo chi cho ngân sách nhà n-ớc
Thuế đợc nghiên cứu dới rất nhiều giác độ khác nhau.ở giác độ KT – TC,thuế thờng đợc hiểu là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho nhà nớc theo mức độ và thời hạn đợc pháp luật quy
định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Còn dới giác độ pháp lý,thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào Ngân sách nhà nớc khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành do luật thuế quy định
Thực tiễn ở các nớc cho thấy,việc có áp dụng thuế GTGT hay không là tuỳ thuộc vào điều kiện riêng của từng nớc.Đa số nớc áp dụng thuế GTGT là
do hệ thống thuế cũ không còn phù hợp nữa.Một số nớc có nền kinh tế phát triển nhng cha áp dụng thuế GTGT nh Mỹ,úc.Các nớc này cha áp dụng thuế GTGT lý do chính là họ đã có thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ,là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,vì vậy không bị đánh trùng thuế.Cách thu thuế này đợc thu theo từng bang đã có nề nếp và thói quen,đang hoạt động tốt.Nếu ban hành thêm thuế GTGT áp dụng trên toàn liên bang thì phải thay đổi lại hệ thống thuế của các bang,điều này sẽ rất phức tạp cho nên
họ cha áp dụng
Trang 5Cũng theo kinh nghiệm của các nớc áp dụng thuế GTGT thì thuế doanh thu có nhợc điểm cơ bản là thu thuế trùng lặp qua mỗi lần bán hàng;đối với cùng một mặt hàng nếu tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau,thì số thuế phải nộp khác nhau(do một cơ sở sản xuất thuế phải nộp một lần;do nhiều cơ
sở sản xuất thì qua mỗi cơ sở đều phải nộp làm số thuế nộp tăng)không phù hợp với cơ chế thị trờng,cha khuyến khích đầy đủ cho sản xuất hàng xuất khẩu;nhiều thuế suất nhng tiêu thức sắp xếp các mặt hàng,dịch vụ vào từng thuế suất cụ thể rất khó xác định rõ ràng,chính xác,dễ dẫn đến việc thắc mắc
về thuế và lợi dụng để trốn thuế,lách thuế.Do đó,nhằm khắc phục những nhợc
điểm trên của thuế doanh thu,các nớc đã chuyển sang áp dụng thuế GTGT (theo tiếng Anh viết là Value Added Tax và viết tắt là VAT)
Thuế GTGT là thuế gián thu đợc thu trên giá trị tăng thêm ở từng khâu của quá trình kinh doanh(đối tợng nộp thuế sẽ tính số thuế giá trị gia tăng phát sinh khi bán hàng, và đợc khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đã nộp khi mua hàng hoá vật t,chỉ phải nộp phần chênh lệch vào ngân sách nhà nớc).Thuế GTGT đã đợc áp dụng thống nhất đối với các loại hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nớc nhằm đảm bảo tính nhất quán của thuế GTGT
Đối tợng tính thuế GTGT là giá trị gia tăng của hàng hoá,dịch vụ.”Giá trị gia tăng “ là giá trị mà ngời sản xuất kinh doanh làm tăng thêm vào giá nguyên vật liệu hay hàng hoá mua vào trớc khi bán ra sản phẩm hay dịch vụ mới.Về bản chất kinh tế,đó là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào do
đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất,lu thông
Về mặt nguyên tắc,nhà nớc chỉ đánh thuế vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá,dịch vụ.Tuy vậy,cách hiểu “thuế GTGT chỉ đánh trên giá trị tăng thêm”chỉ đúng khi xét trên góc độ mỗi công đoạn sản xuất hay lu thông.Trên thực tế,thuế GTGT đợc tính theo một tỷ lệ nhất định trên toàn bộ giá hàng hoá dịch vụ cuối cùng đến ngời tiêu dùng.Nh vậy tên gọi “thuế GTGT” hoàn toàn không phải với ý nghĩa là loại thuế chỉ đánh khi phát sinh giá trị tăng thêm mà
Trang 6nó thể hiện phơng pháp thu thuế theo phần trên giá trị gia tăng của hàng hoá,dịch vụ ở từng công đoạn sản xuất hoặc lu thông(điều này cũng giải thích cho việc ở khâu nhập khẩu,thuế GTGT đánh trên toàn bộ giá trị hàng chứ không xác định trên giá trị tăng thêm).Thuế GTGT do tổ chức hay cá nhân kinh doanh phải nộp đợc xác định trên “giá trị” phát sinh thêm qua mỗi khâu
từ sản xuất,lu thông đến tiêu dùng.Giá trị tăng thêm đó đợc xác định bằng hiệu số giữa giá trị bán ra ở cuối mỗi khâu với giá trị mua vào ở đầu mỗi khâu.Tuy nhiên tổng số thuế GTGT mà tổ chức hay cá nhân kinh doanh phải nộp cho các công đoạn từ sản xuất đến chu kỳ lu thông cuối cùng đúng bằng
số thuế tính trên giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng
2.Bản chất
Về bản chất,thuế GTGT là một loại thuế gián thu,là loại thuế mà nhà
n-ớc sử dụng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của ngời tiêu dùng hàng hoá,dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với ngời sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ.Tính gián thu của thuế GTGT thể hiện ở chỗ ngời nộp thuế và ng-
ời chịu thuế không đồng nhất.Ngời nộp thuế là tổ chức hay cá nhân sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ thuộc diện đối tợng chịu thuế,còn ngời chịu thuế chính là ngời tiêu dùng nên ngời nộp thuế chỉ là ngời nộp thay cho ngời chịu thuế
Khi nói thuế GTGT do ngời tiêu dùng chịu,có nghĩa là tiền thuế mà trên danh nghĩa đợc trả bởi tổ chức hay cá nhân kinh doanh bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ sẽ đợc chuyển qua cho ngời tiêu dùng chịu dới dạng cộng thêm vào giá bán hàng hoá,dịch vụ đó
Với bản chất thuế GTGT là thuế đánh vào tiêu dùng nên dễ điều chỉnh vì ngời chịu thuế thờng không cảm nhận đợc đầy đủ gánh nặng của thuế
Hơn nữa,thuế GTGT còn góp phần khuyến khích đầu t vốn,và kích thích phát triển kinh tế.Bởi vì việc thu thuế của nhà nớc không ảnh hởng tới thu nhập của nhà đầu t
Trang 73.Đặc điểm
Thứ nhất,đối với thuế doanh thu,Nhà nớc đánh thuế đối với toàn bộ
doanh thu phát sinh của mỗi khâu sản xuất lu thông.Do đó,nếu các sản phẩm chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nớc thu cũng tăng thêm qua các khâu.Còn đối với thuế GTGT,nhà nớc chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản xuất lu thông,nh vậy tổng số thuế GTGT mà nhà nớc thu đợc không tăng thêm qua các khâu sản xuất,lu thông
Thứ hai,thuế GTGT có tính trung lập,có nghĩa là về mặt lý thuyết thuế
GTGT không phải là một yếu tố trong chi phí của doanh nghiệp.Nó không làm
ảnh hởng tới giá cả hàng hoá,vì khi nó phải nộp bởi doanh nghiệp này thì nó cũng đợc khấu trừ ở doanh nghiệp khác,chỉ có ngời tiêu dùng cuối cùng mới không đợc khấu trừ
Thứ ba,hiệu quả của thuế GTGT không phụ thuộc vào sự tổ chức và
phân chia các chu trình kinh tế.Các khâu sản xuất kinh doanh của một sản phẩm dù đợc tập trung tại một doanh nghiệp hoặc phân chia cho nhiều doanh nghiệp khác nhau thì tổng số thuế Nhà nớc thu đợc luôn bằng với số thuế tính trên giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng
Thứ t,thuế GTGT có khấu trừ số thuế nộp ở giai đoạn trớc.Về cơ
bản,các khâu sản xuất kinh doanh hàng hoá,dịch vụ trung gian không tạo ra số thu thuế GTGT cho nhà nớc,vì số thuế nộp ở những giai đoạn này sẽ đợc khấu trừ hoặc hoàn lại,cho đến khi sản phẩm cuối cùng đợc tiêu dùng
Nh vậy,thuế GTGT vẫn đảm bảo đợc số thu kịp thời và thờng xuyên cho Ngân sách nhà nớc do đợc thu qua từng công đoạn của quá trình từ sản xuất
đến lu thông,và lại khắc phục đợc sự đánh trùng thuế của thuế doanh thu
Thứ năm,áp dụng thuế GTGT tạo ra sự kiểm soát chặt chẽ hơn về
thuế,góp phần chống trốn lậu thuế có hiệu quả.Do việc khấu trừ thuế đầu vào phải dựa trên cơ sở hoá đơn chứng từ nên buộc doanh nghiệp phải lu giữ sổ sách kế toán đầy đủ,hoạt động mua bán phải có hoá đơn thì mới đợc khấu trừ
Trang 8thuế.Doanh thu hay giá bán ra của ngời bán phải là giá mua vào hay chi phí của ngời mua nên các đơn vị mua và bán không thể thông đồng trốn thuế vì quyền lợi mâu thuẫn nhau.
Thứ sáu,ngoài những đặc điểm trên,việc quản lý thu thuế GTGT khá
phức tạp Để thu thuế đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất và chặt chẽ hoạt
động sản xuất kinh doanh và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ thuế phải đợc tăng cờng.Yêu cầu cơ bản là các doanh nghiệp phải ghi chép sổ sách chứng từ kế toán đầy đủ,minh bạch.Công việc kiểm soát tờ khai thuế của đối tợng nộp thuế chi phí rất lớn và đòi hỏi phải đợc điện toán hoá.Quản lý không chặt chẽ có thể dẫn đến tình trạng số thuế khấu trừ và hoàn thuế cao hơn so với số thu đợc của Nhà nớc
II./ Mô hình pháp luật thuế giá trị gia tăng
1.Cấu trúc pháp luật thuế giá trị gia tăng
1.1.Phạm vi áp dụng thuế GTGT
Với bản chất là thuế gián thu,thuế GTGT không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của ngời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá và dịch vụ,điều đó có nghĩa là ba khái niệm “đối tợng chịu thuế “,
“đối tợng nộp thuế” và “ngời chịu thuế” không đồng nhất với nhau.Do vậy,việc phân biệt ba khái niệm trên là rất quan trọng về phơng diện pháp lý
Ngời chịu thuế GTGT là ngời tiêu dùng cuối cùng hàng hoá,dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT.Ngời tiêu dùng cuối cùng là ngời sử dụng hàng hoá,dịch vụ không vì mục đích tạo ra hàng hoá,dịch vụ khác và làm cho hàng hoá,dịch vụ đó thoát ra khỏi chu trình lu thông.Vì vậy,ngời chịu thuế GTGT không bị ràng buộc bởi những điều kiện pháp lý nh ngời nộp thuế GTGT và theo thông lệ ngời chịu thuế thờng không đợc quy định trong luật thuế,mặc dù
họ là ngời đã phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào Ngân sách nhà nớc khi thực hiện hành vi tiêu dùng hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT
Trang 9Đối tợng nộp thuế GTGT là những cá nhân,tổ chức có hoạt động sản xuất,kinh doanh hay nhập khẩu hàng hoá,kinh doanh dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế.Nh vậy,đối tợng nộp thuế bao trùm lên hầu hết mọi đối tợng sản xuất kinh doanh và không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh trong n-
ớc mà còn bao gồm cả các tổ chức,cá nhân nớc ngoài có hoạt động sản xuất,kinh doanh hay nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế tại nớc đánh thuế
Tuy nhiên,ở nhiều nớc,để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT,đối với đại bộ phận các cá nhân,tổ chức sản xuất,kinh doanh ở quy mô nhỏ không áp dụng thuế GTGT mà áp dụng chế độ thuế khoán.Diện miễn thuế GTGT áp dụng cho những đối tợng kinh doanh nhỏ có doanh thu hàng năm d-
ới mức quy định (ví dụ : 200.000 pê xô ở Philipines; 200.000 Sek ở Thuỵ
Điển; 30.000 Đô la Canada ở Canada; 100.000 DKK ở Đan Mạch; 1000.000
Đô la Singapore ở Singapore; 600.000 bạt ở Thái Lan ).Quy định không áp…dụng thuế GTGT mà áp dụng chế độ thuế khoán với một số đối tợng trên có tác dụng làm giảm gánh nặng quản lý thu thuế đối với các đối tợng kinh doanh nhỏ.Vì các đối tợng này trong kinh doanh,việc thực hiện chế độ sổ sách
kế toán thờng không đảm bảo và chi phí quản lý thu thuế GTGT thờng không hiệu quả so với số thu đợc
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng thuế GTGT,các nớc thờng có ba hình thức triển khai áp dụng thuế GTGT :
Thứ nhất,áp dụng thuế GTGT toàn bộ,có nghĩa là áp dụng đối với các
đối tợng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất,kinh doanh,bán buôn và bán lẻ.Điển hình áp dụng hình thức này là các nớc : Thuỵ
Điển,Pháp,Thái Lan,Hungari
Thứ hai,áp dụng thuế GTGT từng phần,tức là áp dụng đến từng khâu của quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá.Ví dụ nh Inđônêxia,Nhà nớc ban hành đạo luật từ năm 1983,nhng do trình độ quản lý của cán bộ ngành
Trang 10thuế và nhận thức của ngời nộp thuế nên đến 1985,đạo luật thuế mới đợc thi hành và thực hiện theo từng bớc nh sau :
Năm 1985 : Đối tợng nộp thuế là những ngời sản xuất
Năm 1989 : Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn
Năm 1993 : Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán lẻ
Thứ ba,thực hiện thí điểm thuế GTGT đối với một số ngành,điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc : Bớc thí điểm chỉ áp dụng đối với các sản phẩm : Xe ô tô,tàu biển,năm 1984 mở rộng diện áp dụng đối với các sản phẩm xe đạp,quạt điện,kim khí,máy móc thiết bị,phụ tùng,động cơ,thép.Năm
1986 mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghiệp nhẹ,vật liệu xây dựng,khoáng sản,kim loại
Qua tổng kết đánh giá của các nớc,trong ba hình thức tiến hành thuế GTGT thì hình thức áp dụng mang tính đồng loạt là hiệu quả nhất.Tuy nhiên,hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị đầy đủ về luật,các văn bản h-ớng dẫn dới luật,trình độ hiểu biết của ngời nộp thuế,trình độ quản lý của cơ quan thuế,chứng từ hoá đơn,ý thức chấp hành pháp luật Hình thức áp dụng…thuế GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế,còn hình thức áp dụng thí điểm ở phạm vi hẹp,ở một số ngành là không đem lại kết quả
Theo thông lệ chung của các nớc áp dụng thuế giá trị gia tăng thì đối ợng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá,dịch vụ tiêu dùng nội địa bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu.Về đối tợng không chịu thuế giá trị gia tăng ,các nớc
t-có quy định khác nhau,thờng là những hàng hoá,dịch vụ tiêu dùng phục vụ thiết yếu cho con ngời và phục vụ cho lợi ích công cộng xã hội và an ninh quốc phòng không nhằm mục đích kinh doanh vì lợi nhuận.Số lợng nhóm hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế tuỳ theo luật của từng nớc quy định.Ví dụ :
ở Đài Loan quy định 30 nhóm hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế;ở Inđônêxia quy định có 15 nhóm hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế;ở Hungari quy định
có 5 nhóm hàng hoá dịch vụ không chịu thuế
Trang 111.2.Căn cứ tính thuế GTGT
Về giá tính thuế GTGT có hai cách xác định nh sau :
Cách thứ nhất,giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế GTGT.Ví dụ nh ở
Pháp, thuế GTGT đợc tính vào giá bán và là yếu tố cấu thành giá bán sản phẩm hàng hoá.Có nghĩa là thuế đợc tính trên giá bán đã bao gồm thuế
Cách thứ hai,giá tính thuế là giá cha bao gồm thuế.Cách tính này áp
dụng ở hầu hết các nớc.Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ ràng hơn giá cha có thuế và số thuế GTGT
Trong trờng giá thực và giá ghi trên hoá đơn,chứng từ có sự khác biệt thì xét về phơng diện pháp lý chừng nào cha chứng minh đợc giá ghi trên hoá
đơn chứng từ là không phù hợp với giá thực thì vẫn phải dựa vào giá ghi trên hoá đơn chứng từ để xác định phạm vi mức độ nghĩa vụ thuế GTGT.Còn ngợc lại, nếu chứng minh đợc thì phải dựa vào giá thực để xác định mức độ nghĩa
vụ thuế GTGT đồng thời chủ thể vi phạm phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý
về hành vi gian lận của mình
Thời điểm tính thuế thông thờng đợc xác định khi một trong các yếu tố
sau phát sinh : giao hàng,chuyển giao quyền sở hữu,nhận thanh toán,phát hành hoá đơn GTGT,sử dụng hàng hoá,dịch vụ.Nhng thông thờng đối với hàng hoá
là khi hàng hoá đợc bán,còn đối với dịch vụ là khi ngời cung cấp dịch vụ nhận
đợc tiền trả cho dịch vụ
Thuế suất là đại lợng xác định mức độ,phạm vi nghĩa vụ nộp thuế trên
một đơn vị của đối tợng chịu thuế.Hay nói cách khác thuế suất là định mức thu thuế(mức thuế phải thu)trên một đơn vị của đối tợng chịu thuế.Đây chính
là mối quan tâm hàng đầu của ngời nộp thuế.Vì vậy, việc xác định thuế suất phải quán triệt đợc quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia vừa phải chú ý đến lợi ích của ngời nộp thuế
Mỗi nớc tuỳ vào đặc điểm kinh tế – xã hội và chế độ thu thuế doanh thu trớc đó mà có các quy định về thuế suất thuế GTGT cho phù hợp.Hầu hết
Trang 12các nớc đều áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu.Đối tợng áp dụng thuế suất 0% đợc thoái trả lại số thuế GTGT đã chịu trên hàng hoá đầu vào.Biện pháp này đợc đánh giá là hữu hiệu nhất đối với việc khuyến khích xuất khẩu.Cũng có một số nớc áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nh Thuỵ Điển(đối với báo chí xuất bản hàng ngày,xăng máy bay phản lực),Canada(đối với lơng thực,thực phẩm,các dịch vụ tài chính quốc tế).Bên cạnh đó,cũng có nớc không áp dụng thuế suất 0% nh Đan Mạch và Trung Quốc.
Hiện nay ở các nớc hai loại cơ cấu thuế suất thuế GTGT :
Thứ nhất,loại hình áp dụng một thuế suất(không kể thuế suất 0% áp
dụng với xuất khẩu và một số mặt hàng thiết yếu) : Theo thống kê thì trong số
100 nớc thì có 44 nớc áp dụng thuế GTGT với cơ chế một thuế suất,trong đó
Đan Mạch là một nớc có mức thuế suất cao nhất(32%);Nhật,Singapore là nớc
có mức thuế suất thấp nhất(3%)
Thứ hai,loại hình áp dụng nhiều thuế suất(không kể thuế suất 0%) :
Ngoài các nớc áp dụng một thuế suất,các nớc còn lại áp dụng thuế GTGT với nhiều mức thuế suất và số lợng thuế suất khoảng từ 2 đến 5 thuế suất(trờng hợp Côlômbia 5 thuế suất);thuế suất thấp nhất là 1% (Bỉ,Thổ Nhĩ Kỳ),2%(Hàn Quốc) và thuế suất cao nhất là 50%(Senegal),45% (Trung Quốc),38%(ý) và 36%(Hy Lạp).Phần lớn các nớc áp dụng cơ chế 3 thuế suất,chỉ một số nớc áp dụng cơ chế 5 thuế suất(Bỉ và Côlômbia),cơ chế 4 thuế suất(ý),cơ chế 2 thuế suất(Đức và Nhật).Với các nớc áp dụng cơ chế nhiều thuế suất,thì mức thuế suất tiêu chuẩn đợc áp dụng cho hầu hết các hàng hoá,dịch vụ.Mức thuế suất thấp nhất đợc áp dụng cho các hàng hoá dịch vụ thiết yếu,cần khuyến khích.Còn mức thuế suất cao nhất đợc áp dụng cho hàng hoá,dịch vụ cần hạn chế
Trong hai dạng cơ chế trên thì cơ chế một thuế suất đợc coi là cơ chế lý tởng,nhiều u điểm.Theo nh ý kiến không chính thức của Phòng thơng mại Đức
Trang 13trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT đã cho rằng khoảng 80% sự phức tạp tạo ra đối với doanh nghiệp là do áp dụng cơ cấu nhiều thuế suất1.Các nớc đều
cố gắng giảm số lợng thuế suất áp dụng,nh nớc Anh ban đầu chuyển từ cơ chế một thuế suất sang hai thuế suất rồi lại phải quay trở lại áp dụng cơ chế một thuế suất thống nhất
Cơ chế nhiều thuế suất chỉ đạt đợc hiệu quả ở giai đoạn đầu khi chuyển
từ chế độ thuế doanh thu(nhiều mức thuế suất)sang áp dụng chế độ thuế GTGT, nhng cơ chế này có nhợc điểm,đó là không đảm bảo sự bình
đẳng,công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành nghề khác nhau,bởi vì cùng một giá trị tăng thêm nhng ở mỗi ngành nghề khác nhau lại áp dụng mức thuế suất khác nhau do đó số thuế phải nộp cao thấp khác nhau
Ngoài việc phản ánh đúng chính sách thuế trong việc xác định số lợng thuế suất và mức thuế suất thì pháp luật thuế GTGT cần xác định thật rõ ràng các tiêu chí để phân định danh mục hàng hoá,dịch vụ trong biểu thuế, làm thế nào để một mặt hàng hay dịch vụ chỉ có thể áp dụng vào một loại thuế suất chứ không thể là hai hoặc ba mức.Đây là nội dung hết sức quan trọng về ph-
ơng diện pháp lý để xác định đúng phạm vi mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT
Giá trị gia tăng = Tiền công + Lợi nhuận
hay Giá trị gia tăng = Giá đầu ra – Giá đầu vào
Trang 14Nh vậy nếu gọi t% là thuế suất thì ta có thể có bốn cách tính thuế GTGT
nh sau1 :
1)Thuế GTGT = t x(tiền công + lợi nhuận) (phơng pháp cộng trực tiếp)
2)Thuế GTGT = t x(tiền công) + t x(lợi nhuận) (phơng pháp cộng gián tiếp)
3)Thuế GTGT = t x(Giá đầu ra – Giá đầu vào) (phơng pháp trừ trực tiếp)
4)Thuế GTGT = t x(Giá đầu ra) – t x(Giá đầu vào) (phơng pháp trừ gián tiếp)
Trong bốn phơng pháp trên thì phơng pháp 1 và 3 là các phơng pháp kế toán,vì vậy cần phải xác định đợc lợi nhuận,giá đầu ra và đầu vào của từng kỳ nộp thuế.Trên thực tế,điều này là rất phức tạp,nhất là đối với trờng hợp nhiều nguyên vật liệu đầu vào khác nhau,mức tiêu hao khác nhau và còn phải chia doanh thu bán hàng của từng loại sản phẩm có thuế suất áp dụng khác nhau.Các cách tính này không áp dụng đợc nếu sử dụng thuế GTGT có nhiều thuế suất.Vì vậy,các phơng pháp này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết.Phơng pháp 2 cũng là phơng pháp lý thuyết vì việc phải xác định lợi nhuận kịp thời là không khả thi
Thực tế áp dụng thuế GTGT ở các nớc cho thấy chỉ có phơng pháp thứ
t là mang tính thực tế hơn cả.Bởi vì,chỉ cần xác định tổng số thuế nộp trên doanh thu bán ra và tổng số thuế nộp trên hàng hoá dịch vụ mua vào(bất kể thuế suất áp dụng là bao nhiêu),chênh lệch giữa hai tổng trên chính là số thuế phải nộp vào cuối kỳ.Phơng pháp này còn gọi là phơng pháp khấu trừ hay ph-
ơng pháp hoá đơn,nhờ đó có thể dễ dàng tính đợc nghĩa vụ thuế một cách kịp thời theo từng tháng,từng quý hoặc từng năm,và cho phép áp dụng nhiều loại thuế suất
Trang 15ở các nớc đã thực hiện thuế GTGT hiện nay áp dụng một trong hai
ph-ơng pháp tính thuế GTGT là phph-ơng pháp khấu trừ theo hoá đơn và phph-ơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán
Theo phơng pháp khấu trừ theo hoá đơn thì số thuế phải nộp bằng số
thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vào.Nếu kết quả là một số dơng thì đó là số thuế GTGT phải nộp vào Ngân sách nhà nớc trong tháng đó,nếu kết quả là một số
âm thì đợc chuyển bù trừ vào số thuế GTGT phải nộp của tháng sau hoặc đề nghị cơ quan thuế hoàn lại theo quy định của pháp luật
Trong phơng pháp khấu trừ,số thuế đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá bán ra nhân với thuế suất(đợc ghi trên hoá đơn GTGT đầu ra),còn số thuế
đầu vào đợc tính bằng giá tính thuế của hàng hoá mua vào nhân với thuế suất (cũng đợc ghi trên hoá đơn)
Việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ hoàn toàn loại trừ khả năng tính thuế chồng lên thuế, vì vậy hầu hết các nớc đều áp dụng phơng pháp này.Sở dĩ vậy, bởi vì :
Thứ nhất,tính thuế dựa vào hoá đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở và
có căn cứ để kiểm tra thuế bởi giá tính thuế,thuế suất cũng nh số thuế phải nộp
đợc ghi rất rõ ràng trên hoá đơn
Thứ hai,có thể áp dụng chính sách thuế với nhiều thuế suất(nếu thu thuế
theo phơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán chỉ có thể áp dụng 1 thuế suất)
Thứ ba,có thể tính thuế GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một
tháng,một quý thậm chí là một năm
Phơng pháp thu thuế GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán :
Phơng pháp này xác định thuế phải dựa vào số liệu báo cáo kế toán của đơn vị
áp dụng phơng pháp này sẽ nảy sinh những vấn đề sau :
Trang 16Thứ nhất,các xí nghiệp coi thuế GTGT chỉ là thuế bổ sung đánh vào lợi
nhuận,còn các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quỹ tiền lơng
Thứ hai,báo cáo chỉ kết thúc một lần trong năm,vậy là tất cả các khoản
thanh toán thuế GTGT phải dựa vào số quyết toán năm
Thứ ba,khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phơng pháp sử dụng
hoá đơn và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn
Trong thực tế vận hành thuế GTGT tại các nớc phát triển,luật chỉ quy
định duy nhất một phơng pháp tính thuế GTGT là : Thuế GTGT phải nộp bằng thuế GTGT thu khi bán hàng trừ đi thuế GTGT phải trả khi mua hàng theo từng kỳ hạch toán.Về bản chất đây chính là phơng pháp khấu trừ
1.4.Vấn đề quản lý thu,nộp thuế GTGT
1.4.1.Về đăng ký thuế
Sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời,thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh.Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này đợc xác định kể từ ngày đối tợng nộp thuế đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.Khoảng thời gian mà đối tợng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế,đợc gọi là thời hạn thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế,khoảng thời gian này tuỳ vào sự quy định pháp luật của mỗi nớc,song đều lấy thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tính thời hạn thực hiện nghĩa vụ đăng ký
Trang 17thuế.Kết quả của đăng ký thuế là mỗi một đối tợng nộp thuế đợc cấp một mã
ký mới(mã số thuế mới) cho từng đối tợng nộp thuế, một số nớc sử dụng mã
số đăng ký thuế cũ(thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một
số bổ sung để chỉ rõ là số đăng ký thuế GTGT Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá và số đăng ký trong công tác quản lý thuế GTGT
Về nguyên tắc cơ quan thuế chỉ cấp một mã số thuế duy nhất cho đối ợng nộp thuế và khi đối tợng này không còn hoạt động nữa thì mã số thuế đã
t-đợc cấp sẽ không t-đợc sử dụng và không t-đợc dùng lại để cấp cho đối tợng nộp thuế khác.Các đối tợng sau khi đã chấm dứt hoạt động mà hoạt động trở lại thì phải thực hiện lại việc đăng ký thuế và đợc cấp mã số thuế mới
1.4.2.Về vấn đề nộp thuế
Nộp thuế GTGT là việc ngời cung cấp hàng hoá,dịch vụ chuyển số thuế
đã thu hộ nhà nớc do ngời tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá,dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào Kho bạc nhà nớc
Có hai hình thức nộp thuế :
Thứ nhất,đối tợng nộp thuế nộp trực tiếp cho cơ quan thuế,hình thức
này có u điểm là cơ quan thuế dễ kiểm tra giữa số thực nộp và số phải nộp.Song hình thức này biểu lộ nhiều nhợc điểm nh bộ máy hành chính thuế cồng kềnh, hiện tợng xâm tiêu thuế dễ phát sinh
Thứ hai,đối tợng nộp thuế nộp gián tiếp thông qua ngân hàng hoặc kho
bạc nhà nớc.Hình thức này khắc phục đợc nhợc điểm của hình thức trên nhng
Trang 18nó lại có một nhợc điểm đó là khó kiểm soát đợc số thuế thực nộp và số thuế phải nộp, nếu mối quan hệ giữa cơ quan thuế với ngân hàng,kho bạc thiếu sự chặt chẽ.
Có hai cơ chế nộp thuế :
Thứ nhất,các đối tợng nộp thuế tự tính thuế và nộp thuế.Cơ chế này có
nhiều u điểm: 1 Nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trớc pháp luật của đối tợng nộp thuế; 2 Giảm khối lợng công việc cho cơ quan thuế cũng nh chi phí quản
lý hành chính thuế; 3 Phân định rạch ròi trách nhiệm của cơ quan thuế,của
đối tợng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT
Thứ hai,các đối tợng nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế.Cơ chế
này chỉ phù hợp với cơ chế quản lý hành chính bao cấp, còn trong cơ chế thị trờng thì việc nộp thuế theo thông báo bộc lộ rõ sự thiếu phù hợp.Do vậy, cơ chế này chỉ đợc áp dụng khi các đối tợng có gian lận trong quá trình tự kê khai nộp thuế hoặc các đối tợng không thể nào tự tính đúng số thuế phải nộp của mình
Đa số các nớc áp dụng thuế GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê khai,tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thuế cung cấp,các đối tợng nộp thuế phải nộp tờ khai và thanh toán thuế theo định kỳ tháng,quý(tuỳ theo chế độ nộp thuế quy định cho từng loại đối tợng).Thuỵ Điển là nớc thực hiện
có hiệu quả cơ chế tự kê khai nộp thuế GTGT1
1.4.3.Về vấn đề hoàn thuế và khấu trừ thuế
Việc hoàn thuế(thoái thuế) đợc giao cho cơ quan thu thuế,trong trờng
hợp số thuế đợc khấu trừ lớn(xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn)đối tợng kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả tiền thuế đã trả khâu trớc.Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả thuế cho cơ sở ngay một lần hoặc thoái trả dần trong một thời gian tuỳ theo quy định của từng nớc
và khả năng ngân sách của mỗi nớc.Theo cách này cơ quan thuế thờng có một
Trang 19tài khoản thu thuế GTGT và sử dụng nguồn thu để thoái thuế,khoản còn lại nộp vào Ngân sách nhà nớc.
Tính chất của hoàn thuế :
Thứ nhất,hoàn thuế là quyền pháp lý của đối tợng nộp thuế đợc xuất
hiện trên cơ sở yếu tố luật định một cách khách quan
Đối tợng nộp thuế chỉ là ngời trung gian trong quan hệ nộp thuế,lợi ích của họ sẽ không bị ảnh hởng gì nếu số thuế đúng,nếu số thuế sai thì họ sẽ phải nộp lại số thuế còn thiếu hoặc đợc nhận lại số thuế đã nộp thừa do nhà nớc trả theo chế độ hoàn thuế.Vấn đề này đợc pháp luật đa số các nớc thừa nhận và coi đó là một quyền pháp lý của đối tợng nộp thuế
Thứ hai,hoàn thuế GTGT mang tính chất u đãi,tài trợ của Nhà nớc.
Không phải bất cứ chủ thể nào cũng có quyền đợc hoàn thuế mà chỉ những chủ thể nào mà Nhà nớc cần khuyến khích mới đợc hoàn thuế
Với tính chất u đãi,tài trợ của Nhà nớc,hoàn thuế cũng là một khoản chi của Ngân sách nhà nớc.Do vậy,quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế đợc coi
nh một lệnh chi.Kho bạc nhà nớc căn cứ vào quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế thực hiện chi hoàn thuế
Phạm vi hoàn thuế và điều kiện hoàn thuế tuỳ thuộc vào điều kiện kinh
tế và khả năng quản lý thuế của từng nớc.Nói chung,các nớc thờng áp dụng hoàn thuế cho các đối tợng là hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu
Trên thực tế vấn đề hoàn thuế GTGT cũng đợc quy định khác nhau ở mỗi nớc,nh theo quy định của Luật thuế GTGT của Thái Lan,bất kỳ tháng nào
mà thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra thì đều đợc quyền xin hoàn thuế,hoặc từng lần đối với kinh doanh xuất khẩu.Đối tợng nộp thuế đợc lựa chọn xin hoàn thuế hoặc khấu trừ vào kỳ sau.Thuế đầu vào phát sinh trong tháng mà cha khấu trừ có thể đợc khấu trừ vào số thuế đầu ra trong vòng 3 năm tiếp theo,với điều kiện đợc phép của giám đốc Sở thuế
Trang 20Theo Luật thuế GTGT ở Pháp thì nếu nh trong tháng số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đợc khấu trừ thì số thuế không đợc khấu trừ sẽ đợc chuyển dần sang các tháng sau.Việc hoàn thuế có thể đợc thực hiện vào đầu năm sau cho số thuế nộp quá của năm trớc,hoặc đợc hoàn theo quý,nếu số tiền cha đợc khấu trừ lớn hơn một mức nhất định.
Khấu trừ thuế GTGT có thể đợc tổng quát nh sau : Để sản xuất một
loại hàng hoá hay cung ứng một dịch vụ thì cần phải có các chi phí đầu vào,đối với những chi phí đầu vào trực tiếp cấu thành lên giá thành của hàng hoá thì khi tính số thuế phải nộp,đối tợng nộp thuế đợc quyền trừ khoản thuế này từ số thuế mà họ thu đợc ghi trên hoá đơn cho khách hàng,có nghĩa là đối tợng nộp thuế chỉ phải nộp phần chênh lệch giữa số thuế đã thể hiện trên hoá
đơn và số thuế đợc khấu trừ
Phạm vi áp dụng khấu trừ thuế GTGT : Khấu trừ thuế GTGT chỉ áp
dụng đối với những chi phí đầu vào trực tiếp phục vụ cho quá trình hình thành nên sản phẩm chịu thuế GTGT.Đối với các chi phí là tài sản cố định thì tỷ lệ khấu trừ theo phần áp dụng cho mọi tài sản cố định đợc xác định bằng cách
so sánh giữa khoản tiền doanh thu hàng năm và tổng doanh thu đạt đợc
Đối với tài sản khổng thuộc tài sản cố định và các hoạt động dịch vụ thì khi khấu trừ phải áp dụng nguyên tắc phân bổ – thờng phân bổ theo thực tế (theo mức tiêu hao vật chất cho các nghiệp vụ chịu thuế)
Tỷ lệ khấu trừ đợc tính theo năm dơng lịch,căn cứ vào doanh thu của năm dơng lịch trớc đó hoặc căn cứ vào doanh thu dự toán của năm đang thực hiện
Điều kiện để đợc khấu trừ : đó là những tài liệu chứng minh về số thuế
đợc khấu trừ.Nhìn chung thuế GTGT phải đợc thể hiện trên hoá đơn,vì vậy về nguyên tắc ngời nộp thuế có quyền khấu trừ số thuế thể hiện trên hoá đơn mua
do ngời cung cấp viết với điều kiện những nhà cung cấp này về mặt pháp lý có quyền đợc thể hiện số thuế trên hoá đơn
Trang 21Quyền khấu trừ chỉ đợc thực hiện nếu ngời nộp thuế nắm giữ hoá đơn
t-ơng ứng với thời điểm mà họ thực hiện quyền khấu trừ
Những tài liệu gốc chứng minh các nghiệp vụ có quyền khấu trừ phải
đ-ợc bảo quản trong một thời gian nhất định,điều này tuỳ thuộc sự quy định của pháp luật từng nớc,nh Thuỵ Điển quy định là 10 năm,Pháp quy định là 6 năm…
Cơ sở để quản lý vấn đề hoàn thuế và khấu trừ thuế là hoá đơn thuế.Các
nớc đều quy định cụ thể các yếu tố cơ bản phải có của một hoá đơn thuế hợp lệ.Mọi đối tợng có hoạt động bán hàng hoá dịch vụ chịu thuế đều phải cấp hoá
đơn khi bán hàng hoá,cung cấp dịch vụ cho ngời mua.Hoá đơn phải thể hiện
rõ ràng hàng hoá dịch vụ cha có thuế,và số thuế GTGT tính trên giá hàng
Chế độ kế toán cùng là yếu tố bắt buộc để các doanh nghiệp thực hiện
luật thuế GTGT nh : các đối tợng nộp thuế phải ghi sổ đầy đủ doanh số từng lần bán hàng, và phân biệt theo từng loại hàng chịu thuế và không chịu thuế(nếu có), và mọi chi phí mua nguyên vật liệu,hàng hoá,dịch vụ đầu vào;các hoá đơn chứng từ liên quan đến các hoạt động có thể đợc khấu trừ phải là chứng từ gốc và hợp lệ;sổ sách và hoá đơn chứng từ phải đợc lu giữ theo thời hạn quy định của pháp luật
2.Hiệu quả pháp luật thuế GTGT
2.1.Định nghĩa hiệu quả pháp luật
Pháp luật là một hiện tợng xã hội quan trọng và vô cùng phức tạp,do vậy có thể xem xét nó dới nhiều góc độ và phơng diện với những biểu hiện cụ thể khác nhau.Dới góc độ hiệu quả pháp luật thì có rất nhiều quan niệm khác nhau :
Một số tác giả cho rằng hiệu quả pháp luật thể hiện ở sự đúng đắn,sự phù hợp của pháp luật.Theo các tác giả này thì pháp luật càng phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội,các định hớng chính trị và các yếu tố khác bao nhiêu thì càng có hiệu quả cao bấy nhiêu.Tuy nhiên đây mới
Trang 22chỉ là tiền đề,là điều kiện chứ cha phải hoàn toàn là hiệu quả pháp luật đợc.Bởi
lẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật đợc ban hành rất chính xác,phù hợp nhng
do nhiều nguyên nhân khác nhau chúng không đợc thực hiện trên thực tế.Nh vậy, không thể đánh giá đợc hiệu quả của chúng nếu chỉ dựa vào sự phù hợp của quy phạm pháp luật
Một số tác giả khác lại cho rằng hiệu quả pháp luật xuất phát từ hiệu quả của từng bộ phận cấu thành của quy phạm pháp luật Trên thực tế hiệu quả pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào chất lợng,sự đầy đủ,sự thích hợp của từng bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật.Tuy nhiên từng bộ phận của một quy phạm pháp luật lại không thể tồn tại và tự tác động riêng rẽ.Chúng chỉ phát huy đợc tác dụng của mình khi liên kết với các bộ phận khác tạo nên quy phạm pháp luật.Do vậy,chỉ có thể nói tới hiệu quả của quy phạm pháp luật nói chung chứ không thể nói tới hiệu quả của từng bộ phận của quy phạm pháp luật đợc
Một số tác giả khác lại tiếp cận hiệu quả pháp luật từ lĩnh vực áp dụng pháp luật Theo họ hiệu quả pháp luật là mức độ thực tế đạt đợc những mục
đích xã hội có ích mà vì chúng pháp luật đã đợc ban hành.Cách xác định hiệu quả pháp luật nh vậy cũng sẽ không bao quát hết đợc tính hiệu quả của bản thân pháp luật bởi cách tiếp cận này chỉ có thể sử dụng đối với những luật
đang có hiệu lực thực tế và khi luật có những khiếm khuyết,sai sót nhất định
mà không đợc khắc phục thì sẽ làm giảm đi tính hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật
Ngoài ra,còn có quan điểm cho rằng hiệu quả pháp luật là sự đạt đợc mục đích đề ra khi ban hành quy phạm pháp luật với những chi phí ít nhất hay hiệu quả pháp luật là khả năng pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội theo những hớng đã đợc xác định.Nhng tất cả các quan điểm trên không phản ánh
đúng nhất về hiệu quả pháp luật
Trang 23Tổng hợp tất cả các cách tiếp cận trên,chúng ta có thể rút ra định nghĩa
về hiệu quả pháp luật nh sau :
Hiệu quả pháp luật là kết quả cụ thể đạt đợc trong quá trình pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội nhằm đạt đợc những mục đích và yêu cầu đặt ra.
2.2.Hiệu quả pháp luật thuế GTGT
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể đa ra định nghĩa về hiệu quả pháp luật thuế GTGT nh sau :
Hiệu quả pháp luật thuế GTGT là kết quả cụ thể đạt đợc trong quá trình pháp luật GTGT tác động vào các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thuế GTGT nhằm đạt đợc những mục đích và yêu cầu đặt ra.
Nh vậy,để đánh giá một cách chính xác hiệu quả pháp luật thuế GTGT
ở nớc ta hiện nay,đòi hỏi phải nghiên cứu đánh giá kỹ càng các quy định của chế độ thuế GTGT hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định đó làm phát sinh những vấn đề gì để có thể kết luận chính xác rằng chúng ta đã đạt mục
đích mà khi ban hành luật thuế GTGT đã đặt ra hay cha.Và từ đó mới có thể kết luận rằng hiệu quả pháp luật thuế GTGT hiện hành đã cao hay cha
2.3.Những yếu tố ảnh hởng tới hiệu quả pháp luật thuế GTGT
Những yếu tố và điều kiện có ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả pháp luật nói chung là những yếu tố có liên quan tới cơ chế điều chỉnh pháp luật và các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật.Đó là :
- Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
- Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật
- ý thức pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của công dân
2.3.1.Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế GTGT
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế GTGT có ảnh hởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật thuế GTGT.Hệ thống pháp luật thuế GTGT có hoàn chỉnh,
Trang 24đồng bộ,sát với thực tế,phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển của xã hội,phù hợp với các điều kiện kinh tế chính trị,văn hoá xã hội đáp…ứng nhu cầu đòi hỏi của đất nớc ở mỗi thời kỳ phát triển thì hiệu quả pháp luật thuế GTGT mới cao.Ngợc lại,một hệ thống pháp luật còn thiếu,còn nhiều bất cập thì không thể có hiệu quả pháp luật cao đợc mà nó còn làm phát sinh nhiều vớng mắc trong quá trình áp dụng làm giảm hiệu quả của hệ thống pháp luật đó.
2.3.2.Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật thuế GTGT
Để góp phần nâng cao hiệu quả tác động của pháp luật thuế GTGT trong đời sống xã hội thì vấn đề quan trọng là thực hiện đúng đắn,nghiêm minh các quy định của luật thuế.Trong đó,áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì trong đó có sự hiện diện của chủ thể nhân danh quyền lực Nhà nớc
Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho các quy phạm pháp luật đợc thực hiện đầy đủ,chính xác,nghiêm minh trong cuộc sống.Nếu thiếu sự đảm bảo này thì trong nhiều trờng hợp các quy phạm pháp luật sẽ không đợc thực hiện,hoặc đợc thực hiện không chính xác,không đúng và nh vậy chúng sẽ không phát huy đợc hiệu quả trong đời sống thực tế
Hoạt động áp dụng pháp luật có liên quan rất chặt chẽ tới hoạt động xây dựng pháp luật.Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả trớc hết phải có pháp luật tốt hay nói cách khác hệ thống pháp luật thuế GTGT phải đợc hoàn thiện ở mức độ cao
Trong hoạt động áp dụng pháp luật thuế GTGT thì bản lĩnh chính trị,trình độ pháp lý cũng nh ý thức pháp luật của cán bộ thuế có ảnh hởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật thuế GTGT,bởi vì ngời cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng,có sự hiểu biết về pháp luật,có ý thức pháp luật cao,có phẩm chất
đạo đức tố thì mới có thể độc lập áp dụng pháp luật,áp dụng có hiệu quả
Trang 25Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật còn thể hiện ở những
điều kiện vật chất – kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật đợc tiến hành bình thờng.Đặc biệt trong tình hình hiện nay,với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế,sự tiến bộ vợt bậc của khoa học và công nghệ,đòi hỏi phải quản lý thuế theo một quy trình mới,ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại mà đặc biệt là công nghệ thông tin vào quản lý thuế,do đó,phải tăng cờng trang thiết bị hiện đại vào quản lý thuế thì áp dụng luật thuế mới hiệu quả đợc.Bên cạnh đó,kinh phí cho hoạt động áp dụng pháp luật thuế cũng
là một trong những điều kiện cần thiết,quan trọng để việc áp dụng luật thuế có hiệu quả.Ngoài ra còn phải quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của ng-
ời cán bộ và gia đình họ,giúp họ giảm bớt những khó khăn về vật chất,để có thể tận tâm dồn hết thời gian,sức lực và trí tuệ cho công việc,không bị mua chuộc về vật chất,giữ đợc thái độ vô t khách quan trong công việc
Trong hoạt động áp dụng pháp luật,thì hoạt động xử lý vi phạm pháp luật thuế GTGT cũng chiếm một vị trí quan trọng và có ảnh hởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật.Bởi vì,việc xử lý nghiêm minh,dứt điểm,kịp thời các trờng hợp vi phạm luật thuế có thể ngăn chặn đợc tình trang vi phạm xảy ra trên quy mô rộng,giáo dục đợc những đối tợng vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và tái phạm,ngăn ngừa đợc những đối tợng khác vi phạm luật thuế
Bên cạnh đó, sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan chức năng nh cơ quan thuế,hải quan,viện kiểm sát,công an cũng có ảnh h… ởng rất lớn tới hiệu quả pháp luật thuế GTGT,bởi vì giữa các cơ quan trên có sự phối hợp chặt chẽ thì việc áp dụng pháp luật mới đợc diễn ra một cách thuận lợi,liên tục,đúng trình tự thủ tục,và đảm bảo các quy định của pháp luật đợc thực hiện đúng và
đầy đủ
Tóm lại,sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật chiếm một vị trí quan trọng và ảnh hởng rất lớn tới hiệu quả tác động của pháp luật thuế GTGT, hoạt động áp dụng đợc thực hiện tốt thì hiệu quả pháp luật mới đợc
Trang 26nâng cao và ngợc lại nếu áp dụng pháp luật không tốt thì không những không nâng đợc hiệu quả tác động của luật thuế mà còn làm giảm hiệu quả đó.
2.2.3 ý thức pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán
bộ thuế,đối tợng nộp thuế và nhân dân
Một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo hiệu quả pháp luật thuế GTGT là ý thức pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của
cán bộ thuế,đối tợng nộp thuế và nhân dân,bởi vì :
Đối với ngời cán bộ nếu có ý thức pháp luật tốt,có phẩm chất tốt thì có thể độc lập áp dụng pháp luật một cách có hiệu quả,không bị sự cám dỗ của vật chất để áp dụng sai luật,áp dụng không đầy đủ làm giảm đi hiệu quả tác
động của luật thuế trên thực tế,trong quá trình áp dụng luật thuế thì ngời cán
bộ phải dựa vào trình độ pháp lý,ý thức pháp luật của mình và những nguyên tắc của pháp luật để giải quyết vụ việc theo những cách thức tốt nhất,phù hợp nhất
Đối với đối tợng nộp thuế,nếu có ý thức pháp luật tốt và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật sẽ có đủ khả năng để bảo vệ lợi ích cho mình,hạn chế đợc tình trạng các đối tợng lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để chiếm đoạt tài sản của nhà nớc làm giảm đi hiệu quả tác động của Luật thuế
Đối với nhân dân,có tri thức pháp luật và ý thức pháp luật ,họ sẽ có niềm tin vào pháp luật ,thấy đợc giá trị của việc tôn trọng và thực hiện chính xác,đẩy đủ các quy định của pháp luật,từ đó tự giác tuân theo pháp luật và vận
động những ngời khác tuân theo pháp luật.Bên cạnh đó,có trình độ nhận thức sâu sắc về luật thuế,ngời dân có thể phản ánh những bất cập trong các quy
định của luật thuế,giám sát đợc việc thực hiện luật thuế,chống tiêu cực từ phía cán bộ thuế
Tóm lại,đó là những yếu tố có ảnh hởng tới hiệu quả pháp luật thuế GTGT,nghiên cứu những yếu tố đó sẽ giúp chúng ta những biện pháp để nâng cao hiệu quả pháp luật thuế GTGT hiện hành
Trang 28Chơng II Thực trạng pháp luật và thực tế áp dụng thuế
giá trị gia tăng ở việt nam
I./ Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng
Những nghiên cứu về việc áp dụng thuế GTGT ở nớc ta đợc bắt đầu từ cuối giai đoạn cải cách thuế bớc I năm 1990 – 1995.Từ tháng 7 năm 1993,Bộ Tài Chính đã ban hành chế độ thuế GTGT và chủ trơng áp dụng thí điểm mô hình thuế GTGT ở một số doanh nghiệp thuộc ba ngành : sản xuất xi măng,dệt
và sản xuất đờng từ tháng 9 năm 1993,nhng việc thực hiện thí điểm trên phạm
vi hẹp này không đem lại kết quả.Tuy nhiên đó mới chỉ là bớc khởi đầu nên cha thể đem lại những nhận xét đánh giá một cách đầy đủ,toàn diện về kết quả thực hiện
Trên cơ sở các nghiên cứu đánh giá tổng thể,phân tích tổng hợp kinh nghiệm của các nớc đã áp dụng thuế GTGT,qua nhiều lần soạn thảo,sửa
đổi,lấy ý kiến đóng góp của các Bộ,ngành,các địa phơng và doanh nghiệp,chuẩn bị các điều kiện thi hành,Quốc hội khoá IX,kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật thuế GTGT ngày 10 tháng 5 năm 1997,Luật này đã đợc Chủ tịch nớc ký lệnh công bố vào ngày 22 tháng 5 năm 1997,và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1999
Luật thuế GTGT là một luật thuế hoàn toàn mới trong lịch sử pháp luật tài chính nớc ta và trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân.Việc thực hiện Luật thuế GTGT có tầm quan trọng đặc biệt,có tác động nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội,thời gian đầu không tránh khỏi những khó khăn,vớng mắc trong áp dụng,và nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cha cao,hoạt động của các doanh nghiệp còn thấp.Sự suy giảm kinh tế do tác động
ảnh hởng hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và khu
Trang 29vực,cùng với thiên tai liên tiếp diễn ra đã càng tạo ra nhiều khó khăn hơn trong việc triển khai áp dụng trên thực tế.Điều đó đặt ra nhiệm vụ phải nghiên cứu đánh giá nhng quy định pháp luật hiện hành về thuế GTGT từ đó rút ra những gì đã đạt đợc và những gì cha đạt đợc nhằm mục đích sửa đổi,bổ sung các văn bản pháp luật về thuế GTGT để đáp ứng những yêu cầu của đời sống kinh tế luôn luôn vận động và phát triển :
đã ban hành Thông t 122/2000/TT – BTC hớng dẫn chi tiết Nghị định này để
áp dụng thống nhất kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2001,bãi bỏ các Thông t hớng dẫn về thuế GTGT trớc đây.Việc ban hành các văn bản pháp luật trên là một bớc tiến bộ,giúp cho cán bộ ngành thuế cũng nh các đối tợng nộp thuế có thể
dễ dàng tra cứu và thực hiện Luật thuế GTGT
Theo pháp luật hiện hành,đối tợng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ
chức,cá nhân sản xuất,kinh doanh và nhập khẩu hàng hoá dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam,không phân biệt ngành nghề,hình thức,tổ chức kinh doanh1
Trang 30Đối tợng chịu thuế GTGT là tất cả các hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản
xuất,kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam(trừ các đối tợng không chịu thuế
đ-ợc pháp luật quy định cụ thể)1
Nh vậy,khác với thuế doanh thu,thuế GTGT không những đánh vào hầu hết các hàng hoá,dịch vụ trong nớc mà còn áp dụng thu đối với hàng nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam.Do đó,bên cạnh việc tạo ra nguồn thu mới đáng
kể trong kết cấu nguồn thu của Ngân sách nhà nớc,thuế GTGT còn có tác dụng cùng với thuế nhập khẩu bảo hộ có hiệu quả sản xuất trong nớc.Nhất là trong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định thơng mại đa phơng,song ph-
ơng phải cam kết tuân thủ lịch trình cắt giảm thuế quan,thực hiện thuế suất u
đãi hoặc phải cắt bỏ hàng rào phi thuế quan thì việc bảo hộ sản xuất trong nớc bằng thuế GTGT(và thuế tiêu thụ đặc biệt)đánh vào hàng nhập khẩu là biện pháp cực kỳ quan trọng
Về đối tợng không thuộc diện chịu thuế : Luật thuế GTGT quy định 26
nhóm mặt hàng,dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT2.Tổ chức,cá nhân sản xuất,kinh doanh,nhập khẩu hàng hoá,bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT không đợc khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT
đầu vào của các hàng hoá,dịch vụ này.Nh vậy,đối với các tổ chức,cá nhân sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ hay nhập khẩu hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT lại làm cho họ thực tế phải “chịu” thuế GTGT,vì lúc này họ không đợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào trên hàng hoá dịch vụ họ sử dụng,có nghĩa là họ đợc coi nh ngời tiêu dùng cuối cùng các hàng hoá,dịch vụ đó.Nói cách khác,khi “không thuộc diện chịu thuế GTGT” có nghĩa là bị loại ra khỏi
hệ thống thuế GTGT và thuế GTGT lúc này trở thành chi phí của nhà kinh doanh.Còn các các nhân,tổ chức nằm trong diện chịu thuế GTGT thì lại không
chính hớng dẫn chi tiết thi hành Luật thuế GTGT.
Bộ Tài chính hớng dẫn chi tiết thi hành Luật thuế GTGT.
Trang 31bị ảnh hởng gì vì họ không phải chịu thuế GTGT,thuế GTGT tính trên đầu vào của họ thì đợc khấu trừ,còn thuế GTGT đầu ra đợc chuyển qua cho ngời mua hàng chịu.
Pháp luật quy định đối với doanh nghiệp nhập khẩu máy móc thiết bị trong nớc cha sản xuất đợc để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp thì không phải nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu.Vì thực chất thì thuế GTGT không nằm trong chi phí của doanh nghiệp,nên nếu họ nộp ở khâu nhập khẩu,doanh nghiệp cũng đợc hoàn lại hoặc khấu trừ dần vào thuế đầu ra của doanh nghiệp.Hơn nữa,quy định này cũng có mặt tích cực đó là giúp doanh nghiệp không phải bỏ ra một số tiền thuế trên giá trị thiết bị nhập khẩu,thờng là rất lớn,làm ảnh hởng đến luân chuyển tiền tệ trong kinh doanh,đảm bảo cho doanh nghiệp yên tâm về mặt tâm lý
Pháp luật thuế GTGT cũng quy định đối với các công trình đầu t bằng vốn ODA không hoàn lại thì không chịu thuế GTGT;nếu công trình đầu t sử dụng vốn ODA vay thuộc diện Ngân sách nhà nớc đầu t không hoàn trả thì đ-
ợc hoàn thuế GTGT đầu vào,do đó làm giảm đợc chi phí công trình,khuyến khích thu hút nguồn vốn đầu t này
Về thuế suất thuế GTGT : So với thuế doanh thu trớc đây(với 11 mức
thuế suất) thì cơ cấu thuế suất thuế GTGT đơn giản hơn với bốn mức thuế suất 0%,5%,10%,20%,nhng vẫn đảm bảo đợc nguồn thu tơng đơng với nguồn thu của thuế doanh thu trớc đây
Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu bao gồm cả hàng gia công xuất khẩu,hàng sản xuất chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu,và mới có một số dịch vụ xuất khẩu đợc áp dụng thuế suất 0% này nh dịch vụ phần mềm máy tính,sản phẩm phần mềm máy tính xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu ở đây bao gồm xuất khẩu ra nớc ngoài,bán cho doanh nghiệp thuộc khu chế xuất và các trờng hợp khác theo quy định của Chính Phủ, chẳng hạn nh cơ sở gia công hàng xuất khẩu,hàng của các doanh
Trang 32nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài bán cho ngời mua nớc ngoài nhng giao hàng tại Việt Nam (gọi là xuất khẩu tại chỗ).
Quy định hàng hoá xuất khẩu đợc hởng thuế suất 0% tức là doanh nghiệp xuất khẩu đợc hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào đối với hoạt động xuất khẩu này.Do vậy,cùng với các biện pháp khuyến khích xuất khẩu nh : áp dụng mức thuế xuất khẩu 0% hoặc giảm thuế suất khẩu,cho phép các doanh nghiệp sản xuất trong nớc đợc xuất khẩu trực tiếp,thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu thì việc thực hiện Luật thuế GTGT có tác dụng rõ nét nhất,trực…tiếp đến khuyến khích xuất khẩu.Việc hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá xuất khẩu thực chất là Nhà nớc trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu,nên có tác dụng giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung đợc nguồn hàng trong nớc để xuất khẩu và có lợi thế hơn trớc do giảm đợc giá vốn hàng xuất khẩu và vì thế góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng hoá trên thị trờng quốc tế Trong
điều kiện thị trờng xuất khẩu bị hạn chế,giá xuất khẩu giảm nhng với sự cố gắng của các ngành,các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và tác động của cơ chế chính sách nên tổng giá trị xuất khẩu của nớc ta năm 1999 vẫn tăng so với năm 1998 là : 23,18%,năm 2000 tăng 21,3%
Mức thuế suất 5% áp dụng đối với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu cho đời sống nh nớc sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt,lơng thực,thực phẩm t-
ơi sống,lâm sản cha qua chế biến;phân bón,thuốc trừ sâu bệnh và chất kích thích tăng trởng vật nuôi,cây trồng;thiết bị máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế,thuốc chữa bệnh;các loại sản phẩm cơ khí sản xuất,sản phẩm luyện cán,kéo kim loại;hoá chất cơ bản,vật liệu nổ,than đá,đất đá cát sỏi;máy vi tính,sách,giấy in báo,giáo cụ,đồ chơi trẻ em;hoạt động xây dựng lắp đặt,vận tải bốc xếp;dịch vụ khoa học kỹ thuật,dịch vụ sản xuất nông nghiệp;hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu kinh doanh thơng mại nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế
Trang 33Mức thuế suất 20% áp dụng đối với vàng,bạc,đá quý (trừ vàng nhập khẩu dới dạng thỏi miếng cha qua chế tác);hoạt động xổ số kiến thiết và các loại hình xổ số khác,đại lý tàu biển,dịch vụ môi giới.
Về mặt nguyên tắc,thuế suất 10% là thuế suất tiêu chuẩn và áp dụng đối với tất cả các loại hàng hoá,dịch vụ còn lại không đợc quy định trong ba nhóm thuế suất 0%,5% và 20% trên.Tuy nhiên,để thuận lợi cho việc áp dụng,Luật thuế GTGT có liệt kê ra một số loại hàng hoá dịch vụ trong diện thuế suất 10% nh dầu mỏ,khí đốt,điện thơng phẩm,sản phẩm cơ khí tiêu dùng,sản phẩm
điện t,các loại thực phẩm chế biến;dịch vụ bu điện,bu chính,viễn thông;dịch
vụ cho thuê nhà,văn phòng,kho tàng,bến bãi,nhà xởng,máy móc,thiết bị,phơng tiện vận tải;dịch vụ t vấn,khảo sát,thiết kế,dịch vụ kiểm toán,kế toán;dịch vụ khách sạn,du lịch,ăn uống…
Về phơng pháp tính thuế : Theo luật thuế GTGT,thuế GTGT đợc tính
theo hai phơng pháp là phơng pháp khấu trừ và phơng pháp trực tiếp
Hầu hết các cơ sở kinh doanh phải áp dụng phơng pháp khấu trừ và phải
đáp ứng quy định về sổ sách kế toán,hạch toán số thuế đầu ra và số thuế đầu vào Số thuế phải nộp đợc xác định bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào đợc phép khấu trừ
Thuế GTGT của hàng hoá,dịch vụ bán ra tính trên giá cha có thuế.Khi lập hoá đơn bán hàng hoá,dịch vụ,cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán cha có thuế,thuế GTGT và tổng số tiền ngời mua phải thanh toán.Trờng hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán,không ghi giá cha có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT tính trên giá thanh thoán ghi trên hoá đơn,chứng từ
Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá,dịch vụ đầu vào của cơ sở kinh doanh.Ngoài ra,cơ sở kinh doanh còn đợc tính khấu trừ theo tỷ lệ 3% trên các hoá đơn bán hàng thông th-ờng mua hàng hoá,dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế GTGT của đơn vị nộp thuế GTGT theo phơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng ,hay hàng hoá
Trang 34chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do cơ sở kinh doanh thơng mại mua của cơ sở sản xuất để bán ra;tiền bồi thờng bảo hiểm theo bảng kê chi bồi thờng bảo hiểm;và 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê đối với hàng hoá là nông,lâm,thuỷ sản cha qua chế biến;đất,đá,cát,sỏi,các phế liệu mua của ngời bán không có hoá đơn.Tỷ lệ % khấu trừ này áp dụng thống nhất cho cả trờng hợp kinh doanh trong nớc và xuất khẩu.
Theo quy định của luật thuế GTGT,chỉ có ba loại đối tợng áp dụng
ph-ơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là : cá nhân sản xuất,kinh doanh là ngời Việt Nam,và tổ chức,cá nhân nớc ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam cha thực hiện đầy đủ các điều kiện về
kế toán,hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế,và cơ sở kinh doanh mua,bán vàng,bạc,đá quý,ngoại tệ.Theo phơng pháp này,thuế GTGT đợc tính trực tiếp trên giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ chịu thuế,nhân với thuế suất tơng ứng.Giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ đ-
ợc xác định là doanh số của hàng hoá dịch vụ bán ra trừ đi giá vốn của hàng hoá dịch vụ bán ra
Để thực hiện luật thuế GTGT các quy định bắt buộc về chế độ hoá đơn chứng từ đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng phải đợc thực hiện một cách chặt chẽ.Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn GTGT.Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hoá dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn bán hàng
Khi lập hoá đơn,cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ,đúng các quy định trên hoá đơn.Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán cha có thuế,phụ thu
và phí tính ngoài giá bán(nếu có),thuế GTGT,tổng giá thanh toán đã có thuế;nếu không ghi tách riêng giá bán cha có thuế và thuế GTGT,chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán
Trang 35Hoá đơn chứng từ mua vào phải hợp pháp theo quy định của Bộ tài chính thì mới đợc khấu trừ thuế và chỉ đợc khấu trừ theo số thuế ghi trên hoá
đơn Riêng đối với một số trờng hợp đợc khấu trừ khác theo tỷ lệ quy định
Do thuế GTGT nói chung không còn là chi phí của doanh nghiệp,việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu txây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trớc đây.Toàn bộ thuế GTGT của công trình xây dựng cơ bản và tài sản cố định đợc hạch toán riêng và không tính vào giá thành công trình nh thuế doanh thu,vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn.Từ khi giảm 50% mức thuế GTGT(xuống còn 5% so với thuế suất 10% ban đầu)đối với sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế GTGT của các doanh nghiệp xây lắp còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào thấp hơn
so với mức 4% khi nộp thuế doanh thu,thậm chí còn đợc hoàn thuế
Các doanh nghiệp khi mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều đợc khấu trừ hoặc hoàn thuế;còn nếu nhập khẩu thiết bị,máy móc,phơng tiện vận tải chuyên dùng loại trong nớc cha sản xuất đợc để đầu t làm tài sản cố
định,thì không phải nộp thuế GTGT ngay từ khâu nhập khẩu
Hoàn thuế giá trị gia tăng là một vấn đề quan trọng nhất trong cơ chế
thuế GTGT.Nhận thức đợc vấn đề này,các nhà lập pháp đã nghiên cứu sửa
đổi,bổ sung các quy định về hoàn thuế,nhằm đảm bảo thực hiện hoàn thuế đợc nhanh chóng thuận tiện cho doanh nghiệp đồng thời cũng ngăn ngừa đợc những gian lận thuế trong quá trình hoàn thuế.Cơ sở kinh doanh đạt đủ các
điều kiện để đợc hoàn thuế nh : có luỹ kế số thuế đầu vào và đợc khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra trong 3 tháng liên tục;có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào cha đợc khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên;đầu t tài sản mới trong thời gian từ một năm trở lên nhng cha phát sinh doanh thu bán hàng,thì đợc xét hoàn thuế ngay trong vòng 15 ngày khi có hồ sơ hoàn thuế hợp lệ gửi lên cơ quan thuế,riêng đối với trờng hợp hoàn thuế cho dự án ODA
và viện trợ nhân đạo,viện trợ không hoàn lại thời gian hoàn thuế là 3 ngày
Trang 36Thực hiện thuế GTGT còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh,lu thông hàng hoá phát triển do thuế GTGT chỉ thu trên GTGT của hàng hoá dịch vụ qua các khâu sản xuất,lu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng,khắc phục đợc nhợc
điểm của thuế doanh thu là thu trùng lên thuế,thúc đẩy chuyên môn hoá,hợp tác sản xuất,nhất là trong lĩnh vực sản xuất cơ khí nh : sản xuât,lắp ráp xe
đạp,xe máy,ô tô,điện,điện tử…
Tóm lại,qua những năm đầu triển khai thực hiện luật thuế GTGT,chúng
ta đã đạt đợc kết quả nhất định;các quy định của pháp luật bớc đầu đã phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của nớc ta,học tập đợc kinh nghiệm của các n-
ớc đã áp dụng Luật thuế GTGT tuy nhiên,thực tế hiện nay cho thấy vẫn còn…nhiều bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành cần đợc bổ sung,sửa đổi
để nâng cao hiệu quả áp dụng
2.Các tồn tại
Việc triển khai thực hiện các luật thuế mới nói chung và luật thuế GTGT nói riêng vừa kịp thời thực hiện tháo gỡ khó khăn và đạt đợc kết quả ban đầu
khá khả quan
Tuy nhiên,thuế GTGT ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành còn tỏ ra khá phức tạp và có một số bất cập.Đó là điều không thể tránh khỏi,kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy thực tế áp dụng thờng phải sửa đổi,bổ sung thờng xuyên và cũng chỉ hoàn thiện dần sau một khoảng thời gian nhất định
2.1.Các quy định về đối tợng chịu thuế và đối tợng không thuộc diện chịu thuế
Điều 3, Luật thuế GTGT quy định : “Tổ chức,cá nhân sản xuất,kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế(gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế(gọi chung là ngời nhập khẩu) là đối tợng nộp thuế GTGT”.Theo quy định này thì đối tợng nộp thuế GTGT rất rộng,điều