Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về tác động của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế. Lạm phát là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trong những trở ngại lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước. Lạm phát được coi như là một căn bệnh thế kỷ của nền kinh tế thị trường. Đối với nước ta, trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, cơ chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; chắt lọc, kế thừa những thành tựu và khắc phục những tồn tại đã qua. Trong đó, lạm pháp nổi lên như là mộtvấn đề hết sức nghiêm trọng. Vì vậy, việc nguyên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Trong những năm gần đây chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng cao đẩy nguy cơ lạm phát cho nền kinh tế đến mức đáng báo động và nếu cứ đà như vậy thì đến cuối năm 2014 sẽ khó có thể giữ được mức 7% mà quốc hội đã đề ra tìm . Có thể thấy lạm phát là một vấn đề day dẳng và gây tác động đến nền kinh tế của Việt Nam. Việc hiểu nguyên nhân cốt lõi của lạm phát, tình hình lạm phát và đưa ra những giải pháp xử lý đúng đắn, hiệu quả sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Đó là lý do tại sao nhóm chúng em lựa chọn đề tài này:“Sự tác động của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam”.Bài tiểu luận của nhóm gồm 3 chương:Chương 1: Các vấn đề chung về lạm phátChương 2: Sự tác động của lạm phát tới nền kinh tế Việt NamChương 3: Phương hướng và một số biện pháp kiềm chế lạm phát ở nước ta trong thời gian tới
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và
ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về tác động của nóđối với sự nghiệp phát triển kinh tế Lạm phát là một trong những chỉ tiêu đánhgiá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trong nhữngtrở ngại lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước Lạm phát được coi như làmột căn bệnh thế kỷ của nền kinh tế thị trường Đối với nước ta, trong sự nghiệpphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhànước, cơ chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xuhướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; chắt lọc, kế thừa những thànhtựu và khắc phục những tồn tại đã qua Trong đó, lạm pháp nổi lên như làmộtvấn đề hết sức nghiêm trọng Vì vậy, việc nguyên cứu về lạm phát, tìm hiểunguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò
to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước Trong những năm gầnđây chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng cao đẩy nguy cơ lạm phát cho nền kinh tếđến mức đáng báo động và nếu cứ đà như vậy thì đến cuối năm 2014 sẽ khó cóthể giữ được mức 7% mà quốc hội đã đề ra tìm Có thể thấy lạm phát là mộtvấn đề day dẳng và gây tác động đến nền kinh tế của Việt Nam Việc hiểunguyên nhân cốt lõi của lạm phát, tình hình lạm phát và đưa ra những giải pháp
xử lý đúng đắn, hiệu quả sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hành cácchính sách kinh tế vĩ mô Đó là lý do tại sao nhóm chúng em lựa chọn đề tàinày:
“Sự tác động của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam”.
Bài tiểu luận của nhóm gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề chung về lạm phát
Chương 2: Sự tác động của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và một số biện pháp kiềm chế lạm phát ở nước
ta trong thời gian tới
Trang 2CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT
1.1.1 Khái niệm lạm phát
Theo quan điểm của Milton Friedman: “Lạm phát là hiện tượng cung tiền
tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá cả chung tăng nhanh tồn tại trong một thờigian dài”.Đây là quan điểm khái quát nhất về lạm phát và được nhiều nhà kinh
tế đồng ý
Trước Milton Friendman còn có nhiều quan điểm khác về lạm phát :
Có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả,nói cáchkhác đó là tình trạng mức giá cả tăng và tăng liên tục.Theo quan điểm nàythì không kể giá cả tăng lên do nguyên nhân nào đều là lạm phát.Đây làquan điểm chưa hoàn toàn đúng
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là việc phát hành thừa tiền giấy vượtquá mức bảo đảm bằng vàng, bạc, ngoại tệ,…của quốc gia, vì vậy gây ra
sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao, quanđiểm này quá quan trọng cơ sở đảm bảo bằng vàng, ngoại tệ cho tiềntrong nước và người ta cho rằng để chống lạm phát cần phục hồi lại chế
độ tiền giấy chuyển đổi ra vàng theo một mức giá qui định
Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữatiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối với tiền lớn hơn càng khiếncho giá cả tăng lên ở mọi lúc mọi nơi.Để khắc phục tình trạng này cầndùng một biện pháp để thiết lập lại sự cân đối giữa tiền và hàng trong nềnkinh tế
Việc nhìn nhận lạm phát bằng định nghĩa này hay định nghĩa khác khó có thể điđến thống nhất theo từng quan điểm riêng biệt Nhưng lạm phát có thể nhận diệnthông qua những đặc trưng cơ bản
Các đặc trưng cơ bản của lạm phát:
Trang 3 Sự tăng giá cả đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy.
Sự phân phối lại qua giá cả
Lạm phát vừa phải(mild -inflation):
Là lạm phát ở mức độ thấp còn gọi là lạm phát một con số.Biểu hiện ở giá
cả hàng hóa tăng chậm trong khoảng 10% trở lại (<10%).Trong đó tổng số tiềnmất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh.Loại lạmphát này thường được các nước có nền kinh tế phát triển duy trì như một chấtxúc giác cho nền kinh tế phát triển
Lạm phát cao (lạm phát phi mã) (strato – inflation):
0 Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con
số hằng năm (từ 10% - 99% một năm) Lạm phát phi mã gây ra nhiều tác hạiđến sự phát triển kinh tế -xã hội
Siêu lạm phát (hyper - inslation):
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con sốhàng năm trở lên Siêu lạm phát còn được gọi là lạm phát siêu tốc.Nếu trong cóđiều gì tốt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng siêu lạm phát Người ta thường vísiêu lạm phát như bệnh ung thư gây chết người, có những tác hại rất lớn đếnkinh tế - xã hội Lịch sử lạm phát của thế giới đã ghi nhận tác hại của siêu lạmphát xảy ra ở Đức năm 1920 - 1923, ở Nga sau cách mạng tháng Mười, ở TrungQuốc sau thế chiến thứ hai…
Trang 4Ngoài ra, người ta còn phân loại lạm phát dựa vào việc so sánh hai chỉtiêu là tỉ lệ tăng giá và tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ Theo cách này lạm phát sẽ ởtrong hai giai đoạn sau:
Giai đoạn 1 : Ở giai đoan này tỉ lệ tăng giá nhỏ hơn tỉ lệ tăng trưởngtiền tệ Một bộ phận của khối tiền gia tăng về cơ bản đáp ứng nhu cầulưu thông tiền tệ của nền kinh tế Theo các nhà kinh tế , lạm phát nằm
ở giai đoạn này có thể chấp nhận được và thậm chí còn cho rằng lạmphát sau đó còn là liều thuốc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn 2 : Ở giai đoạn này tỉ lệ tăng giá lớn hơn tỉ lệ tăng trưởngtiền tệ Sở dĩ như vậy là do lạm phát với tỉ lệ cao kéo dài đã làm chokinh tế suy thoái Hệ quả là khối lượng tiền phát hành vượt mức khốilượng tiền cần thiết cho lưu thông Trong trường hợp này lạm phát gâynguy hiểm trầm trọng cho nền kinh tế
1.1.4 Nguyên nhân lạm phát
Theo phương thức thứ nhất: Xét trên ba quan điểm.
Quan điểm một: Quan điểm đồng nhất giữa lạm phát và tăng giá - gọi
là lí thuyết về lạm phát và tăng giá
Theo quan điểm này thì lạm phát là sự tăng giá nói chung của hàng hóa.Người ta thường dựa vào chỉ số giá cả hàng tiêu dùng ( CPI) để xác định mức độcủa lạm phát
Quan điểm hai: Lạm phát lưu thông tiền tệ
Cho rằng lạm phát là kết quả của việc tăng thêm tiền với một tỉ lệ cao.Quan điểm này cho rằng lạm phát cao là kết quả của tăng trưởng tiền tệ cao,song các nhà kinh tế cũng phải thừa nhận lạm phát cao kéo theo sự tăng trưởngtiền tệ cao.Nhưng đây cũng chưa thể được coi là một nguyên nhân đầy đủ
Quan điểm ba: lạm phát nhu cầu và chi phí đẩy.
Lạm phát nhu cầu (lạm phát cầu - kéo): Xảy ra khi ngững nhà hoạchđịnh chính sách theo đuổi chính sách phát triển “nóng” nềnkinh tế làmtổng cầu tiền tệ tăng cao.Quan điểm này coi lạm phát như là cầu quámức đối với nhiều mặt hàng trên thị trường
Trang 5 Lạm phát chi phí (lạm phát chi phí đẩy): xảy ra do giá các yếu tố đầuvào của sản xuất như: Giá những nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu tăngcao hoặc giá nhân công tăng cao đẩy giá hàng hóa dịch vụ tăngtheo.Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít mà chi phí tănglên (trước hết là chi phí nguyên, nhiên, vật liệu và chi phí nhân công)thì sẽ sinh ra lạm phát chi phí đẩy.
Nhìn chung, cả ba quan điểm này điều cho rằng nguyên nhân làm tăng giá
cả là nguyên nhân gây ra lạm phát
Theo phương thức thứ hai: Nguyên nhân của lạm phát có thể xét theo
hai cách
Cách thứ nhất: Xét theo nguồn gốc gây ra lạm phát:
Nguyên nhân cơ bản và sâu xa: Nền kinh tế quốc dân bị mất cânđối,sản xuất sút kém, ngân sách quốc gia bị thâm hụt dẫn đến lạmphát
Nguyên nhân trực tiếp: Cung cấp tiền tệ tăng trưởng quá mức cầnthiết
Nguyên nhân quan trọng: Là hệ thống chính trị bị khủng hoảng donhững tác động bên trong hoặc bên ngoài, làm cho lòng tin của dânchúng vào chế độ của Nhà nước bị xóa mòn, từ đó làm cho uy tín
và sức mua của đồng tiền bị giảm sút, họ không tiêu xài hoặc đánhthấp giấy bạc mà nhà nước phát hành
Cách thứ hai: Nguyên nhân chủ yếu xét theo chủ quan và khách quan:
Nguyên nhân chủ quan: Bắt nguồn từ những chính sách quản líkinh tế không phù hợp của nhà nước như: Chính sách cơ cấu kinhtế,chính sách lãi suất,chính sách thuế…làm cho nền kinh tế bị mấtcân đối, hiệu quả sản xuất bị sút kém ảnh hưởng đến nền tài chínhquốc gia Một khi ngân sách bị thâm thủng thì nhà nước phải tăngphát hành Đặt biệt với một số quốc gia trong những điều kiện nhấtđịnh, Nhà nước chủ trương dùng lạm phát như một công cụ để thựcthi chính sách phát triển kinh tế
Trang 6 Nguyên nhân khách quan: Như thiên tai, động đất, sóng thần lànhững nguyên nhân bất khả kháng, hoặc nguyên nhân nền kinh tế
bị tàn phá sau chiến tranh, tình hình biến động của thị trường nhiênliệu, vàng, ngoại tệ trên thế giới
Các số đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
- Chỉ số tiêu dùng (CPI) (là chỉ số đo lường thông dụng nhất, cơ bản
nhất): đo giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêudùng thông thường”
- Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trên lí thuyết trong giá cả sinh hoạt
của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cáchxấp xỉ
- Chỉ số giá sản xuất (PPI):đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận
được.Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra mộtđiều làm gia sinh ra bởi nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêudùng đã thanh toán
- Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả của một tổ hợp các hàng
hóa bán buôn (thông thường là giá bán trước thuế)
- Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của một tổ hợp các hàng
hóa
- Chỉ số giảm phát (GDP) dựa trên việc tính toán tổng sản phẩm quốc nội:
Nó dựa trên tỉ lệ của tổng giá trị tiền được tiêu vào GDP (GDP danh nghĩa) vớiphép đo GDP đã điều chỉnh lạm phát (giá cố định hay GDP thực)
- Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI).Trong “Báo cáo chính
sách tiền tệ cho Quốc hội” (“Báo cáo Humphrey-Hawkins”) ngày 17 tháng 2
Trang 7thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát từ CPI sang “chỉ số giá cả dạng chuỗi củacác chi phí tiêu dùng cá nhân”.
Chọn và công bố chỉ tiêu lạm phát cho phù hợp và so sánh được với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác:
Lạm phát và tăng trưởng GDP là hai chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng củanền kinh tế đất nước, được mọi cấp, mọi ngành quản lý cũng như toàn xã hộiquan tâm Tốc độ tăng trưởng GDP được xác định trên cơ sở lấy mức tăngtrưởng trong năm nghiên cứu so với GDP của năm trước, và được tính theo giá
so sánh Còn lạm phát, như đã biết hàng tháng Tổng cục Thống kê vẫn thườngxuyên tính toán và công bố CPI đồng thời theo bốn gốc so sánh khác nhau là:
CPI hàng tháng so với tháng trước;
CPI hàng tháng so với tháng 12 năm trước;
CPI hàng tháng so với cùng tháng( cùng kỳ) năm trước;
CPI so với năm gốc cố định (thay đổi 5 năm một lần và hiện tính theonăm gốc 2005)
Như vậy:
Bốn chỉ tiêu CPI hàng tháng được tính theo bốn gốc so sánh khác nhau ở trênđều có ý nghĩa, và phản ánh riêng về sự biến động của giá cả thị trường theo cácgóc độ xem xét, đánh giá khác nhau, và phục vụ cho các mục đích, yêu cầunghiên cứu, phân tích kinh tế, xã hội khác nhau của từng thời kỳ
1.2 HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT
Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùytheo mức độ của nó Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điềulợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phátgây những tác hại rất nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống Tác động củalạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán được hay không Nếu như
Trang 8lạm phát hoàn toàn có thể dự báo trước thì lạm phát không gây nên gánh nặngkinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó Lạmphát không dự đoán được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thunhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.
1.2.1 Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện lạm phát ở mức độ cao, giá cả hàng hóa bị tăng lên liêntục, điều này làm cho sản xuất gặp khó khăn Quy mô sản xuất không tăng hoặc
bị sụt giảm do nhu cầu phải bổ sung vốn đầu tư liên tục Cơ cấu nền kinh tế dễ
bị mất cân đối vì sẽ có xu hướng phát triển những ngành sản xuất có chu kìngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, còn những ngành sản xuất có chu kì dài, thờigian thu hồi vốn chậm sẽ có xu hướng bị đình đốn, phá sản Vì vậy, trong điềukiện có lạm phát lĩnh vực thương nghiệp thường phát triển mạnh Bên cạnh đóviệc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh không còn chính xác vì thước đo củađồng tiền bị thu hẹp, công tác hạch toán chỉ còn là hình thức
1.2.2 Trong lĩnh vực thương mại
Người ta từ chối tiền giấy trong vai trò là trung gian trao đổi đồng thờichuyển sang đầu cơ tích trữ vàng, hàng hóa đẩy khỏi tay những đồng tiền mấtgiá Điều này càng làm cho lưu thông tiền tệ bị rối loạn Lạm phát xảy ra còn làmôi trường tốt để những hiện tượng tiêu cực trong đời sống phát sinh, như đầu
cơ tích trữ gây cung - cầu hàng hóa giả tạo…
1.2.3 Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng
Tín dụng cũng bị rơi vào khủng hoảng khi người dân không an tâm đầu tưtrong điều kiện lạm phát gia tăng Lạm phát làm sức mua của đồng tiền bị giảm,lưu thông của tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của thị trường tănglên một cách đột biến, hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủnghoảng do nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng
bị phá sản do mất khả năng thanh toán, và thua lỗ trong kinh doanh dẫn đến hệthống tiền tệ bị rối loạn không thể kiểm soát nổi Lạm phát cao và siêu lạm phátlàm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng Lạmphát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin
Trang 9được bao hàm trong giá cả bị tiêu hủy các tính toán kinh tế bi sai lệch nhiều theothời gian, từ đó gây khó khăn cho hoạt động đầu tư
1.2.4 Trong lĩnh vực tài chính nhà nước
Tuy lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập cho ngân sách nhà nước qua cơchế phân phối lại sản phẩm và thu nhập quốc dân, nhưng do ảnh hưởng nặng nềcủa lạm phát mà những nguồn thu của ngân sách nhà nước (chủ yếu là thuế)ngày càng bị giảm do sản xuất bị sút kém, nhiều công ty bị phá sản, giải thể…
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỉgiá hối đoái Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăngcường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạtđộng nhập khẩu
Lạm phát gât thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trịthực của những khoản công phí Ngoài ra lạm phát cao và kéo dài không dựđoán trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bịsuy thoái Tuy nhiên lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nướcthu được trong những trường hợp nhất định Nếu hệ thống thuế tăng dần tỉ lệlạm phát cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn
và như vậy chính phủ thuđược nhiều thuế hơn mà không phải thông qualuật
1.2.5 Trong lĩnh vực đời sống xã hội
Đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó khăn và chật vật do phải chịu áplực từ sự gia tăng của giá cả Giá trị thực tế của tiền lương giảm sút nghiêmtrọng dẫn đến trật tự an toàn xã hội bị phá hoại nặng nề
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến khi lạm pháttăng lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi lạm phát giảm xuống thìthất nghiệp tăng lên Nhà kinh tế học A.W.Phillip đã đưa ra lý thuyết đánh đổigiữa lạm phát và việc làm, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệpthấp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỉ lệ lạm phát cao hơn
Trong thời kì lạm phát giá cả hàng hóa - dịch vụ tăng lên một cách vữngchắc, bên cạnh đó tiền lương danh nghĩa cũng theo xu hướng tăng lên Vì
Trang 10vậy,thu nhập thực tế của người lao động nói chung có thể giữ vững hoặc tănglên hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng giảm.
Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội,
và nhà nước phải cân bằng được giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế
và sự đòi hỏi phải kiểm soát được lạm phát
1.3 CÁC BIỆN PHÁP CƠ BẢN KHẮC PHỤC LẠM PHÁT
1.3.1 Các biện pháp chống lạm phát trong chế độ lưu thông tiền kim loại
Thời kỳ nước ta còn áp dụng chế độ lưu thông tiền kim loại, tùy theo mức
độ mất giá của tiền giấy mà phải áp dụng một trong ba biện pháp sau:
Biện pháp loại bỏ tiền giáy không bồi hoàn (Annulation)
Biện pháp khôi phục (Rest Ration)
Biện pháp phá giá tiền tệ (Devaluation)
Ngày nay, trong thời đại lưu thông tiền giấy bất khả hoán,căn bệnh lạmphát hầu như là căn bệnh tất yếu ở các nước, chỉ khác nhau ở mức độ cao, thấp.Trải qua lịch sử lạm phát hầu như chưa có nước nào có thể dập tắt hoàn toàn lạmphát, mà vấn đề cần duy trì lạm phát ở mức độ vừa phải Tuy nhiên, khi lạmphát tăng ở mức độ phi mã hoặc siêu lạm phát, thì lạm phát không còn đượcxem là công cụ điều tiết kinh tế nửa, mà nhà nước cần áp dụng các biện phápnhằm kiềm chế và đẩy lùi lạm phát sao cho thích ứng trong từng giai đoạn, tìnhhuống của nền kinh tế
1.3.2 Các biện pháp chống lạm phát trong nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế thị trường biện pháp chống lạm phát là rất đa dạng,chúng ta
có thể nêu lên một số biện pháp cơ bản sau:
1.3.2.1 Biện pháp cơ bản chiến lược chung của các quốc gia
Nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn nhằm tạođộng lực cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển Đây sẽ là tiền đềvững chắc để ổn định lưu thông tiền tệ góp phần đưa nền kinh tế thoátkhỏi khủng hoảng và suy thoái
Trang 11 Nhà nước cần xây dựng nền kinh tế hơp lí Phát triển ngành mũi nhọnxuất khẩu Điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhằm thúc đẩy các nhu cầu cơ bảncủa đời sống kinh tế xã hội và việc làm của nhân dân lao động.
Nâng cao hiệu lực của của nhà nước bằng công cụ vốn có như pháp luật,các công cụ tài chính, tiền tệ giá cả… để tác động mọi mặt của nền kinh tế
xã hội, do đó việc nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước được coi làbiện pháp mang tính chất chiến lược để ổn định tiền tệ, tinh giảm biên chế
và cải cách hành chính
Nhà nước cần chống thâm hụt ngân sách
1.3.2.2 Những biện pháp chống lạm phát đối với các nước phát triển
Ở các nước phát triển,người ta theo đuổi một chính sách kinh tế vĩ mônào đó, mà việc thực hiện một chính sách như vậy thường cũng sinh ra lạm phát
Trước hết là giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giải quyếtnạn thất nghiệp Các nhà nghiên cứu kinh tế ở Mỹ và các nước phát triển điềuthống nhất rằng khi chính phủ muốn thực hiện chỉ tiêu côngăn việc làm cho (thấtnghiệp giảm) có thể dẫn đến lạm phát chi phí-đẩy và lạm phát cầu-kéo Vì vậy,lạm phát là hiện tượng lưu thông tiền tệ và thâm hụt ngân sách là bạn đồng hànhvới nhau
Việc lựa chọn biện pháp chống lạm phát trên thế giới không giống nhau
Ở một nước trong những thời kỳ khác nhau người ta cũng áp dụng các biện phápkhác nhau Nhìn chung, ở các nước phát triển có các biện pháp sau đây:
Biện pháp hạn chế tiền tệ hay đóng băng tiền tệ:
Để góp phần giảm lượng tiền đang dôi thừa trong lưu thông, nhà nước cầnvận dụng những công cụ điều tiết, như tăng lãi xuất tiền gửi tiết kiệm, tăng thuếđối với những cá nhân hoặc doanh nghiệp có thu nhập cao, đồng thời trợ cấp chonhững người những người hưởng lương thấp hoặc những mặt hàng có mức giátăng chậm Để hạn chế phát hành tiền, nhà nước cần tính toán lại chi tiêu, cắtgiảm những khoản chi chưa cần thiết, tính giảm và kiện toàn bộ máy hành chính,mặt khác, nhà nước cần tận dụng những nguồn tiền đang dư thừa trong lưuthông để thỏa mãn chi tiêu nhằm hạn chế phát hành tiền để bù đắp
Trang 12Biện pháp này xuất phát từ luận điểm của M.Friedman, tin rằng sự tăngtrưởng kinh tế ổn định của một quốc gia chỉ là kết quả của chính sách tiền tệ ổnđịnh Chính sách tiền tệ ổn định và có hiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm soátchặt chẽ khối lượng tiền phát hành trong lưu thông, nghĩa là kiểm soát sự lưuthông tiền tệ kết hợp với chính sách thuế, nhằm kiểm chế lạm phát và thúc đẩytăng trưởng dài hạn.
Biện pháp này được áp dụng tại Mỹ trong nhiều thập niên và tỏ ra có hiệuquả, vì vậy nó được nhiều nước thừa nhận như biện pháp chủ yếu để ổn địnhtiền tệ, kiềm chế lạm phát
Biện pháp dùng lạm phát chống lạm phát (gọi là nới lỏng tiền tệ):Được áp dụng đối với những quốc gia còn ẩn chứa tiềm năng về lao động,đất đai, tài nguyên, nhà nước phát hành tiền như một công cụ thực thi chính sáchkinh tế Tuy nhiên, điều này lại đòi hỏi trình độ quản lý kinh tế, trình độ khoahọc kỹ thuật tiên tiến và tiềm năng sản xuất mạnh mẽ mới có khả năng đem lạihiệu quả, nếu không lượng tiền thừa rất dễ gây tai hại đến sản xuất và lưu thônghàng hóa
Biện pháp này dựa trên quan điểm của J.M.Keynes cho rằng một nền kinh
tế tăng trưởng và có hiệu quả là giải quyết đầy đủ công ăn việc làm (toàn dụng);muốn vậy phải kích thích mặt cầu bằng các chính sách vĩ mô của nhà nước.Trong đó, với nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứng việc cung ứng tiền sẽ kíchthích mặt cầu, giải quyết được nạn thất nghiệp nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, nhờ đó lạm phát sẽ được kiểm soát
Quan điểm này coi lạm phát và chống lạm phát là quá trình liên tục, nghĩa
là vừa chống lạm phát vừa thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát
Biện pháp này được thừa nhận ở Mỹ vào những thập niên 1940, 1950,1960; sau đó, ảnh hưởng mạnh mẽ với các nước Nam Mỹ, các nước Achentina,Peru, Brazil, Bolivia, có tỉ lệ tăng trưởng bình quân lên đến trên 300%, các nướckhác như Urugoay, Mexico có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ bình quân hàng nămkhoảng trên dưới 60%
Biện pháp kiềm giữ giá cả:
Trang 13Nhà nước có thể áp dụng tự do mậu dịch để tăng quỹ hàng hóa, đặc biệt làhàng hóa tiêu dùng góp phần cân đối với nguồn tiền, dư tiền Ngoài ra, nhà nướccần bán vàng và ngoại tệ vừa thu hút tiền mặt đồng thời từng bước khôi phục uytín của đồng tiền trong quan hệ với vàng và ngoại tệ trên thương trường, gópphần dập tắt cơn sốt vàng, cơn sốt ngoại tệ.
Cải cách tiền tệ:
Trường hợp lạm phát ở mức độ cao đồng tiền bị giảm sút nhiều mà vậndụng biện pháp trên không mang lại hiệu quả mong muốn, giải pháp sau cùngcủa nhà nước buộc phải áp dụng để lập lại trật tự mới trong lưu thông tiền tệ
1.4 PHÂN BIỆT LẠM PHÁT VỚI MỘT SỐ KHÁI NIỆM KHÁC CÓ LIÊN QUAN
1.4.1 Lạm phát và kích giá
Nhiều người hay nhầm giữa khái niệm lạm phát và kích giá Trên thực tếhai khái niệm này khác nhau, bảng so sánh dưới đây chỉ ra những điểm khácnhau đó
Bảng:Phân biệt giữa lạm phát và kích giá
STT TIÊU CHÍ
1 Tăng giá Là quá trình tự thân tăng giá
liên tục
Việc tăng mức giá một lần do
bị sốc (ví dụ tăng giá dầu thô
do thu thuế bổ sung)
2 Chỉ số giá Chỉ số giá tiêu dùng chung
tăng (CPI)
Chỉ số giá mặt hàng cá biệttăng
3 Thời gian Giá cả tăng liên tục trong thời
gian dài
Giá cả tăng có tính chất thờiđiểm, thời gian ngắn
Trang 14và do đó không đi đôi với sư giảm sút giá cả.
Cũng có thể nói là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuốngliên tục hoặc giảm phát là tình trạng trái ngược với tình trạng lạm phát (lạm phátvới tỉ lệ mang giá trị âm) Trong các tài liệu thống kê tình hình kinh tế chínhthức, khi đề cập đến giảm phát, người ta vẫn đặt dấu âm kèm với con số ở mục tỉ
lệ lạm phát Giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.Trên thực tế trừ các cuộc khủng hoảng chu kỳ hồi thế kỷ IXX và một phần củacuộc khủng hoảng năm 1929, giảm phát ít khi là hiện tượng tự phát mà thường
là các biện pháp cố tình của nhà nước nhầm hạn chế mạnh cầu, và qua đó giảmbớt những mất cân đối lớn Đó là trường hợp của các nước châu Âu (Ở Pháp vàonăm 1930, ở Đức vào năm 1948) Nhưng tình trạng giảm phát có điều bất lợi lớnlà: làm cho thất nghiệp tăng nhanh (khi giá cả giảm mạnh hơn tiền lương xảy ra
ở năm 1929)
Thực ra vào thế kỉ IXX không có nhà kinh tế nào nói đến lạm phát, phảiđến cuộc khủng hoản kinh tế 1929-1933 các nhà kinh tế mới quan niệm đượcrằng có một tình trạng lạm phát.Trong thời kỳ giảm phát người ta phải tránh vay
nợ bằng mọi giá, vì nếu vay nợ thì cần phải hoàn trả món nợ có giá trị cao hơnkhi vay lúc đầu.Người thiếu nợ muốn hoàn trả càng sớm càng tốt vì nếu kéo dàiphải trả nợ lớn hơn so với lúc đi vay Nhưng nếu hoàn trả nợ là ưu tiên hàng đầuthì chẳng ai đầu tư vào những gì có thể đem lại tăng trưởng
Phòng và chống lạm phát: Để thoát khỏi tình trang giảm phát, cần thựchiện chính sách tái khuếch trương tiền tệ thông qua các biện pháp như tăngtrưởng cung tiền, giảm thuế, hay điều chỉnh lãi suất
Trang 15+ Trong thời kỳ giảm phát doanh nghiệp không muốn giữ hàng tồn kho,
vì những hàng sản xuất hôm nay sẽ phải bán với giá thấp hơn trong tương lai.Giá bán trong thời gian tới sẽ thấp hơn chi phí sản xuất hôm nay, và lỗ sẽ giatăng do mất thời gian chờ đợi giữa sản xuất và bán hàng Trong thời kỳ này cácdoanh nghiệp phải cắt giảm chi phí, do đó các doanh nghiệp không còn cách nàokhác là phải giảm lương cho công nhân.Dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị phá sản,sản xuất bị đình đốn, thất nghiệp tăng nhanh
+ Cá nhân hoãn việc mua sắm và trả nợ
+ Nguồn thu thuế của chính phủ giảm do nguồn thu thuế giảm và thu nhậplợi nhuận giảm Chính phủ giảm chi tiêu và lo trả nợ
Giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tếkhông đi đôi với nhau trong nền kinh
tế hiện đại
Ngăn chặn lạm phát không phải là việc làm dễ dàng.Trong những năm
1930, nhiều biện pháp đã được thử nghiệm (giá bán tối thiểu, trợ giá của chínhphủ) và tất cả điều thất bại.Vì vậy, chính sách tốt nhất là phòng ngừa.Nếu đượclựa chọn cùng tỉ lệ lạm phát, bất cứ khi nào cũng nên chọn lạm phát
Trang 16đất nước: nền kinh tế vẫn trong tình thế bị bao vây cấm vận vẫn là 1 nền kinh tếsản xuất tiểu nông nhỏ mang nặng bóng dáng của 1 thời kỳ đóng cửa, tự cấp, tựtúc, lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ vừa tự phân hóa thành những mạchngầm, các hiện tượng “chợ đen” , “phá rào” , “núp bóng”… mọc lên như nấm từnhững năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 và đỉnh cao là cuộc tổng điều chỉnhgiá – lượng – tiền năm 1985 có nhiều sai lầm sự tan rã của phong trào hợp tác xãnông thôn nhưng từ cấp thấp tới cấp cao đã bức bách đòi hỏi phải chuyển sang
cơ chế khoán mà sau này là “giao” lại ruộng đất thời hạn dài cho nông dân.Trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ cũng có những “đỉnh cao” riêng đó là cuộc đổ
vỡ tín dụng dây truyền từ năm 1988 đến 1990 gây thất thoát nhiều ngàn tỷ đồng
đã làm suy giảm niềm tin trong nhân dân vào tính ổn định của thị trường ViệtNam Có thể nói cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 gần tròn 40 năm kể từ sau khithành lập NHQGVN, nền tiền tệ Việt Nam vẫn cơ bản là một nền tiền tệ tàichính Quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị che lấp bởi quan hệ phân phối hiện vật,đồng tiền Việt Nam chưa bao giờ có bản vị hàm lượng kim khí hoặc đá quý Sứcmua thực tế luôn luôn bị giảm sút ngay cả khi giá trị danh nghĩa được nhân lênsau mỗi lần đổi tiền Hình ảnh bán trâu trong 1, 2 năm khi rút ra cả vốn lẫn lãikhông thể mua đủ một con gà của những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 lànhững sự thật đau xót hằn sâu vào trí nhớ của người Việt Nam Trong khi đóchiến tranh biên giới, chiến tranh hải đảo lien tục đe dọa Mức lương bình quântrên tháng của công chức nhà nước vào những năm của hơn sau 10 năm giảiphóng không đủ để sống ở mức trung bình trong vòng 10 ngày Trong thời kỳnày, tăng trưởng kinh tế đạt thấp( như năm 1986 chỉ đạt 2,84%; năm 1987 đạt3,63%, năm 1989 đạt 4,68% tính ra tốc độ GDP bình quân đầu người còn thấphơn nữa) Tăng trưởng kinh tế thấp thì lạm phát cao và lạm phát quá cao thì làmtăng trưởng càng thấp, đây là quan hệ lạm phát và tăng trưởng
Có thể nói thời kỳ lạm phát ở thời kỳ nào và ở nước nào cũng có nguyên nhânbắt nguồn từ sự mất cân đối trên 4 mặt là chủ yếu: sản xuất và tiêu thụ, hàng vàtiền, thu và chi ngân sách, xuất khẩu và nhập khẩu
Trang 17Thứ nhất: Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng Một trong những đề tài gây
tranh cãi gay gắt nhất lúc đó là có duy trì hay không chế độ phân phối theo địnhlượng, có thực thi chính sách một giá hay vẫn duy trì cơ chế 2 giá Cuối cùng đãxóa bỏ chế độ tem phiếu và chuyển sang cơ chế 1 giá đi đôi với việc bù giá vàolương cho những người làm công ăn lương Kết quả là đã tiết chế được ngườitiêu dùng, rõ nhất là về lương thực, thực phẩm vì trước đó ai cũng cũng tận dụnghết phần của mình được phân phối đem ra chợ đen phần không dùng hết lấychênh lệch, sau khi xóa bỏ tem phiếu, chuyển sang mua bán theo giá thị trườngthì người ta chỉ mua theo nhu cầu thực tế, còn người sản xuất phấn khởi sản xuất
vì vì không còn bị thu mua như cướp nữa Đi đôi với những biện pháp tiết chếtiêu dùng là những quyết sách khuyến khích sản xuất như “khoán 10” “khoán100” trong Nông Nghiệp, “kế hoạch ba” trong Công Nghiệp, xáo bỏ tình trạng
“ngăn song cấm chợ” trong phân phối và lưu thông Nhờ những biện pháp trêntình trạng mất cân đôi giũa sản xuất và tiêu dùng được khắc phục về cơ bản
Thứ hai: Quan hệ giữa Hàng và Tiền Để kiềm chế lạm phát thì các biện
pháp tiền tệ đóng vai trò nòng cốt Trong giai đoạn này, giá-lương-tiền trởthành tâm điểm nóng bỏng nhất do xử lý không phù hợp đã dẫn đến sự đổ vỡ taihại Cuối cùng cũng đã hành động theo đúng quy luật bằng cách chấm dứt intiền tung và lưu thông quá nhiều, tăng lãi suất tiền gửi cao hơn chỉ số lạm phát
để hút tiền về, gia tăng vòng quay của của đồng tiền, nhờ vậy đã góp phần lấylại được sự cân bằng tương đối giữa tiền-hàng
Thứ ba: Quan hệ giữa Thu và Chi ngân sách Năm 1986 thu chỉ đảm bảo
75% chi, trong đó phần chi bù lỗ cho sản xuất rất cao, do đó 1 trong những biệnpháp chống lạm phát lúc bấy giờ là thu hẹp và đẩy mạnh mẽ khoản bao cấp này
kể cả bao cấp qua giá
Thứ tư: Quan hệ Xuất khẩu-Nhập khẩu Tình trạng nhập siêu cũng là một
tác nhân nghiêm trọng góp phần gây lạm phát Năm 1986 xuất được có 800 triệuUSD nhưng lại nhập tới 2,2 tỷ, do đó một trong những biện pháp giúp kiềm chếlạm phát lúc đó là giảm nhập siêu bằng công cụ chủ yếu: xóa bỏ cơ chế hai tỷ
Trang 18giá, chuyển sang cơ chế một tỷ giá theo quy luật cung cầu trên thị trường đi đôivới việc xóa bỏ chế độ đọc quyền ngoại thương của Bộ Ngoại Thương, cho phépcác bộ, ngành và các địa phương kinh doanh xuất nhập khẩu, thả lỏng việc nhậphàng phi mậu dịch.
2.1.1.2 Tình hình lạm phát 1989-1990
Năm 1989 nền kinh tế chuyển hướng mạnh sang cơ chế thị trường, cácchính sách đổi mới quản lí như thực hiện tự đo giá cả, thả nổi tỷ giá, cắt giảmmạnh nhiều khoản chi tiêu của ngân sách, đặc biệt với chương trình ổn định mànội dung chủ yếu là áp dụng chính sách thực dương, Việt Nam thành công trongviệc chặn đứng siêu lạm phát Song kết quả này đã không bền vững lạm phátcao đã quay trở lại sau hai năm sau đó do thâm hụt ngân sách quá lớn và đượctài trợ chủ yếu bằng việc phát hành tiền Lạm phát của nước ta do nhiều nguyênnhân như nền kinh tế chủ yếu là Nông Nghiệp yếu kém lạc hậu, lại mất cân đối
cơ cấu, phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài, nhất là phải dựa vào viện trợ của Liên
Xô, trong khi nhu cầu về chi tiêu của Chính Phủ về dân cư đều gia tăng Tuynhiên có thể cho rằng yếu tố trực tiếp, quyết định mức lạm phát cao ở Việt Namchủ yếu vân là sự bành trướng cung ứng tiền tệ quá lớn để đáp ứng nhu cầu chitiêu của xã hội Có thể thấy rõ tăng tiền và tăng giá có mối quan hệ chặt chẽ nhưtrong bảng số liệu:
Đơn vị: % so với năm trước
Trang 19từ nước ngoài về Đặc trưng chung của lạm phát lúc này là lạm phát trong suythoái Kiên trì và bền bỉ và sang tạo chúng ta đã thành công rút từ 3 con sốxuống còn 1 con số 4-5% mức bình thường của nhiều nước.
Năm 1991, lạm phát phi mã lên tới 67,5% Trong thời gian này nước tacòn phải trải qua hai năm lạm phát phi mã là năm 1992:17,5% và năm 1995:16,8% Tuy nhiên, có những năm dài hạn lạm phát đạt con số rất đáng yên tâm ,năm 1997 còn xuống tới mức 3,2% Các năm còn lại lạm phát chủ yếu xoayquanh con số trên dưới 9% Còn có thể thấy giai đoạn này, lạm phát biến độngkhông ổn định , vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này?
Những năm 1991-1998 là giai đoạn chủ trương phát triển nền kinh tế thịtrường, việc kích thích cả nhà nước lẫn tư nhân đầu tư ở nước ta thời kỳ nàybùng phát Đầu tư tăng khiến cho cầu về nguyên vật liệu, bán thành phẩm, cácmáy móc, trang thiết bị ở mức cao khiến giá thành tăng nhanh
Đặc biệt, từ năm 1993-1996, đầu tư tăng trưởng rất mạnh mẽ với tỷ lệ gầnbằng 30%GDP Đầu tư của NSNN tập trung chủ yếu vào các dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế lâu dài Các nguồn vốn đầu tưkhác (không phải từ ngân sách) chủ yếu được rót vào các ngành có khả năng thuhồi vốn nhanh, có lợi cao như kinh doanh bất động sản (cho thuê văn phòngkhách sạn),vật tư xây dựng (xi măng, sắt thép…) , du lịch Do đó, cầu về cácloai hàng hóa, dịch vụ này tăng vọt, gây nên những cơn sốt trong thập kỷ 90 củathế kỷ XX như sốt xi măng, sắt thép, đất đai, Sự tăng trưởng của đầu tư tạo thu
Trang 20nhập lớn hơn so các tầng lớp trong xã hội khiến cho cầu các mặt hàng tiêu dungnhư: đường, mía…
Hệ quả tiếp theo là các ngành sản xuất ra loại sản phẩm này cũng pháttriển mạnh Yêu cầu mở rộng đầu tư đã thúc đẩy cung tín dụng tăng nhanh, buộcnhà nước phải phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Trong nhữngnăm 1990 và 1991, tỷ trọng bù đắp từ nguồn phát hành so với thâm hụt pháthành Ngân sách chiếm tới 39.6% và 17,8%
Đây là nguyên nhân trực tiếp khiến tỷ lệ lạm phát khá cao vào hai năm đó.Nhìn chung, từ năm 1991 đến 1998 , lạm phát ở nước ta là do nền kinh tế cóbiểu hiện tăng trưởng nóng ở một số ngành như: xây dựng, kinh doanh bất độngsản…Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là năm nào tình trạng này cũng xảy rabởi như nhận xét trên, lạm phát ở thời kỳ này có nhiều biến động không ổn định
Ta nhận thấy tỷ lệ lạm phát năm 1993 thấp hơn hẳn so với ba năm trướccùng thời kỳ, điều này được lý giải bởi sự phát huy hiệu quả của chính sáchnhằm kiềm chế siêu lạm phát ở giai đoạn cuối thời kỳ trước cộng thêm nhữngkết quả tích cưc của việc tăng trưởng đầu tư Lượng hàng hóa cung ứng ra khálớn, đáp ứng được cầu của thị trường nên quan hệ cung cầu không còn căngthẳng như những năm trước Ngoài ra, một vai trò quan trọng nữa là điều hành
vĩ mô nền kinh tế của Chinh phủ
Năm 1996 và 1997 mà hai năm giảm phát đã diên ra Điều này có thể dễdàng được giải thích được hai năm được mùa lương thực, kéo giá lương thựcgiảm xuống dẫn đến chỉ số giá chung giảm sút theo Giá gạo năm 1996 giảmliên tục trong 7 tháng liền
Tốc độ tăng trưởng trong hai năm này cũng chững lại sau mấy tháng tăngtrưởng liên tuc, có xu hướng vượt cầu vì thế giá thành sản phẩm hạ Ngoài ra,còn phải kể đến tình trạng nhập khẩu lậu hàng nươc ngoài ( đồ điện tử, điện dândụng, thực phẩm…) xảy ra phổ biến trong nền kinh tế.Hàng lậu chốn thuế nêngiá thấp hơn hản so với sản phẩm sản xuất trong nước kéo CPI xuống thấp.Riêng năm 1998, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảnh tài chính tiền tê ở Châu Á,
Trang 21bắt nguồn từ Thai Lan năm 1997 nên nền kinh tế nước ta đã không còn giữ được
đà phát triển, lạm phát cũng vì thế mà tăng lên hơn 9%
- Tác động đến công ăn việc làm
Mức giá tăng trong giai đoạn 1991-1998 đã thúc đẩy đầu tư, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho xã hôi Bình quân số người làm viêc tăng 2.2% Nhiềungành công nghiệp tăng trưởng nóng ( thực phẩm, đồ uống điện tử…) đã thu hútmột lực lượng lao động tương đối lớn trong xã hội, kéo theo đó là những luồng
Trang 22di dân từ nông dân ra thành thị để tìm kiếm việc làm Vì thế, tỷ lệ thất nghiệp ởthành thị có xu hướng tăng: năm 1996 là 5.88 thì đến năm 1998 đã lên tới6,85%, tức là tăng thêm gần 1% dẫn đến vấn đề an ninh trật tự ngày càng thêmphức tạp, giá nhà đất mỗi lúc một leo thang ở các thành phố lớn.
- Tác động đến cán cân thanh toán quốc tế
Tình hình lạm phát như trên khiến cho đồng Việt Nam mất giá so với cácngoại tệ, nhất là USD Tỷ giá giữa VND và USD tăng liên tục: năm 1990 chỉdao động ở mức trên dưới 5000 VND/USD Đây là điều thuận lợi cho xuất khẩu
và thực tế cũng cho thấy kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục từ 1991 đến 1988.Lạm phát lại bất lợi cho hoạt động nhập khẩu , và nó đã làm giảm kim ngạchnhập khẩu , dẫn tới trường hợp thâm hụt cán cân thương mại ngày càng trầmtrọng Ảnh hưởng tổng hợp của các thành phần trong cán cân thanh toán quốc tế(bao gồm: cán cân thương mại, chuyển nhượng dòng, cán cân tài khoản vốn…)Dưới tác động của lạm phát đã làm giảm dần thâm hụt cán cân thanh toán củanước ta trong giai đoạn này Tổng cán cân thanh toán đã tích cực chuyển biến:
từ -487 triệu USD ( năm 1996) và thặng dư 214 triệu USD vào năm 1997, tức làbảng khoảng 2%GDP Mức thặng dư năm 1998 còn cao hơn, đạt 5%GDP
2.1.2.3 Giải pháp và kết quả
Thứ nhất: tiếp tục cải cách giá và lương
Trong văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng đã chủ trương
“từng bước lập lại cân đối giữa khối lượng hàng và khối lượng tiền tệ lưu thông
để giải quyết khâu then chốt là giảm dần, đi tới chấm dứt lạm phát Đó là cơ sở
để giảm nhịp độ tăng giá, tiến tới ổn định giá cả và sức mua của đồng tiền …”.Nhờ đó, cùng với những kinh nghiệm rút ra qua cả chục năm tiến hành cải cáchgiá, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kiên trì đổi mới, chuyển từ cơ chế tập chungquan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, ở đó giá cả được xác định trên cơ sởcung cầu, có sợ điều tiết của Nhà nước Ngày 24/7/1992, Quyết định 137/HĐBT
về quản lý giá đã được ban hành, cho phép các doanh nghiệp tự quyết định giácác hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trên thi trường Giờ đây, các biện pháp hànhchính không còn là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế; thay vào đó là các
Trang 23đòn bẩy kinh tế, với công tác điều tiết giá cả các nhóm hàng hoa chiếm tỷ trọngchủ yếu trong cơ cấu sản xuất, tiêu dùng đóng vai trò quan trọng.
Ở nước ta, nhóm hàng LTTP là đối tượng để CP điều tiết giá Riêng thócgạo, mặt hàng nông sản chính của một nước vốn dựa nhiều vào nông nghiệp nhưViệt Nam, được Nhà nước ưu tiên bình ổn giá bằng điều chỉnh lượng thóc dựtrữ ( mua vào hoặc bán ra ) Hơn 70% dân số lao động trong nông nghiệp; khíhậu nhiêt đới gió mùa với diễn biến thiên tai bất thường dễ làm mùa màng thấtbát – những thực tế như thế cho thấy sự ra đời của quỹ bình ổn giá là cần thiết
Phù hợp với yêu cầu của đất nước trước ngay cơ lạm phát bùng nổ trở lại,tháng 4/1994, Nhà nước lập ra quỹ bình ổn giá nhằm giữ cho trị trường tránhkhỏi những sốc giá cả Quỹ này đã nhanh chóng làm dịu các cơn sốt gạo, sắtthép, xi măng v.v… trong những năm 1990, góp phần giữ cho siêu lạm phátkhông bùng phát trở lại
Khác với nhóm hàng trên, giá cả của nhóm hàng không phải LTTPthường chịu ảnh hưởng của giá đầu vào là vật tư nhập khẩu, mà giá vật tư nhậpkhẩu lại chịu tác động mạnh mẽ của giá quốc tế và tỷ giá hối đoái Chính phủ đãgiữ cho tỷ giá hối đoái không biến động quá lớn, tích cực chống buôn lậu và chophép nhập khẩu những măt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuấtchưa đáp ứng đủ nhu cầu có khả năng thanh toán nhằm ổn định giá cả nhómhàng này Đối với nhóm dịch vụ, Nhà nước chỉ định gia trực tiếp các hàng hóa,dịch vụ thiết yếu trong sự phát triển của kinh tế ( điện, xăng dầu, điện thoại,v.v…) còn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân được định giá dịch vụ nhưng phảiđăng ký mức giá để Nhà nước có thể kiểm soát được Giá của các hàng hóa, dịch
vụ này thường được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng
Không chỉ riêng chính sách giá, chính sách tiền lương cũng được đổi mớitriệt để Nếu như năm 1989, Nhà nước chỉ thực hiện bù giá lương thực vàolương thì đến năm 1992, lương đã bao gồm cả tiền điện nước, trợ cấp đi lại, bảohiểm y tế và bảo hiểm xã hội Điều này đánh dấu sự chấm dứt của chế độ trợcấp bằng hiện vật Từ năm 1993, chính sách tiền lương mới được thực hiện,trong đó có sự phân biệt về đối tượng nhận lương và nguồn quỹ chi trả NSNNchỉ trả lương cho những người làm việc trong khối hành chính sự nghiệp, ác lực
Trang 24lượng vũ trang, người về hưu, các đối tượng chính sách Nhà nước không hỗ trợquỹ lương cho các doanh nghiệp nhà nước nũa mà để doanh nghiệp tự hạchtoán, tự trả lương Tiền lương bây giờ là phản ánh quan hệ cung cầu lao độngtrên thị trường Đây là một bước tiến thể hiện tư duy kinh tế mới, thoát ly hẳn tưtưởng bao cấp, gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp và với người laođộng với quyền lợi của họ được hưởng theo phương châm “ làm theo năng lực,hưởng theo lao động” Nhờ đó, Nhà nước giảm được các khoản chí phí từ ngânsách, tránh tình trạng phát hành tiền giấy để tài trợ thâm hụt Tuy nhiên, Nhànước có quy định mức lương tối thiểu để đảm bảo quyền lợi của người lao động.
Thứ hai , sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt Để tăng thu, giảm chi,
giải quyết tình trạng căng thẳng trong NSNN, cải cách thuế đã đươc tiến hànhtheo hai thời kỳ: từ năm 1990 đến giữa năm 1995, và từ giữ năm 1995 đến cuốigiai đoạn này (1991 - 1998)
Trong thời kỳ đầu ( 1990 – 1995), tăng thu cho ngân sách được thực hiệnbàng cách tăng thuế nhập khẩu các mặt hang xa xỉ, chưa thật sự cần thiết với đờisống kinh tế đất nước lúc đó ( như ôtô , xe máy ) Đồng thời, đây còn là mộtcách bảo hộ những nghành sản xuất nội địa còn non trẻ, thúc đẩy tăng trưởng vàphát triển sau này Diện thu thuế, phí được mở rộng với việc xóa bỏ bao cấp họcphí cho các bậc học từ trung học cơ sở trở lên, tiến hành thu thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thu phí cầu đường v.v… Không chỉ tăng thu, Chính phủ còn dành
ưu đãi thuế cho khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho hoạt động nhậpkhẩu các trang thiết bị phục vu việc sản xuất trong nước với phương châm đểnuôi dưỡng nguồn thu trong tương lai, tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợicho tăng trưởng kinh tế Sau một thời gian tìm hiểu luật ĐTNN (1987), đến giữathập kỷ 90, ngày càng nhiều nhà đầu tư ngoại quốc bỏ vốn kinh doanh tại ViệtNam Vì thế, thu NSNN liên tục tăng lên: năm 1991 là 2.646 tỷ đồng, đến năm
1994 đã lên tới 6.375 tỷ đồng, tức là tăng gấp đôi sau 3 năm; trong đó thu từ khuvực có vốn ĐTNN chiếm từ 16-26% tổng thu Chính sách thuế như vậy là mềmdẻo hơn so với trước đây
Ở thời kỳ tiếp theo ( cuối 1995 – 1998 ), Chính phủ chủ trương khác phục
Trang 25hệ thống này theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế để nước ta cóthể từng bước hội nhập kinh tế khu vực va quốc tế Thuế giá trị gia tăng ( VAT )
đã thay thế cho thuế doanh thu nên tránh được tình trạng thuế đánh chồng lênthuế, từ 18 mức thuế doanh thu giảm xuống còn 11 mức, đến khi co VAT thìthuế suất chỉ còn 4 mức Thuế lợi tức đã được thay thế bàng thuế thu nhậpdoanh nghiệp Do vậy, tính phức tạp, rườm rà của hệ thống thuế được giảm bớt
bù lỗ những khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, làm giảm áplực phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Chính sách này buộc cácdoanh nghiệp khi đi vay phải tính toán sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả và
vì thế mà cung hàng hóa trong xã hội tăng lên, làm giảm mối quan hệ căng thẳnggiữa cung và cầu Các doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng làm ăn có lãi hơncũng tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân sách quốc gia Lãi suất trong khoảngthời gian này có được điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với thị trường và tìnhhình lạm phát Từ thang 8/1992 đến thang 8/1994, NHTW đã điều chỉnh lãi suấttới 6 lần
Nhà nước đã cố gắng giảm lãi suất cho vay để tránh tình trạng lãi suất quá caolàm chậm quá trình phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo lãi suất thực dương.Một điều đáng nói về chính sách tiền tệ trong giai đoạn này nữa là hệ thốngngân hàng hai cấp đã được hình thành từ năm 1991: NHTW có chức năng quản
lý nhà nước về hoạt động tiền tệ - tín dụng, còn kinh doanh la hoạt động của hệthống NHTM NHTW trở nên chủ động hơn trong việc điều hành chính sáchtiền tệ sao cho phù hợp với tình hình kinh tế, đặc biệt là đảm bảo kiểm soát được
Trang 26tốc độ lạm phát Các NHTM có điều kiện chú trọng hơn đến hiệu quả sử dụngvốn và chất lượng phục vụ khách hàng.
Trong 3 năm 1996, 1997, 1998, chính sách tiền tệ được thắt chặt hơn vìlạm phát cao có nguy cơ xuất hiện trở lại vào năm 1995 Nhìn chung, lãi suấtthực và lãi suất cho vay vẫn ở mức cao Lãi suất danh nghĩa năm 1997 là 13,5%,
mà CPI của năm này bằng 3,2% nên lãi suất thực là 10,3% hay là cao hơn sovới năm 1994 (4,8%) và năm 1995 (7,7%) Do đó, mức tăng trưởng tiền gửi nội
tệ cao, chẳng hạn vào tháng 12/1996 so với tháng 12/1995 là 29%, tức là caohơn mức nhu cầu tiền mặt (18%) Việc thực hiện chính sách tiền tệ như trên đãlàm giảm cung tiền trong nền kinh tế, giúp kiềm chế tỷ lệ lạm phát trong hầu hếtcác năm của giai đoạn này ở mức một con số
tỷ lệ lạm phát thấp khiến tốc độ phát triển kinh tế không như mong đợi
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2000 tới 2009 (đv: %)
6,52
Song hai năm sau đó chứng kiến sự tăng trưởng trở lại của lạm phát, mởđầu là năm 2002 với tỷ lên lạm phát là 4%, năm 2003 la 3% Ba năm sau đó,lạm phát tăng với một tốc độ nhanh chóng, duy trì ở mức dưới 10%, cụ thể là:
Trang 27năm 2004 tỷ lệ lạm phát là 9,67% ( tăng 216,7% so vơi 2003), năm 2005 là8,71%, năm 2006 là 6,57%.
Có thể kết luận rằng, lạm phát giai đoan 1999 – 2003 là giai đoạn lạmphát vừa phải, tỷ lệ lạm phát chỉ dừng lại ở 1 con số Nguyên nhân chủyếu xuất phát từ nguồn cung các mặt hàng lương thực thực phẩm và cácmặt hàng nông sản trên thị trường Song thời điểm năm 2003, 2004 đãđánh dấu sự quay trở lại của lạm phát tăng cao
Nguyên nhân
Diễn biến giá cả và tình hình thiểu phát tư 1999 đến 2003 có nhiều nguyên nhân:
- Gía lương thực, thực phẩm và nhiều nông sản khác giảm mạnh trên thịtrường thế giới như thóc, gạo, cà phê, cao su… trong khi chính sách tiền
tệ lại liên tục được nối lỏng
- Do khủng hoảng tài chính tiền tệ làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng háo trênthị trường giảm đi dẫn đến việc xuất khẩu hàng hóa ở nước ta bị tác độngkhông tốt, hàng hóa đọng lại trong nước tăng lên, tiêu thụ hàng hóa ở thịtrường trong nước tăng chậm, giá hàng hóa giảm
- Khủng hoảng tài chính tiền tệ làm FDI, du lịch và các loại hình dịch vụvào nước ta giảm sút đáng kể nhu cầu hàng hóa
- Các doanh nghiệp trong nước mặc dù còn yếu kém nhưng đã đi vào sảnxuất tạo sản phẩm cho thị trường làm tăng cung hàng hóa
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động tạo hànghóa trên thị trường
- Nhu cầu hàng hóa, dịnh vụ của nhân dân chuyển từ lượng sang chất dẫnđến việc tiêu thụ hàng hóa chậm lại
- Lượng vốn huy động của ngân hàng tăng cao nhưng lượng vốn cho vaytăng chậm
- Cán cân thanh toán quốc tế 6 tháng đầu năm 1999 bội thu nhưng ngânhàng phải có một khối lượng tiền cung ứng lớn để đáp ứng nhu cầuchuyển số ngoai tệ đó
- Sức mua của xã hội tăng chậm
Trang 282.1.3.2 Tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Giai đoạn 1999 – 2001
-Khiến giá cả thị trường có xu hướng giảm
+ Năm 1999 giá cả thì trường có nhiều diễn biến thất thường: giá cả liêntục giảm trong 8 tháng liền, từ thang 3 đến tháng 12 Đặc biệt tháng 10 năm
1999 CPI giảm 0,8% so với tháng 12 năm 1998 Chỉ số giá lương thực tháng 10năm 1999 giảm 10,5% so với tháng 12 năm 1998, sự sụt giảm giá lương thựclàm cho CPI chung hầu như không tăng
+ Năm 2000, CPI cả năm giảm 0,6% so với năm 1999
+ Sáu tháng đầu năm 2001 CPI vẫn giảm, CPI tháng 6/2001 giảm 0,3% sovới tháng 6/2000 và giảm 0,7% so với tháng 12/2000 CPI giảm liên tục trong 3tháng liên tiếp, tháng 3 giảm 0,7%, tháng 4 giảm 0,5%, thang 5 giảm 0,2% Kếtquả là đến cuối năm 2001 nhờ nhiều nỗ lực, chúng ta đã đẩy tỷ lệ lạm phát lên0,8%
-Làm tình trang ứ đọng sản phẩm, sản xuất cầm chừng xảy ra ở một sốsản phẩm và một số khu vực, đặc biệt là khu vực nhà nước
+ Số hàng tồn kho trong 6 tháng đầu năm 1999 đã lên tới 60.000 tỷ đồng + Theo báo cáo của IMF có đến 60% doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ,trong đó 16% thua lỗ triền miên Tình trạng các công ty tư nhân cũng không có
gì khá hơn Trong năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999 có hàng nghìn xí nghiệpthua lỗ phải đóng cửa, các xí nghiệp lớn thì hoạt động cầm chừng
+ Tỉ lệ thất nghiệp năm 1999 ở Hà Nội là 10,3% và ở thành phố Hồ ChíMinh là 1,04%
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm: từ tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996
là 9,34% xuống còn 8,15% năm 1997, 5,8% năm 1998 , 4,8% năm 1999 và6,75% năm 2000
Trang 29- Lạm phát khiến giá cả đầu năm 2002 của chúng ta đã tăng lên tương đốinhanh 6 tháng đầu năm giá cả đã tăng 2,9% đến cuối năm tỉ lệ lạm phát củachúng ta chỉ là 4%.
- Lạm phát khiến giá xăng dầu, giá vàng tăng mạnh Một sự kiện xảy ratrong thời gian vừa qua đó là việc một số cửa hàng xăng dầu ở các thành phố lớn
đã đóng cửa không bán xăng cho người tiêu dùng, đó là dấu hiệu của sự đầu cơ,
có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế Trước tình hình đó, Bộ thương mại
đã có những chấn chỉnh kịp thời yêu cầu tất cả các của hàng xăng dầu phải mởcửa bán hàng trở lại và xử phạt tất cả các cửa hàng đã đóng cửa bán hang trongkhi vẫn có xăng trong cửa hàng Giá vàng cũng tăng mạnh, thậm chí có ngàytrong một buổi sang giá vàng tăng ba lần Trước tình hình đó, nguy cơ giá cảtăng cao rất dễ xảy ra
Thực tế trong hai tháng đầu năm 2003 giá cả các mặt hàng của chúng ta
đã tăng 3%, giá dầu và giá vàng, giá rất nhiều mặt hàng khác trên thế giới vẫntiếp tục tăng, ở nước ta giá vàng còn cao hơn trên thế giới
2.1.3.3 Giải pháp
Những biện pháp nằm nâng cao sức mua của các tầng lớp dân cư ( tăng cầu)
Thực hiện cấp ưu đãi một lần đối với người có công với cách Chươngtrình giải quyết việc làm được đẩy mạnh Trong năm 2000, đã thu hút vàtạo việc làm cho khoảng 1,3 triệu người, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảmxuống còn khoảng 6,5% so với 7,4% năm 1999, sử dụng lao động ở nôngthôn được nâng lên
Chương trình xóa đói giảm nghèo được triển khai
Tăng cường các chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
Mở rộng dịch vụ du lịch trong cả nước và ngoài nước, chú trọng đầu tư cơ
Trang 30 Sử dụng chính sách tiền tệ
Năm 1999, NHTW 5 lần điều chỉnh lãi suất cho vay trung và dài hạn từ1,25%/tháng xuống còn 0,85%/tháng, 4 lần điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn từ1,1%/tháng xuống còn 0,55%/tháng, 2 lần điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc đốivới các tổ chức tín dụng từ mức 7% xuống còn 5%
Năm 2000, NHTW bỏ lãi suất trần, chuyển sang điều hành theo lãi suất
cơ bản, tạo điều kiện cho cung – cầu về vốn theo cơ chế thị trường và cácNHTM chủ động hơn trong kinh doanh Ngày 24/5/2011 TTCP đã ban hànhNghị quyết số 05/NQ-CP quy định lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của nhànước giảm xuống còn 5,4%/năm và đối với khu vực khác là 6%/năm Chính phủ
và NHTW ban hành các văn bản nhằm nới lỏng các điều kiện vay vốn cho khuvực nông thôn
Cùng với việc ngân hàng hạ lãi suất cho vay, thì một loạt các tỉnh và thành phốdành một phần vốn ngân sách của mình hỗ trợ vay vốn ngân hàng cho một số dự
án, một số doanh nghiệp, một số chương trình kinh tế trọng điểm của địaphương
Sử dụng chính sách tài chính
Tập trung huy động và giải ngân vốn, đảm bảo các mức đầu tư đề ra Trong 3năm (1998-2000), nhà nước chú trọng đầu tư đúng mức cho khu vực doanhnghiệp trong đó bổ sung vốn lưu động trên 2000 tỷ đồng cho các doanh nghiệpnhà nước làm ăn có hiệu qura góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho DN
Sử dụng chính sách thuế
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, với thuế suất VAT bằng 0% và hànghóa xuất khẩu được hoàn thuế VAT đã nộp, đây thực chất là hình thức trợ giácủa nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng theo mức ưu đãi, thấp nhất là25% đối với các dự án đầu tư có giá trị xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hànghóa và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung nếu có giá trị hàng hóa xuấtnhập khẩu trên 50% Nhà nước cũng quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệptrong 2 năm đầu cho các doanh nghiệp sản xuất, vận tải, xây dựng mới được
Trang 31Những biện pháp trên đây đã góp phần khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuấtkinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư phát triển theo hướng chuyển đổi cơcấu kinh tế có lợi cho quốc tế dân sinh, góp phần khôi phục và ổn định kinh tế,kích thích tiêu dùng.
Chính sách khuyến khích đầu tư
Môi trường đầu tư đã được cải thiện rất nhiều nhờ những chính sách khuyếnkhích đầu tư của nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, trong đó cóluật đầu tư nước ngoài, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tưvào việt nam Ngoài ra việc cải thiện cơ chế hành chính chồng chéo cũng gópphần tạo ra một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
2.1.3.4 Kết quả
Kết qủa đạt được sau khi thực hiện các biện pháp trên là:
- Đã chặn được giảm sút về phát triển kinh tế, mức tổng cầu đã tăng lên đáng kể,đầu tư cho phát triển kinh doanh được phục hồi nhanh Năm 2000 đã tăng tổngvốn đầu tư toàn xã hội lên 14,6% so với năm 1999, chi tiêu của chính phủ thựchiện qua ngân sách nhà nước cũng tăng lên rõ rệt, nhu cầu tiêu dung của dân cưtăng lên khá nhanh Nếu 6 tháng đầu năm 1999 khi chưa thực thi chính sách thìtổng mức bán lẻ và dịch vụ chỉ tăng 1,5% thì năm 2000 chỉ tiêu này là 9,1%
- Xuất khẩu đã tăng từ 2% từ năm 1998 lên 23,3% năm 1999 và 25% năm 2000,năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 15,1 tỷ đô la tăng lên 45% sovới năm 2000 Tình trạng ứ đọng hàng hóa không tiêu thụ được trong năm 1998
đã được đẩy lùi, sản xuất có bước chuyển biến tích cực cả trong công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ, vốn đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi Năm 2000
có vốn đăng ký là 1,973 tỷ USD tăng so với 1,568 tỷ USD năm 1999 Năm 2001tổng số vốn đăng ký đã tang lên con số 3 tỷ USD, tình trạng vốn ứ đọng trongcác ngân hàng đã phần nào được giải quyết
- Trong giai đoạn 1999-2001, việc thực hiện biện pháp kích cầu đã mang lạinhiều kết quả tốt đẹp, xu hướng phát triển là tích cực, song chưa thực sự vữngchắc, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều tồn tại và yếu kém, đà sút giảm kinh tế đãchặn lại được, nhịp tăng lên khá nhưng vẫn còn thấp hơn mức tăng trưởng bình
Trang 32quân trong 10 năm qua Mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư còn thấp, chưa
đủ tạo sức bật mới cho và phát triển thị trường Môi trường đầu tư kinh doanhđược cải thiện hơn nhưng chưa được lành mạnh một cách thực sự Lãi suất tiềngửi giảm xong tiền gửi vẫn tăng, người dân vẫn không muốn tăng tiêu dùng vàđầu tư, kích cầu tiêu dùng đạt kết quả còn hạn chế
2.1.4 Giai đoạn 2004-2009
2.1.4.1 Thực trạng
Từ năm 2004 trở đi, lạm phát ở việt nam luôn duy trì ở mức cao Trong 3năm đầu thời kỳ này, lạm phát tăng mạnh hơn hẳn so với thời kỳ trước dù vẫnchỉ dừng lại ở 1 con số Tuy vậy trước tình hình đó nước ta đã không có nhữnggiải pháp thỏa đáng Vì lẽ đó năm 2007 và 2008 Lạm phát ở nước ta đã tăngcao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát Chỉ số giá tiêu dùng ( CPI) tăng vọt lênmức 2 con số Nguyên nhân là do cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồngUSD mất giá, giá đầu thô tăng cao, giá cả lương thực và nguyên nhiên vật liệudột biến cộng với tác động của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việtnam bộc lộ những nhược điểm cố hữu của một nền kinh tế đang trong quá trìnhchuyển đổi Sau đó nhờ những nỗ lực kịp thời mà chính phủ đã bình ổn đượclạm phát, đưa nó về 1 con số 7%vào năm 2009( cụ thể số liệu trong biểu đồ 7) Năm 2007, chỉ số CPI tăng đến 12,6% và đặc biệt tăng cao những thángcuối năm
Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với nền kinh tế vĩ mô cũng như tìnhhình lạm phát ở việt nam CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhấtcủa CPI tính theo năm của năm 2008 đã lên tới 30% Kết thúc năm 2008, chỉ sốCPI tăng 19,89% tính theo trung bình năm tăng 22,97% ( biểu đồ)
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giánhiều hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế.CPI năm 2009 tăng 6,52% thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây Tuyvậy, mức tăng này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại caohơn khá nhiều
Trang 332.1.4.2 Nguyên nhân
Có thể tóm tắt các yếu tố tác động đến lạm phát từ 3 nguyên nhân chính sau:
Cung tiền tăng quá mức
Giá hàng hóa trên thế giới tăng cao đột ngột
Sức cầu về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp.Thời gian qua, nhiều ý kiến đồng thuận cho rằng cung tiền được xem lànguyến nhân chính gấy ra lạm phát ở việt nam Từ năm 2000 đến năm 2009, tíndụng trong nền kinh tế tăng hơn 10 lần, cung tiền M2 tăng hơn 7 lần, trong khi
đó GDP thực tế chỉ tăng hơn 1 lần Điều này tất yếu dẫn đến đồng tiền bị mấtgiá Thực tế chúng ta dễ nhận thấy là lạm phát ở việt nam cao hơn rất nhiều sovới các quốc gia khác trong cùng thời kỳ, mặc dù cũng chịu chung cú sốc tănggiá của hàng hóa thế giới ( biểu đồ)
Tại sao Việt Nam cần một mức tăng trưởng cung tiền cao như vậy?Nguyên nhân là do tỷ lệ đầu tư/ GDP trong nền kinh tế Việt Nam khá cao,nhưng lại không tạo ra được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng
Hàng năm đầu tư trong nền kinh tế đều quanh mức 40% GDP Tỷ lệ đầu
tư lớn này đòi hỏi một mức tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao để phục vụnhu cầu đầu tư Trong khi đó, tăng trưởng GDP chỉ quanh mức 7%, thậm chínăm 2008 và 2009 chỉ lần lượt đạt 6.19% và 5.32% Điều này cho thấy chấtlượng tăng trưởng, đầu tư và phát triển ở việt nam vẫn cần được tiếp tục cảithiện Đây là nguyên nhân sâu xa khiến cho lạm phát luôn ở trong tình trạngchực chờ, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô
Lạm phát cao của Việt Nam năm 2011 được xem như là hệ quả của nhữngyếu kém nội tại của nền kinh tế Đầu tư công dàn trải, sự yếu kém của hệ thốngdoanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, đã khiến nền kinh tế phải sửdụng rất nhiều vốn, lên tới trên 40%GDP, để duy trì được mức tăng trưởng trungbình trên 6,5% trong giai đoạn 2006-2010 Do sử dụng vốn kém hiệu quả nênsau việc thực hiện gói kích cầu 17.000 tỷ đồng để giúp nền kinh tế vượt qua giaiđoạn suy giảm vào năm 2009, kinh tế việt nam đã rơi vào tình trạng lạm phátcao từ cuối năm 2010
Trang 34
2.1.4.3 Hậu quả
- Giảm chi tiêu tăng trưởng từ 8.5% xuống 7%làm giảm tốc độ phát triểntiền mặt trong XH, không đưa được vào đầu tư gây ứ đọng vốn nguy cơ gây ralạm phát ở các chu kỳ sau
- Sức tiêu thụ hàng hóa trong nước đang có dấu hiệu yếu dần, sản xuấtbước vào đầu quý 4 năm 2009 lại tăng chậm hơn các tháng trước đây, đây là một
xu hướng ngược lại quy luật mọi năm
- Giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng ước tính đạt 330.121 tỷ đồng tăng12,1% so với cùng kỳ 2007, thấp hơn mức tăng trung bình của 9 tháng đầu năm
là 12,4%
- Chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho thị trường chứng khoán và thịtrường bất động sản sụt giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến vấn đề nợ đọng, tính thanhkhoản và độ an toàn của hệ thống ngân hàng
- Do nới lỏng tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến đồng tiền việt nam (VNĐ) bịđánh giá quá cao
+ Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu qủa chi tiêu công
- Tập trung sức phát triển sx công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ bảo đảm cânđối cung cầu về hàng hóa
- Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu và giảm nhập siêu Triệt đểthực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng
- Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lậnthương mại kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá
- Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đơi sống và sản xuất của nhân dân,