Tuy nhiên, sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nước ta còn thấp, vẫn mang nặng tính tự phát, sức cạnh tranh của nông nghiệp thấp, giá thành cao, chất lượng chưa phù hợp với nhu cầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-*** -
LƯU VĂN KHẢI
NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ MỘT SÔ NÔNG SẢN THEO HỢP ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM VÂN ĐÌNH
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của
cá nhân tôi
Tác giả thực hiện luận văn
Lưu Văn Khải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tiêu thụ một số nông sản
theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự giúp đỡ,
hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình, trách nhiệm của các thầy cô giáo thuộc khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, một số
cơ quan, ban ngành, các đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn tất
cả sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo GS.TS.Phạm Vân Đình
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Ninh, Cục Thống kê Bắc Ninh và các cơ quan, đơn vị có liên quan
đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu một cách hệ thống trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình và bè bạn đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian tôi tiến hành viết luận văn
Tác giả thực hiện luận văn
Lưu Văn Khải
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục viết tắt vi
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Một số mô hình tiêu thụ nông sản 7
2.1.3 Sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng trong nông nghiệp 11
2.1.4 Ý nghĩa của việc tiêu thụ nông sản theo hợp đồng 12
2.1.5 Tính tất yếu của hoạt động tiêu thụ nông sản 13
2.1.6 Các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản 15
2.1.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ nông sản 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Tình hình tiêu thụ nông sản ở một số nước trên thế giới 21
2.2.2 Tình hình tiêu thụ nông sản của Việt Nam 27
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
Trang 53.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 45
3.1.3 Tình hình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh 49
3.2 Phương pháp nghiên cứu 56
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 56
3.2.2 Phương pháp phân tích 57
3.2.3 Phương pháp chuyên gia 57
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 58
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh 59
4.2 Tình hình tiêu thụ nông sản theo hợp đồng tại tỉnh Bắc Ninh 66
4.2.1 Các mô hình ký kết tiêu thụ nông sản theo hợp đồng 66
4.2.2 Đặc điểm các bên tham gia ký hợp đồng tiêu thụ nông sản 73
4.2.3 Thực trạng tiêu thụ nông sản theo hợp đồng 76
4.2.4 Lợi ích của việc tiêu thụ nông sản theo hợp đồng 83
4.2.5 Đánh giá kết quả đạt được 88
4.2.6 Những hạn chế, yếu kém 90
4.2.7 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 91
4.2.8 Những bài học kinh nghiệm về tiêu thụ theo hợp đồng 94
4.3 Định hướng và các giải pháp tăng cường hoạt động trong tiêu thụ nông sản theo hợp đồng 96
4.3.1 Định hướng 96
4.3.2 Giải pháp 98
5 KẾT LUẬN 106
5.1 Kết luận 106
5.2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6Bảng 4.5: Số doanh nghiệp, trang trại, hộ nông dân tham gia TTNS theo
Bảng 4.6: Sản lượng và giá trị nông sản hàng hóa được tiêu thụ theo hợp
Trang 7Bảng 4.7: Tình hình ký hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu cơ bản của nhóm hộ nông dân, trang trại 74Bảng 4.9: Nhu cầu của hộ nông dân khi tham gia ký kết hợp đồng tiêu
Bảng 4.10: Số hợp đồng và doanh nghiệp tham gia ký kết tiêu thụ một số
loại nông sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh qua 3 năm 2008 -
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GTSX Giá trị sản xuất
DVNN Dịch vụ nông nghiệp
PTHĐ Phương thức hợp đồng TTSP Tiêu thụ sản phẩm TTNS Tiêu thụ nông sản KTXH Kinh tế xã hội KHKT Khoa học kỹ thuật TĐPT Tốc độ phát triển UBND Ủy ban nhân dân
Trang 91 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong hơn 25 năm qua, từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, nông nghiệp nước ta đã phát triển nhanh, toàn diện, ổn định trên nhiều lĩnh vực, đã chuyển từ nền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Nhiều nông sản như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, rau quả và các sản phẩm chăn nuôi không những đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu Tỷ trọng hàng hoá và tỷ trọng xuất khẩu nông sản nước ta tăng nhanh Nông nghiệp và thuỷ sản đã trở thành một trong những nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Tuy nhiên, sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nước ta còn thấp, vẫn mang nặng tính
tự phát, sức cạnh tranh của nông nghiệp thấp, giá thành cao, chất lượng chưa phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường, sự liên kết trong nông nghiệp giữa sản xuất - chế biến - tiêu thụ chưa phát triển mạnh
Nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá hiện đại, tạo điều kiện cho người sản xuất yên tâm đầu tư, ổn định trong đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản, tăng chất lượng và năng suất sản phẩm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam, ngày 24 tháng 6 năm
2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, về
“Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng”
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 77/2002/BNN-TT, ngày 28/8/2002 về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 05/2002/TT-NHNN, ngày 27/9/2002 về hướng dẫn việc cho vay vốn đối với người sản xuất, doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá; Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 04/2003/TT-BTC, ngày 10 tháng 1 năm 2003 về hướng dẫn một số vấn đề về tài chính thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu
Trang 10thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng Thực hiện chính sách trên, nhiều doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng sản xuất và bao tiêu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản với nông dân và đã thu được thành công bước đầu
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện còn có nhiều hạn chế, nhiều địa phương chưa tập trung chỉ đạo kiên quyết việc triển khai thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Để khắc phục tình trạng này, ngày 25/8/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản qua hợp đồng Một thực trạng diễn ra là doanh nghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó
và thực hiện đúng cam kết đã ký; tỷ lệ nông sản hàng hoá được tiêu thụ thông qua hợp đồng còn rất thấp; doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư tới vùng nguyên liệu, chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảm hài hoà lợi ích của nông dân khi có biến động về giá cả; trong một số trường hợp, nông dân không bán hoặc giao nông sản cho doanh nghiệp theo hợp đồng đã ký; xử lý
vi phạm hợp đồng không kịp thời và chưa triệt để; tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy ra ngay khi đã có hợp đồng Các bên tham gia hợp đồng đang thiếu sự hỗ trợ của các ngành liên quan như Nông nghiệp, Viện nghiên cứu, Ngân hàng, các ngành Tài chính và Thương mại khác… Do vậy hiệu quả kinh
tế của hình thức hợp đồng còn nhiều hạn chế vì thế chưa đủ điều kiện tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp và nông dân hăng hái tham gia ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản phẩm
Với những tồn tại nói trên, đã làm cho quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp không phát triển mạnh mẽ, làm mất đi động lực của quá trình liên kết, nhất là liên kết giữa người sản xuất và người tiêu thụ theo cơ chế thị trường Nguyên nhân chủ yếu là do mối quan hệ hợp tác giữa các “nhà” chưa thực sự gắn bó và thực hiện đúng cam kết, nhất là hộ nông dân với các doanh nghiệp chế biến; thiếu động lực, chưa bảo đảm lợi ích trong quan hệ liên kết giữa các “nhà”; sự liên kết thiếu bền vững; thiếu một cơ chế, chế tài để gắn quyền, nghĩa vụ giữa các bên tham gia; vai trò của Nhà nước nói chung,
Trang 11doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức tín dụng nói riêng và chính quyền địa phương các cấp chưa phát huy hết trách nhiệm, chưa tham gia đúng mức trong hỗ trợ, giúp đỡ và quản lý trong quá trình liên kết, nhất là không nắm được và không có biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp để tạo sự liên kết bền vững, hiệu quả; bên cạnh đó, một số nơi đã thực hiện liên kết còn mang tính hình thức, đối phó; đồng thời chưa có một cơ quan đủ thẩm quyền để xử lý những vi phạm hợp đồng giữa các bên đã ký kết… Đó là những nguyên nhân chủ yếu làm phá vỡ hợp đồng đã ký kết giữa các bên, đặc biệt là giữa nông dân sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến Điều đó vừa làm cho sản xuất đình đốn, nông dân không bán được nông sản (được mùa, nhưng mất giá), vừa làm cho các doanh nghiệp thiếu nguyên liệu chế biến trong khi đã ký hợp đồng giao sản phẩm cho các đối tác, gây thiệt hại không nhỏ cho cả nhà nông, doanh nghiệp và Nhà nước
Nằm trong bối cảnh chung, tỉnh Bắc Ninh đã có chỉ đạo tích cực, xây dựng chính sách khuyến khích thiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng Trong những năm qua, hoạt động tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng được chú ý đẩy mạnh Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập chưa được giải quyết, làm cho người dân không gắn bó với sản xuất, diện tích nông sản hàng hoá ngày càng bị thu hẹp…
Đã có một số công trình nghiên cứu về tiêu thụ nông sản nhưng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, vấn đề này chưa được giải quyết một cách hệ thống, hơn nữa vận dụng lý luận chung vào nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và ở Bắc Ninh nói riêng còn nhiều vấn đề cần phải được sang tỏ
Xuất phát từ tình hình thực tế đó chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Nghiên
cứu tiêu thụ một số nông sản theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế của mình nhằm tìm hiểu, đánh giá và đề xuất các giải pháp góp phần đẩy mạnh tiêu thụ nông sản theo hợp đồng trên
địa bàn của Tỉnh
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động tiêu thụ nông sản theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ nông sản theo hợp đồng của tỉnh Bắc Ninh có hiệu quả hơn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động tiêu thụ một số nông sản phẩm ngành trồng trọt, chăn nuôi theo hợp đồng với 2 nhóm chủ thể chính là người sản xuất (hộ sản xuất, trang trại, hợp tác xã và tổ hợp tác) và các cơ sở chế biến kinh doanh nông sản (các doanh nghiệp kinh doanh nông sản, các HTX chế biến nông sản)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu hoạt động tiêu thụ theo hợp đồng một số nông sản chính (lúa giống, khoai tây, dưa chuột xuất khẩu, đậu tương, lợn siêu nạc) của hộ, trang trại, hợp tác xã và tổ hợp tác
- Không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: Các tài liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2008 đến năm
2010 và khảo sát thực trạng hoạt động tiêu thụ nông sản theo hợp đồng tại tỉnh Bắc Ninh năm 2010
Trang 132 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, quá trình chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền Sản phẩm được coi là tiêu thụ khi được khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.[22]
Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất để bán và thu lợi nhuận
Thực tế cho thấy, thích ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế khác nhau, công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vấn đề tiêu thụ sản phẩm được thực hiện hết sức đơn giản Nhà nước cấp chỉ tiêu cung ứng vật tư cho các đơn vị sản xuất theo số lượng đa xác định trước và quan hệ giữa các ngành và các bộ phận trọng nền kinh tế chủ yếu là quan hệ dọc, được kế hoạch hoá bằng chế
độ cấp phát giao nộp sản phẩm hiện vật Các doanh nghiệp chủ yếu thực hiện chức năng sản xuất, việc bảo đảm các yếu tố vật chất đầu vào như nguyên vật liệu, nhiên liệu… được cấp trên bao cấp theo các chỉ tiêu cấp phát Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong thời kỳ này được thực hiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩm với giá cả và địa chỉ do Nhà nước quy định sẵn Do
Trang 14không có môi trường cạnh tranh chất lượng hàng hoá ngày càng giảm sút, mẫu mã kiểu dáng ngày càng đơn điệu Như vậy trong nền kinh tế tập trung, mọi việc từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đều do Nhà nước quyết định, tiêu thụ sản phẩm chỉ là việc tổ chức bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và giá cả được ấn định từ trước Còn trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ là mục đích cơ bản của sản xuất hàng hoá, hàng hoá sản xuất ra có tiêu thụ được thì doanh nghiệp mới thu được lợi nhuận, mới hoàn thành được vòng chu chuyển vốn kinh doanh và thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng Trong thời kỳ này, tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng,
nó giúp cho người sản xuất nắm bắt kịp thời những thông tin phản hồi để tổ chức sản xuất với số lượng, chất lượng và thời gian hợp lý, đồng thời khách hàng được tìm hiểu kỹ về hàng hoá tăng khả năng thoả mãn nhu cầu Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn đối mặt với môi trường kinh doanh biến động không ngừng và có rất nhiều rủi ro cũng như thách thức Áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng và khâu tiêu thụ sản phẩm được coi là một trong những khó khăn hàng đầu hiện nay của các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp sản xuất phải tự chịu trách nhiệm với tất cả các quyết định sản xuất kinh doanh của mình Do vậy mà hiện nay, tiêu thụ sản phẩm đã trở thành vấn đề sống còn của mọi doanh nghiệp
- Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng là quá trình thoả thuận, ký kết giữa hai hoặc nhiều bên tham gia nhằm bảo đảm nông sản hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ, thanh toán theo đúng thời gian, địa điểm, số lượng, chất lượng
và mang lại lợi ích cho các bên tham gia
- Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thỏa thuận
Trang 15khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình
2.1.2 Một số mô hình tiêu thụ nông sản
+ Mô hình tập trung
Mô hình tập trung là mô hình các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trực tiếp ký hợp đồng với các trang trại, hộ sản xuất [12] Hợp đồng này chỉ có hai bên tham gia trực tiếp là doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và các hộ nông dân Các doanh nghiệp đặt hàng cho các hộ sản xuất nông sản để doanh nghiệp chế biến, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm Trong những hợp đồng kiểu này, lượng sản phẩm doanh nghiệp đặt hàng các hộ nông dân được phân bổ ngay từ đầu mùa vụ và chất lượng được giám sát một cách chặt chẽ
Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản cung cấp các loại vật tư đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát việc sản xuất của nông dân và mua lại toàn
bộ sản phẩm Nông dân cung cấp đất đai, công lao động, sản xuất theo đúng quy trình do doanh nghiệp đưa ra và bán lại toàn bộ sản phẩm cho doanh nghiệp Trong loại hợp đồng này, người nông dân ít có quyền quyết định vấn
đề sản xuất mặc dù họ vẫn là người trực tiếp sản xuất Người ký hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức canh tác, kể cả người mua chịu trách nhiệm công tác hướng dẫn kỹ thuật canh tác và thường xuyên kiểm tra thực tế trên đồng ruộng Đây chính là hình thức “sản xuất gia công” “hay “sản xuất theo đơn đặt hàng” của doanh nghiệp
Mô hình này thường chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có nhà máy chế biến đủ khả năng mua hết sản phẩm của các hộ nông dân và hộ sản xuất có quy mô lớn thì khi đó họ cần sản xuất theo hợp đồng để bảo đảm nông sản tiêu thụ hết Ngoài ra, mô hình này còn áp dụng cho trường hợp có “tính chuyên biệt (đặc thù) về tài sản” như con người, vật chất, địa điểm… [9]
Trang 16Mô hình tập trung bảo đảm nông dân tiêu thụ được nông sản, doanh nghiệp có nguyên liệu phục vụ cho chế biến Ngoài ra mô hình này hình thành
sự liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân tạo ra vùng sản xuất tập trung với chất lượng cao, an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, nhằm góp phần nâng cao sức canh tranh cho doanh nghiệp và tạo sự phát triển bền vững cho hộ nông dân
+ Mô hình trang trại hạt nhân
Mô hình trang trại hạt nhân tương tự như mô hình tập trung, nhưng bên mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại, vườn cây Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm và bán sản phẩm cho doanh nghiệp Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này cũng chỉ bao gồm doanh nghiệp và các trang trại, trong đó, các trang trại do nông dân sản xuất thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Do đó, các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp có thể xem là người lao động trong doanh nghiệp
Ở Việt Nam, hình thức khoán trong các nông, lâm trường quốc doanh cũng là mô hình trang trại hạt nhân Các hình thức khoán này được hình thành theo Nghị định của Chính phủ số 01/CP ngày 4 tháng 1 năm 1995 trước đây
và hiện nay là giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị định của Chính phủ số 135/2005/NĐ-CP ngày 8 tháng 11 năm 2005
Nông dân sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp Doanh nghiệp giao đất và cả cây trồng (cây lâu năm), vật nuôi cho từng hộ nông dân, cung cấp vật tư đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, nông dân chăm sóc cây trồng vật nuôi theo đúng quy trình của doanh nghiệp và giao lại toàn bộ sản phẩm cho doanh nghiệp Đây chính là mô hình “khoán liên doanh”, trong trường hợp “tái lập trang trại gia đình… trong lòng doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn có từ hai cấp quản lý trở lên” [4] Người sản xuất và người mua
Trang 17ký một hợp đồng gọi là “hợp đồng giao khoán” Trong đó, hợp đồng quy định: Doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp giữ vai trò định hướng sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật (khuyến nông), cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra…, giám sát các hoạt động kinh doanh sản xuất trên vườn cây, đàn gia súc giao khoán… Quan hệ giữa doanh nghiệp giao khoán và bên nhận khoán được thiết lập theo nguyên tắc thị trường, thuận mua, vừa bán [9] Bản chất của mô hình này chính là trang trại dự phần hay công ty dự phần trong nông nghiệp
Doanh nghiệp có trang trại quy mô lớn, có nhà máy chế biến, đủ tiềm lực tài chính và kỹ thuật để cung cấp cho nông dân Mô hình này phù hợp với các cây lâu năm và chăn nuôi gia súc, gia cầm theo kiểu tập trung, quy mô lớn
Mô hình này cũng có ý nghĩa và tác dụng như mô hình tập trung Ngoài ra mô hình này góp phần nâng cao hiệu quả của các trang trại có quy
mô và đầu tư lớn
+ Mô hình đa chủ thể
Mô hình đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam thường gọi là mô hình “liên kết 4 nhà” Tham gia mô hình này bao gồm nhiều chủ thể khác nhau như Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân Đặc điểm của mô hình này là các chủ thể khác nhau
sẽ có trách nhiệm và vai trò khác nhau Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với nông dân, gắn kết nhà tài chính với nông dân và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Doanh nghiệp là người quyết định việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân, nên họ biết được thị trường cần gì để đặt hàng cho nông dân sản xuất Ngoài ra, doanh nghiệp cũng chính là người đặt hàng cho các nhà khoa học, ngân hàng, cung cấp các dịch vụ cho mình và cho nông dân Vai trò của Nhà nước là xử lý các mối quan hệ giữa các bên ký kết hợp đồng, quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh do thị trường, thiên tai gây ra và vận động,
Trang 18giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các bên tham gia sản xuất theo hợp đồng
Đặc trưng của mô hình này là mối quan hệ đa chiều Cơ chế hoạt động của mô hình này là sự liên kết và phối hợp nhiều chủ thể khác nhau cùng chia sẻ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là hạt nhân ký hợp đồng trực tiếp với các trang trại để thu mua nông sản Ngân hàng căn cứ vào hợp đồng giữa doanh nghiệp và các trang trại để cho vay đầu tư phát triển sản xuất, phát triển thị trường Doanh nghiệp đặt hàng nhà khoa học để giải quyết các vấn đề ký thuật sản xuất nảy sinh Các tổ chức dân sự xã hội như hiệp hội ngành hàng sẽ vận động, theo dõi, giám sát các hợp đồng giữa doanh nghiệp và trang trại Nhà nước căn cứ vào hợp đồng để
xử lý các mâu thuẫn phát sinh
Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu, bản thân nông dân “không thể tự giải quyết 3 vấn đề của nền nông nghiệp hàng hoá là thị trường, công nghệ và vốn, do quy mô kinh doanh quá nhỏ” [5] thì mô hình
đa chủ thể có thể áp dụng Mô hình đa chủ thể được phát triển mạnh ở những quốc gia đang phát triển như Mexico, Kenya, Trung Quốc
Mô hình này có ý nghĩa và tác dụng trong việc chuyển giao khoa học
kỹ thuật hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Sản xuất theo mô hình này sẽ tạo ra vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
+ Mô hình trung gian
Đây là mô hình doanh nghiệp ký hợp đồng mua sản phẩm của nông dân thông qua các đầu mối trung gian như hợp tác xã, tổ hợp tác, nhóm nông dân hoặc người đại diện cho một số hộ nông dân Đặc điểm của mô hình này là doanh nghiệp không kí kết hợp đồng trực tiếp với nông dân mà thay vào đó doanh nghiệp thuê các tổ chức trung gian thực hiện vai trò của mình
Trang 19Mỗi cá nhân hoặc tổ chức trung gian này có trách nhiệm kiểm soát và giám sát hoạt động sản xuất của nông dân và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động trong trang trại từ gieo hạt đến thu hoạch theo quy định của doanh nghiệp và họ được hưởng hoa hồng cho việc kiểm soát và giám sát
Mô hình này tồn tại khi nền sản xuất nông nghiệp còn manh mún và phân tán Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản khó thực hiện việc ký hợp đồng cung cấp vật tư, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân vì để thực hiện
ký hợp đồng cho từng hộ nông dân thì chi phí giao dịch tăng cao và bản thân
họ không đủ năng lực kiểm soát trực tiếp quá trình sản xuất của từng hộ nông dân
Mô hình này góp phần làm giảm chi phí giao dịch nhờ đầu mối hợp đồng giảm đi và việc kiểm soát sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng dễ dàng hơn Người trung gian đóng vai trò cho đại diện cho nông dân, tạo nên sức mạnh tập thể để thương lượng với doanh nghiệp
Mô hình liên kết kinh tế là một hoặc một tập hợp những vấn đề tổ chức, hình thức, phương thức và biện pháp của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong một thời gian, không gian nhất định để đạt được lợi ích kinh tế cho các đối tượng tham gia
Liên kết 4 nhà trong nông nghiệp là sự thoả thuận, hợp tác và hỗ trợ nhau để cùng phát triển giữa Nhà nông, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp, Nhà nước (chủ yếu các tổ chức tín dụng, ngân hàng, quản lý của chính quyền, tham gia củ đoàn thể xã hội,…) trong đó có sự phân công và hợp tác để vừa phát triển sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm và mang lại lợi ích hài hoà cho các bên trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường
2.1.3 Sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng trong nông nghiệp
Eaton và Sheperd (2001) định nghĩa sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng
là “thoả thuận giữa những người nông dân với các doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm
Trang 20nông nghiệp dựa trên thoả thuận giao hàng trong tương lai, giá cả đã được định trước” [23]
Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng trong nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định Như vậy, bản chất của sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng hoàn toàn khác với hình thức giao ngay mang tính truyền thống (đó là mua bán trực tiếp hoạc thông qua các chợ) hoặc giao dịch giao sau (đó là mua, bán nông sản thông qua Sở giao dịch hàng hoá) Điểm khác biệt về bản chất của ba hình thức giao dịch này chính là
cơ chế hình thành giá Đối với giao dịch ngay, giá thoả thuận trên hợp đồng phản ánh cung cầu thị trường hiện tại; đối với giao dịch sau, giá cả phản ánh cung cầu thị trường tương lai; đối với sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, giá
cả phản ánh lợi ích, rủi ro và quyền quyết định của người mua và người bán Điều này có nghĩa là, giá đã được thoả thuận phải bảo đảm người bán thu được lợi ích nhất định và người mua có thể mua hàng với mức giá có thể chấp nhận được; cho dù vào thời điểm giao hàng, giá thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá thoả thuận
Có thể phân loại sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng theo cấu trúc tổ chức của hợp đồng Cấu trúc tổ chức sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng phụ thuộc vào quy trình sinh học của sản phẩm nông nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và tính chất của mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ Eaton và Shepherd (2001) đã chia các hình thức sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng trong nông nghiệp thành 5 mô hình là
mô hình tập trung, mô hình trang trại tập trung, mô hình phi chính thức, mô hình đa thành phần và mô hình trung gian
2.1.4 Ý nghĩa của việc tiêu thụ nông sản theo hợp đồng
Tăng cường liên minh công nông: Việc chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hoá thì việc liên minh
Trang 21công nông có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quá trình sản xuất chế biến tiêu thụ được hiệu quả hơn
Thực hiện quan hệ hợp tác: Thông qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tác giữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn
Giải quyết quan hệ phân phối: Thông qua liên kết vấn đề phân phối thu nhập, trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn, hàng hoá đến tay người tiêu dùng nhanh hơn
Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: Liên kết giúp cho việc vận dụng và sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đem lại hiệu quả cao hơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn
Tạo ra sự gắn kết giữa các “nhà”: Khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện Với sự tham gia của Nhà nước thì tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách được hạn chế tối đa thay vào đó là một loạt chính sách đồng bộ trong sản xuất và tiêu thụ Các nhà khoa học với những đóng góp về khoa học kỹ thuật mới đã dần thay thế cho những kỹ thuật lạc hậu không hiệu quả, các giống cây, giống con có năng suất thấp… Với các doanh nghiệp và người nông dân thông qua liên kết giúp họ yên tâm hơn trong sản xuất, mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, ổn định các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra, giảm thiểu các rủi ro cũng như chia sẻ các rủi ro trong sản xuất… Với sự liên kết như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông sản
Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá giúp cho nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng ngày một phát triển bền vững phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế nước ta theo định hướng XHCN
2.1.5 Tính tất yếu của hoạt động tiêu thụ nông sản
Sản xuất nông nghiệp ở nước ta những năm qua có bước phát triển tạo nên sản phẩm hàng hóa Nhờ ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật, công
Trang 22nghệ vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật nuôi và chất lượng hàng nông sản ngày càng nâng cao
Trước đây, với phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm nông nghiệp chỉ xuất hiện trên thị trường theo mùa vụ tại các địa bàn khép kín, nay nông dân đã thâm canh, tăng vụ, sử dụng giống mới để tạo ra những sản phẩm đa dạng, phong phú, có mặt ở các vùng, miền Sản lượng nông sản tăng nhanh không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu Đời sống của nông dân ở nhiều vùng ngày càng được cải thiện
Tuy nhiên vấn đề đáng lo ngại là tình trạng thiếu bền vững trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta Nông sản xuất hiện trên thị trường lúc nhiều, lúc
ít, nơi thừa, nơi thiếu, bấp bênh, đặc biệt là khâu tiêu thụ, chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch còn bất cập Phần lớn hàng nông sản xuất khẩu nước
ta còn xuất dưới dạng thô, chưa qua chế biến, chất lượng không đồng đều, dẫn đến giá thấp, chưa tạo được thị trường bền vững
Việc tiêu thụ nông sản còn thả nổi chưa được quan tâm thỏa đáng Vào thời điểm thu hoạch rộ, nông dân bị tư thương ép giá, nhiều khi giá bán sản phẩm thấp hơn giá thành không đủ chi phí về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… Thêm nữa, do chưa có biện pháp bảo quản nông sản sau thu hoạch, cho nên tỷ lệ hao hụt, hư hỏng, biến chất của nông sản còn cao
Để nông nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả, bảo đảm đời sống ổn định của nông dân, Nhà nước cần quan tâm hơn nữa khâu tiêu thụ nông sản Cần mở rộng mô hình liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, gắn với tiêu thụ, chế biến nông sản Các doanh nghiệp Nhà nước cần tổ chức tốt mạng lưới tiêu thụ nông sản cho nông dân, không để tư thương thao túng Cần tăng cường việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào khâu bảo quản nông
sản giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch và nâng cao chất lượng hàng nông sản
Trang 232.1.6 Các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản
Tham gia các hoạt động trong tiêu thụ nông sản hàng hoá nói chung có rất nhiều các chủ thể (nhiều “nhà”) Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy thường
có 4 nhóm chủ thể sản đây:
+ Các cơ sở sản xuất: Có thể bao gồm hộ gia đình, hộ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất… Đây là chủ thể chính và trực tiếp tham gia vào hoạt động tiêu thụ nông sản, họ là người được sử dụng đất đai của mình để sản xuất hay góp cổ phần, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp hoặc cho các doanh nghiệp khác thuê đất để sản xuất Họ có thể được hỗ trợ
về giống, kỹ thuật canh tác, bảo quản và bao tiêu sản phẩm ổn định lâu dài từ phía doanh nghiệp chế biến
Thông qua hợp đồng, người sản xuất ngay từ đầu vụ sản xuất cần xác định rõ lượng vật tư nông nghiệp cần đầu tư, các biện pháp kỹ thuật, giá cả hợp lý, các khoản bảo hiểm giá nông sản… để yên tâm sản xuất Xác định trách nhiệm của mình, người sản xuất cần chủ động, mạnh dạn hưởng ứng chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đầu tư phát triển sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, gom đủ nguồn hàng theo đúng thời hạn hợp đồng với doanh nghiệp
- Doanh nghiệp: Đây là chủ thể thứ hai và cũng là chủ thể chính tham gia hoạt động liên kết Doanh nghiệp có liên quan trực tiếp và cần xác định rõ trách nhiệm cụ thể đối với người sản xuất như cung ứng vật tư nông nghiệp,
áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao tính chủ động về hoạt động quản lý, điều hành sản xuất có hiệu quả, có biện pháp hướng dẫn người sản xuất có ý thức trách nhiệm tạo ra nguồn hàng ổn định và bảo đảm chất lượng để phục vụ sản xuất chế biến, tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu
Trang 24- Nhà nước: Để phát triển hình thức liên kết sản xuất - tiêu thụ giữa doanh nghiệp và người nông dân, các cấp chính quyền ngoài công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách, thể chế để tạo điều kiện cho cả hai phía, đồng thời khuyến khích các hộ nông dân hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp Ngoài
ra, Nhà nước còn có thể đứng lên làm trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp, hay vi phạm hợp đồng giữa người sản xuất, doanh nghiệp và các chủ thể khác có liên quan
Về tài chính, tín dụng: Nhà nước tạo điều kiện cho người sản xuất kinh doanh ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm được vay vốn từ các ngân hàng thương mại để đầu tư phát triển sản xuất, cải tiến thủ tục vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển để các doanh nghiệp thuộc diện vay vốn được thuận lợi, đồng thời tăng mức vốn vay đầu tư ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển để đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, tiêu thụ nông sản hàng hoá
Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với nông dân thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin định hướng cho kinh doanh, công tác kiểm soát chất lượng, xuất xứ hàng nông sản và đăng ký kinh doanh nông sản, tìm kiếm và mở rộng thị trường…
- Các cơ sở, cá nhân hoạt động nghiên cứu chuyển giao: Trong sản xuất, để tạo nên những sản phẩm vừa có năng suất, chất lượng và có giá trị kinh tế cao, vừa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, nhà khoa học có vai trò hết sức quan trọng Các nhà khoa học sẽ đóng góp công sức và chất sám của mình để thực hiện các hợp đồng theo đơn đặt hàng của các nhà doanh nghiệp cũng như của người sản xuất
Nhà khoa học không bó hẹp hoạt động trong phòng nghiên cứu mà năng động, chuyên nghiệp trong việc bắt tay với nhà nông, doanh nghiệp để
Trang 25hỗ trợ họ trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản nông sản; cần có tiếng nói tích
cực để tham mưu cho các nhà quản lý nhằm có những dự báo, tính toán, quy
hoạch cụ thể và chủ động trong chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ
2.1.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ nông sản
2.1.7.1 Trình độ của nền sản xuất
Sản xuất hàng hoá càng cao thì nhu cầu tiêu thụ nông sản càng lớn
Trên thực tế, bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ
không xuất hiện quá trình liên kết, hợp tác, nếu có cũng mang tính giản đơn;
trong sản xuất nông nghiệp thể hiện rất rõ yếu tố này Ở Việt Nam, trình độ
sản xuất nông nghiệp ở các vùng khác nhau, thì mức độ hợp tác, liên kết cũng
khác nhau Rõ nhất là vùng núi phía Bắc điều kiện sản xuất khó khăn, manh
mún và chủ yếu là sản xuất tự túc, tự cấp nên tính liên kết kinh tế rất ít và
chậm được triển khai thực hiện trên thực tế; trong khi đó, vùng đồng bằng
sông Cửu Long là vùng sản xuất hàng hoá lớn của cả nước về nông nghiệp,
luôn có nhu cầu liên kết cao từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
2.2.7.2 Thị trường
Nơi nào thị trường hàng hoá phát triển càng mạnh thì quá trình liên kết,
hợp tác càng diễn ra sôi động Trên thực tế sản xuất, ở mỗi vùng, mỗi địa bàn
có những điều kiện khác nhau Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản
xuất của mình, điều đó quyết định sản xuất sản phẩm hay không và bán được
giá cao hay giá thấp? Nơi nào thị trường hàng hoá phát triển thấp thì giá bán
càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại thị trường sôi động, nông sản hàng
hoá giao dịch nhiều, thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị
trường Để đáp ứng cho yêu cầu của thị trường trong điều kiện của người
nông dân còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố “đầu vào, đầu ra” của sản
xuất, khi ấy buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có điều
kiện cung cấp các dịch vụ “đầu vào, đầu ra”; càng nhiều hộ có nhu cầu cung
cấp dịch vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động
Trang 262.1.7.3 Quan hệ giữa cơ sở chế biến và vùng nguyên liệu
Thông qua chế biến làm tăng thêm giá trị của sản phẩm nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp truyền thống thường chỉ cung cấp hoặc bán sản phẩm thô ra thị trường, nên giá trị thu được thường rất thấp, nếu không qua chế biến
sẽ không đạt giá trị sản xuất cao Do đó, muốn sản xuất nông sản có hiệu quả luôn phải tính đến sự gắn kết hữu cơ giữa vùng sản xuất nguyên liệu với các
cơ sở chế biến để mang lại giá trị cao cho cả nhà chế biến và người sản xuất
Công nghiệp chế biến đòi hỏi phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở nước ta đang trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá, để bảo đảm hiệu quả của hàng hoá nông sản, sản xuất nông nghiệp buộc phải chuyển từ nền sản xuất tiểu nông, quy mô nhỏ lên sản xuất lớn, có năng suất, chất lượng và tính đồng đều của sản phẩm; từ đó đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải được chuyên môn hoá, có sự phân công, hợp tác, liên kết với nhau cả về chiều rộng và chiều sâu để phát triển sản xuất nông sản, ngày càng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp
2.1.7.4 Việc áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến là điều kiện nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất và đặc biệt tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường Muốn vậy, nhà sản xuất, chế biến cũng như các đơn vị lưu thông hàng hoá buộc phải áp dụng ngày càng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến; khi ấy yêu cầu liên kết với “nhà khoa học” sẽ ngày càng cao, nhất là liên kết trong các dịch vụ bảo đảm chất lượng hoàng hoá Đây là yêu cầu đòi hỏi tất yếu của các sản phẩm nông nghiệp khi sản xuất ra để tiếp cận thị trường
2.1.7.5 Tổ chức sản xuất
Đây là nhân tố quan trọng để gắn kết các nhà trong mối quan hệ liên kết kinh tế (như liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp) Để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, đòi hỏi các chủ thể trực tiếp sản xuất (nhà nông) và cả
Trang 27công đoạn của quá trình sản xuất - chế biến ra sản phẩm nông nghiệp có tác động và mối quan hệ trực tiếp và giá tiếp ở mức độ khác nhau, các “nhà” và quá trình liên kết phải có sự liên kết, hợp tác với nhau, nhằm khắc phục những hạn chế và mâu thuẫn của quá trình sản xuất đến lưu thông, nhất là tính
tự phát và cạnh tranh không lành mạnh Quá trình đó rất cần được tổ chức một cách chặt chẽ, khoa học thì mới có thể tồn tại và phát triển được trong kinh tế thị trường
Những yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả của quá trình hợp tác, liên kết kinh tế, đặc biệt là hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản chính là yếu tố thành, bại trong quá trình cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trong kinh tế thị trường
2.1.7.6 Các yếu tố về môi trường
Gồm các chủ trương, cơ chế, chính sách của Nhà nước các cấp tác động trực tiếp vào sản xuất hoặc gắn trực tiếp thông qua thị trường Sự can thiệp có chủ định của Nhà nước có thể thông qua các công cụ như thuế, lãi suất, trợ giá, điều hoà giá… các chính sách đó đều có tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển các vùng sản xuất nông sản hàng hoá
Chủ trương chính sách là vai trò có tính định hướng và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nông thôn Hệ thống chính sách tác động lên các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội Chính sách thúc đẩy sự phát triển của các yếu
tố trên, điều hoà các mối quan hệ giữa chúng với nhau tạo nên hệ thống tổng hợp đồng bộ Hệ thống chính sách cần mềm dẻo, uyển chuyển để không chỉ tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp, mà còn thúc đẩy nông nghiệp tiến lên theo những định hướng đã lựa chọn Nông nghiệp và nông thôn không thể tách rời nhau, vì vậy phát triển nông nghiệp luôn gắn với xây dựng nông thôn, nâng cao đời sống nông dân Hệ thống chính sách nông nghiệp gồm những chính sách sau:
Trang 28- Chính sách ruộng đất: Cần khẳng định quyền sở hữu đất đai thuộc về Nhà nước, nhưng quyền sử dụng đất lâu dài được trao cho người nông dân
- Chính sách thuế sử dụng ruộng đất: Chính sách này còn thể hiện chủ trương khuyến khích hoặc hạn chế đối với sản xuất một loại nông sản nào đó hoặc khai thác sử dụng một số loại đất
- Chính sách đầu tư tín dụng: Trong nông nghiệp nông thôn nhằm đẩy mạnh sản xuất, đầu tư, thâm canh và đa dạng hoá sản xuất Góp phần ổn định đời sống, tăng cường đoàn kết, đồng thời cũng góp phần điều tiết trong việc thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước đối với các loại sản phẩm cũng như vùng cần khuyến khích phát triển
- Chính sách khuyến nông: Nhằm thúc đẩy đưa nhanh các tiến bộ kho học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, đổi mới trang thiết bị trong nông nghiệp
- Chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp: Tạo nên trạng thái ổn định, tâm lý tin tưởng, yên tâm đầu tư sản xuất, phát triển nông nghiệp
- Chính sách xã hội nông thôn: Nhằm duy trì và ổn định lương thực sản xuất góp phần xây dựng đoàn kết, động viên mọi người tham gia làm tròn nghĩa vụ với đất nước trên các phương diện kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới Những năm qua các chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước ngày một hoàn thiện làm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì hợp đồng tiêu thụ nông sản phải được ký kết ngay từ đầu vụ sản xuất, đầu năm hay đầu chu kỳ theo các hình thức các doanh nghiệp:
- Ứng trước vật tư, vốn, kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng hoá
Trang 29- Bán vật tư, mua lại nông sản hàng hoá
- Trực tiếp tiêu thụ nông sản hàng hoá
- Liên kết sản xuất
Thực hiện phương châm các bên cùng có trách nhiệm và cùng quyền lợi và nghĩa vụ với nhau Làm tốt vấn đề này góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển tránh tình trạng thị trường trôi nổi dẫn đến việc ép giá nông sản Người sản xuất ra sản phẩm không bán được, thua lỗ, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản không chủ động được nguồn cung cho thị trường, nhà máy xây dựng lên nhưng không đủ nguyên liệu đầu vào cho chế biến, gia công dẫn đến phải sản xuất cầm trừng hoặc bị phá sản
đó doanh nghiệp coi việc cải tiến chất lượng sản phẩm là mấu chốt để bảo đảm cho hợp đồng được thực hiện Kết quả là sản xuất và tiêu thụ theo phương thức này chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phí cho sản xuất và tiếp thị thấp hơn Trong chương trình công nghiệp hoá nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc có chủ trương hỗ trợ và thúc đẩy phương thức sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp Hợp đồng sản xuất và tiêu thụ nông sản như phương tiện để gắn nông dân sản xuất nhỏ với doanh nghiệp chế biến,
Trang 30tiêu thụ Chính quyền địa phương đã nhận thức tiềm năng của sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng trong việc cơ cấu lại sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân
Ba đặc điểm chính có được từ phương thức sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng là:
+ Số hàng hoá nông nghiệp sản xuất theo phương thức này tăng một cách vững chắc
+ Địa bàn áp dụng phương thức sản xuất và tiêu thụ này cũng tăng nhanh chóng, ngay cả những vùng kém phát triển của miền Trung và miền Tây Trung Quốc
+ Quy mô của phương thức sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng ngày càng được mở rộng
Mô hình nổi bật về sản xuất và tiêu thụ nông sản qua hợp đồng ở Trung Quốc là quan hệ ký kết hợp đòng giữa các doanh nghiệp nông nghiệp, trước hết là các “xí nghiệp hàng đầu” với nông dân [13]
* Thái Lan
Là một đất nước có khí hậu nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói chủng loại nông sản của Thái Lan rất phong phú Tính riêng sản phẩm rau của Thái Lan đã có trên 100 loại được trồng, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Kênh tiêu thụ rau màu của Thái Lan được thể hiện như sau:
Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - Nhóm nông dân tự thành lập - Người bán buôn (tại Băng Cốc)/Người chế biến/xuất khẩu - Người bán buôn - Người bán lẻ - Người tiêu dùng
Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - Người thu gom trên địa bàn trồng rau - Thị trường bán buôn trung tâm - Người bán buôn tại Băng Cốc - Người bán lẻ - Người tiêu dùng
Thông thường phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại các nông hộ và chở rau đi bằng xe tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp
Trang 31rau ra chợ bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của mình Rau thường được vận chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn ở Băng Cốc Khoảng 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn ở Thái Lan
Đối với thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục Nội thương trực thuộc
Bộ Thương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục Nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hoá, đề ra mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, Văn phòng thương mại của Cục Nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng, tham gia cùng với bên trọng tài và các bên ký kết giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp Người bán (nông dân, nhóm hộ nông dân, HTX) và người mua (Nhà máy chế biến công nghiệp, xuất khẩu…) mong muốn được ký kết hợp đồng để mua bán các nông sản sẽ phải thông báo ý định đó cho Cục Nội thương hoặc Văn phòng thương mại ở các tỉnh để họ xem xét Nếu được chấp nhận các bên phải đến Văn phòng thương mại làm hợp đồng theo sự quản lý và quy chế của Văn phòng thay cho việc trước đây người mua thiết kế hợp đồng Do kiến thức của nông dân hạn chế nên Bộ Thương mại phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quan đến việc ký kết hợp đồng thoả thuận và phân loại chất lượng nông sản Để khuyến khích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân với các doanh nghiệp, Cục Nội thương tổ chức hội nghị với sự tham gia của người mua, người bán và các đối tượng có liên quan đến việc ký hợp đồng, đồng thời hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính cho người mua đã ký hợp đồng thoả thuận trong trường hợp đặc biệt Những loại nông sản có khả năng ký kết hợp đồng được xác định là cà chua, gừng, ngũ cốc non, măng tây, măng tre, chôm chôm, vải, nhãn, dứa, đu đủ, soài, đậu tương…[13]
Trang 32* Hàn Quốc
Liên đoàn quốc gia HTX nông nghiệp Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất (HTX của các HTX ở cấp quốc gia) của HTX, Liên hiệp HTX Hàn Quốc, được quy định trong Luật HTXNN Hàn Quốc Từ năm 1980, hệ thống HTXNN không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hình thức hoạt động Cơ quan đứng đầu của Hệ thống là NACF, trong đó có hai nhánh là HTX cơ sở và HTX ở đô thị Chủ nhiệm HTX do xã viên bầu Chủ tịch và Kiểm toán viên chính của NACF do các chủ nhiệm HTX cơ sở đầu lên Các thành viên khác của ban lãnh đạo NACF được Chủ tịch đề cử và hội nghị đại biểu cảu chủ nhiệm HTX cơ sở chấp thuận
NACF có nhiều chức năng của một tổ chức kinh doanh đa ngành, từ tiếp thị sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng, tín dụng và bảo hiểm, vận tải, lưu kho, quảng canh và các dịch vụ hỗ trợ cho nông dân
+ Kinh nghiệm mở rộng chế biến sản phẩm nông nghiệp để tăng tốc độ tiêu thụ hàng nông sản
Để tăng giá trị nông sản, tạo thu nhập và việc làm cho dân cư nông thôn
và tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Các HTX nông nghiệp (HTXNN) của Hàn Quốc rất chú trọng đến việc nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu Số lượng nhà máy chế biến nông sản tăng từ 9 (năm 1988) lên 153 (năm 1998) nhà máy chế biến nông sản hiện đại với quy mô lớn trên toàn quốc và Khoa công nghệ thực phẩm đã được thành lập tại Trường đại học HTXNN Hàn Quốc vào năm
1991 để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực chế biến nông sản cho các HTX Trong đó có 14 nhà máy chế biến rau, 13 nhà máy chế biến dưa kim chi (món ăn đặc sản nổi tiếng của Hàn Quốc), 12 nhà máy chế biến gạo, 12 nhà máy chế biến nước uống, 11 nhà máy chế biến đậu tương, 10 nhà máy chế
Trang 33biến chè và 8 nhà máy chế biến ớt Tổng doanh thu qua các hoạt động chế biến năm 1998 đạt 174 triệu USD
Cuối năm 1993, NAFC đã thiết lập 183 điểm thu mua nông sản, 116 kho bảo quản lạnh và 30 trung tâm phân loại hoa quả Lần đầu tiên khu chế biến tổng hợp sản phẩm gạo sau thu hoạch được thành lập tại Dang-Jin và Eui-Sung Từ năm 1990 - 1993, số lượng các siêu thị hàng nông sản tăng từ
38 lên 317 cơ sở, các cửa hàng marketing trực tiếp tăng từ 38 lên 151 và các trung tâm buôn bán tăng từ 1 lên 6 Các điểm buôn bán hàng nông sản nhỏ được thành lập ngay tại các văn phòng chi nhánh của NAFC Đến cuối năm
1998, các trung tâm trưng bày và buôn bán hàng nông sản đã được thành lập tại Yang-Jae, Chang-Dong và Cheong-Ju Các trung tâm buôn bán đã được xây dựng ở Gun-wi vào năm 1999 và Koh-Yang vào năm 2001 Thị phần của các HTX đã chiếm 40% vào năm 2001
Chế biến là con đường tăng giá trị nông sản, lấy lãi từ các nhà máy này
để tái đầu tư cho các HTX thành viên và tăng giá trị thu mua nông sản NAFC
đã tổ chức nhiều nhà máy chế biến gạo, kim chi (rau muốn có gia vị), chè, đậu tương, tinh bột, tinh dầu Với công nghệ hiện đại, sản phẩm có phong cách riêng nên thị trường của NAFC đã mở rộng ra nhiều quốc gia, phục vụ món
ăn kim chi, đồ uống, gạo, rau, hoa quả, sâm… cho các hãng hàng không quốc
tế như hãng hàng không quốc gia Hàn Quốc, hàng không châu Á…
+ Kinh nghiệm tiếp thị hàng nông sản của HTXNN Hàn Quốc
Để chuẩn bị đối phó với sự xâm nhập thị trường Hàn Quốc của các đối thủ cạnh tranh ngoại quốc và để củng cố hoạt động tiêu thụ sản phẩm (TTSP) của HTX, NAFC đã tập trung phát triển mạnh hoạt động TTSP Mở rộng thị trường nông sản là một nhiệm vụ chính của các HTXNN Hàn Quốc
Trong NAFC có Trung tâm bán buôn và phân phối nông sản chụi trách nhiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản và bảo vệ thị trường Với mục tiêu đưa sản phẩm của HTX đến người tiêu dùng, các kênh tiếp thị được
Trang 34tổ chức tại các trung tâm tiêu dùng quan trọng Hệ thống này bao gồm các tổ hợp thương mại, kho tàng hiện đại, cửa hàng bán buôn, bán lẻ, chợ nông dân
NAFC đã tổ chức hệ thống tiêu thụ gồm 99 trung tâm bán buôn nông sản và 12 “câu lạc bộ Hanaro” (cửa hàng giảm giá lưu kho cho các thành viên), và 2.206 “Hanaro Mart” (siêu thị cho những người không phải là xã viên) và các tổ hợp tiếp thị nông sản Mô hình này đã giảm chi phí tiếp thị đơn lẻ, các thành viên, mặt khác các thành viên bán sản phẩm ổn định với mức giá có lợi
Năm 1997, NAFC đổi mới phương thức bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng cách xây dựng 8 tổ hợp phân phối hàng ở Xơ-Un và các thành phố lớn trên toàn quốc với vốn đầu tư lên tới 302 tỷ won, nhiều tổ hợp hoạt động có hiệu quả Các tổ hợp này liên kết với các nhà phân phối khác cùng với công nghệ phân loại, sơ chế, bảo quản, đóng gói…
Diện tích lãnh thổ Hàn Quốc nhỏ, NAFC đã tổ chức hữu hiệu cơ chế
‘mua tận gốc, bán tận siêu thị”, đầu tư các xe chuyên dùng cùng với các trung tâm thu mua lớn NAFC quản lý một mạng lưới dịch vụ vận chuyển nông sản
từ cửa nông trại đến người tiêu dùng với 1.500 ô tô chuyên dụng, 1.108 trung tâm tập trung hàng, hỗ trợ cho 20,5 nghìn nhóm vận chuyển hàng hoá của các HTXNN Cơ chế tái phân phối lợi nhuận cho quỹ hỗ trợ vận tải hàng hoá của HTX đã làm tăng giá trị nông sản hàng hoá của HTX, tăng tỷ trọng hàng hoá của HTX chiếm đến 70% doanh số bán hàng nông sản của NAFC NAFC chú trọng các nhu cầu cá biệt của khách hàng là người nước ngoài, nhu cầu trong các ngày lễ, nhu cầu của chính nông dân mỗi vùng, mở rộng ra các kênh tiêu thụ hướng dẫn sản xuất, phân loại sản phẩm
Doanh số nông sản của hệ thống HTXNN Hàn Quốc năm 2008 đạt tới 19,3 tỷ USD, trong đó 70% từ HTX cơ sở Hiện nay, Liên đoàn quản lý một
hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất, nắm giữ 40% thị phần buôn bán nông sản trên thị trường Hàn Quốc [13]
Trang 35* Bài học rút ra từ hoạt động tiêu thụ nông sản của một số nước trên thế giới
Đối với các nước tiên tiến, sản xuất nông nghiệp mang tính chất hàng hoá đều có hoạt động tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, nghĩa là hộ nông dân hoặc đại diện cho hộ nông dân (HTX) đứng ra ký hợp đồng với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản
Chính phủ các nước cũng rất quan tâm đến vấn đề làm thế nào để người sản xuất nông nghiệp yên tâm sản xuất, người chế biến yên tâm về nguồn đầu vào cho sản xuất, người tiêu dùng thì hài lòng về các sản phẩm sau chế biến
có mặt trên thị trường… vì thế họ ban hành những chính sách vĩ mô giúp cho hoạt động tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng thực sự có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội
Các đối tượng thu mua đầu ra tồn tại dưới nhiều loại hình như loại hình HTX ở Hàn Quốc hay loại hình các cơ sở, các doanh nghiệp tham gia vào thu mua các sản phẩm đầu ra cho nông dân nhằm tạo nguồn đầu ra ổn định cho người sản xuất và nguồn đầu vào ổn định cho các doanh nghiệp chế biến, mặt khác hình thành các hợp đồng kinh tế để ký kết giữa người sản xuất
và người tiêu thụ với mục đích có lợi cho các bên và đem lại hiệu quả về kinh
tế và xã hội chung cho đất nước
2.2.2 Tình hình tiêu thụ nông sản của Việt Nam
2.2.2.1 Công tác tổ chức triển khai thực hiện
Sau khi Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg được ban hành, các Bộ/ngành
đã nhanh chóng triển khai thực hiện theo nhiệm vụ được phân công
Ngày 4/1/2003, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng
ký Chương trình liên kết nhằm phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp phục
vụ sản xuất của nông dân theo tinh thần Quyết định 80/2002/QĐ-TTg
Trang 36Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số NHNN ngày 27/9/2002 về việc hướng dẫn việc cho vay vốn đối với người sản xuất, doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg
05/2002/TT-Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 04/2003/TT-BTC ngày 10/1/2003 Hướng dẫn một số vấn đề về tài chính thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg
Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam (nay là Ngân hàng phát triển Việt Nam)
đã ban hành Công văn số 886/HTPT-TDĐP ngày 16/5/2003 về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg trong phạm vi hệ thống Quỹ
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Tổng công ty trực thuộc Bộ triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Đồng thời, Bộ cùng với các cơ quan Trung ương tuyên truyền, phổ biến Quyết định 80/2002/QĐ-TTg cũng như các chính sách ưu đãi của Nhà nước Nhiều địa phương đã nhanh chóng chủ động triển khai, quy hoạch lại các vùng nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ký hợp đồng, ban hành chính sách hỗ trợ các bên ký hợp đồng, điển hình như Tuyên Quang, Bắc Ninh, Thanh Hoá, Quảng Ngãi,
An Giang, Sóc Trăng
UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 108/2002/QĐ-UB về việc quy định hỗ trợ phát triển nông nghiệp giai đoạn 2002 - 2005 trên địa bàn tỉnh Trong đó quy định "Ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay ngân hàng cho toàn bộ vốn tiền vay ứng trước theo hợp đồng Trong trường hợp giá nông sản, thực phẩm trên thị trường tại thời điểm mua thấp hơn so với giá ký hợp đồng, được ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% phần chênh lệch giữa giá ký hợp đồng với giá thị trường tại thời điểm mua"
2.2.2.2 Kết quả thực hiện tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng
Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
Trang 37tế đã chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản với người sản xuất đã đạt kết quả ở một số sản phẩm sau:
Trong số các hợp đồng thu mua lúa, có một tỷ lệ lớn là lúa giống Đối với miền Bắc, chủ yếu thông qua các hợp tác xã nông nghiệp Vụ lúa Đông xuân năm 2002 - 2003, các công ty lương thực và giống cây trồng của các tỉnh Hà Nam, Hải Phòng, Ninh Bình đã ký hợp đồng bao tiêu hàng trăm hecta sản xuất giống lúa lai với các hộ nông dân, HTX, trong đó, Công ty kinh doanh lương thực Hà Nam ký hợp đồng tiêu thụ 40.000 tấn lúa đông xuân
2003 - 2004 và 2004 - 2005 với các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp; Công ty giống cây trồng Ninh Bình ký 5 hợp đồng tiêu thụ giống lúa lai (F1) và lúa nguyên chủng, với diện tích 25 hecta và sản lượng đạt 123 tấn
Đối với lúa hàng hóa, số lượng tiêu thụ thông qua hợp đồng thấp, chỉ chiếm 6 - 9% trong tổng sản lượng lúa hàng hóa Trong đó tỉnh An Giang đạt
10 - 15% Sản lượng lúa thu mua cũng thấp hơn so với tổng sản lượng lúa ký trên các hợp đồng Theo báo cáo của Tổng công ty lương thực miền Nam sản lượng lúa thu mua thực tế chỉ chiếm 28% sản lượng lúa dự kiến ký kết trên hợp đồng
* Sản phẩm mía
Trong năm 2005, các công ty mía đường thuộc Tổng công ty Mía đường I
và II đã ký 13.158 hợp đồng với tổng diện tích được ký là 22.015 hecta và sản
Trang 38lượng thu mua được là 1.204 nghìn tấn Thông qua hợp đồng, các nhà máy trực thuộc các Tổng công ty đã đầu tư 94,8 tỷ đồng cho các hộ trồng mía
Tỷ lệ mía được tiêu thụ theo hợp đồng chiếm tỷ lệ khá cao Năm 2007, tỉnh Phú Yên có diện tích trồng mía là 19,7 nghìn hecta, sản lượng mía cây đạt 1.044 nghìn tấn Trong đó diện tích trồng mía được tiêu thụ theo hợp đồng chiếm 70 - 75%; tổng sản lượng mía nguyên liệu được tiêu thụ là 888,9 nghìn tấn, chiếm 85,1%
là trồng bông với diện tích đã ký, sử dụng vật tư ứng trước của Công ty đúng mục đích, thực hiện tốt quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch, phân loại sản phẩm theo quy định và bán hết sản phẩm cho Công ty Tỷ lệ thu hồi nợ đạt từ 93% - 97%
Niên vụ 2003 - 2004, Công ty đã ký hợp đồng với diện tích bông 22,9 nghìn hecta, đầu tư ứng trước cho nông dân 40 tỷ đồng và sản lượng bông hạt thu mua được là 27,6 nghìn tấn Đến niên vụ 2005 - 2006, Công ty đã ký hợp đồng với diện tích bông 17,9 nghìn hecta, đầu tư ứng trước cho nông dân 31,6
tỷ đồng và sản lượng bông hạt thu mua được là 15,2 nghìn tấn; diện tích bông
vụ khô là 1,7 nghìn hecta
Trang 39* Sản phẩm sữa
Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) đã tiến hành ký kết hợp đồng thu mua sữa bò tươi trực tiếp với các hộ nông dân, các hợp tác xã, các đơn vị kinh doanh và các đại lý chung chuyển Những hộ chăn nuôi ở gần bán sữa trực tiếp cho nhà máy Đối với những hộ ở xa nhà máy, Công ty ký hợp đồng đầu tư và các dụng cụ bảo quản sữa cho các đại lý chung chuyển, hợp tác xã và các đơn vị chăn nuôi bò sữa Đồng thời phối hợp với các Chi cục Thú y, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện các chương trình khuyến nông, phát triển chăn nuôi bò sữa: đầu tư 2,5 tỷ đồng cho nông dân vay vốn chăn nuôi bò và cải tạo chuồng trại; 245,5 triệu đồng tổ chức tập huấn và cấp phát sổ sức khỏe cá thể bò, tài trợ cho các Hội thi triển lãm giống
bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh Số lượng hợp đồng và sản lượng sữa tươi Công ty thu mua được tăng mạnh qua các năm, từ 2.320 hợp đồng với sản lượng mua đạt 85,7 nghìn tấn năm 2003 lên 2.429 hợp đồng với sản lượng mua đạt 93 nghìn tấn năm 2005
* Sản phẩm lâm sản
Các đơn vị thành viên của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam đã ký hợp đồng kinh tế trồng rừng với hộ nông dân có đầu tư ứng trước vốn Từ tháng 6 năm 2002 đến năm 2004, diện tích ký hợp đồng đạt 691,7 nghìn hecta, sản phẩm được ký là 36 triệu m3 với số vốn đầu tư ứng trước là 5.015
tỷ đồng Do đặc thù của sản xuất lâm nghiệp là loại cây trồng có chu kỳ dài (ít nhất 7 năm) nên chưa đến kỳ khai thác thu hồi vốn Tuy nhiên đối với những hợp đồng đã đến chu kỳ khai thác, tình trạng người nông dân không có ý thức trả nợ sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết theo đánh gía của Tổng công ty lâm nghiệp đang diễn ra phổ biến, trên diện rộng Tại Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình, từ năm 1998 đến nay đã hợp đồng với trên 10 nghìn hộ để trồng rừng Đến nay, nhiều diện tích đã đến tuổi khai thác, hộ nông dân có lãi lớn nhưng không trả sản phẩm cho Công ty theo hợp đồng đã ký kết mà tự ý bán sản
Trang 40phẩm trên lô rừng do Công ty đầu tư ra ngoài đồng thời không hoàn trả cả vốn
và lãi cho Công ty
Ngoài Tổng công ty Lâm nghiệp còn rất nhiều doanh nghiệp sử dụng các nguyên liệu đầu vào là các loại lâm sản (giấy, măng ) cũng đã đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu Công ty Giấy Bãi Bằng đã phối hợp với UBND tỉnh Sơn La thống nhất lập quy hoạch trồng cây nguyên liệu giấy ở các huyện Phú Yên, Bắc Yên, Mộc Châu, Mai Sơn bảo đảm cung cấp lâu dài và ổn định cho công ty Công ty cam kết sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiêu thụ hết nguyên liệu giấy và thanh toán cho mọi thành phần kinh tế của tỉnh Tại Phú Thọ, Công ty giấy Bãi Bằng trong ba năm 2003 - 2005 đã ký hợp đồng với 294 hộ và tổng diện tích là 382,4 hecta, Công ty ứng trước 600 triệu đồng
Do gỗ nguyên liệu là cây lâu năm nên đến nay Công ty vẫn phải mua qua hệ thống lâm trường của các tỉnh lân cận
Tại Hà Giang, đến hết năm 2007, Công ty Vạn Đạt đã ứng trước 3,9 tỷ đồng hỗ trợ trồng 869 hecta măng tre Bát Độ và thu mua được trên 1.000 tấn Giá thu mua đã được điều chỉnh gấp 3 lần so với giá theo hợp đồng thời điểm lập
dự án (2004 - 2005) Đây là kết quả đàm phán thoả thuận giữa doanh nghiệp và nông dân khi nông dân đã muốn phá vỡ hợp đồng, bán sản phẩm ra ngoài
* Sản phẩm chè
Tổng công ty Chè Việt Nam đã chỉ đạo, phân công trách nhiệm và tổ chức triển khai đến các công ty thành viên Các công ty đều đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg Để thuận lợi cho việc theo dõi và đôn đốc, thông qua hội nghị tại các thôn, bản, xã, các hộ đã nhất trí có giấy uỷ quyền và cử đại diện các hộ trực tiếp ký hợp đồng với công ty theo hình thức nhóm hộ Thông qua hợp đồng, các đơn vị ký kết bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân, đồng thời cung ứng vật tư, phân bón, giống, thuốc bảo
vệ thực vật bảo đảm chất lượng theo phương thức bán vật tư mua sản phẩm chè búp tươi Giá cả theo thoả thuận của hai bên từng thời điểm, có xác nhận