2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 42.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 42.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 62.2 Một số nghiên cứu về đậu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN CAO QUÝ
NGHIÊN CỨU, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG VỤ THU ĐÔNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
NGUYỄN CAO QUÝ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, trong quá trình học tập nghiên cứu, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu tận tình của tập thể, cá nhân và gia đình
Nhân dịp này, cho phép tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện đào tạo Sau đại học, Khoa Nông học, Bộ môn Cây Công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS.TS ĐOÀN THỊ THANH NHÀN, người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo xã Cẩm Quan và một số hộ gia đình, lãnh đạo các ngành trong khối Nông nghiệp huyện Cẩm Xuyên, lãnh đạo huyện ủy, UBND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Trồng trọt A K19, các bạn
bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ và khích lệ quí báu đó
Học viên
NGUYỄN CAO QUÝ
Trang 42.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 42.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 42.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 62.2 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam 92.2.1 Những nghiên cứu về chọn tạo giống trên thế giới và Việt nam 92.2.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng và phân bón lá của đậu tương trên thế
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 233.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
4.1 Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống
đậu tương trong điều kiện vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 31
Trang 54.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống đậu tương ở vụ thu đông
2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 314.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống đậu tương vụ thu
đông tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 2011 344.1.3 Thời gian ra hoa và tổng số hoa của các giống đậu tương ở vụ thu
đông 2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 364.1.4 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương 374.1.5 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương ở vụ thu đông
2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 394.1.6 Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu tương ở vụ thu đông
2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 414.1.7 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu tương 434.1.8 Khả năng chống chịu của các giống đậu tương vụ thu đông tại Cẩm
4.1.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương vụ thu đông
tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh (2011) 474.1.10 Năng suất của các giống đậu tương vụ thu đông tại Cẩm Xuyên –
4.1.11 Hàm lượng protein và lipid của các giống đậu tương Vụ thu đông
tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 524.2 Ảnh hưởng của phân bón lá khả năng sinh trưởng, phát triển của
giống đậu tương ĐT26 trong điều kiện vụ thu đông 2011 tại Cẩm
4.2.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của giống đậu tương ĐT26 ở các công
thức sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 534.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống ĐT26 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 54
Trang 64.2.3 Thời gian ra hoa và tổng số hoa của giống đậu tương ĐT26 ở các
công thức sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên -
4.2.4 Chỉ số diện tích lá của giống đậu tương ĐT26 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 574.2.5 Khả năng hình thành nốt sần của giống đậu tương ĐT26 ở các công
thức sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 584.2.6 Khả năng tích luỹ chất khô của giống đậu tương ĐT26 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 604.2.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng của
giống đậu tương ĐT26 vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 624.2.8 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của giống đậu tương ĐT26 ở các công
thức sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 634.2.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐT26 ở các
công thức sử dụng phân bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên -
4.2.10 Năng suất của giống đậu tương ĐT26 ở các công thức sử dụng phân
bón lá vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 664.2.11 Hàm lượng protein và lipid của giống đậu tương ĐT26 ở các công
thức sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 684.3 Hiệu quả kinh tế của các giống tham gia thí nghiệm 69
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 5
2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của các châu lục 6
2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam 7
4.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống đậu tương vụ thu đông tại
4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương
vụ thu đông tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh (2011) 34
4.3 Thời gian ra hoa và tổng số hoa của các giống đậu tương ở vụ thu
đông 2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 36
4.4 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương vụ thu đông tại Cẩm
Trang 84.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ mọc mầm và thời
gian sinh trưởng của giống ĐT26 ở vụ thu đông 2011 tại Cẩm
4.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng
chiều cao thân chính của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên -
4.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra hoa và tổng số
hoa của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 56
4.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chỉ số diện tích lá của
giống ĐT26 ở vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 57
4.16 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng hình thành nốt
sần của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 59
4.17 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng tích lũy chất
khô của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 61
4.18 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 62
4.19 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của giống đậu tương ĐT26 64
4.20 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng
suất của giống ĐT26 ở vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 65
4.21 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất của giống
ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh (2011) 66
4.22 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến hàm lượng protein và
lipid của giống ĐT26 ở vụ thu đông 2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 69
4.22 Chi phí sản xuất và thu nhập thuần số giống đậu tương ĐT26 trên
các loại phân bón lá khác nhau 70
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương
vụ thu đông tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh (2011) 354.2 Năng suất của các giống đậu tương ở vụ thu đông 2011 tại Cẩm
4.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng
chiều cao thân chính của giống ĐT26 vụ thu đông tại Cẩm Xuyên -
4.4 Năng suất của giống ĐT26 ở các công thức bón phân vụ thu đông
2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 67
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày,
có tác dụng trong nhiều mặt trong đời sống xã hội như cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cải tạo đất
Hàm lượng protein trong hạt cũng như các hợp chất có giá trị khác đã khiến đậu tương trở thành một trong những thực phẩm quan trọng trên thế giới Protein trong hạt đậu tương chứa khoảng trên 38% tùy giống, hiện nay có nhiều giống đậu tương có hàm lượng protein có thể đạt tới 40 – 50% so với khối lượng hạt của nó Trong hạt đậu tương còn chứa các axit béo cao hơn các loại đậu khác, tổng số chất béo lên tới trên 18%, các hidratcacbon chiếm 31% Ngoài ra trong hạt còn có chứa sắt, canxi, vitamin giúp cho quá trình tiêu hóa tốt và tránh được các bệnh về tim mạch, ung thư…
Đậu tương là một cây trồng cổ của nhân loại, nhưng đậu tương cũng được xem là loại cây trồng mới nhất Vì trên thực tế đến cuối thế kỷ thứ XIX đậu tương mới chỉ được trồng ở Trung Quốc và 30 năm đầu của thế kỷ XIX sản xuất đậu tương cũng chỉ tập trung ở viễn đông như: Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên… (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [20]
Ngày nay, đậu tương được trồng nhiều ở Mỹ, Braxin, Achentina, Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản, Liên Xô và một số nước khác (Lê Hoàng Độ, 1997) [11]
Cây đậu tương đã du nhập vào nước ta từ rất lâu đời, nhưng việc trồng và phát triển nó mới được quan tâm chú ý gần đây Đặc biệt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hiện nay thì cây đậu tương là một trong những cây trồng được quan tâm hàng đầu Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay bộ giống cũng như năng suất, chất lượng của đậu tương còn rất nhiều hạn
Trang 11chế, quy trình kỹ thuật thâm canh cây đậu tương chưa được nghiên cứu để phù hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể
Hà Tĩnh nói chung và Huyện Cẩm Xuyên nói riêng là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các cây công nghiêp như: Lạc, Mía, Cao su; tuy nhiên việc phát triển đậu tương còn hạn chế về diện tích cũng như các biện pháp
kỹ thuật, đặc biệt giống và phân bón
Rõ ràng rằng việc nâng cao năng suất và sản lượng đậu tương thông qua biện pháp sử dụng các giống đậu tương mới và phân bón lá cho đậu tương từ đó đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá và tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân của Huyện Cẩm Xuyên nói riêng và Hà Tĩnh nói chung là hết sức cần thiết
Trên cơ sở đó, dưới sự hướng dẫn của: PGS.TS Đoàn thị Thanh Nhàn
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xác định một số giống và
ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương vụ thu đông huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài:
1.2.2 Yêu cầu:
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, mức độ chống chịu và năng suất của một số giống đậu tương trong điều kiện vụ thu đông trên đất Huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân bón lá trong điều kiện vụ thu đông trên đất Huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh đến sinh trưởng phát triển, mức độ
Trang 12chống chịu, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống đậu tương
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ xác định được các giống đậu tương phù hợp với điều kiện vụ thu đông ở Huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, bổ sung vào bộ giống đậu tương phù hợp với cơ cấu giống đậu tương của Huyện
- Xác định được dạng phân bón lá hợp lý cho một số giống đậu tương trong vụ thu đông ở Huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương (Glicine max Merr L.) thuộc loại cây họ đậu (Fabacea), bộ
Fabales Đậu tương là cây có giá trị sử dụng toàn diện do hàm lượng protein cao nhất trong hạt các loài thực vật (35 - 47%), lipỉd (12,5 - 25,0%), glucid (10 - 15%) và là nguồn cung cấp protein và dầu thực vật chủ lực cho toàn thế giới Hạt đậu tương chứa gần như đầy đủ các acid amin cơ bản như isoleucin, leucin, methyonin, phenylalanin, tryptofan, valin Cây đậu tương dễ trồng vì có khả năng thích nghi tương đối rộng, do hoạt động cố định đạm vô cơ từ không khí của các vi khuẩn nốt sần Rhisobium cộng sinh trong rễ cây Trồng đậu tương có tác dụng cao trong cải tạo đất, góp phần cắt đút dây chuyền sâu bệnh trong luân canh với các cây trồng khác
Hiện đậu tương được trồng ở khắp các châu lục, tại 78 nước Theo Tổ chức Nông Lương Quốc tế FAO, đến năm 2009 diện tích tăng lên 98,8 triệu ha, sản lượng tới 222,3 triệu tấn, năng suất 22,49 tạ/ha, tập trung nhiều nhất ở châu
Mỹ (76,0%), tiếp đến là châu Á (20,6%) Diện tích đậu tương thế giới trong 20 năm từ 1990 - 2009 tăng 1,72 lần (từ 57,1 triệu ha lên 98,8 triệu ha), năng suất tăng 1,2 lần (từ 18,9 tạ/ha lên 22,49 tạ/ha), sản lượng tăng gấp 2 lần (từ 108,4 triệu tấn lên 222,3 triệu tấn, tăng trung bình 5,7%/năm) Sản phẩm đậu tương được sử dụng cho nhu cầu dinh dưỡng của người, ép dầu đậu nành, bột bã đậu (cake) sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Sản phẩm hàng năm được tiêu thụ toàn
bộ, các nước xuất khẩu chủ yếu ở châu Mỹ, các nước nhập khẩu chủ yếu là châu
Á (đứng đầu là Trung Quốc), châu Âu , khoảng 1/3 lượng sản xuất được tiêu dùng tại chỗ (H.l)
Nhu cầu đậu tương trên thế giới tăng bình quân 4 - 5%/năm, riêng Trung Quốc tăng 8%, bình quân tiêu dùng đậu tương tại TQ là 36,2 kg/người/năm
Trang 14Châu Á là nơi tiêu thụ gần 90 triệu tấn đậu tương/năm chiếm 40% sản lượng đậu tương toàn cầu, sản xuất tại chỗ mới đạt 26,6 triệu tấn/năm còn phải phụ thuộc tới 70% vào lượng đậu tương nhập khẩu (khoảng 63,3 triệu tấn/năm) Trong số các nước châu Á, Trung Quốc là nước có diện tích đậu tương lớn nhất 8,8 triệu ha, năng suất cao nhất 16,5 tạ/ha, ở các nước còn lại về diện tích cao nhất là Indonexia với 0,72 triệu ha, năng suất cao nhất là 16,3 tạ/ha tại Thái Lan, sau đó là Việt Nam - 14,6 tạ/ha, thấp nhất là Philippines 10,0 tạ/ha
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương toàn thế giới được tổng hợp tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
so với năm 2000
Tính riêng từng Châu lục thì hiện nay Châu Mỹ vẫn là Châu lục sản xuất đậu tương lớn nhất trên thế giới Kết quả thống kê của FAO về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của các Châu lục được tổng hợp tại bảng 2.3
Trang 15Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của các châu lục
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây đậu tương được biết đến từ rất sớm, nhân dân ta đã trồng
và sử dụng đậu tương từ hàng nghìn năm nay, với các loại thực phẩm quen
Trang 16thuộc như: tương, đậu phụ, dầu ăn… Đến nay đậu tương trở thành cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống kinh tế xã hội ở nước ta
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Qua số liệu bảng 2.4 cho thấy:
Về diện tích: trồng đậu tương của nước ta năm 1995 là 121,1 nghìn ha, tăng dần qua các năm và đạt cao nhất vào năm 2005 là 204,1 nghìn ha, sau đó diện tích trồng đậu tương giảm xuống còn 185,6 nghìn ha năm 2006, đến năm
2009 diện tích đậu tương đạt 146,20 nghìn ha
Về năng suất: năm 1995 năng suất bình quân của cả nước đạt 10,3 tạ/ha, tăng liên tục qua các năm đến năm 2005 đạt 14,3 tạ/ha, giảm nhẹ vào năm 2006
và đạt cao nhất vào năm 2007 14,70 tạ/ha
Về sản lượng: mặc dù có sự tăng giảm về diện tích và năng suất nhưng sản lượng đậu tương luôn có sự tăng dần qua các năm Năm 1995 tổng sản lượng đậu tương cả nước là 125,5 nghìn tấn, đến năm 2000 tăng lên đạt 144,9 nghìn tấn, đến năm 2005 đạt cao nhất 292,7 nghìn tấn
Qua phân tích số liệu cho thấy năng suất đậu tương ở Việt Nam cao hơn
so với trung bình chung ở châu Á, nhưng lại thấp hơn so với thế giới, năng suất đậu tương ở nước ta mới chỉ đạt khoảng 60% so với trung bình chung toàn thế
Trang 17giới Như vậy có thể nói năng suất vẫn là vấn đề hạn chế đối với sản xuất đậu tương ở nước ta, đây cũng là vấn đề chúng ta cần phải quan tâm và cũng là điều kiện để tiếp tục nghiên cứu cụ thể những yếu tố hạn chế đối với năng suất đậu tương để tìm ra hướng đi đúng cũng như biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm tăng được năng suất đậu tương từ đó, tăng sản lượng, vì rằng trong điều kiện hiện nay việc tăng diện tích để tăng sản lượng là rất khó khăn
Qua số liệu thống kê, cả nước chia thành 8 vùng sản xuất đậu tương lớn Trong đó, các vùng trồng nhiều đậu tương và có sản lượng lớn là: vùng đồng bằng Sông Hồng đạt 107,30 nghìn tấn (năm 2006) chiếm 41,57% sản lượng đậu tương cả nước, đến năm 2009 sản lượng giảm đạt 56,2 nghìn tấn (chiếm 26,31% sản lượng cả nước); vùng Đông Bắc năm 2006 đạt 46,00 nghìn tấn (chiếm 17,82%) và đến năm 2009 sản lượng tăng lên đạt 56,40 nghìn tấn (chiếm 26,40%); vùng Tây Nguyên đạt 37,40 nghìn tấn (năm 2006) chiếm 14,49% tổng sản lượng đậu tương cả nước, năm 2009 đạt 44,00 nghìn tấn (chiếm 20,60%); vùng Tây Bắc đạt 26,90 nghìn tấn (năm 2006) chiếm 10,42%, đến năm 2009 sản lượng đạt 25,80 nghìn tấn (chiếm 12,07%); vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm
2006 đạt 24,80 nghìn tấn (chiếm 9,61%) và năm 2009 đạt 18,90 nghìn tấn (chiếm 8,85% tổng sản lượng đậu tương cả nước); các vùng còn lại chiếm diện tích và sản lượng thấp (Tổng cục thống kê, 2010) [42]
Theo Nguyễn Chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiên Lương, Trịnh Khắc Quang (2005) [3] cả nước năm 2003 có 78 giống đậu tương được gieo trồng, trong đó có 13 giống chủ lực với diện tích gieo trồng trên 1.000 ha được phân bố như sau: DT84, Bông Trắng (>10.000ha); MTĐ176, DT99, 17A (5.000 - 10.000ha); AK03, ĐT12, Nam Vang, ĐH4, V74, AK05, VX93 (1.000 - 5.000ha)
Cũng theo các tác giả trên, 7 giống được công nhận chính thức giai đoạn
2001 - 2004 được gieo trồng trên diện tích 7.097 ha làm tăng sản lượng 944 tấn làm lợi cho sản xuất 4,8 tỷ đồng
Trang 18Nước ta trước đây, trên đất trồng 2 vụ lúa thường không trồng hoặc có trồng rất ít cây đậu tương, một số năm gần đây nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật: trồng đậu tương Đông trên đất ướt, trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu… đã làm cho ruộng 2 vụ lúa thành trồng được 3 vụ trong năm (Trần Đình Long, 1998) [16]
Căn cứ vào điều kiện đất đai, mùa vụ, cơ cấu cây trồng của từng địa phương mà sử dụng các giống đậu tương cho phù hợp Hiện nay trong sản xuất có một số giống đậu tương đang trồng phổ biến cho các mùa vụ như sau:
+ Các giống thích hợp gieo trồng trong vụ xuân: VX93, AK06, ĐT2000, DT96, D140…
+ Các giống thích hợp gieo trồng trong vụ hè: DT84, DT96, ĐT93, ĐT12, D140…
+ Các giống gieo trồng cho vụ Đông, Thu Đông: DT84, DT96, ĐT26, ĐVN6, D140…
+ Các tỉnh phía Nam thường gieo trồng một số giống phổ biến như sau: MTĐ176, HL92, HL2, G87-1…
(Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng TW, 2005) [24]
Ở Việt Nam, cây đậu tương đã có từ lâu và được gieo trồng ở nhiều vùng trong cả nước Hà tĩnh nói chung và huyện Cẩm xuyên nói riêng là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất đậu tương Tuy nhiên về các biện pháp kỹ thuật đặc biệt là khâu giống và phân bón chưa được coi trọng nên năng suất còn thấp và chưa xứng với tiềm năng của vùng Vì vậy việc nghiên cứu thâm canh nhằm tăng năng suất và sản lượng đậu tương cho Hà Tĩnh là hết sức cần thiết
2.2 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Những nghiên cứu về chọn tạo giống trên thế giới và Việt nam
Trên thế giới:đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ứng dụng về chọn
tạo giống đậu tương và đạt được những thành tựu đáng kể
Trong công tác chọn tạo giống thì việc nghiên cứu và đánh giá vật liệu
Trang 19khởi đầu là bước rất quan trọng Hiện nay nguồn gen đậu tương được lưu giữ chủ yếu ở 14 nước: Trung Quốc, Úc, Đài Loan, Pháp, Ấn Độ, Nigieria, Nhật Bản, Indonexia, Hàn Quốc, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Nga (Liên Xô) với tổng số 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long, 1991) [15]
Hiện nay mục tiêu chọn tạo giống đậu tương của các nước trên thế giới tập trung theo các hướng chủ yếu như tạo ra giống có năng suất hạt cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng bệnh gỉ sắt, kháng thuốc trừ cỏ Đậu tương là một trong những cây trồng được sử dụng để chuyển gen, công nghệ chuyển gen đã thu được những thành tựu đáng kể, các nhà khoa học đã tạo ra những giống đậu tương chống chịu chất diệt cỏ, giống đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao (như hàm lượng cao protein, axit oleic…)
Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, gây đột biến và chuyển gen Những dòng nhập nội có năng suất cao đều được sử dụng làm vật liệu trong các chương trình lai tạo và chọn lọc Mục tiêu của công tác chọn giống ở Mỹ là chọn ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản
và chế biến (Johnson H W and Bernard R.L., 1967) [27]
Từ 1976 đến nay Trung tâm nghiên cứu giống đậu tương quốc gia của Braxin
đã chọn từ tập đoàn 1.500 dòng đậu tương khác nhau để đưa ra những giống thích hợp Nhiều giống tốt đã được tạo ra như DoKo, Numbaira, Cristalina… trong đó năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 38 tạ/ha Hướng tới của Braxin là chọn những giống đậu tương có thời gian sinh trưởng trung bình 107 - 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt, kháng sâu bệnh khá (Brown, 1985) [25]
Yayun Chen và cộng sự (2006) [35] cho biết hệ thống rễ của dòng đậu
tương dại PI 407155 (Glycine soja Sieb & Zucc) duy trì ẩm và tích luỹ chất khô
tốt hơn giống Essex nên có khả năng chịu hạn tốt hơn so với Essex Vì vậy PI
407155 là nguồn gen cho phát triển các giống đậu tương chịu hạn
Trang 20Ấn Độ là nước sản xuất đậu tương đứng thứ 5 thế giới, bộ giống đậu tương của Ấn Độ cũng khá phong phú Có khoảng 75 giống đậu tương được chọn tạo và đưa vào canh tác ở Ấn Độ từ năm 1980 đến nay, trong đó có 32 giống có khả năng kháng hoặc bị nhiễm nhẹ bệnh gỉ sắt và bệnh khảm vàng, năng suất đều trên 20 tạ/ha, thời gian sinh trưởng từ 90 – 120 ngày
Các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu và chọn giống đậu tương bằng phương pháp lai hữu tính và ứng dụng công nghệ gen từ năm 1913, đến năm 2005
đã chọn được khoảng 1.100 giống theo các mục tiêu như năng suất cao, hàm lượng dầu cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt Trong đó có giống Lunxuan 1 đạt năng suất 5,97 tấn/ha, giống lai đầu tiên là Hybsoya 1 có năng suất cao hơn 21,9% so với giống gốc ban đầu (Yayun Chen, 2006) [32]
Nghiên cứu thử nghiệm để lựa chọn những giống thích hợp năm 2009 cho vùng Đông Nam Carolina, đã chọn được 6 giống gồm Pioneer 95Y70, Pioneer 95Y41, Pioneer 95Y20, Pioneer 95Y40, Stine 5020-4 và Southern States RT95 30N đều cho năng suất trên 40 giạ/ mẫu Một số giống thuộc nhóm V gồm NO2 -
417, NO2 -7002, NCCO2-20578 đạt năng suất cao nhất là 50 giạ/ mẫu, nhóm VI có NCRoy đạt 61 giạ/ mẫu Các giống này đều rất phù hợp trồng ở Đông Nam Carolina ở các thời vụ khác nhau (dẫn theo Trần Đình Long, 2002) [17]
Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống đậu tương cũng là một trong các
hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Đã có rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu chọn tạo ra các giống đậu tương mới Kết quả
là tạo ra bộ giống đậu tương của nước ta khá đa dạng và phong phú
Công tác chọn tạo giống ở nước ta đã được tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu theo nhiều phương pháp khác nhau như: Lai hữu tính, tạo giống đột biến, chọn lọc từ các giống địa phương và giống nhập nội… Mặc dù mỗi phương pháp đều có những thành công riêng, nhưng thành công nhất phải kể đến là phương pháp lai hữu tính, đây là hướng nghiên cứu cơ bản để tạo ra các đột biến, biến dị
tổ hợp phục vụ cho chọn lọc Nhờ đó có thể phối hợp được các đặc tính và tính
Trang 21trạng có lợi của các dạng bố mẹ và con lai
Trong 20 năm (1985 - 2005) chương trình nghiên cứu đậu đỗ thông qua các
đề tài đã thu thập, nhập nội trên 5.000 mẫu giống đậu tương trong đó có trên 300 mẫu địa phương Đã khảo sát đánh giá 4.188 mẫu dòng/giống đậu tương chủ yếu nhập từ Viện nghiên cứu cây trồng trên toàn Liên Bang Nga mang tên Vavilop (VIR), ngoài ra một số mẫu nhập từ Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Châu
Á (AVRDC), Úc, Nhật, Mỹ và Viện cây trồng nhiệt đới Quốc tế (IITA) Phân lập các dòng giống có các tính trạng đặc biệt khác nhau như thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, chịu rét, kháng bệnh rỉ sắt… phục vụ cho công tác chọn giống (Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, 2005) [19]
Tại Viện Di truyền Nông nghiệp với định hướng chiến lược chọn tạo và phát triển cây đậu tương đã thu được thành tựu đáng kể Trong 25 năm (1982 - 2007) Viện Di truyền Nông nghiệp đã cho ra đời bộ giống đậu tương 3 vụ gồm 10 giống (4 giống chính thức và 6 giống tạm thời): DT84, DT90, DT96, DT55 (AK06), DT99, DT94, DT95, DT83, ĐT2001, Đậu tương rau DT02 và hàng chục giống có triển vọng: ĐT2002, DT01, ĐT2006, ĐT2007, đậu tương rau DT06…
Năm 2008, nhóm tác giả Đặng Bá Đàn, Trần Đình Long, Hồ Huy Cường
và ctv [36] thực hiện nghiên cứu xác định giống đậu tương có triển vọng trên đất canh tác nhờ nước trời huyện Cư Jút tỉnh Đắk Nông Kết quả, giống đậu tương M103 có thời gian sinh trưởng trung bình từ 82-83 ngày năng suất thực thu đạt
từ 26,7 tạ/ha trở lên Giống đậu tương ĐT12 đạt năng suất thực thu trên 20,0 tạ/ha, có ưu thế về kiểu hình thấp cây và thời gian sinh trưởng ngắn, nhỏ hơn 75 ngày thích hợp để phục vụ cho xen canh gối vụ, canh tác nhờ nước trời Từ đó
đề tài kiến nghị bổ sung giống đậu tương M103 và ĐT12 vào cơ cấu giống cây trồng tại địa phương
Năm 2000 tập thể các tác giả: Tạ Kim Bính, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Thị Bình [1] đã chọn lọc cá thể mẫu giống GC00138 (nhập nội từ AVRDC) liên tục trong hai năm 1997 - 1998, kết quả tạo ra giống
Trang 22ĐT2000 có khả năng chống đổ tốt, kháng bệnh gỉ sắt, phấn trắng cao Thân của giống đậu tương ĐT2000 có nhiều đốt, cứng cây, thân to, ít đổ, thích hợp cho việc thâm canh tăng năng suất Giống ĐT2000 có số quả/cây khá cao 29,7 - 37,7 quả/cây, số quả 3 hạt cao (62%) Từ đó ĐT2000 đạt năng suất 19,5-30,5 tạ/ha cao hơn đối chứng V74 Trong sản xuất thử trên đồng ruộng của nông dân ĐT2000 đạt năng suất khá cao (2,7 - 3,0 tấn/ha)
Bằng phương pháp lai hữu tính tác giả Vũ Đình Chính, 2001 [5] đã lai tạo giống đậu tương D140 từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4 Giống D140 có khả năng thích ứng rộng, có thể gieo trồng được cả 3 vụ trong năm và cho năng suất cao
15 - 27 tạ/ha
Trần Đình Long và cộng sự [18], thử nghiệm 56 giống bộ EV01, 20 giống
bộ PA01 và 90 giống nhập từ Úc từ năm 1999 đến năm 2002 trong các vụ tại các tỉnh trong cả nước cho thấy:
+ Có nhiều giống năng suất cao thích hợp cho vụ xuân tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như 95389, CM60, MSBR22, 94137-3-1-2, MSBR20 năng suất đạt từ 1,9 – 3,5 tấn/ha
+ Một số giống thích hợp cho vụ đông: 95389 Empoga 304 năng suất đạt từ 1,5 - 2,2 tấn/ha
+ Một số giống thích hợp cho cả 3 vụ: MSBR20, CLS2111, CM60, 95389 năng suất đạt từ 2,5 - 3,5 tấn/ha
Viện nghiên cứu Ngô là cơ quan chuyên nghiên cứu về chọn tạo các giống ngô cũng tham gia vào công tác chọn tạo giống đậu tương Kết quả đã lai tạo và chọn lọc được giống đậu tương ĐVN5, ĐVN6, ĐVN10
ĐVN6 cũng là giống có tiềm năng năng suất rất cao, thích hợp trồng 3 vụ
và vỏ hạt có màu vàng sáng, đặc biệt rốn hạt trắng rất được người tiêu dùng ưa chuộng (Đào Quang Vinh và cs, 2006) [12]
Khi nghiên cứu về thời vụ gieo trồng cho hai giống đậu tương D140 và
Trang 23ĐT22 vào vụ xuân trên đất gò huyện Chương Mỹ, Hà Nội, tác giả Vũ Đình Chính
và Bùi Thị Cúc (2010) [6] đã thấy rằng năng suất trung bình của hai giống đạt cao nhất là 22,73 tạ/ha (giống D140) và giống ĐT22 đạt 20,43 tạ/ha
Sau 7 năm khảo nghiệm liên tục (1998 - 2004) tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, Viện Di truyền Nông nghiệp đã sản xuất thành công giống đậu tương chịu hạn mới DT96 Giống đậu tương DT96 do nhóm tác giả Mai Quang Vinh và cộng sự chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa hai giống đậu tương DT90
và DT84 Đậu tương DT96 kết hợp được nhiều đặc tính tốt của 2 giống này: chịu nóng tốt như DT84, chịu lạnh như DT84, là giống có năng suất cực cao, chống chịu sâu bệnh tốt, đặc biệt có có khả năng chịu hạn cực tốt do vậy thích hợp cho các vùng đất khô hạn, có thể trồng được 3 vụ/năm
Cũng bằng phương pháp xử lý đột biến dùng tia γ, nguồn Co60 năm 1985 tác giả Mai Quang Vinh và cộng sự đã tạo ra giống đậu tương DT84 từ dòng lai
8 - 33, DT84 có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, năng suất 15 - 20 tạ/ha, trồng được 3 vụ/năm, thích hợp vụ hè Hiện nay DT84 là một trong 10 giống được trồng diện tích lớn nhất
2.2.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng và phân bón lá của đậu tương trên thế giới
và Việt nam
a Yêu cầu các yếu tố dinh dưỡng của cây đậu tương
Cây đậu tương cũng như các cây trồng khác cần có những nguyên tố đa vi lượng như: N, P, K, Ca, Cu, Mo, Bo để sinh trưởng và phát triển Nếu thiếu nhiều hoặc ít, một trong các yếu tố đó đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây
- N: Là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất và hút được nhiều nhất của cây đậu tương và là nguyên tố cơ bản đậu tương có hàm lượng protein cao Tuy nhiên trong cây đậu tương có khả năng cố định đạm sinh học thông qua khả
năng cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium japonicum, có thể tự cung
cấp một lượng đạm từ 60 - 70% tổng lượng đạm mà cây yêu cầu
Trang 24- Lân: tác dụng xúc tiến bộ rễ và hình thành nốt sần cũng như các cơ quan sinh sản Lân có mặt trong thành phần của hệ thống men có ý nghĩa trong sự trao đổi glucid, tăng khả năng cố định đạm sinh học, tổng hợp protit, lipid từ đó làm tăng sự chuyển hoá năng lượng trong quá trình quang hợp và hô hấp của đậu tương (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [20]
- Kali: chiếm 50% khối lượng hạt khô, đóng vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, trong chuyển hoá glucid, cũng như trong hàng loạt các phản ứng khác trong cây Kali đóng vai trò điều hoà cân bằng nước, tăng tính chống chịu bệnh, chịu hạn và chống đổ cho cây Cây hút Kali trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nhưng nhiều nhất là thời kỳ ra hoa Thời kỳ cuối kali chuyển từ thân lá
về hạt (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [20]
Ngoài các yếu tố đa lượng, đậu tương còn cần một số yếu tố vi lượng như
Ca, Mg đặc biệt là Bo và Mo Cây đậu tương cũng có nhu cầu khá cao về các chất dinh dưỡng vi lượng, song các chất này thường hay bị thiếu, đặc biệt là trên đất có pH thấp Hai nguyên tố Bo, Mo có vai trò quan trọng làm tăng tỷ lệ đậu quả và quả chắc của cây đậu tương cũng như khả năng cố định đạm sinh học thông qua đó mà làm tăng năng suất cây đậu tương
- Chất hữu cơ: muốn đạt được năng suất đậu tương cao, đặc biệt trên các loại đất nghèo dinh dưỡng như đất cát, đất đồi, đất bạc màu cần phải bón cho đậu tương các loại phân chuồng và phân hữu cơ Cây đậu tương cũng như các cây trồng khác, phân bón chủ yếu là được bón vào đất, từ đó hệ rễ đậu tương sẽ hút nước, dinh dưỡng, muối khoáng để nuôi cây Các loại phân bón vào đất thông qua hút của bộ rễ thường là các loại phân hữu cơ và phân vô cơ đa lượng như: N, P, K, Ca Các loại phân vi lượng là: một số loại phân bón ở dạng dễ tiêu có thể bón ngoài rễ bằng cách phun qua lá ở các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương
Qua tình hình sản xuất và các kết quả nghiên cứu về đậu tương trên thế
và trong nước đã cho thấy: các nước đều chú trọng phát triển đậu tương Trong
Trang 25tình hình biến đổi toàn cầu như hiện nay, thế giới đang thực hiện chương trình SOYBEAN GENOMICS để cải thiện giống đậu tương kết hợp với các biện pháp kỹ thuật, hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt về giống và phân bón có tính chất đột phá cho cây đậu tương được cải thiện rõ rệt về năng suất, chống chịu và chất lượng Ở Việt Nam, tại Quyết định 150/2005/QDD-TTg ngày 20/6/2005, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch phát triển 470.000 ha để có sản lượng 1,0 – 1,2 triệu tấn đậu tương vào năm 2020; bố trí chủ yếu vùng đồng bằng sông hồng, trung du miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Như vậy để đạt được kế hoạch trên, Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng cần phải phấn đấu tăng năng suất đậu tương Trên thực tế hiện nay, năng suất đậu tương của Hà Tĩnh còn thấp (≤ 15 tạ/ha) Nguyên nhân do bộ giống cũ và kỹ thuật sản xuất, canh tác lạc hậu do đó việc nghiên cứu xác định và chuyển giao kỹ thuật về các giống đậu tương mới cao sản vào địa bàn, đồng thời kết hợp với bón phân nhất là sử dụng phân bón lá cho cây đậu tương sẽ được xem là những giải pháp kỹ thuật then chốt đưa năng suất đậu tương tăng cao và ổn định (≥ 20 tạ/ha)
b Tác dụng của phân bón lá đối với đậu tương:
Bón phân qua lá phát huy được hiệu lực nhanh Tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 90% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi đó bón phân qua đất cây chỉ sử dụng 45 - 50% Bón qua lá tốt nhất là các đợt bổn bổ xung, bón thúc để đáp ứng nhanh các nhu cầu dinh dưỡng của cây Đặc biệt là giúp cây chóng phục hồi sau khi bị sâu bệnh, bão lụt gây hại, hoặc là lchi trong đất vì nhũng lý do khác nhau bị thiếu chất dinh dưỡng một cách đột ngột
Có những bằng chửng rằng cây trồng hấp thu 20% dinh dưỡng từ đất và 80% qua lá Tuy nhiên ở đây cần phối hợp bón phân qua lá và qua rễ để đạt năng suất cao nhất Khi phun phân qua lá chất dinh dưỡng được hấp thu qua khí khổng ( chủ yếu nằm ở mặt dưới lá) Các cơ quan khác như: thân, cành, chồi hoa, quả
Trang 26cũng đều có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, có nghĩa là có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trong quá trình và phát triển của cây Để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương thức bón phân khoáng kết hợp phân hữu cơ, xác lá mục, phân xanh , còn áp dụng các phương thức bón phân ngoài rễ (phun phân qua lá) tạo điều kiện cho cây đậu tương hấp thu dinh dưỡng
dễ dàng hơn, bổ xung nguồn dinh dưỡng kịp khi cây trồng bị trở ngại trong việc
sử dụng nguồn dinh dưỡng từ đất hoặc kết hợp với nguồn dinh dưỡng từ đất tạo điều kiện thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt nhất Bón phân qua lá tránh được sự cạnh tranh về thức ăn vói vi sinh vật khác trong đất, sự rửa trôi do mưa bão và hạn hán
Những kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng phân bón lá trên các loại cây trồng khá tốt Theo Vũ Thế Hùng, (1981 ) [14], sản lượng tăng trung bình từ 2 - 20% đối với cây lấy lá, 10 - 20% đối với cây lấy quả và 5 - 10% đối với lúa, điều này khá rõ vì lá là cơ quan tổng họp trực tiếp chất hữu cơ
và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua các quá trình sinh lý, sinh hoá và quang hợp Khi bón phân qua lá tốc độ hấp thu dinh dưỡng nhanh và hiệu quả sử dụng cao, khắc phục được những hạn chế từ việc bón phân vào đất chỉ đạt 40 - 45% trong khi đó với phương thức bón qua lá có thể nâng hiệu suất
sử dụng của cây tới 90 - 95%, đây là cơ sở hợp lý để đưa những nguyên tố vi lượng quý hiếm vào những dạng phân bón lá để tăng hiệu quả và tiết kiệm Mặt khác bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong nhũng điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt Bằng cách này sẽ là con đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng phục hồi
Lá là cơ quan duy nhất thực hiện được quang họp, tạo ra năng suất, đồng thời cũng là cơ quan có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cho cây Phân bón qua lá có thể có nguồn gốc hoá học hoặc hữu cơ Phân bón qua lá có nguồn gốc hoá học thường là các chất vi lượng
Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều loại phân bón qua lá
Trang 27Trong đó có những loại do các xí nghiệp trong nước sản xuất như HVP301
N, Comix, HB101, Biofact, Humix Các loại phân bón lá nhập từ nước ngoài có Atomix, Lục thuỷ thần, Open all Phân bón lá thường''được bán dưới dạng lỏng, tuy vậy vẫn có một dạng bột như Thần nông, Thiên nông nhập từ Thái Lan Khi độ ấm không khí thấp, đất bị hạn nặng thì không nên dùng phân bón lá vì dễ làm rụng lá
Trong những năm 90 của thập kỷ 90, châu Âu đã chế tạo và sử dụng rộng rãi các loại phân phức hữu cơ Ưu điểm của loại phân bón lá phức hữu cơ là: nhờ khả năng tạo phức giữa các acid amin với các kim loại như Cu++, Zn++,
Mo++, Ni++, Mn++, Mg++, Ca++ mà ta có thể đưa cùng một lúc hầu hết các nguyên
tố vi lượng, đa lượng và trung lượng trọng các cấu tạo của phức chất, cấu trúc dạng phức tạo khả năng bền vững cho các phân tử do đó khả năng bảo quản cất giữ được lâu bền, cũng nhò' có cấu trúc dạng phức hữu cơ nên độ pH ổn định tuyệt đối Các acid amin trong cấu trúc của phân -bón lá có tác dụng cung cấp trực tiép dinh dưỡng trực tiếp cho cây và tham gia ngay vào việc tổng hợp và kích thích khả năng sinh tổng hợp prôtêin trong cây, kích thích sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác Cũng nhờ có các ưu điểm trên, hiệu suất đồng hoá của cây đối vói các loại phân bón lá này cao hơn so với các loại phân bón lá khác, phân bón được chế tạo ở dạng dễ bảo quản ( Hoàng Ngọc Thuận, 1996 ) [28],
Ở Việt Nam, phân bón lá Pomior đã được thử nghiệm trên diện rộng từ năm 1995 ở Yên Hưng ( Quảng Ninh ), Phúc Yên ( Sơn La ), Yên Dũng, Hiệp Hoà (Bắc Giang), Tiên Sơn (Bắc Ninh ), Ngọc lạc ( Thanh Hoá ), Mỹ Hào ( Himg Yên ), Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội), Nghệ An, Nha Trang, Thừa Thiên Huế Trên tất cả các loại cây trồng lúa màu, cây ăn quả, rau đậu, hoa và cây cảnh Ở tất cả các địa phương trên đều cho những nhận xét tốt: năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân
Trang 28lực, phấm chất rau đậu và quả đạt chất lượng cao
Trên thực tế sử dụng phân bón lá Pomior với nhiều loại cây trồng đều làm tăng năng suất rõ rệt, bao gồm cả các cây họ đậu Sở dĩ phân lá Pomior làm tăng năng suất các cây họ đậu là do trong thành phần của phân đã có 2 nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là Bo (84 mg/1) và Mo (3 mg/1) kết họp với các nguyên
tố khác của phân đã làm thúc đẩy sinh trưởng Đặc biệt làm tăng khả năng ra hoa và đậu quả, tăng tỷ lệ quả chắc của đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng Do đó cỉồ tài đã sử dụng phân Pomior để phun vào các giai đoạn khác nhau của cây, từ đó xác định thời điểm phun thích hợp khác cho cây đậu tương
Kết quả nghiên cứu về phân bón lá ở Việt Nam:
Theo Bùi Quang Lanh, từ những năm 60 của thế kỷ trước, nông dân miền Bắc đã sử dụng phân bón hoá học Ban đầu mới có phân đạm sử dụng phối họp với phân chuồng đã đưa năng suất lúa từ 1 tấn/ha/vụ lên 2 tấn/ha/vụ Khi nông dân biét sử dụng thêm phân lân thì năng suất lúa tăng lên 5 - 7 tấn/ha/vụ Như vậy đạm, lân và kali là những yếu tố chính hạn chế năng suất cây trồng, nếu cây trồng được bón đủ; bón cân đối với đạm, lân, kali và bón đúng kỹ thuật thì năng suất tăng đột biến Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cây trồng không chỉ cần
đạm, lân, kali mà còn rất nhiều chất dinh dưỡng khác như vôi, Mg, s, Si, Fe, Bo,
Zn, Cu, chất hữu cơ sẵn có trong đất và được bổ sung hàng năm bằng nguồn phần chuồng Quá trình canh tác hàng ngàn đời nay làm chất dinh dưỡng cần thiết ngày câng cạn kiệt
Mặt khác, cuộc cách mạng về giống hiện nay cho ra đơi nhiều loại giống cây trồng năng suất cao, đòi hỏi sử dụng nhiều chất dinh dưỡng, nếu chỉ bón đạm, lân, lcali hay NPK thông thường thì cây trồng không phát huy năng suất
và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Tuy nhiên trong thực tế không phải người nông dân nào cũng sử dụng phân bón đúng kỹ thuật, nên có nhiều người đầu tư thâm canh cao nhưng năng suất, chất lưọng nông sản lại giảm do bón không cân đối, không đúng thời điểm Việc sử dựng phân bón qua lá sẽ khắc
Trang 29phục được nhược điểm trên Theo Trần Đình Long và cs (1998) [16] thì phân bón qua lá không thề hoàn toàn thay thế được 100% bón phân qua đất Các loại phân bón qua lá là những họp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng được hoà tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu Đây là cách bón phân mới được phổ biến trong những năm gần đây, bởi vì thông thường phân được bón vào đất và được cây trồng hấp thu qua rễ
Ngoài đạm, lân, kali và vi lượng, cây trồng còn cần những chất dinh dưỡng hữu cơ khác như vitamin, đạm hữu cơ (prôtêin), các chất kích thích sinh trưởng v.v để sinh trưởng và phát triển Các chất này có cấu tạo phân tử lớn và phức tạp hơn đạm, lân và kali Do vậy, rễ không hấp thu được mà chỉ có lá mới hấp thu được
Để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương pháp bón phân hữu cơ, phân chuồng hoai mục : kết họp với các loại phân khoáng, người ta còn áp dụng phương thức bón phân qua lá để tạo điều kiện cho cây trồng hấp thu dinh dưỡng, dễ dàng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt Nhận định rằng bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây trồng Khả năng hấp thu dinh dưỡng qua lá được phát hiện vào đầu thế kỷ, XIX bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cho thấy cây trồng ngoài bộ phận lá, các bộ phận khác như thân, cành, hoa, trái đều có thể hấp thu được chất dinh dưỡng
Qua thực tế phân bón lá Pomior có tác dụng cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho các loại cây trồng ở mọi giai đoạn sinh trưởng Dặc biệt là ở những giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của cây trồng như: sau khi kết thúc nảy mầm ( khi cây có 1 lá thật ); thời kỳ cây tăng trưởng mạnh; thời
kỳ phân hoá mầm hoa; thời kỳ nở hoa và thòi gian thụ tinh, thụ phấn hình thành quá Phân bón lá phát huy được hiệu quả mạnh đối với cây trồng trên đất mặn,
Trang 30đất hạn (thời kỳ hạn cây không thể hấp thú đầy đủ chất dinh dưỡng trong đất có khi được ngừng trệ hoàn toàn )
Trong nghề trồng hoa cúc, nông dân thường chỉ bón lót phân chuồng, phân urê và phân lân, có thể bón thúc phân urê hoặc không bón Nhìn chung đa
số hộ nông dân vẫn thu được năng suất cao và hình thức hoa đẹp, nhưng khả năng bảo quản, vận chuyển và độ bền hoa cắt, chưa thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên địa bàn cả nước và xuất khẩu Phân Pomior có thể sử dụng để bón thúc cho hoa cúc mà không cần phải bón thêm phân khoáng với nồng độ dung dịch đã pha là 0,4% và phun 10 ngày 1 lần Sử dụng phân bón lá Pomior có tác dụng nâng cao độ bên của hoa tự nhiên so với công thức không sử dụng từ 2-4 ngày; đồng thời nâng cao năng suất hoa, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, tăng khả năng chống chịụ sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
Khi phun vi lượng cho cây đậu tương và lạc trên đất Mai Sơn - Hà Sơn Bình ở giai đoạn 3 lá, 5 lá và 7 lá đã ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây (tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng chiều cao cây, diện tích lá, tăng chiều cao cây, diện tích lá và năng suất cũng như chất lượng (năng suất tăng từ 13,8 - 20,2 %, prôtêin và lipit tăng so với đối chứng)
Qua tình hình sản xuất và các kết quả nghiên cứu về đậu tương trên thế
và trong nước đã cho thấy: các nước đều chú trọng phát triển đậu tương Trong tình hình biến đổi toàn cầu như hiện nay, thế giới đang thực hiện chương trình SOYBEAN GENOMICS để cải thiện giống đậu tương kết hợp với các biện pháp kỹ thuật, hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt về giống và phân bón có tính chất đột phá cho cây đậu tương được cải thiện rõ rệt về năng suất, chống chịu và chất lượng Ở Việt Nam, tại Quyết định 150/2005/QDD-TTg ngày 20/6/2005, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch phát triển 470.000 ha để có sản lượng 1,0 – 1,2 triệu tấn đậu tương vào năm 2020; bố trí chủ yếu vùng đồng bằng sông hồng, trung du miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Như vậy để đạt được kế hoạch trên,
Trang 31Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng cần phải phấn đấu tăng năng suất đậu tương Trên thực tế hiện nay, năng suất đậu tương của Hà Tĩnh còn thấp (≤ 15 tạ/ha) Nguyên nhân do bộ giống cũ và kỹ thuật sản xuất, canh tác lạc hậu do đó việc nghiên cứu xác định và chuyển giao kỹ thuật về các giống đậu tương mới cao sản vào địa bàn, đồng thời kết hợp với bón phân nhất là sử dụng phân bón lá cho cây đậu tương sẽ được xem là những giải pháp kỹ thuật then chốt đưa năng suất đậu tương tăng cao và ổn định (≥ 20 tạ/ha)
Trang 323 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống: Gồm 5 giống: ĐVN6, DT84, ĐT26, ĐT20, DT96
+ Giống ĐVN6: Chọn tạo từ tổ hợp lai Ak03/DT96 (2007) Giống có thời gian sinh trưởng 90-92 ngày ở vụ xuân, 84-86 ngày ở vụ hè và vụ đông ĐVN6 thuộc dạng sinh trưởng hữu hạn, dạng cây đứng, lá hình dạng trứng nhọn, xanh đậm, hoa tím, vỏ quả chín nâu đậm, hạt vàng, rốn vàng, giống cây thấp (38-43,2 cm), phân cành mạnh Khối lượng 1000 hạt là 170-190g; hàm lượng protein trong hạt đạt 41,69% ĐVN6 là giống có khả năng chống bệnh tốt, chống đổ khá Năng suất trung bình ở vụ xuân là 17,5 tạ/ha, cao nhất la 21 tạ/ha; vụ hè đạt 25-27 tạ/ha; vụ đông đạt 18-22 tạ/ha
+ Giống DT96: lai tạo từ 2 giống đậu tương DT90 và DT84 DT96 có năng suất cao, chống chịu sâu bênh tốt, thích hợp cho các vùng đất khô hạn, có thể trồng được 3 vụ/năm DT96 có đặc điểm: hoa tím, lá hình tim nhọn, màu xanh, sáng, lông nâu, cây cao 45-58 cm, thân có 12-15 đốt, phân cành vừa phải, cây gọn, hình dáng đẹp, phù hợp trồng thuần, quả chín màu vàng, số quả chắc trên cây cao 25-35 quả Giống này có khả năng chống đổ khá, chống được các bệnh gỉ sắt, sương mai, đốm nâu vi khuẩn, lở cổ rễ Thời gian sinh trưởng trung bình là 98 ngày (vụ xuân), 96 ngày (vụ hè thu) và 90 ngày (vụ đông) Theo đánh giá, năng suất thực tế của DT96 có khả năng đạt tối đa 3,5-4 tấn/ha, cao hơn 30% so với các giống khác và đặc biệt là chịu hạn cực kỳ tốt
+ Giống DT84 (đối chứng): Do viện di truyền Nông nghiệp chọn tạo bằng phương pháp đột biến và được công nhận là giống quốc gia năm 1995 Đặc tính chủ yếu: Cây sinh trưởng khoẻ, cao trung bình 50-60 cm, ít phân cành Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày Hạt to, màu vàng, sáng, trọng lượng 1000 hạt từ 150-160g Năng suất trung bình 18-25 tạ/ha
Trang 33+ Giống ĐT26 và ĐT20: Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ Viện cây lương thực và cây thực phẩm lai tạo
Nguồn gốc và phương pháp: Giống đậu tương ĐT26 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa ĐT2000 x ĐT12 Được công nhận giống cho sản xuất thử năm
2008 theo Quyết định số 111/QĐ-TT-CCN ngày 03 tháng 06 năm 2008
- Giống đậu tương ĐT26 có thời gian sinh trưởng trung bình 90-95 ngày
- Chiều cao cây 45-60cm., hoa màu trắng, hạt vàng, rốn nâu đậm, quả chín có màu nâu, phân cành khá từ 2-3 cành/cây, có 30-55 quả chắc/cây, tỷ lệ quả 3 hạt 20-40% Khối lượng 100 hạt (18-19 g)
- Năng suất 21-29 tạ/ha, tuỳ thuộc vào mùa vụ và điều kiện thâm canh
- Giống thích hợp nhất trong vụ Xuân và vụ Đông Giống ĐT26 nhiễm nhẹ bệnh
gỉ sắt, chịu giũi đục thân, chống đổ
Giúp cây lúa đẻ nhánh khỏe, cứng cây, chống đổ ngã, vàng lá, nghẹn
Trang 34đòng Tăng tính đề kháng các bệnh hại như: đạo ôn, đốm vằn, vàng lá, lem lép hạt
Tăng khả năng chống chịu cho cây trông khi gặp thời tiết bất lợi, khô hạn, ngập úng
K-humate giúp cho quá trình hạ phèn, giải độc hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật
* Phân bón lá K – H
Thành phần có trong loại phân bón cao cấp này gồm có các chất khoáng
đa, trung, vi lượng như N, P, K, Ca, Zn, Cu, Fe, Mn, Mg, Mo, Bo … các Enzim hoạt tính sinh học, các vi ta min và đạc biệt là 21 loại Axit amin (Hay còn gọi là Amino Acids ) là thành phần quan trọng tạo nên sự khác biệt so với các loại phân bón thông thường
Tác dụng: cung cấp cho cây trồng những thành phần dinh dưỡng đặc biệt thiết yếu giúp cho cây trồng tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, trao đổi chất và chống chịu với thời tiết khắc nghiệt như nắng hạn, giá rét, ngập úng, chua, mặn đồng thời có khả năng đề kháng tôt với các loại sâu bệnh hại Những tính năng vượt trội của loại phân bón cao cấp này giúp người nông dân tiết kiệm được 30 đến 50% lượng phân hóa học giảm 70 đến 95% lượng thuốc bảo vệ thực vật so với quy trình chăm sóc thông thường, và thu nhập của người nông dân tăng lên đáng kể khi sử dụng sản phẩm này vì nó sẽ làm cho các loại cây trồng tăng năng suất từ 20 đến 40% và chất lượng nông sản tăng lên tới 70%
* Phân bón Đầu trâu 902 (Công ty phân bón Bình Điền)
Thành phần: N: 17%; P2O5: 21%; K2O: 21%; CaO: 0,03%; MgO: 0,03%; Zn: 0,05%; Cu: 0,05%; B: 0,03%; Fe: 0,01%; Mn: 0,01%; Mo: 0,01%; Penac P,
GA3, αNAA, βNOA: 0,002%
Tác dụng: tăng sinh trưởng, cho bông to đều, ít bông kẹ, nhiều hạt chắc Giảm rụng quả non, quả mau lớn, thu hoạch sớm Tăng sức chống chịu sâu bệnh, hạn và rét Tăng năng suất, rau, hoa quả đẹp mã, tăng chất lượng nông sản
và lợi nhuận
Trang 353.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Vụ thu đông 2011
- Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại vùng đất đất chuyên màu của huyện Cẩm Xuyên- Hà Tĩnh
- Đất thí nghiệm: đất thịt nhẹ, chân vàn, pH= 5,5-6,5
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của 1 số giống đậu tương tại huyện Cẩm Xuyên- Hà Tĩnh
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá khác nhau với giống DT84 tại huyện Cẩm Xuyên- Hà Tĩnh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp tại phòng Nông nghiệp huyện Cẩm Xuyên- Hà Tĩnh
3.3.2 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng: đề tài gồm 2 thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Thí nghiệm so sánh 1 số giống đậu tương mới, triển vọng trong điều kiện vụ thu đông của huyện Cẩm Xuyên- Hà Tĩnh
- Thí nghiệm bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) với 5 giống thể hiện trên 5 công thức và 3 lần nhắc lại, trong đó giống DT84 là đối chứng
- Mỗi ô thí nghiệm: 10 m2 Tổng diện tích thí nghiệm là 200 m2 kể cả dải bảo vệ
- Công thức bón phân nền: 650 kg phân hữu cơ vi sinh + 60 kg N + 100
kg P205 + 60 kg K20
Trang 36- Theo phương pháp nghiên cứu thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- Thí nghiệm bao gồm 4 công thức với 3 loại phân bón lá và 1 đối chứng (phun nước lã), với 3 lần nhắc lại Mỗi ô thí nghiệm: 10 m2 Tổng diện tích là :
150 m2 kể cả dải bảo vệ
* Công thức thí nghiệm:
CT1: Phun nước lã (không sử dụng phân bón lá)
CT2: Sử dụng phân bón hữu cơ sinh học K-H (Sản phẩm của công ty cổ phần Thanh Hà) với lượng phun 8ml pha với 20ml nước sạch bơm cho 1 sào BB
CT3: Sử dụng phân bón hữu cơ sinh học K- Humat (Sản phẩm của công ty Minh Đức) với lượng phun 15 ml pha từ 15-25 ml nước sạch bơm cho 1 sào BB
CT4: Sử dụng phân bón lá Đầu Trâu 902 (sản phẩm của công ty phân bón Bình Điền) pha 1 gói 10 gam/ bình 10 lít nước cho 1 sào BB
Trang 37- Bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân + 1/2 đạm + 1/2 kali
- Bón thúc khi cây có 2-3 lá thật, bón toàn bộ lượng đạm và kali còn lại
* Chăm sóc
Làm cỏ, xới xáo 2 lần:
+ Lần 1: Khi cây có 2 lá thật, kết hợp với bón thúc
+ Lần 2: Sau lần 1 từ 12-15 ngày (khi cây có 5-6 lá)
Phòng trừ sâu bệnh: theo qui trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây đậu tương
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
- Theo thời gian từ gieo đến mọc (ngày): 50% số hạt mọc
- Tỷ lệ mọc mầm (%): theo dõi 100 hạt ở giữa ô
- Thời gian từ gieo đến ra hoa (50% số cây ra hoa), thời gian từ gieo đến thu hoạch (ngày)
- Thời gian ra hoa (ngày): tính từ khi bắt đầu ra hoa đến khi kết thúc ra
Trang 38hoa (mỗi công thức theo dõi 5 cây ngẫu nhiên trên cả 3 lần nhắc lại)
- Chiều cao thân chính (cm): Đo từ đốt hai lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn, đo ngẫu nhiên 5 cây trong một công thức cho 3 lần nhắc lại, đo từ khi cây
có từ 2-3 lá thật, sau đó cứ 7-10 ngày lại đo một lần
- Đường kính thân (mm): Đo cách cổ rễ 5 cm khi thu hoạch
- Diện tích lá (dm2/cây): lấy ngẫu nhiên 5 cây ở mỗi công thức, tiến hành bằng phương pháp cân nhanh ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa- hoa rộ- quả mẩy
- Nốt sần: đếm tổng số nốt sần, số nốt sần hữu hiệu, cân khối lượng nốt sần của 5 cây ngẫu nhiên trên mỗi công thức ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa- hoa rộ- quả mẩy (kết hợp với đo diện tích lá)
- Khối lượng cây tươi (g): Cân ở 3 thời kỳ: : bắt đầu ra hoa- hoa rộ- quả mẩy
- Tích luỹ chất khô (g): Cân sau khi sấy khô đến khối lượng không đổi của 5 cây trên mỗi công thức ở cả 3 lần nhắc lại (tiến hành sau các lần cân khối lượng tươi)
3.4.2 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu:
- Sâu hại: được đánh giá theo TCN10 – 2005 của Bộ NN&PTNT
+ Sâu đục quả: đếm số quả bị hại/ tổng số quả theo dõi (%)
+ Sâu cuốn lá: đếm số lá bị sâu cuốn/ tổng số lá trên cây (%)
+ Sâu ăn lá: theo dõi như đối với sâu cuốn lá
Trang 39+ Bệnh sương mai: đánh giá theo cấp bệnh gỉ sắt
- Khă năng chống đổ: đếm số cây đổ, tính tỷ lệ % đánh giá theo thang điểm từ 1-5 như sau:
+ Điểm 1: Hầu hết các cây đều thẳng đứng
+ Điểm 2: <25% số cây bị đổ hẳn
+ Điểm 3: 26-50% số cây bị đổ hẳn
+ Điểm 4: 51-75% số cây bị đổ hẳn
+ Điểm 5: >75% số cây bị đổ hẳn
* Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
- Trước khi thu hoạch lấy ngẫu nhiên 10 cây trên mỗi ô thí nghiệm, sau đó tiến hành thu thập các số liệu sau:
- Đếm tổng số cành cấp 1 trên cây
- Đếm số đốt hữu hiệu (đốt mang quả) trên thân chính
- Xác định chiều cao đóng quả (đo từ đốt hai lá mầm đến đốt ra quả đầu tiên)
- Đêm số quả/cây, tính tỷ lệ quả chắc (%)
- Tính tỷ lệ quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt (tính theo % số quả chắc)
- Xác định khối lượng 1000 hạt (g)
- Năng suất cá thể (g/cây): Khối lượng hạt trung bình của 10 cây mẫu
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha)=(Năng suất cá thể/100.000)*Mật độ*10.000
- Năng suất thực thu: Tính trên cơ sở ô thí nghiệm
- Năng suất thực thu (tạ/ha)= (Năng suất ô thí nghiệm/10*10.000)
- Hiệu quả kinh tế (lãi thuần) = Tổng thu – Tổng chi
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được tính toán, vẽ đồ thị bằng chương trình Excel, xử
lý thống kê bằng phần mềm IRRISTAT 4.1 của IRRI
Trang 404 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống
đậu tương trong điều kiện vụ thu đông tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
4.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống đậu tương ở vụ thu đông
2011 tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
Cây đậu tương cũng như các cây trồng khác, quá trình mọc mầm của hạt được xem là sự khởi đầu cho một chu kỳ sinh trưởng và phát triển Quá trình mọc mầm của hạt là một yếu tố quan trọng trong cấu thành năng suất của cây đậu tương vì nó quyết định đến thời gian sinh trưởng, số lượng cây trên một đơn
vị diện tích từ đó quyết định đến năng suất quần thể sau này Giai đoạn này được tính từ khi gieo hạt xuống đất, hạt hút ẩm trương lên, rễ mọc ra, thân vươn lên đội hai lá mầm lên khỏi mặt đất, lá mầm xòe ra, thân mầm tiếp tục phát triển lên thành thân chính Trong giai đoạn này cây con sống chủ yếu là dựa vào nguồn chất dự trữ ở trong hai lá mầm
Sự mọc mầm của hạt phụ thuộc nhiều vào chất lượng hạt giống, điều kiện ngoại cảnh mà các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp là ẩm độ và nhiệt độ Nếu trong cùng điều kiện sinh thái và mùa vụ như nhau thì yếu tố giống là yếu tố tác động chính đến sự mọc mầm của hạt
Tỷ lệ mọc mầm là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của hạt giống, giống có tỷ lệ nảy mầm cao, khả năng mọc mầm khỏe là biểu hiện của một giống tốt bởi tỷ lệ mọc mầm có ảnh hưởng đến mật độ cây trên đơn vị diện tích về sau, vì vậy tỷ lệ nảy mầm cao sẽ là tiền đề cho năng suất cao Qua kết quả theo dõi về tỷ lệ và thời gian mọc mầm cho thấy: các giống khác nhau
có tỷ lệ mọc mầm khác nhau Ở điều kiện vụ thu đông 2011, các giống đậu tương thí nghiệm đều có tỷ lệ mọc mầm khá cao đều đạt trên 90%, giống đối chứng DT84 có tỷ lệ mọc mầm là 90,06%; các giống khác có tỷ lệ mọc tương đương với đối chứng; cao nhất là giống ĐT26 tỷ lệ mọc mầm đạt 93,03%