4.5 Khả năng truyền bệnh virus Lùn sọc đen phương Nam của rầy 4.6 Kết quả lây nhiễm virus gây bệnh lùn sọc đen phương Nam từ 4.7 Ảnh hưởng của biện pháp phun thuốc trừ rầy giai đoạn mạ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN PHƯƠNG NHÃ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TRUYỀN BỆNH VIRUS LÙN SỌC ĐEN PHƯƠNG NAM SRBSDV (SOUTHERN RICE BLACK
STREAKED DWARF VIRUS) CỦA RẦY LƯNG TRẮNG Sogatella
furcifera Horvath VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
TẠI TIỀN HẢI, THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS ĐẶNG THỊ DUNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan!
Bản luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của bản thân
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trong thời gian vừa qua ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía gia đình, nhà trường, các thầy cô giáo, cơ quan và bạn bè đồng nghiệp
Để có được thành quả của ngày hôm nay, trước hết cho phép tôi được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đặng Thị Dung – Bộ môn côn trùng - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, TS Nguyễn Quí Dương -Trung tâm Kiểm dịch Sau Nhập khẩu I đã quan tâm, dìu dắt, tận tình hướng dẫn và định hướng khoa học để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng điều tra giám sát – Trung tâm Kiểm dịch sau nhập khẩu I, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện
về mọi mặt để tôi thực hiện tốt các nội dung của đề tài trong suốt thời gian nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo, cán bộ trong Khoa Nông học, Bộ môn Côn Trùng và Viện đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả các bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Nguyễn Phương Nhã
Trang 42.3 Những nghiên cứu về RLT (môi giới truyền bệnh LSĐPN) 19
2.4 Các biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng, lùn sọc đen phương Nam 27
4.1 Nghiên cứu khả năng truyện bệnh LSĐPN của rầy lưng trắng 43
Trang 54.1.2 Xác định khả năng truyền bệnh LSĐPN cho thế hệ sau của RLT 45
4.1.3 So sánh khả năng truyền bệnh LSĐPN giữa các pha phát dục của
4.1.4 Xác định giai đoạn mẫn cảm của cây lúa đối với khả năng truyền
4.1.5 Đánh giá khả năng truyền bệnh LSĐPN từ lúa sang ngô và ngược
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
RT-PCR (Reverse Transcriptional – Polymerase Chain Reaction) RBSDV Rice black- streaked dawrf virus
SRBSDV Southem rice black- streaked dawrf virus
RBSDV2 Rice black- streaked dawrf virus 2
RRSV Rice ragged stunt virus
RDV Rice dwarf virus
NSG Ngày sau gieo
NSP Ngày sau phun
TLCNB Tỉ lệ cây nhiễm bệnh
TLRNVR Tỉ lệ rầy nhiễm virus
Trang 74.5 Khả năng truyền bệnh virus Lùn sọc đen phương Nam của rầy
4.6 Kết quả lây nhiễm virus gây bệnh lùn sọc đen phương Nam từ
4.7 Ảnh hưởng của biện pháp phun thuốc trừ rầy giai đoạn mạ tới
mật độ rầy lưng trắng và tỷ lệ bệnh LSĐPN vụ mùa 2010, tại
4.8 Diễn biến mật độ rầy lưng trắngvà thiên địch của chúng dưới ảnh
hưởng của biện pháp phun thuốc trừ rầy giai đoạn lúa đẻ nhánh
4.9 Ảnh hưởng của biện pháp phun trừ rầy lưng trắng vào giai đoạn
lúa đẻ nhánh đến tỉ lệ bệnh LSĐPN vụ mùa 2010 tại Tiền Hải,
4.12 Hiệu lực trừ rầy của một số loại thuốc xử lý hạt giống ở vụ mùa
Trang 8DANH MỤC HÌNH
2.2 Ảnh hiển vi điện tử cho thấy phân tử virus và thể vùi virus trong
4.7 Triệu chứng bệnh lùn sọc đen trên lúa ở giai đoạn mạ 50
4.16 Ảnh hưởng của việc phun thuốc trừ rầygiai đoạn mạ tới mật độ
rầy lưng trắng vụ mùa 2010, tại Tiền Hải, Thái Bình 56
4.17 Ảnh hưởng của việc phun thuốc trừ rầygiai đoạn mạ tới tỉ lệ
4.18 Biện pháp phun thuốc hóa học vào giai đoạn đẻ nhánh ảnh hưởng
tới mật độ rầy lưng trắng vụ mùa 2010 tại Tiền Hải, Thái Bình 59
Trang 94.19 Biện pháp phun thuốc hóa học vào giai đoạn đẻ nhánh ảnh hưởng
tới mật độ thiên địch vụ mùa 2010 tại Tiền Hải, Thái Bình 59
4.20 Biện pháp phun thuốc hóa học vào giai đoạn đẻ nhánh ảnh hưởng
tới tỉ lệ bệnh LSĐPN vụ mùa 2010 tại Tiền Hải, Thái Bình 61
Trang 10
1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực lâu đời nhất và cũng là một
trong những cây ngũ cốc quan trọng cung cấp nguồn lương thực cho khoảng 2/3 dân số thế giới với sản lượng hàng năm xấp xỉ 540 triệu tấn đứng thứ hai sau lúa mì trên diện tích khoảng 150 triệu ha đứng thứ ba sau lúa mì và ngô Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) [69], 90% diện tích trồng lúa thuộc các nước Châu Á Các nước này cũng sản xuất khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 lên tới hơn 600 triệu tấn vào năm 2007
Quá trình bùng nổ dân số cùng với sự phát triển của hạ tầng đô thị đã khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao, đảm bảo an ninh lương thực, con người phải áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ nhằm tăng năng suất, sản lượng lúa gạo, điều này chính là nguyên nhân làm gia tăng sức ép về sâu bệnh đối với cây lúa
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) (Homoptera:
Delphacidae) là một loài côn trùng hại phổ biến trên cây lúa ở nhiều nước
châu Á cũng như ở Việt Nam Rầy lưng trắng phát sinh với mật độ cao, gây hại nặng cho cây lúa, có thể làm giảm tới 30-40% năng suất hoặc hơn
Trước đây rầy lưng trắng được coi như một sâu hại thứ yếu Trong một vài thập niên gần đây, rầy lưng trắng có xu hướng phát sinh ngày càng gia tăng Nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy tỷ lệ số lượng rầy lưng trắng gia tăng cao hơn rầy nâu quan sát được từ cuối thập niên 1990 Tại Nhật Bản từ năm
1980 tới nay, quần thể rầy lưng trắng bắt đầu gia tăng một cách rõ ràng và cao
Trang 11hơn so với quần thể rầy nâu Những nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy trong thập niên 1980-1990, mức độ gia tăng quần thể rầy lưng trắng trên đồng lúa tỷ
lệ thuận với sự mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa lai (Watanabe et al., 2007) [60]
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu hại lúa cho thấy rầy lưng trắng ít gặp trên đồng ruộng trong các thập niên 1950 và 1960; từ thập niên 1970 đến thập niên 1990 rầy lưng trắng đã trở thành sâu hại lúa phổ biến ở nước ta, tuy chưa gây hại rõ rệt (Nguyễn Công Thuật, 2009) [13] Từ sau năm 2000 sự gia tăng mật độ của rầy lưng trắng đã ghi nhận ở nhiều vùng trồng lúa ở nước ta Nghiên cứu gần đây cho thấy rầy lưng trắng đang có xu hướng gia tăng và chiếm ưu thế hơn so với rầy nâu Tỷ lệ số lượng của rầy lưng trắng so với rầy nâu ở năm 1981 là 34,6% và đến 2007 đã tăng lên 72,5% (D.V.Thành và cộng sự., 2008) [9] Bên cạnh đó, vào cuối tháng 8/2009, tại Nghệ An, một bệnh lạ (hiện tượng “lùn lụi’’) đã xuất hiện trên diện rộng trên lúa Mùa Theo thống
kê của Cục Bảo vệ thực vật, trong vụ đã có 19 tỉnh đã thấy xuất hiện bệnh này: Nghệ An, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Hải Phòng, Lai Châu, Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai… Trong đó tỉnh
bị hại nặng là Nam Định 17.556,9 ha, tiếp đến là Nghệ An 13.514,5 ha, Thái Bình 5.288,9 ha, Ninh Bình 3.819 ha, Thanh Hóa 1.037,7 ha, Ước tính khoảng trên 200 ngàn tấn thóc bị thất thu; một số tỉnh còn lại bệnh xuất hiện rải rác Vụ Đông Xuân năm 2010, bệnh lùn sọc đen đã tiếp tục phát sinh tại
28 tỉnh thành phố, trong đó, 20 tỉnh Bắc Bộ, 5 tỉnh Bắc Trung Bộ và 3 tỉnh ở Nam Trung bộ [6]
Ngoài lúa, bệnh còn phát sinh gây hại trên ngô Đông và Đông xuân 2009-2010 với diện tính nhiễm bệnh là 2.317 ha ở 20 tỉnh phía Bắc [6]
Cuối năm 2009, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được tác nhân gây hiện tượng “lùn lụi” tại Nghệ An và một số tỉnh phía Bắc là do virus lùn
Trang 12sọc đen phương Nam (Southern rice black streaked dwarf virus) gây ra, vecto truyền bệnh chính là rầy lưng trắng [5]
Chính vì vậy, để ngăn chặn sự lây lan trên diện rộng, phòng trừ bệnh lùn sọc đen hiệu quả cho vụ tiếp theo, biện pháp tốt nhất là phải quản lý các
đối tượng là môi giới truyền bệnh, trong đó có rầy lưng trắng Sogatella
furcifera
Nghiên cứu khả năng truyền bệnh virus lùn sọc đen phương Nam của rầy lưng trắng và áp dụng các biện pháp phòng chống không chỉ cung cấp thông tin cần thiết, hữu ích trong nghiên cứu loài sâu bệnh này nói riêng mà còn có ý nghĩa đối với công tác phòng trừ rầy môi giới truyền bệnh trong công tác quản lý hiệu quả bệnh lùn sọc đen trên đồng ruộng hiện nay Với mong muốn trên, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Thị Dung, bộ môn Côn trùng, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và TS Nguyễn Quí Dương- Trung tâm Kiểm dịch sau nhập khẩu I, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu khả năng truyền bệnh virus lùn sọc đen phương nam SRBSDV (Southern Rice Black Streaked Dwarf Virus) của rầy lưng
trắng Sogatella furcifera Horvath và áp dụng các biện pháp phòng chống tại Tiền Hải, Thái Bình”
1.3 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.3.1 Mục đích
Đánh giá khả năng truyền bệnh lùn sọc đen phương Nam (Southern rice black streaked dwarf virus) của rầy lưng trắng, từ đó đề xuất một số biện pháp phòng trừ trong việc quản lý hiệu quả loài sâu, bệnh này trên lúa ở miền Bắc Việt Nam
1.3.2 Yêu cầu
- Đánh giá khả năng lây nhiễm bệnh virus lùn sọc đen phương Nam
Trang 13(Southern rice black streaked dwarf virus) của rầy lưng trắng lên cây lúa:
+ Xác định mật độ, tỉ lệ rầy lưng trắng truyền bệnh LSĐPN hiệu quả + Xác định, so sánh tỉ lệ nhiễm virus và khả năng lan truyền bệnh LSĐPN qua các pha phát dục của rầy lưng trắng
+ Xác định khả năng truyền bệnh LSĐPN lại thế hệ sau của rầy lưng trắng
+ Đánh giá khả năng truyền bệnh virus LSĐPN ở các giai đoạn mẫn cảm của cây lúa, truyền bệnh từ lúa sang ngô của rầy lưng trắng
- Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh thông qua kiểm soát vector truyền bệnh là rầy lưng trắng
Trang 142 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Do bệnh lùn sọc đen phương Nam là bệnh virus mới được phát hiện và xác định vào cuối vụ mùa năm 2009 nên nhiều vấn đề về bệnh chưa có nhiều nghiên cứu như khả năng lây lan của bệnh, mối quan hệ giữa bệnh và môi giới truyền bệnh Đối với bệnh virus hại lúa nói chung và bệnh virus lùn sọc đen phương Nam nói riêng, việc quản lý môi giới truyền bệnh hết sức có ý nghĩa Do vậy, để có cơ sở đưa
ra các biện pháp quản lý hiệu quả, ngăn chặn khả năng lây lan của bệnh, bảo vệ sản xuất, nên việc nghiên cứu về khả năng truyền bệnh của rầy lưng trắng, thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ môi giới truyền bệnh là cần thiết
2.2 Nghiên cứu về bệnh virus hại lúa
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện được hơn 30 loài virus gây hại trên cây lúa ở Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và một số nơi khác trên thế giới Hầu hết các loài virus đều xuất hiện và gây hại ở các nước Châu Á
và Châu Mỹ, chỉ có 5 loài virus là Rice stripe necrosis virus (RSNV) thuộc giống Furovirus, Rice crinkle disease, Maize streak virus (MSV) thuộc giống
Geminivirus, African cereal streak virus và Rice yellow mottle virus (RYMV)
thuộc giống Sobemovirus gây hại trên lúa ở Châu Phi theo Abo, Ali Fadhila
(2001)[17]
Gần đây, từ năm 2001 đã ghi nhận thêm 1 bệnh mới ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc: Bệnh lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) do rầy lưng
trắng (Sogatella furcifera) làm môi giới truyền bệnh chính, rầy nâu nhỏ cũng
tham gia truyền bệnh nhưng hiệu quả kém [61], [63]
Theo tài liệu nước ngoài Zhang et al., (2008) [63]; Zhou et al., (2008)
Trang 15[62]; Wang et al., (2010) [59]; Ta Hoang A et al., (2010) [56] Ricehoppers.net [67] đến cuối tháng 9/2010 virus lùn sọc đen đã hiện diện và gây hại tại 6 tỉnh miền Nam và Đông-Nam Trung Quốc, tỉnh Kyushu Nhật Bản và hầu khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Năm 2001 triệu chứng bệnh lần đầu tiên được ghi nhận tại Quảng Đông
và Đảo Hải Nam Trung Quốc Lúc ban đầu, virus gây bệnh chỉ được coi là 1 biến chủng của RBSDV Sau khi giải trình tự gene của đoạn S10 rồi cả bộ gene (S1 – S10) thì tác nhân gây bệnh được cho là do 1 virus mới, tạm đặt tên
là Southern rice black-streaked dwarf virus, viết tắt là SRBSDV, thuộc phân
nhóm 2, nhóm Fijivirus, họ Reoviridea, rầy lưng trắng là môi giới truyền
bệnh chính, rầy nâu nhỏ cũng tham gia truyền bệnh
Khi bệnh mới xuất hiện, hầu hết tỷ lệ bệnh chỉ rất thấp, chỉ dưới 2%, song cũng có những ruộng có tỷ lệ bệnh trên 80% [63] Đầu năm 2009, bệnh đã gây hại thành dịch tại Hải Nam (Trung Quốc) Cuối tháng 9/2010 bệnh đã được ghi nhận gây hại Kyushu (Nhật Bản) và được cho là do rầy lưng trắng mang virus di trú từ Trung Quốc sang [20]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Heng-Mu Zhang, Jian Yang, Ping Chen and Adams (2008) [26] cho biết một chủng virus mới thuộc họ Reoviridae đã gây triệu chứng lùn nặng và lá xanh đậm trên lúa tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, có hình thái virus rất giống cũng như quan hệ huyết thanh gần gũi với virus lúa lùn sọc đen (RBSDV) Cấu trúc các segment trong bộ gene của 2 virus trên agarose-gel cũng như trên polacrylaminde-gel hoàn toàn giống nhau 4 RNA – segment của chủng virus mới (7-10) đã được giải trình tự bằng phương pháp tách dòng từ sản phẩm RT-PCR Kích thước cũng như cấu trúc của các segment thu được của chủng virus mới hoàn toàn giống với các segment tương ứng của virus lúa lùn sọc đen (RBSDV), virus lùn nhám trên ngô (MRDV) và Mal de Reo Cuarto vius (MRCV) Độ tương
Trang 16Jian-đồng của trình tự gene có giá trị cao nhất so với RBSDV và MRDV (giá trị tương đồng nằm trong khoảng 60 – 85% tuỳ gene), mặc dù vậy những giá trị này đều thấp hơn so với các giá trị so sánh giữa các segment tương ứng của RBSDV và MRDV Những so sánh này kết hợp với phân tích sơ đồ cây phả
hệ đều chỉ ra rằng chủng virus mới này là một thành viên khác thuộc tiểu nhóm Fijivirus-2 với tên gọi mới tạm đặt là virus lúa lùn sọc đen dòng 2
Vì các Reovirus gây hại trên lúa không truyền qua hạt giống nên khả năng truyền qua môi giới truyền bệnh rầy được đặc biệt chú ý Một nghiên cứu chi tiết về khả năng truyền SRBSDV đã được thực hiện bởi Zhou et al
(2008) [63] bằng 3 loại rầy, rầy lưng trắng (Sogatella furcifera), rầu nâu (Nilaparavata lugens) và rầy nâu nhỏ (Laodelphax striatellus) Kết quả cho
thấy cả rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ đều có khả năng truyền SRBSDV từ lúa sang lúa với hiệu quả truyền rất cao (100% cây nhiễm bệnh với chỉ 3-4 rầy/cây) Tuy nhiên chỉ có rầy lưng trắng mới có khả năng truyền SRBSDV từ lúa sang ngô Nghiên cứu này cũng cho thấy rầy nâu không thể truyền được SRBSDV
Theo Ou (1985) [40] bệnh lùn táp lá (ragged stunt disease), được gọi là lùn xoắn lá ở Việt Nam, do RRSV gây ra biểu hiện 5 triệu chứng đặc trưng là cây lùn, bộ lá xanh đậm, cứng, lá xoắn vặn, thường phục hồi, một bên mép lá (ở các lá bị xoắn vặn hoặc đang hồi phục) bị rách táp dạng chữ v (ragged) và có thể lan sâu vào gân chính, có các nốt phồng nhỏ mầu trắng chạy dọc gân lá, bẹ
lá và đặc biệt nhiều ở phần cuống lá (tiếp giáp giữa cuống lá và bẹ lá) Trong
số các triệu chứng này, táp lá (ragged) được xem là đặc trưng nhất của bệnh Cũng theo Ou (1985) [40], bệnh lùn sọc đen (black-streaked dwarf disease) do RBSDV gây ra có biểu hiện các triệu chứng sau: Cây lùn, không trỗ bông hoặc nếu trỗ thì chỉ trỗ 1 nửa với hạt bị biến mầu nâu đen, bộ lá xanh đậm, cứng, lá, đặc biệt phần chót lá, có thể xoắn vặn những không bị rách táp, có nhiều nốt
Trang 17phồng trắng sau chuyển màu nâu đến đen chạy dọc gân lá, bẹ lá và thân cây Các quan sát thực tế cho thấy triệu chứng trên các cây lúa bị bệnh điển hình ở các vùng dịch miền Bắc rất giống với bệnh lùn sọc đen Như vậy, mặc dù bệnh lùn lụi miền Bắc có nhiều điểm giống với bệnh lùn xoắn lá ở miền Nam nhưng
2 bệnh này có thể được phân biệt dễ dàng dựa vào 2 đặc điểm chính là táp một bên mép lá và nốt phồng dọc thân Các nốt phồng này là sự sinh sản quá mức
cả về kích thước và số lượng của các tế bào nhu mô của mạch phloem
Hiện nay kỹ thuật chuẩn đoán và phân loại chính xác nhất được công nhận đối với virus thực vật là dựa vào trình tự bộ gene virus Kết quả tìm kiếm trên trên GenBank, phân tích trình tự cũng như phả hệ dựa trên đoạn gien S10 của 4 mẫu virus phân lập từ miền Bắc cho thấy rõ ràng rằng chúng đều là các isolate của cùng 1 virus là SRBSDV (=RBSDV2) Cho tới nay có 2 tên gọi đối với virus này: Southern rice black-streaked dwarf virus (SRBSDV) [40]
a) Những nghiên cứu về Rice black streaked dwarf virus (RBSDV)
Tên khoa học của virus lùn sọc đen là Rice black streaked dwarf virus thuộc họ Reoviridae, giống Fijivirus Ngoài ra RBSDV còn có tên khác như:
Rice black-streaked dwarf fijivirus, Rice black streak virus, Rice streak dwarf virus, Black streaked dwarf Trong tự nhiên, RBSDV gây hại trên lúa, ngô,
lúa mỳ, lúa mạch và một số loài cỏ dại như cỏ lồng vực nước (Echinochloa
crus-galli var frumentacea và cỏ mần trầu (Digitaria sanguinalis) theo Iida,
(1969) [27]; Ishii and Yoshimura, (1969) [26]
Hiện tại có khoảng 54 loài cây thuộc họ hòa thảo đã được tìm thấy có
sự xuất hiện và gây hại của RBSDV Shinkai, (1962) [52]; Theo Shikata (1974) [50], Lee JY và cộng sự (1977) [31], Ou (1985) [40], những loài ký
chủ chủ yếu của RBSDV là: Avena sativa, Hordeum vulgare, lúa nước (Oryza
sativa), Triticum aestivum, Alopecurus aequalis, Alopecurus japonicum, Beckmannia syzigachne, Cynosurus cristatus, Digitaria adscendens
Trang 18(Digitaria ciliaris), Digitaria violascens, Cỏ lồng vực (Echinochloa
crus-galli), Eragrostis multicaulis, Glyceria acutiflora, Lolium multiflorum, Lolium perenne, Panicum miliaceum, Phleum pratense, Poa annua, Secale cereale, Setaria italica, Setaria viridis, Triticum aestivum, Trisetum bifidum
và ngô (Zea mays), RBSDV có thể xâm nhiễm hầu hết các giai đoạn của cây
lúa từ mạ cho đến giai đoạn đẻ nhánh, giai đoạn làm đòng và giai đoạn trỗ RBSDV chỉ gây hại hạn chế ở khu vực Đông Á bao gồm các nước: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc [66] Bệnh lùn sọc đen có các triệu chứng chung như cây bị nhiễm bệnh thường còi cọc, bộ lá mầu sẫm, mọc nhiều chồi Cây nhiễm bệnh có những nốt phồng chạy dọc gân lá, bẹ và thân cây lúa sau khi bóc lớp bẹ bên ngoài Những nốt phồng tăng nhanh ở vỏ cây có mẫu xám hoặc nâu sẫm với độ dài khác nhau [38]
Triệu chứng thể hiện trên cây lúa nhiễm bệnh thường còi cọc, bộ lá chuyển mầu tối, xoắn lại ở chóp những lá còn non, xuất hiện những nốt phồng mầu trắng sáp dọc theo gân lá và bẹ lá, sau đó nốt phồng chuyển mầu nâu tối
và hình thành nên những vệt sọc mầu đen
Trên ngô thường thể hiện triệu chứng cây lùn, bộ lá chuyển mầu tối, xuất hiện những nốt phồng mầu trắng trên gân lá và bẹ lá, cuối cùng chuyển mầu nâu tối RBSDV có dạng hình cầu, đường kính 60 – 120 nm [50]; [51] Dưới kính hiển vi điện tử, mặt cắt của siêu cầu gồm hai loại hạt: loại hạt thứ nhất có đường kính là 50 – 55 nm, hạt còn lại có đường kính là 75-85 nm Tổng kích thước của genome là 23.898 kb Genome gồm 10 phần (S1-10); phần lớn nhất có kích thước 3.998 kb; phần lớn thứ hai là 3.385 kb; thứ ba là 3.31 kb; thứ tư là 3.31 kb; thứ năm là 3.1 kb; thứ sáu và những phần còn lại
là 2.45 kb
Thể vùi của virus được tìm thấy trong các tế bào nốt phồng, thể vùi của virus RBSDV có dạng hình ống hoặc dạng sợi chỉ và sợi nhỏ xoắn Ngưỡng
Trang 19nhiệt độ mất hoạt tính: Q10 = 50 – 60°C trong 10 phút Ngưỡng pha loãng:
10-3 – 10-4 trong dịch cây và 10-4 - 10-5 trong cơ thể côn trùng mang virus Thời gian tồn tại ở dung dịch là 6 ngày ở nhiệt độ 4°C theo nghiên cứu của Shikatab and Kitagawa , (1969a) [47];
RBSDV được truyền bởi 3 loài rầy nâu nhỏ theo kiểu bền vững tái sinh:
Laodelphax striatellus, Unkanodes sapporonus và Ribautodelphax albifascia
(Unkanodes albifascia) Loài rầy nâu nhỏ Unkanodes sapporonus gây hại chủ
yếu trên ngô, lúa mỳ, lúa mạch Trưởng thành và ấu trùng tuổi nhỏ của các côn trùng môi giới đều nhiễm bệnh được cho cây khỏe khi chúng chích hút Hơn
nữa, Dong et al (1999) [23] đã thông báo rầy nâu Nilaparvata lugens cũng là môi giới
truyền bệnh truyền bệnh RBSDV
Các loài côn trùng môi giới này có khả năng thay đổi khả năng truyền
virus của chúng Rầy nâu nhỏ L striatellus thích trích hút trên cây lúa hơn cây
ngô kể cả ở ngoài đồng ruộng cũng như ở trong lồng thí nghiệm, tuy nhiên tỷ lệ truyền bệnh trên ngô cao hơn trên lúa Thời kỳ ủ bệnh của virus trong cơ thể côn trùng là 7 - 12 ngày, đôi khi kéo dài tới 35 ngày Thời gian chích nạp ngắn nhất là 5 phút, và dài nhất là 30 phút Khoảng một nửa số cá thể côn trùng môi giới có khả năng lây nhiễm bệnh trên lúa sau khi chích hút 1 - 3 giờ [52]
Trưởng thành qua đông và ấu trùng thế hệ đầu tiên của rầy nâu nhỏ L
striatellus đóng vai trò quan trọng trong việc truyền virus Hầu hết các loài
côn trùng môi giới đều giữ virus trong cơ thể chúng trong một thời gian dài Thời kỳ tiềm dục trên cây lúa là 14 - 24 ngày [52] RBSDV không được truyền bởi các tác nhân cơ giới và qua hạt giống
b) Những nghiên cứu về bệnh vius lùn sọc đen phương Nam Southern rice black streaked dwarf virus (SRBSDV)
Virus mới lây lan dịch bệnh tại Trung Quốc được tìm thấy bởi giáo sư Guo-Hui Zhou học Nông nghiệp Quảng châu, Trung Quốc Virus mới lây
Trang 20nhiễm trên lúa được phát hiện vào năm 2001 tại Quận Yangxi tỉnh Quảng Đông gần bờ biển sau đó lan rộng khắp Trung Quốc Virus mới được gọi là virus lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) lây truyền qua môi giới truyền bệnh là rầy lưng trắng (WBPH) được mô tả bởi Zhou, Zhang et al., (2008) [61,63]
Năm 2008, các nhà khoa học Trung Quốc đã phát hiện một loài virus
thuộc giống Fijivirus gây hại trên cây lúa, loài virus mới này được đặt tên là RBSDV-2 (Rice black streak dwarf virus – 2) [61], hoặc Southern rice black-
streaked dwarf virus (SRBSDV) [63] Đặc điểm triệu chứng gây hại của loài
virus này khá giống với triệu chứng do virus RBSDV gây ra và cũng truyền
được qua rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus và thường được tìm thấy trên lúa mùa Tuy nhiên, loài virus mới này lại có thể truyền hiệu quả qua rầy lưng trắng Sogatella furcifera và gây hại chủ yếu trên các giống lúa lai ở các tỉnh
phía Nam Trung Quốc như tỉnh Quảng Đông, tỉnh Hải Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Zhou G.H et al (2010), Trung Quốc cho
biết một số năm gần đây, virus lúa lùn sọc đen phương nam (SRBSDV) đã xuất hiện một bệnh lùn lụi mới trên lúa (Oryza sativa) tại một số vùng ở các
tỉnh Quảng Đông và Hải Nam, miền Nam Trung Quốc Cây lúa nhiễm bệnh biểu hiện các triệu chứng như lùn cây, lá xanh đậm, mặt sau lá hoặc thân có các nốt phồng Một đặc điểm đặc trưng của Fijivirus là tại vùng sinh trưởng của virus trong tế bào thực vật có những tiểu thể virus xếp thành từng dẫy dạng tinh thể có đường kính 70 - 75 nm và khi quan sát dưới kính hiển vi điện
tử băng phương pháp “bản mỏng” sẽ quan sát thấy những cấu trúc dạng hình ống trong nhu mô của tế bào mạch dẫn của cây lúa bị nhiễm bệnh Virus mới
này do rầy lưng trắng, sogatella Furcifera (Hemiptera: Delphacidae), truyền
bệnh Phân tích ds RNA tách chiết từ cây lúa nhiễm bệnh thấy có 10 đoạn mạch thẳng, có kích thước tương tự như virus lúa lùn sọc đen – RBSDV, (kết
Trang 21quả chạy điện di cho hình ảnh giống nhau về số lượng và vị trí các đoạn DNA trên agarose – gel) Phương pháp RT-PCR sử dụng một mồi đơn tương thích với đoạn “trình tự cầu nối” được gắn vào cả 2 đầu - 3’ của dsRNA cho kết quả khuyếch đại được cả RNA – segment 9 và RNS – segment 10 trong bộ gene của virus Kết quả giải trình tự từ sản phẩm tách dòng của RNA – segment 9 và RNA – segment 10 cho một số đặc điểm điển hình của Fijivirus như: hàm lượng GC thấp (34,5% và 35,6%), Trình tự bảo thủ ở cả 2 đầu -5’
và -3’, và cấu trúc gene trên 2 segment cũng tương tự như các thành viên khác của Fijvirus Kết quả phân tích bằng phương pháp BLAST, so sánh với tất cả các trình tự nucleotide lưu giữ trong ngân hàng gene, cho thấy trình tự nucleotide của segment 9 và 10 chỉ do độ tương đồng 88,8% - 74,9% và 67,1% - 77,4%, tương ứng, so với các segment tương ứng của các thành viên khác trong tiểu nhóm Fijvirus -2 đồng thời còn thấp hơn khi so sánh giữa các isolate khác nhau của RBSDV Sơ đồ cây phả hệ thiết lập dựa trên trình tự nucleotide cũng như trình tự aminoacide suy đoán của RNA segment 9 và 10 của virus mới cho thấy virus này nằm vào 1 nhánh mới, độc lập với các thành viên khác trong nhóm Fijivirus Virus mới này cũng đã được phát hiện trên
ngô (Zea mays), cỏ lồng vực (Echinochloa crusglli), juncellus serotinus và flaccidgrass (Pennisetum flaccidum) trong hoặc khu vực xung quanh ruộng
lúa bị bệnh Với những thông tin trên, virus mới này được giả định là một loài mới, với tên gọi virus lúa lùn sọc đen phương nam (SRBSDV), trong tiểu nhóm Fijivirus -2 của nhóm Fijivirus trong họ Reoviridae [62]
Theo báo cáo của viện khoa học Nông Nghiệp Hải Nam - Trung Quốc, tháng 8 năm 2009 đã cho thấy SRBSDV gây hại nặng ở các tỉnh như Hanshou, Taoyuan, Linxiang, Yongzhou, Chenxi, Changsha và Dingcheng Ước tính diện tích bị gây hại khoảng 17.000 ha Những khu vực này bị thiệt hại năng suất đến 70% Thiệt hại về kinh tế dự tính là khoảng 4,9 triệu đô la [61]
Trang 22Tuy nhiên, các kết quả phân tích trình tự gen cho thấy virus gây bệnh không phải là RBSDV mà là một virus mới [63], dựa trên giải trình tự toàn bộ phân đoạn S9 và S10 của một mẫu virus thu tại đảo Hải Nam cũng như phân
tích hiển vi điện tử đã xác định đây là một fijivirus mới trong họ Reoviridae
Các tác giả đã đặt tên cho virus này là virus lùn sọc đen phương Nam (Southern rice black-streaked dwarf virus, SRBSDV) với ám chỉ rằng virus này chỉ xuất hiện ở phía Nam Trung Quốc
Gần như đồng thời nhưng độc lập với Zhou et al., (2008) [61] Zhang et al., (2008) [63] cũng giải trình tự toàn bộ 3 phân đoạn S8, S9 và S10 của một mẫu virus gây bệnh thu ở tỉnh Quảng Đông Mặc dù biết trình tự mẫu virus phân lập gần như đồng nhất với virus lùn sọc đen phương Nam do nhóm nghiên cứu của Zhou công bố nhưng cho rằng vẫn chưa đủ cơ sở về phân bố của virus, nhóm của Zhang đã đặt tên virus là virus lùn sọc đen dòng 2 (Rice black-streaked virus 2, RBSDV2) với ám chỉ rằng virus gây bệnh có quan hệ gần gũi nhất với virus lùn sọc đen RBSDV truyền thống cũng như tạo triệu chứng tương tự với bệnh do virus lùn sọc đen truyền thống gây ra
Rầy lưng trắng có phổ ký chủ rộng bao gồm hầu hết cây trồng nông nghiệp quan trọng thuộc họ hòa thảo Miền Nam Trung Quốc không chỉ là vùng di trú của rầy lưng trắng mà còn là khu vực chúng qua đông Shen et al., (2003) [46]; Wang & Zhai, (2004) [59] Sự bùng phát quần thể rầy lưng trắng có thể kéo theo
sự bùng phát dịch bệnh lùn sọc đen ở miền Nam Trung Quốc và các nước lân cận khu vực châu Á
Mới đây hơn, Wang et al., (2010) [58] đã giải trình tự toàn bộ các phân đoạn còn lại của 2 mẫu virus thu tại Quảng Đông và Hải Nam ở trên Các phân tích phân tử dựa trên toàn bộ bộ gen của 2 virus này đã xác
nhận lần nữa rằng virus gây bệnh là loài mới thuộc chi Fijivirus và tên
Trang 23thích hợp cho virus gây bệnh là virus lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) như đề xuất của Zhou et al., (2008) [63]
Bệnh virus có triệu chứng thay đổi tuỳ theo tuổi cây trồng khi nhiễm bệnh Cây lúa bị nhiễm bệnh ở giai đoạn mạ cây lùn, lá cứng và có thể dẫn đến chết Ở giai đoạn đẻ nhánh Cây lùn, chồi có triệu chứng phồng to, thân kéo dài, nhánh và rễ sưng phồng có các u sáp hoặc galls trên thân cây Virus được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chúng tôi thấy rằng virus này chủ yếu lây truyền qua rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ cũng có khả năng truyền virus những không có hiệu quả, còn rầy nâu không truyền Virus này lây nhiễm qua các ký chủ phụ bao gồm: Ngô, Echinochloa, Juncellus, Pennistetum và Chinesesorghum của Trung Quốc [62] Những nghiên cứu gần đây của Zhou
et al., 2010 cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ở Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam đang phát triển mạnh
Điều đặc biệt là virus này rất thích hợp ở nhiệt độ cao Do vậy mà cây lúa được gieo trồng vào mùa hè và sử dụng giống lai có nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng Cách đây không lâu, các khu vực trồng lúa và ngô ở các tỉnh phía Bắc
Việt Nam đã phát hiện thấy sự phá hại của loại virus này Heong K.L and
Choi I.R (2010) [29]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu LSĐPN tại Việt Nam
Vụ lúa mùa năm 2009 ở các tỉnh phía Bắc xuất hiện hiện tượng lúa bị “lùn lụi” về sau gọi là “Vàng lùn, lùn xoắn lá” gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lúa gạo Triệu chứng gây hại được ghi nhận đầu tiên ở Nghệ An vào tháng 8/ 2009
a) Nghiên cứu tại Trung tâm bệnh cây nhiệt đới, Đại học Nông nghiệp Hà
Nội
Theo Hà Viết Cường và cộng sự (2009), ngày 27/9/2009, trung tâm Bệnh cây nhiệt đới (ĐHNN Hà Nội) đã nhận được yêu cầu của trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu 1 (thuộc Cục BVTV) yêu cầu thử các mẫu lúa thu
Trang 24thập tại Nghệ An (60 mẫu) Các thử nghiệm ELISA với kháng huyết thanh do
TT sản xuất cũng như RT-PCR với mồi đặc hiệu do TT thiết kế đã cho thấy các mẫu lúa bệnh thu tại Nghệ An không bị nhiễm 2 virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá như ở miền Nam
Tuy nhiên khi chuẩn bị mẫu bệnh cho kiểm tra ELISA, nhóm nghiên cứu đã quan sát thấy 2 đặc điểm không bình thường (ngoài các đặc điểm giống như cây bị bệnh lùn xoắn lá lá bị nhiễm bởi virus Rice ragged stunt virus (RRSV) ở miền Nam như cây lùn, lá xanh đậm, ngọn lá xoắn vặn) (hình 2.1)
(1) Cây bệnh không biểu hiện triệu chứng táp và biến vàng tại một bên của mép lá ở các lá bị xoắn vặn Đây là một triệu chứng luôn được quan sát thấy trên cây bị bệnh lùn xoắn lá bị nhiễm bởi virus RRSV
(2) Có nhiều nốt phồng nhỏ màu trắng tới nâu chạy dọc gân của thân cây lúa sau khi bóc lớp bẹ bên ngoài Các nốt phồng này đặc biệt nhiều ở phần lóng sát gốc
Hình 2.1 Triệu chứng bệnh LSĐ tại miền Bắc
(Nguồn Hà Viết Cường và cộng sự 2009)
Các mẫu được thu thập tiếp theo tại Nam Định, Thanh Hóa, Sơn La cũng đều có triệu chứng tương tự mẫu Nghệ An
Dựa trên 2 triệu chứng trên, đặc biệt là triệu chứng thứ 2, tác nhân
gây bệnh đã được dự đoán là do một reovirus (họ Reoviridae) gây ra Các
Trang 25triệu chứng này khá giống với 2 reovirus là Rice black streaked dwarf virus (RBSDV) và Southern rice black streaked dwarf virus (SRBSDV) = Rice black streaked dwarf virus2 (RBSDV2) Để kiểm tra liệu mẫu lúa bệnh miền Bắc có bị nhiễm RBSDV và SRBSDV hay không, một cặp mồi đặc hiệu đồng thời cho cả 2 virus này đã được thiết kế dựa trên vùng bảo thủ gen S10 của tất cả các isolates sẵn có của 2 vi rút trên ngân hàng Gen
Kết quả kiểm tra RT-PCR cho thấy các mẫu bệnh thu thập tại Nghệ An
và một số địa phương miền Bắc như Thanh Hóa, Nam Định, Sơn La đều cho phản ứng RT-PCR dương đối với mồi đặc hiệu RBSDV và SRBSDV nhưng không phản ứng với mồi đặc hiệu virus lùn xoắn lá (RRSV)
Bốn sản phẩm RT-PCR đại diện cho Nghệ An, Nam Định, Thanh Hóa
và Sơn La đã được giải trình tự trực tiếp Kết quả phân tích trình tự và phả hệ cho thấy cả 4 mẫu này đều là virus lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) Ngoài ra, nghiên cứu hiển vi điện tử cũng phát hiện thấy phân tử virus và thể vùi của virus trong mô cây lúa bị bệnh (hình 2.2)
Hình 2.2 Ảnh hiển vi điện tử cho thấy phân tử virus và thể vùi virus
trong mô bệnh LSĐ (Hà Viết Cường và cộng sự 2009)
Dựa trên kết quả này, Trung tâm đã bước đầu kết luận bệnh lúa lùn lụi tại miền Bắc là do SRBSDV gây ra [9]
b) Nghiên cứu tại Viện Bảo vệ thực vật
Trong cùng thời gian, các nghiên cứu tương tự cũng được tích cực thực hiện tại Viện Bảo vệ thực vật Nhóm nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật
Trang 26cũng hợp tác chặt chẽ với chuyên gia Trung Quốc và Pháp để xác định tác nhân gây bệnh dựa trên RT-PCR, giải trình tự và hiển vi điện tử (Ngô Vĩnh Viễn và cộng sự., 2009) [15]
Đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Bảo vệ thực vật trong hai năm 2010-2011 đã thu được một số kết quả: căn cứ vào đặc điểm triệu chứng bệnh trên cây, đặc điểm hình thái và kích thước tiểu thể virus trên kính hiển vi điện tử, kết quả lây bệnh nhân tạo nhằm khẳng định nguyên tắc Koch, cũng như giải trình tự gen Kết quả phân tích trình tự gen của các sản phẩm PCR từ mẫu lúa thu thập tại Nghệ An, Nam Định, Thái Bình và Quảng Ninh đã ghi nhận 98 - 99% tương đồng với chủng virus mới đang gây hại tại Trung Quốc có tên Southern rice black-streaked dwarf virus (SRBSDV) trong khi chỉ 65 - 83% tương đồng với các virus khác thuộc nhóm Fijivirus Kết quả phân tích gia phả cũng cho thấy các trình tự gene của Việt Nam nằm cùng nhóm với phân nhóm Fijivirus-2 và có quan hệ gần nhất với SRBSDV - chủng virus mới đang được các nhà khoa học Trung Quốc đề xuất là một thành viên mới của phân nhóm Fijivirus-2, nhóm Fijivirus, họ Reoviridea, nhóm nghiên cứu Viện BVTV cũng xác định tác nhân gây bệnh là virus lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV)
Đồng thời, Viện BVTV đã tiến hành các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo đối với rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ tại 3 nhóm nghiên cứu khác nhau Các kết quả đều ghi nhận rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh Sau khi LBNT khoảng 10 ngày, một số cây lúa đã biểu hiện các triệu chứng như thấp lùn, lá xanh đậm, xoắn lá, ở mặt sau lá và bẹ lá có các u trắng chạy dọc gân Kết quả LBNT bằng rầy nâu nhỏ và rầy nâu chưa ghi nhận cây lúa nào biểu hiện triệu chứng Kết quả giám định bằng RT-PCR với rầy lưng trắng thu thập trên ruộng bệnh, rầy lưng trắng sử dụng trong các thí nghiệm LBNT và các cây lúa biểu hiện triệu chứng bệnh sau LBNT đều cho kết quả dương tính với cặp mồi RBSDV-S10F2/R2 Kết quả này chứng minh có đủ cơ sở để kết
Trang 27luận bệnh vi rút lúa lùn sọc đen phương Nam đang gây hại ở Trung Quốc đã phát sinh và gây hại trên lúa và ngô ở các tỉnh phía Bắc nước ta trong vụ mùa
và vụ đông vừa qua Rầy lưng trắng là một loại môi giới chính truyền và lây
lan bệnh trên đồng ruộng
Song song với các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo, hạt giống của 5 loại giống bị bệnh ở Nghệ An được thu thập ngay trên các ruộng bệnh và gieo trồng tại nhà lưới của Viện BVTV Sau 88 ngày theo dõi vẫn không ghi nhận được triệu chứng của bệnh Trong khi đó kết quả lây bệnh bằng rầy lưng trắng như đã nêu ở trên chỉ sau 10 ngày đã thu được triệu chứng bệnh Điều này chứng tỏ bệnh không lây truyền qua hạt giống
Không chỉ vậy các nghiên cứu tại Viện BVTV còn cho thấy hiệu quả truyền bệnh lùn sọc đen của rầy lưng trắng đạt 30,9% đối với pha rầy non và 60% đối với pha trưởng thành Thời gian ủ bệnh trong cơ thể rầy khoảng 10 ngày và thời gian ủ bệnh trong cây là 7 - 24 ngày [16]
Tổng quát virus lùn sọc đen phương Nam gây hại ở Việt Nam như sau:
- Triệu chứng của bệnh
• Trên lúa: Theo Thông tư số 58/2010/TT-BNNPTNT ngày 5/10/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Cây lúa bị bệnh có triệu chứng chung là thấp lùn, lá xanh đậm hơn bình thường Lá lúa bị bệnh có thể xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá Gân lá ở mặt sau bị sưng lên Khi cây còn non gân chính trên bẹ lá
cũng bị sưng phồng
Từ giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây bị bệnh thường nảy chồi trên đốt thân và mọc nhiều rễ bất định Trên bẹ và lóng thân xuất hiện nhiều u sáp và sọc đen Khi bị bệnh nặng cây lúa không trổ bông được hoặc trỗ bông không thoát và hạt thường bị đen Ở giai đoạn trỗ bông, triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ở tất cả các dảnh trên cùng một khóm, hoặc chỉ ở một số dảnh, các dảnh khác vẫn phát triển bình thường [12]
Trang 28• Trên ngô: triệu chứng chung là cây thấp lùn, lá xanh đậm, một số lá xoắn
và rách, đặc trưng nhất là ở mặt sau lá có các u sần nổi gồ chạy dọc theo gân lá
- Trong điều kiện vụ mùa năm 2009 tại các tỉnh phía Bắc, lúa phát triển đến giai đoạn làm đòng bình thường nhưng sau đó không trỗ bông được Các giống lúa bị nặng bao gồm lúa lai và lúa thuần có nguồn gốc từ Trung Quốc Đặc biệt các ruộng lúa sản xuất hạt giống lúa lai ở cả dòng bố và mẹ đều nhiễm bệnh nặng [5]
- Về phân bố của bệnh (Báo cáo của Cục BVTV ngày 23/11/2009 tại giao ban trực tuyến)
• Trên lúa: bệnh được ghi nhận gây hại từ vùng Duyên hải, đồng bằng sông Hồng đến các tỉnh vùng núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, từ vùng ven biển huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đến vùng giáp biên giới Việt - Lào như huyện Kỳ Sơn Tuy nhiên bước đầu ghi nhận 3 tỉnh: Nghệ An, Nam Định và Thái Bình bị bệnh nặng nhất Các giống lúa như: Q.ưu 1, Nhị ưu 838, TH3-3, Bắc Thơm 7, Q5 mẫn cảm với bệnh hơn các giống khác và có nhiều diện tích không cho thu hoạch Các giống lúa cổ truyền như nếp cái hoa vàng, tám xoan có tỷ lệ cây bị bệnh thấp [5]
• Trên ngô: theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Bảo vệ thực vật, đến ngày 23/11/2009 đã có 16 tỉnh phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra ghi nhận triệu chứng tác hại của bệnh Ngô vụ đông trồng trên đất lúa trong khu vực lúa bị bệnh đều xuất hiện cây ngô bị bệnh [5]
Ngoài các kết quả nghiên cứu trên đây chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về virus này ở Việt Nam
2.3 Những nghiên cứu về RLT (môi giới truyền bệnh LSĐPN)
2.3.1 Những nghiên cứu về RLT trên thế giới:
a) Phân bố
Rầy lưng trắng có phân bố rộng rãi ở các vùng cận Đông, Đông và Tây
Trang 29Thái Bình Dương và Úc theo Asche, M and Wilson, M.R (1990) [18] Cụ thể như sau:
Châu Á: Là châu lục mà rầy lưng trắng có mặt ở nhiều nước nhất như: Afganistan, Banglades, Blutan, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Iran, Indonesia, Nhật Bản, Triều Tiên, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Myanma, Nepal, New Guinea, Pakistan, Philippines, Ả Rập Saudi, Srilanca, Thái Lan, Việt Nam
Châu Âu: Liên bang Nga và các vùng thuộc Liên Xô cũ, Siberi
Tây bán cầu: Cuba, Guana, Surimane
Khu vực Thái Bình Dương: Úc, Belaw, Đảo Caroline, Fiji, Guam Marshall, Micronesia, New Caledonia, Bắc Mariana, Papa NewGuinea, Solomon, Vanuatu
b) Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng
Trứng rầy lưng trắng thường được đẻ ở phần mô bẹ lá hoặc gân chính của lá lúa thành từng ổ Pathak (1973) [41] kết luận rằng số trứng trên một ổ
và số trứng trung bình của một con cái cũng thay đổi rất nhiều tuỳ năm và tuỳ từng thế hệ Rầy nâu và rầy lưng trắng có khoảng 1728 đến 1984 noãn bào trên một cá thể cái có thể chín [36]
Ngay sau khi nở ra rầy lưng trắng non đã bắt đầu gây hại chúng rất hoạt động và nhảy khi bị khua động nhẹ nhất, nó đã trải qua 5 tuổi trong 14 ngày theo Suenaga (1963) [55] thời gian trung bình của rầy non là 17 ngày ở 200C,
13 ngày ở 25oC và 12 ngày ở 28 – 30oC còn Singh (1989) [51] lại kết luận thời gian rầy non ở Ấn Độ là 16 ngày (điều kiện trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng) Theo Mochida (1964) [36]; nhiệt độ và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa trong giai đoạn rầy non đã ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh sản của rầy lưng trắng, loại hình cánh ngắn chịu ảnh hưởng của môi trường và từng năm Ở Ấn Độ một con rầy cái đẻ trung bình 164 trứng (Vaidya and Kalode, 1981) [57], khoảng 300 – 350 trứng ở Nhật Bản Shikata, (1974) [50]
Trang 30và 247 trứng ở Philippines còn ở Trung Quốc rầy lưng trắng cánh dài đẻ trung bình ở thế hệ đầu tiên đến thế hệ thứ 3 là 118, 70 và 37 trứng tương ứng Liu
et al., (1982) [32]
Theo Pathak (1973) [41] thời kỳ tiền đẻ trứng thay đổi từ 3 – 10 ngày ở điều kiện đồng ruộng Shikata, 1974 [50] nêu lên thời kỳ trước đẻ trứng thay đổi từ 3 – 8 ngày ở nhiệt độ trong phòng Denno et al (1994) [21] kết luận thời gian tiền đẻ trứng của rầy cái cánh ngắn là 3 ngày và rầy cái cánh dài là 4 ngày,
số trứng đẻ của cái cánh dài trung bình là 400 trứng, cái cánh ngắn là 500 trứng Kisimoto (1965) [30], Denno (1994) [21] thông báo rằng rầy cái cánh ngắn sống càng lâu đẻ càng nhiều, giữa sống lâu và đẻ nhiều có tương quan dương, một cá thể rầy cái lưng trắng có thể sống tới trên 30 ngày đẻ tới hơn
600 trứng
Theo Denno et al., (1994) [20] tỷ lệ cá thể hoàn thành phát dục (từ tuổi
1 đến trưởng thành) tỷ lệ nghịch với mật độ nuôi Kisimoto (1956 & 1965) [30] thấy rằng trong phạm vi từ 0 – 10 con nếu tăng mật độ nuôi thì thời gian rầy non léo dài ra
Thời gian sống của trưởng thành rầy lưng trắng phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ Theo Suenaga (1963) [55] ở 200C trưởng thành sống trung bình 20 ngày, ở 250C là 16 ngày và 28 – 300C là 9 ngày trong khi đó ở Ấn Độ thời gian sống trung bình của rầy đực là 4.1 ngày và cái là 3.6 ngày (điều kiện ngoài đồng), 9 và 8 ngày tương ứng (điều kiện phòng thí nghiệm) Catindig (1993) [19] kết luận về thời gian sống của con đực là 6 ngày con cái là 6.5 ngày
Theo Zhu X.W (1985) [64] ở Yiang (Trung Quốc) thì rầy lưng trắng
ưa thích cây lúa ở giai đoạn còn non, một năm có thể phát sinh 5 thế hệ và mật độ đạt đỉnh cao vào thời gian từ giữa đến cuối tháng 7 hàng năm Còn Theo Samsul (1971) [45] thì quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào giai đoạn lúa đẻ nhánh
Trang 31- Sức sinh sản của dạng hình cánh ngắn của rầy lưng trắng (và cả rầy nâu) chịu ảnh hưởng của các nhân tố môi trường như là mật độ, dinh dưỡng của cây chủ, chu kì chiếu sáng, và nhất là mật độ rầy non của chúng (Kisimoto, 1965 [29]; Matsumura, (1996b) [34]
c) Biến động quần thể rầy lưng trắng
Henrichs (1994) [25], Ram, (1986) [42], rầy lưng trắng thường có số lượng lớn vào đầu vụ Quần thể rầy lưng trắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh đến trước khi phân hoá đòng (khoảng 7 - 8 tuần sau khi cấy), sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ
Số lượng rầy lưng trắng cao vào giai đoạn đầu của cây lúa có thể là do
sự có mặt của một số aminoaxit Tuy nhiên biến động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vàop nhịêt độ, độ ẩm làm ảnh hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng theo Liu, (1995) [32]
Theo Zhu, (1985) [64], ở Yiang Trung Quốc rầy lưng trắng có 5 thế hệ một năm, đỉnh của mật độ quần thể từ giữa đến cuối tháng 7 Ở Hiroshima (Nhật Bản) trong một năm rầy lưng trắng có hai thế hệ trên lúa và ba thế hệ
trên cỏ hoà thảo Graminaceous Quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào thế
hệ thứ 2 khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng lúa
Theo Misra and Prasad, (1985) [35], ở Praden (Ấn Độ) quần thể rầy lưng trắng có số lượng cao nhất vào cuối tháng 10 Giữa mật độ quần thể rầy lưng trắng và thời gian chiếu sáng có mối tương quan chặt chẽ, nhiệt độ cực đại trung bình và mật độ quần thể có mối tương đương, nhưng giữa mật độ quần thể rầy lưng trắng và ẩm độ lại có tương quan âm
Nghiên cứu của Ram, (1986) [42] cho kết quả: quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 thế hệ Mặc dù số lượng nhập
cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu nhưng tốc độ quần thể lại thấp, chỉ tăng được 4 lần trong 3 thế hệ trong khi quần thể rầy nâu tăng 8 lần ở mỗi
Trang 32thế hệ Do tốc độ tăng trưởng thấp nên rầy lưng trắng hiếm khi đạt tới đủ số lượng có thể gây thiệt hại cho kinh tế đối với cây lúa
• Con đường di trú hàng năm của rầy
Một vài nghiên cứu trước đây có thể đánh giá nguồn gốc của sự di cư qua 2 bước bằng việc sử dụng phân tích 2 hoặc 3 chiều ngược quỹ đạo Sogawa, (1994) [53]; Otuka et al., (2005a,b) [39]
Theo các tác giả thì con đường di cư của rầy lưng trắng ở khu vực Châu Á có điểm khởi đầu thường là ở miền Bắc của Việt nam (Theo như một
số tài liệu khác thì điểm khởi đầu của con đường di cư của rầy lưng trắng ở khu vực Châu Á còn có thể là ở miền Trung của Việt Nam, cũng có thể ở tỉnh Hải Nam của Trung Quốc, Luzon của Philippine) Rầy lưng trắng bắt đầu di
cư từ miền Bắc Việt Nam vào giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 Nơi chúng di
cư đến thường là các tỉnh ở phía Nam của Trung Quốc như tỉnh Giang Tây, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam và tỉnh Phúc Kiến Sau khi đến miền Nam Trung Quốc, rầy lưng trắng nhân lên một vài thế hệ rồi tiếp tục di cư đến Nhật Bản vào mùa mưa (cuối tháng 6, đầu tháng 7) khi gió mùa Tây Nam thổi mạnh qua biển Đông Trung Quốc
d) Tình hình sử dụng thuốc với rầy lưng trắng
Tại Nhật Bản, Nagata et al., đã tiến hành so sánh tính mẫn cảm của các quần thể rầy lưng trắng nhiệt đới và ôn đới (nhiệt đới là Thái Lan và Philippines còn ôn đới là Nhật Bản và Đài Loan) với 8 loại thuốc sâu thì thấy rằng các quần thể rầy lưng trắng ở Thái Lan và Philippines mẫn cảm với thuốc sâu hơn các quần thể rầy ở Nhật Bản và Đài Loan hơn nữa chúng sinh
ra tỷ lệ rầy cánh ngắn cao hơn quần thể rầy của Nhật Bản khi được nuôi trên
mạ Điều này cho thấy rằng giữa hai quần thể rầy ôn đới và nhiệt đới có sự khác nhau về sinh lý và sinh thái theo Nagata et al., (1980) [37]
Mani et al cho rằng nếu phun Flufenonxuron (chất ức chế tổng hợp
Trang 33kitin) vào giai đoạn trứng vừa đẻ thì trứng chết rất nhanh, còn nếu phun vào lúc ngay trước khi trứng chuẩn bị nở thì rầy non nở ra sẽ bị biến dạng, nếu xử
lý lúc rầy đang lộ xác thì rầy sẽ kìm hãm lột xác và chết, các cá thể rầy non hoàn thành phát dục thì khi hóa trưởng thành cánh sẽ bị biến dạng rất điển hình Ở nồng độ 600 ppm thì hợp cất có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy Mani et al., (1991) [33] Haq và cộng sự đã tiến hành thử hiệu lực của các loại thuốc có nguồn gốc lân hữu cơ và thảo mộc ở Pakistan với rầy lưng trắng và đã kết luận: Thuốc lân hữu cơ có hiệu lực cao nhất (93,15%) sau đó
là Methidathion (89,16%), Nicotin (61,63%) và cuối cùng là dầu Neem (33,39%) Haq et al., (1991) [24]
Tại Ấn Độ, thí nghiệm thử 7 loại thuốc hóa học đối với rầy lưng trắng
đã có kết luận rầy chết 90 % sau 24 h đối với các loại thuốc Quinaphos, Carbaryl, Chlorpyriphos, Carbosulphal cho hiệu lực kéo dài 5 ngày Sasmal et al., (1984) [44] Ramaraju (1987) [43] cũng đã tiến hành thử 6 loại thuốc với trứng rầy lưng trắng thì chỉ có Phosphamidon 0,05% và Fenvalerate 0,005 %
là có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy cái và duy nhất có Phosphamidon 0,05% là có khả năng diệt trắng Sontakke et al., (1994) [54] cũng có kết luận rằng phun dầu xoan và các chất thuốc trừ sâu Monocrotophos, Chlopyriphos, Carbaryl và Quynaphos (cả đơn chất và hợp chất) đều làm giảm số lượng của rầy lưng trắng ở Orisa của Ấn Độ
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về RLT ở Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về biến động quần thể cũng như khả năng di cư của rầy trên lúa Đinh Văn Thành et al., (2008) [22] cho biết trong những năm gần đây, quần thể rầy trên lúa miền Bắc đã có sự thay đổi đáng kể Tỷ lệ rầy nâu chiếm khoảng gần 70 % vào năm 1981 và đã giảm xuống còn khoảng gần 30 % vào năm 2007 Trái lại, quần thể rầy lưng trắng
đã tăng từ khoảng 35 % (1981) lên tới trên 70 % (năm 2007) Đặc biệt, rầy
Trang 34nâu nhỏ đã tái xuất hiện vào tháng 5 - 6 năm 2008 tại nhiều tỉnh miền Bắc như Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình và Bắc Ninh (Bản tin hoạt động ngành của Bộ NN&PTNT) [2] Okuta (2008) [39], khi nghiên cứu về khả năng di cư của rầy, cho biết quần thể rầy nâu ở đồng bằng sông Mê Kông không di cư ra miền Bắc mặc dù có thể di cư trong một số trường hợp ra miền Trung Trong khi đó quần thể rầy lưng trắng và rầy nâu ở đồng bằng sông Hồng là nguồn di
cư chính sang các tỉnh phía nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam
Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy: Hàng năm rầy lưng trắng thường phát sinh thành 6 - 7 đợt, các đợt rầy thường cách nhau 25 - 30 ngày Trên đồng ruộng rầy lưng trắng thường xâm nhập sớm hơn và mật độ cao hơn
so với rầy nâu Rầy lưng trắng có sức đẻ trứng thấp (biến động từ 49,6 - 57,4 quả) Vòng đời trung bình 21 - 29 ngày trong đó: Trứng 5,5 - 8,6 ngày, rầy non: 12,1 - 16,6 ngày, rầy trưởng thành từ 7,6 - 14 ngày Trên ruộng tỷ lệ rầy cánh dài luôn chiếm ưu thế (76,5 - 85,0%) và tỷ lệ đực cái là tương đương nhau (Giáo trình côn trùng chuyên khoa - đại học nông nghiệp Hà Nội) [1]
Ở Nghệ An kết quả theo dõi của Chi cục BVTV trong những năm gần đây cho thấy rầy lưng trắng là một trong những loại dịch hại chính, thường phát sinh với mật độ cao, gây hại nặng Trong vụ Hè thu - Mùa năm 2009 toàn tỉnh có trên 9.000 ha nhiễm rầy lưng trắng và kéo theo đó là dịch bệnh lùn sọc đen phương Nam phát sinh gây hại trên diện rộng (Chi cục BVTV Nghệ An, Báo cáo tổng
kết công tác BVTV, 2009) [3]
* Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại
Rầy lưng trắng có giai đoạn rầy non 12 - 17 ngày, trưởng thành tiền đẻ trứng 3 - 8 ngày Rầy cái trưởng thành có thể đẻ 150 - 350 trứng và đẻ liên tục trong 6 ngày Rầy trưởng thành có tính hướng quang mạnh Rầy lưng trắng xâm nhập vào ruộng lúa khi gieo được khoảng 30 ngày và thường ít lứa trong
Trang 35một vụ hơn so với rầy nâu Nếu rầy gây hại vào giai đoạn lúa trỗ bông làm cho số lượng bông và chiều dài bông giảm, hạt lúa bị lép, lửng và làm chậm quá trình chín của hạt Rầy lưng trắng còn là môi giới truyền bệnh virus cho lúa theo Nguyễn Đức Khiêm (1995) [8]
Rầy lưng trắng gây hại cùng với rầy nâu, nhưng trong cùng một lứa thì rầy lưng trắng phát sinh, rộ sớm hơn rầy nâu và thường có mật độ cao, gây hại nặng vào giai đoạn lúa làm đòng Cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng thích hợp với điều kiện khí hậu ấm nóng, ẩm độ cao, nắng mưa xen kẽ Ở vùng Đồng bằng sông Hồng một năm có 6 - 7 lứa rầy, quan trọng nhất là lứa rầy vào tháng 4 (vụ xuân) và cuối tháng 8 đầu tháng 9 (vụ mùa) Vụ xuân thường gây hại nặng hơn vụ mùa Rầy lưng trắng hại nặng trên các giống lúa nhiễm rầy, lúa lai; nếu thâm canh cao, bón nhiều đạm, ruộng lúa cấy dày, rậm rạp là điều kiện cho rầy lưng trắng phát sinh, phát triển Rầy lưng trắng phân bố rộng rãi trên khắp các vùng trồng lúa của Việt Nam và trên thế giới, nó có khả năng du nhập và di chuyển rất cao [8]
Theo Ngô Đình Hoan và Chia-hwa (1968) [4] thì rầy trưởng thành chủ yếu hoạt động vào buổi sáng, trưởng thành đực hoạt động sớm hơn trưởng thành cái từ 1 - 2 ngày và trưởng thành cánh ngắn thì hoạt động chậm chạp hơn so với trưởng thành cánh dài Thời gian tiền đẻ trứng là từ 3 - 4 ngày Rầy non mới nở màu xám sống quanh vỏ trứng 3 - 5 phút Rầy non gây hại nặng hơn so với rầy trưởng thành
Tài liệu đúc kết của Trường Đại học Cần Thơ [68] cho biết kết quả quan sát biến động số lượng của rầy nâu và rầy lưng trắng ở ruộng lúa từ khi cấy đến khi chín ở Long Định và Cai Lậy vào mùa mưa năm 1970: Rầy lưng trắng xuất hiện vào thời kỳ đầu rồi rầy nâu phát triển tiếp theo vào thời kỳ sau, từ ngày thứ 14 sau khi cấy số lượng của 2 loài rầy nâu và rầy lưng trắng tăng dần đến thời kỳ lúa trỗ đạt tới 5000 con/15 bụi lúa
Trang 362.4 Các biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng, lùn sọc đen phương Nam
Mặc dù ít các nghiên cứu cụ thể nhưng do virus không truyền qua hạt giống cũng như tiếp xúc cơ học và chỉ truyền bằng vector rầy theo kiểu bền vững tái sinh nên các biện pháp chủ yếu được đề xuất để phòng chống bệnh là tập trung quản lý rầy và bảo vệ cây, đặc biệt mạ và giai đoạn đầu của cây + tránh khỏi sự tấn công của rầy
2.4.1 Vệ sinh đồng ruộng
Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày vùi gốc rạ ngay sau khi thu hoạch để ngăn ngừa lúa chét, lúa tái sinh phát triển; dọn sạch cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước, tàn dư từ cây ngô (các kí chủ trên đồng ruộng) Hạn chế lúa tái sinh để
tận thu thóc, đặc biệt là tại các vùng đã có dịch [12]
2.4.2 Phòng trừ rầy môi giới
a) Né rầy
Theo dõi bẫy đèn để xác định đỉnh cao của các đợt rầy lưng trắng và các loại rầy hại lúa khác, kết hợp với phân tích mẫu rầy để xác định mức độ nguồn rầy mang vi rút Thời điểm gieo mạ, cấy lúa hoặc gieo thẳng có thể né rầy là khoảng 4 đến 6 ngày sau đỉnh cao của rầy vào đèn, nếu thời vụ cho phép [12]
b) Bảo vệ mạ:
Thực hiện gieo mạ tập trung theo vùng, có che phủ ny lon để kết hợp với chống rét cho mạ trong vụ Đông Xuân và có thể che chắn rầy bằng lưới mắt dày hoặc các vật liệu khác trong vụ Hè, Thu, Mùa Không gieo mạ ở gần những ruộng đang có nguồn bệnh, ven đường giao thông, những nơi có nguồn ánh sáng thu hút rầy vào ban đêm [12]
Ở những địa bàn vụ trước lúa bị bệnh lùn sọc đen, xử lý hạt giống bằng thuốc hóa học hoặc sinh học để tạo sức đề kháng của cây mạ đối với rầy và
Trang 37tiến hành phun thuốc trừ rầy nội hấp cho mạ trước cấy 2 đến 3 ngày, khi phát hiện có rầy lưng trắng [12] Trong đó:
Xử lý hạt giống là biện pháp ngâm ủ hạt giống bằng thuốc đặc trị rầy
với công nghệ tạo dạng và các phụ gia đặc biệt Thuốc xử lý hạt được xâm nhập vào trong hạt lúa, lưu dẫn lên thân cây và có tác dụng xua đuổi hoặc làm rầy bị chết khi chưa kịp truyền bệnh đáng kể cho cây lúa Cách làm này có rất
nhiều ưu điểm, đó là (1) Biện pháp an toàn nhất trong các biện pháp hóa học
do thuốc phần lớn đi vào hạt và thân cây lúa, được phân hủy từ từ trong cây trồng Lượng thuốc đi vào môi trường rất ít so với biện pháp phun Khi phun, thuốc khuếch tán vào không khí, rơi xuống đất, nước và đi vào hệ sinh thái ngoài cây lúa một lượng lớn thường hơn 50% Khi xử lý hạt giống, thuốc không trực tiếp tiếp xúc với các sinh vật trú ngụ trên ruộng lúa Rầy chết gián tiếp do chích hút nhựa cây chứa thuốc còn thiên địch hầu như không bị hại
(2) Hiệu quả trừ rầy của biện pháp xử lý hạt giống rất cao dù liều sử dụng cho lượng
giống gieo trên 1 ha thấp hơn nhiều so với liều thuốc phun cho 1 ha Lý do là trên 1
ha canh tác, khi phun lượng thuốc phải rải trên cả 10.000 m2; Còn khi xử lý hạt giống,
vì thuốc chỉ tập trung vào các hạt lúa nên lượng thuốc được “rải” trên chỉ có khoảng
100 m2, ít hơn đến 100 lần Do vậy, nồng độ thuốc trừ rầy trên cây lúa rất cao, và hiệu
quả trừ rầy kéo dài (3) Hạn chế cao rầy gây hại về sau: Với việc xử lý hạt
giống, lượng rầy nhập cư ban đầu bị diệt cơ bản, mật độ rầy trong ruộng lúa cho đến cuối vụ sẽ thấp hơn hẳn khi để chúng sinh sản và phát triển cho các
lứa sau nên cơ hội phải phun rầy gây hại trong vụ sẽ giảm đi nhiều (4) Chi
phí xử lý hạt giống rất thấp so với phun thuốc [11]
Phun trừ rầy bằng thuốc nội hấp làm cho rầy không truyền bệnh được khi thuốc xử lý hạt giống hết hiệu lực Nếu có rầy xâm nhập vào giai đoạn mạ
ở vùng dịch bệnh, cần dùng thuốc nội hấp đặc hiệu, có thời gian phòng trừ kéo dài Nếu có xử lý hạt giống, chỉ cần theo dõi sau gieo 12 - 15 ngày trở đi
Trang 38Theo khảo nghiệm tại Viện BVTV, một số thuốc nội hấp nhóm neonicotinoid có hiệu quả cao cả với rầy trưởng thành và rầy non rầy lưng trắng cũng như rầy nâu
Trong vùng gieo mạ để cấy thuộc vùng có nguy cơ, nên dùng các thuốc này phun trừ cho mạ trước khi nhổ cấy Dùng các thuốc nội hấp trên, nhìn chung sau 12 - 15 ngày mới phải kiểm tra rầy để xử lý tiếp nếu cần Không nên dùng thuốc tiếp xúc trong giai đoạn rầy trưởng thành nhập cư vì thuốc có hiệu lực ngắn (hiệu lực thấp với rầy nhập cư sau phun 3 - 5 ngày)[11];
Ngoài ra, cần thường xuyên thăm đồng, kết hợp theo dõi bẫy đèn để dự báo mật độ rầy trên đồng ruộng, xét nghiệm mẫu rầy để phát hiện nguồn rầy mang vi rút Khi bệnh xuất hiện trên mạ, tùy theo mức độ nhiễm bệnh, tiến hành tiêu hủy cả luống hoặc cả ruộng sau khi đã phun bằng thuốc trừ rầy tiếp xúc; gieo bổ sung mạ nếu thời vụ cho phép [12]
c) Các biện pháp canh tác
Hạn chế sử dụng những giống lúa đã xác định nhiễm bệnh lùn sọc đen nặng, sử dụng các giống kháng (chống chịu) rầy hoặc ít nhiễm rầy lưng trắng
Bón phân cân đối, đặc biệt không bón thừa phân đạm, áp dụng kỹ thuật
“3 giảm 3 tăng” hoặc “ hệ thống thâm canh lúa cải tiến” (SRI) ở nơi có điều kiện để tăng tính chống chịu của lúa đối với dịch hại;
Bố trí cơ cấu mùa vụ lúa hợp lý theo hướng giảm tỷ lệ trà lúa Đông Xuân sớm, Xuân trung Bố trí có thời gian cách ly giữa vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu - Mùa tiếp theo trong khung thời vụ cho phép và không làm ảnh hưởng đến thời
vụ của vụ Đông để cắt cầu nối truyền bệnh và có đủ thời gian để vệ sinh đồng ruộng
2.4.3 Các biện pháp xử lý cây nhiễm bệnh
Thực hiện theo qui định tại Thông tư 58 của Bộ Nông nghiệp và PTNT [12]
a) Trừ bệnh khi lúa xuất hiện bệnh
Trang 39- Giai đoạn lúa từ gieo cấy - đứng cái
Nhổ, vùi những cây lúa bị bệnh, cấy dặm bằng cây lúa khỏe
Căn cứ vào tuổi, pha phát dục, mật độ rầy và điều kiện cụ thể, do cơ quan bảo vệ thực vật (BVTV) địa phương xác định để chỉ đạo phun thuốc chống lột xác đối với rầy tuổi 1, tuổi 2 hoặc nội hấp trên ruộng bị bệnh và phun thuốc các ruộng xung quanh
Chăm sóc để cây lúa mau chóng phục hồi cần bón cân đối phân N-P-K, khi lúa chưa phục hồi ra lá mới, chỉ nên bón phân lân và phân kali;
- Giai đoạn lúa từ phân hóa đòng trở đi
Thường xuyên quan sát kỹ ruộng bị bệnh lùn sọc đen để phát hiện rầy lưng trắng Khi phát hiện rầy lưng trắng mật độ từ 3 con/dảnh trở lên, tiến hành phun ngay bằng thuốc chống lột xác đối với rầy tuổi 1, tuổi 2, hoặc các loại thuốc trừ rầy phù hợp với tuổi rầy, thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, do cơ quan bảo vệ thực vật địa phương xác định
b) Tiêu hủy cả ruộng lúa bị bệnh
- Tiêu hủy cả ruộng lúa bị bệnh chỉ thực hiện khi ruộng lúa bị bệnh nặng, khó có khả năng phục hồi và không còn khả năng cho năng suất Trước khi tiêu hủy phun thuốc trừ rầy bằng loại thuốc tiếp xúc;
- Tiêu hủy và tiến hành cấy, gieo thẳng lại nếu còn thời vụ Trường hợp hết thời vụ gieo cấy, chuyển sang trồng cây khác (ngoại trừ ngô) nếu điều kiện cho phép;
- Tiêu hủy bằng cày vùi phải thực hiện ngay dù không cấy, gieo lại hoặc chuyển sang trồng cây trồng khác
Trang 403 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Trung tâm Kiểm dịch sau nhập khẩu I- Cục Bảo vệ thực vật, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
+ Xã Đông Phong, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành vào vụ mùa 2010 đến vụ mùa năm 2011
3.2 Vật liệu, dụng cụ và hóa chất nghiên cứu
3.2.1 Cây thí nghiệm nhiễm bệnh
Các mẫu bệnh trên lúa bị bệnh lùn sọc đen phương Nam được thu thập
từ các vùng bị bệnh nặng (tỷ lệ bệnh >20%) thuộc xã Đông Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo (LBNT) được tiến hành trên lúa giống Bắc Thơm số 7 (BTs7), môi giới truyền bệnh là rầy lưng trắng và được duy trì trong nhà lưới
Rầy lưng trắng sạch bệnh do Bộ môn thuốc, Viện Bảo vệ thực vật cung cấp
3.2.4 Dụng cụ, hóa chất và thiết bị nghiên cứu
Dụng cụ phục vụ cho thu mẫu rầy và bố trí thí nghiệm gồm: công tơ hút rầy, ống tuýp sạch, lồng chụp mika, chậu vại cấy lúa, ống nghiệm, lồng chụp lưới, khay gieo mạ…
Nguyên liệu, hóa chất và các dụng cụ phục vụ cho công tác kiểm tra tác