BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘINGUYỄN NGỌC TUẤN NGHIÊN CỨU HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG TRỪ RẦY LƯNG TRẮNG SOGATELLA FURCIFERA HORVATH H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC TUẤN
NGHIÊN CỨU HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG TRỪ RẦY LƯNG TRẮNG
(SOGATELLA FURCIFERA HORVATH) HẠI LÚA CẤY
TRONG VỤ MÙA 2010 TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS NGUYỄN VĂN ĐĨNH
HÀ NỘI – 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là những nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu này là trung thực, chưa được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và động viên của gia đình và bạn bè
Với tất cả tấm lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh, người đã luôn dành cho tôi những chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học, Viện đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã có những sự giúp đỡ quý báu trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và động viên của Ban giám đốc, các cán bộ nhân viên Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thọ Khang, các cán bộ Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, Chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, các lãnh đạo địa phương và bà con nông dân nơi tôi tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 52.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC
13
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
Trang 62.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 17
3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA
ĐIỂM NGHIÊN CỨU
27
3.3.2 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng
trừ rầy lưng trắng
30
4.1 THÀNH PHẦN RẦY HẠI THÂN LÚA VÀ DIỄN
BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG TRẮNG TRONG VỤ MÙA
2010 TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
35
Trang 74.1.1 Thành phần rầy hại thân lúa một số tỉnh vùng đồng
4.2 THỬ NGHIỆM HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG CHỐNG RẦY
4.2.2 Thử nghiệm hiệu lực của các loại thuốc BVTV phòng
chống rầy lưng trắng ngoài đồng ruộng tại một số tỉnh đồng
Trang 81 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa được coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới, trong đó có khoảng 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1 phần 2 khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số trên thế giới
Hiện nay, vấn đề an ninh lương thực đang được nhiều nước trên thế giới đặt lên nhiệm vụ hàng đầu Ở nước ta trong các cây lương thực, cây lúa chiếm một vị trí quan trọng nhất góp phần đảm bảo an ninh lượng thực quốc gia Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, cho đến cuối năm 2010, sản lượng lúa gạo ở Việt Nam đạt khoảng 39,9 triệu tấn
Để đạt được sản lượng này, rất nhiều tiến bộ khoa học trong thâm canh cây lúa đã được áp dụng, hàng loạt các giống cây trồng mới có năng suất cao đã
ra đời, các kỹ thuật mới trong canh tác như mật độ gieo trồng, sử dụng hiệu quả phân bón, gieo cấy đồng loạt,… đang dần thay thế cho canh tác cổ truyền, các vùng chuyên canh rộng lớn đã hình thành, thay thế cho phương thức đa canh,…
Tuy nhiên, cũng chính việc thâm canh, tăng vụ tại các vùng trồng lúa trọng điểm đã tạo điều kiện cho các loại dịch hại trên cây lúa phát triển và bùng phát thành dịch Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tái phát, song chủ yếu là do sử dụng thuốc hoá học quá nhiều, lại không đúng liều lượng, cũng có thể không đúng cách Trần Quang Hùng (1999) [12]
Theo Cục Bảo vệ thực vật, trong những năm 1999 – 2003, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408.908,4 ha, trong đó miền Bắc là 213.208,8 ha, miền Nam là 195.699 ha Năm 2006 tại các tỉnh thành phía Nam, tổng diện tích nhiễm rầy toàn vụ là 200.039 ha
Trang 9chiếm 12,8% tổng diện tích gieo trồng Như vậy, diện tích lúa bị hại và hại nặng do rầy gây ra xếp hàng thứ ba trong chín loài dịch hại lúa chủ yếu Thời gian gần đây, đối tượng rầy lưng trắng đã trở thành dịch hại lúa chủ yếu và là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất tại các tỉnh trồng lúa phía Bắc vì ngoài việc chích hút gây hại trực tiếp, rầy lưng trắng còn là môi giới truyền bệnh virus lùn sọc đen cho cây lúa Cũng theo số liệu từ Cục Bảo vệ thực vật, vụ mùa năm 2009 tại 19 tỉnh thành ở phía Bắc, diện tích nhiễm bệnh lùn sọc đen là 42.385 ha ; vụ Đông Xuân năm 2010, bệnh lùn sọc đen
đã phát sinh tại 28 tỉnh thành phố ở Bắc Bộ và Trung Bộ, diện tích nhiễm bệnh là 28.682,3 ha Những thiệt hại do bệnh lùn sọc đen gây ra là rất nguy hiểm, lên đến hàng trăm tỷ đồng
Theo Reissig Henrichs (1993) [33], sự gia tăng về số lượng và thành phần nhóm rầy hại thân do nguyên nhân mở rộng diện tích trồng lúa, tạo điều kiện cho rầy phát tán và lây lan trên diện rộng Tăng số vụ lúa trong năm sẽ tạo điều kiện cho rầy phát triển thành dịch; sử dụng nhiều giống mới, thay giống liên tục sẽ làm phát sinh nhiều loài rầy mới gây hại mạnh hơn Ngoài ra, rầy lưng trắng và rầy xám cũng thường xuyên xuất hiện trên các giống, lúa đặc biệt trên các giống nhiễm rầy nâu và chúng được coi là những loài dịch hại quan trọng đối với vùng trồng lúa nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á
Theo các tác giả Nguyễn Thị Me, Nguyễn Trường Thành, Đinh Văn Thành, Hoàng Công Điền, Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Văn Xiêm (2011) [17], khi nghiên cứu sử dụng một số thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưng trắng – môi giới truyền bệnh lùn sọc đen phương Nam tại Nghi Lộc, Nghệ An, đã chỉ ra rằng: trong các sản phẩm thí nghiệm chưa có sản phẩm nào có tác dụng phòng cũng như trị được bệnh virus lúa lùn sọc đen Có thể nói, rầy lưng trắng là đối tượng gây hại rất nguy hiểm trên đồng ruộng
Trang 10Tại miền Bắc Việt Nam, trong một năm, rầy lưng trắng gây hại cả hai
vụ, nhưng mức độ gây hại ở vụ Mùa thường cao hơn vụ Xuân, Có thể nói rằng, những hậu quả do rầy lưng trắng gây ra hiện đang là vấn đề mang tính thời sự, nhóm rầy hại thân nói chung và rầy lưng trắng nói riêng, đang được
sự quan tâm rất lớn của các nhà bảo vệ thực vật, việc đi sâu nghiên cứu về rầy lưng trắng và tìm ra biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý, góp phần tích cực cho công tác BVTV đạt hiệu quả cao, đồng thời đưa ra được những khuyến cáo trong việc phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa là một việc làm hết sức cần thiết Mặc dù vậy, các nghiên cứu về hiệu lực của thuốc BVTV trong công tác phòng trừ đối với rầy lưng trắng tại Việt Nam là chưa thực sự nhiều, chủ yếu là các nghiên cứu đối với rầy nâu hoặc những nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng
Để góp phần làm cơ sở cho biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng, đồng thời cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học góp phần đề xuất quy trình quản
lý tổng hợp đối với rầy lưng trắng hại lúa, được sự nhất trí của Viện Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Côn trùng - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Nguyễn Văn Đĩnh, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) hại lúa cấy trong vụ mùa năm 2010 tại đồng bằng sông Hồng ”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng hại lúa cấy (trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng), tìm ra loại thuốc BVTV phòng trừ đạt hiệu quả cao
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
Trang 11Xác định mật độ rầy lưng trắng hại lúa cấy vụ mùa 2010 tại Hà Nam, Nam Định, Thái Bình
Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng trong phòng thí nghiệm
Đánh giá hiệu lực ngoài đồng ruộng một số loại thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp các thông tin về diễn biến và quy luật phát sinh gây hại của rầy lưng trắng hại lúa, từ đó có thể tìm ra biện pháp phòng chống kịp thời khi mật độ vượt quá ngưỡng kinh tế, làm cơ sở để góp phần vào xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp rầy lưng trắng hại lúa cấy
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu về hiệu lực của thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng, góp phần tích cực trong công tác chỉ đạo bảo vệ sản xuất, phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa đạt hiệu quả cao, đồng thời, đưa ra khuyến cáo phun thuốc BVTV phòng trừ rầy lưng trắng ở giai đoạn nào, loại thuốc
gì và nồng độ bao nhiêu là đem lại hiệu quả cao
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Hàng năm thế giới bị thất thu trên 210 triệu tấn thóc vì sâu bệnh và
cỏ dại, trong đó, sâu hại là nguyên nhân quan trọng nhất, khoảng 26,7% sản lượng thóc bị mất vì sự phá hại của các loài sâu
Theo Nguyễn Xuân Hiển & CTV (1979) [10], trong hệ sâu hại lúa ở Đông Nam Á, từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước trở lại đây, rầy lưng
trắng (Sogatella furcifera Horvath) đã dần dần dẫn vị trí quan trọng hàng
đầu Rầy lưng trắng đã xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa khu vực Đông Nam Á, gây nhiều thiệt hại rất nghiêm trọng trên diện rộng
Theo những kết quả điều tra đồng ruộng của Trung tâm BVTV phía Bắc – Cục BVTV, trong một năm có 7 lứa rầy khác nhau, thời gian xuất hiện của chúng tại các vụ Đông Xuân và vụ Mùa trong vòng 6 năm trở lại đây (từ năm 2005 đến năm 2010) được trình bày tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Thời gian xuất hiện các lứa rầy từ năm 2005 đến năm 2010
Trang 132010 5-15/3 10-20/4 8-18/5 15-25/6 20-30/7 20-30/8 17-27/9
(Nguồn số liệu: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc - Cục Bảo vệ thực vật)
Trong số các lứa rầy xuất hiện, thì lứa 2, lứa 3 (vụ Đông Xuân) và lứa 6, lứa 7 (vụ Mùa) là quan trọng nhất, đây là lúc cây lúa ở vào giai đoạn trỗ bông và chắc xanh
Cũng theo số liệu điều tra đồng ruộng của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc - Cục Bảo vệ thực vật, từ năm 2005 trở lại đây, tỷ lệ rầy lưng trắng
đã xuất hiện ngày càng nhiều, năm sau cao hơn năm trước, và trong năm thì
vụ Xuân có tỷ lệ rầy lưng trắng cao hơn so với vụ Mùa, số liệu này được thể hiện qua bảng 2.2
Bảng 2.2 Tỷ lệ (%) của rầy nâu và rầy lưng trắng ở các lứa chính
Ghi chú: RN: Rầy nâu RLT: Rầy lưng trắng
(Nguồn số liệu: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc - Cục Bảo vệ thực vật)
Hiện nay, trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam năm 2011 đã có 714 tên thương mại thuốc BVTV có hoạt chất dưới dạng đơn chất hoặc hỗn hợp được đăng ký với mục đích để phòng trừ rầy nâu hại lúa, nhưng chỉ có 07 tên thương mại đăng ký để phòng trừ rầy lưng
Trang 14trắng hại lúa, xấp xỉ bằng 1% so với tổng số thuốc BVTV đăng ký trừ rầy nâu Như vậy, là quá ít những thử nghiệm hiệu lực đối với đối tượng rầy lưng trắng hại lúa, và trong thực tế sản xuất, người nông dân trồng lúa đã phải sử dụng các sản phẩm đăng ký trên đối tượng rầy nâu để phòng trừ rầy lưng trắng, thực tế này cũng đúng so với các kết quả nghiên cứu khoa học trước đây của tác giả Trần Đình Chiến (1994), tức là những loại thuốc độc có hiệu quả đối với rầy nâu thì cũng có hiệu lực đối với rầy lưng trắng
Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu về hiệu lực của thuốc BVTV phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa sẽ tiếp tục góp phần làm cơ sở cho công tác phòng trừ tổng hợp rầy lưng trắng hại lúa
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera, Ngoài ra, còn có 17 tên khác như: Delphax furcifera Horvath (năm 1899), Liburnica albolineosa Fowler (năm 1905), Sogata distinctant Distant (năm 1912), Megamelut furcifera Muir (năm 1917), Sogata furcifera Muir and Giffard (năm 1924), Delphacodes albolineosa Osborn (năm 1929),
Sogatella furcifera Horvath (năm 1963), Rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở
hầu hết các nước trồng lúa vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam…và một số nước ở châu Mỹ và một số nước ở châu Úc và đảo Thái Bình Dương, Hills S Dennish (1983) [23]
Theo Reissig H et al., (1993) [33], khi mật độ rầy cao hiện tượng
cháy rầy xảy ra khi khóm lúa bị vàng đỏ và cây lúa thụt đi khi mật độ rầy cao
và có thể lan nhanh, điển hình tại các vùng Assam - Ấn Độ, tháng 5 - 6 năm
1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8 đã bị cháy rầy lưng trắng
Trang 15Theo Hill S Dennish (1983) [23], rầy lưng trắng cũng như rầy nâu, trứng được đẻ ở phần mô bẹ lá hoặc gân lá chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng và kích thước tương tự như rầy nâu nhưng mũi trứng dài hơn, mỗi con cái có thể đẻ khoảng 300 - 500 trứng, đẻ tập trung trong 3- 6 ngày và kéo dài khoảng 10 - 15 ngày
Tại Ấn Độ, ở Cuttak, với điều kiện nhiệt độ trong tháng 9 cao nhất 32,70C và thấp nhất 25,30C, ẩm độ khoảng 83-85% thời gian trứng của rầy lưng trắng là 6 ngày, trong khi ở Punjab là 3 - 5 ngày, thời gian phát dục phụ thuộc vào nhiệt độ, Suennaga (1963) [34]
Rầy non có 5 tuổi, khi mới nở có màu trắng sữa, sau chuyển thành lấm chấm màu xám sẫm hoặc màu đen và trắng xen kẽ, Suennaga H (1963) [34]
Trưởng thành rầy lưng trắng cũng có hai dạng cánh ngắn và cánh dài tương tự rầy nâu, tất cả con đực đều có cánh dài, con cái có hai dạng cánh ngắn và cánh dài
Theo Ram P (1986) [32], quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 thế hệ Mặc dù số lượng nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu nhưng tốc độ quần thể lại thấp, chỉ tăng được
4 lần trong thế hệ trong khi quần thể rầy nâu tăng 8 lần ở mối thế hệ Do tốc
độ tăng trưởng thấp nên rầy lưng trắng hiếm khi đạt tới số lượng có thể gây thiệt hại cho kinh tế đối với cây lúa
Theo Zhu (1985) [38], ở Yiang Trung Quốc rầy lưng trắng có 5 thế hệ một năm, cao điểm mật độ quần thể từ giữa đến cuối tháng 7 Ở Hiroshima (Nhật Bản) trong một năm rầy lưng trắng có 2 thế hệ trên lúa và ba thế hệ trên cỏ hoà thảo Graminae Quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ 2 khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng lúa
Trang 16Reissig, Henrichs (1993) [33], Ram P., (1986) [32], rầy lưng trắng thường có số lượng lớn vào đầu vụ Quần thể rầy lưng trắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh đến trước khi phân hoá đòng (khoảng 7 - 8 tuần sau khi cấy), sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ
Theo Lui (1995) [31], số lượng rầy lưng trắng cao vào giai đoạn đầu của cây lúa có thể là do sự có mặt của một số aminoaxit Tuy nhiên biến động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm làm ảnh hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng
Theo Shulkla et al., (1990) [39], trong điều kiện thời tiết mát mẻ kéo dài vòng đời của rầy lưng trắng và hoạt động của chúng rất thấp Những vùng khí hậu cận nhịêt đới như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc thì vòng đời của rầy lưng trắng kéo dài gấp 2 lần so với vùng nhiệt đới
Sự di chuyển của rầy lưng trắng cũng giống như rầy nâu, rầy lưng trắng cũng di chuyển hàng loạt, được phản ánh như một “Hội chứng bay sinh trứng” của quá trình tiền sinh sản của rầy di cư Sự di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt độ Hoạt động di chuyển của rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng
Theo Kisimoto (1971) [40], có 5 đợt rầy di cư ở Trung Quốc từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 nhờ gió Nam và Tây Nam, có 3 đợt di cư hướng tây nam vào giữa và cuối tháng 8, cuối tháng 10 Ở bán đảo Triều Tiên việc du nhập qua biển đông của rầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 và các đảo miền trung của Nam Triều Tiên là cuối tháng 7
Ngoài ra, cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ 6-30 km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô
ở các vùng nhiệt đới, Shingh Phaliwal et al (1986) [41]
Trang 17Theo Zhang (1991) [42], Ho Liu (1996) [43], ở Trung Quốc rầy lưng trắng trưởng thành vào cuối tháng 6 đầu tháng 7
Bón nhiều đạm, cấy mật độ dày, được tưới nước thường xuyên và mật
độ ký sinh thấp làm bùng phát số lượng rầy lưng trắng, Gao et al., (1994) [44]
Ở Trung Quốc có 41 trong 218 bộ giống lúa có tính chống chịu đối với rầy lưng trắng Theo Jiang J.Y và CS (1989) [45], cho rằng rầy ăn trên các giống kháng ít đẻ hơn, cơ thể nhỏ hơn và tỷ lệ sống sót của rầy non thấp, thời gian rầy on kéo dài, tốc độ của quần thể phát triển chậm hơn
Theo Lui và CS (1995) [31] sự giảm ăn của rầy lưng trắng trên giống kháng có thể do sự có mặt của chất ức chế trong cây lúa
Thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần thể và số lượng rầy lưng trắng
Ở Pakistan (1991), các loại thuốc Chlopyriphos và carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu luyn cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0,05 % có khả năng diệt trứng, ngoài ra Phosphamilon 0,05 % và Fenvalirate 0.045 %
có tác dụng làm giảm sinh sản của rầy cái
Các nghiên cứu khác về việc phòng trừ rầy lưng trắng đều cho thấy, phòng trừ rầy lưng trắng vào giai đoạn rầy non là cho hiệu quả cao nhất, giai đoạn đang vũ hoá cho hiệu quả thấp nhất
Theo tác giả Henricks (1985) [46], nhóm Carbamate có hiệu lực khá, được áp dụng phổ biến trong những năm 70, nhóm Buprofezin có tác dụng
ức chế hình thành lớp kitin, diệt rầy ở tuổi 2 - 3 có hiệu quả cao, tuy nhiên nếu dùng khi rầy chưa nở hết hoặc đang trong thời gian đẻ trứng thì mật độ rầy tăng cao và gây hiện tượng “cháy rầy”
Trang 18Tác giả Mani (1971) [47] thì cho rằng nếu phun Flufenoxuron (chất ức chế tổng hợp kitin) vào giai đoạn rầy vừa đẻ thì trứng chết rất nhanh, còn nếu phun vào lúc rầy sắp nở thì rầy non nở ra sẽ bị biến dạng, nếu phun lúc rầy đang lột xác thì rầy sẽ bị chết hoặc sẽ kìm hãm rầy lột xác Trường hợp rầy non không bị chết, vẫn vũ hoá thành công thì sau khi vũ hoá cánh sẽ bị biến dạng rất điển hình Nếu phun Flufenoxuron ở nồng độ 600ppm thì sẽ có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy
Theo Nagata (1983) [48] thì cấu tạo hoá học của một loại thuốc và mức độ sử dụng thường xuyên của loại thuốc đó cũng là nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ phát triển tính kháng thuốc của côn trùng
Matsumura (2008) [49] cho rằng rầy lưng trắng tại các nước Đông Nam Á đang có xu hướng kháng với hoạt chất Fipronil, nguyên nhân của hiện tượng trên được giải thích là do Fipronil đã được sử dụng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vào giai đoạn cây lúa làm đòng Đây cũng là thời điểm phát triển của rầy lưng trắng chính vì vậy dù việc sử dụng các thuốc hoá học thuộc nhóm này để phòng trừ rầy lưng trắng không phổ biến nhưng tính kháng thuốc Fipronil vẫn phát triển
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trong những năm gần đây rầy nâu, rầy lưng trắng là đối tượng dịch hại nguy hiểm Theo số liệu tổng kết báo cáo công tác bảo vệ thực vật năm
2006 của Cục Bảo vệ thực vật, cho thấy rầy nâu, rầy lưng trắng có xu hướng phát triển tăng lên về mật độ và diện phân bố, riêng năm 2006 cả nước có diện tích rầy nâu, rầy lưng trắng là 605.593 ha (3,2 lần so với năm 2005), trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (tăng 4,6 lần so với năm 2005), có 51,8 ha bị cháy rầy phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ Ở các tỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng,
Trang 19tăng 28,6% so với năm 2005, trong đó diện tích nhiễm nặng khoảng 20.000
ha, tăng 1,8 lần so với năm 2005
Số liệu về diện tích nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng và diện tích mất trắng của toàn bộ các tỉnh miền Bắc trong vòng 5 năm trở lại đây (từ 2005 đến 2010) thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 2.3 Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại các tỉnh miền Bắc từ năm 2005 đến năm 2010
Vụ
Năm
Diện tích nhiễm
Diện tích nặng
Diện tích mất trắng
Diện tích nhiễm
Diện tích nặng
Diện tích mất trắng
Trang 20Số liệu về diện tích nhiễm rầy nâu-rầy lưng trắng và tác hại của chúng trong vòng 5 năm qua (từ năm 2005 đến năm 2010) tại các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Thái Bình được thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 2.4 Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại tỉnh Hà Nam từ năm 2005 đến năm 2010
Vụ
DT nặng
DT giảm
DT nặng
DT giảm 70% NS
Trang 21Như vậy có thể thấy, diện tích nhiễm rầy và thiệt hại do rầy nâu-rầy lưng trắng tại tỉnh Hà Nam trong vụ mùa cao hơn hẳn so với vụ xuân và trong vòng từ năm 2005 đến năm 2010 thì nhìn chung diện tích nhiễm nặng
và diện tích mất trắng tại cả 2 vụ tăng đáng kể qua các năm
Bảng 2.5 Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại Nam Định
DT giảm
DT nặng
DT giảm 70% NS
Trang 22(Nguồn số liệu: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Nam Định)
Trong vòng 6 năm từ năm 2005 đến năm 2010, tại tỉnh Nam Định, diện tích thiệt hại do rầy nâu-rầy lưng trắng là khá thấp, tuy nhiên trong năm
2010, tại vụ mùa, diện tích giảm 70% năng suất là 11,3 ha, cao nhất từ trước đến nay
Bảng 2.6 Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại Thái Bình
DT phòng trừ (ha)
Trang 23(Nguồn số liệu: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Bình)
Tại tỉnh Thái Bình, từ năm 2007 đến năm 2010 thì diện tích phòng trừ rầy nâu-rầy lưng trắng của vụ mùa thấp hơn vụ xuân, tuy nhiên trong năm
2011, diện tích nhiễm, diện tích nhiễm nặng và diện tích phòng trừ trong vụ mùa cao hơn hẳn so với vụ xuân
Như vậy, qua bảng tổng hợp diện tích nhiễm rầy nâu-rầy lưng trắng qua các năm tại Hà Nam, Nam Định, Thái Bình cho thấy, vụ mùa năm 2010 tại tỉnh Thái Bình là tỉnh có diện tích giảm 70% năng suất nhiều nhất so với
2 tỉnh là Hà Nam và Nam Định
Có thể thấy, những số liệu thực tế tại các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Thái Bình đều phù hợp với những kết quả nghiên cứu về quy luật phát sinh rầy nâu – rầy lưng trắng của các tác giả trước đây
Theo tác giả Đinh Văn Thành (1998) [20], ở nước ta, nhiệt độ thấp trên ruộng mạ vẫn thấy rầy lưng trắng, tỷ lệ rầy non tuổi lớn chiếm ưu thế, nhiệt độ thấp kéo dài thời gian phát dục, lượng mưa và chế độ nước có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của quần thể rầy lưng trắng Trong vụ xuân ít mưa, ngược lại trong vụ mùa lượng mưa nhiều thì mật độ trên ruộng chân cao lại cao hơn chân ruộng trũng thường xuyên có mưa nước cao
Trang 24Tác giả Ngô Đình Ngoan và Chia – hwa (1968) [22] đã tiến hành nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 12 trong nhà lưới của Trạm Bảo vệ thực vật cho kết quả như sau: Trong điều kiện thời tiết thích hợp thì rầy lưng trắng có thể phát sinh 16 thế hệ trong 1 năm và thời gian mỗi thế hệ là không giống nhau Giai đoạn trứng kéo dài 5,2 – 10,5 ngày; giai đoạn rầy non của mỗi thế
hệ kéo dài từ 9,6 – 15,4 ngày trừ thế hệ thứ 10 ngắn hơn; toàn bộ vòng đời từ trứng đến trưởng thành kéo dài 15,3 – 21,9 ngày trừ thế hệ thứ 10 ngắn hơn
Theo tác giả Nguyễn Đức Khiêm (1995) [14], rầy lưng trắng trong điều kiện nhiệt độ 28,8 - 29,80C và ẩm độ từ 93 - 94% thời gian phát dục trứng rầy lưng trắng là 6,4 - 6,7 ngày ở nhiệt độ 24,9 - 26,40C và ẩm độ 93 - 93,4% tỷ lệ nở của trứng rầy lưng trắng là 47,8% Ở nhiệt độ 26,1 - 29,80C
và ẩm độ 93 - 93,9% thời gian phát dục của rầy non rầy lưng trắng là 12,5 - 12,9 ngày Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 25 - 26,60C và ẩm độ 92 - 93,8%, vòng đời của rầy lưng trắng là 22 ngày
Cũng theo hai tác giả Nguyễn Đức Khiêm và Đinh Văn Thành, mô tả đặc điểm rầy lưng trắng có dải trắng dễ nhận thấy ở mảnh lưng giữa, mình màu nâu vàng, cánh trước có mặt cánh đen hoặc nâu xám Rầy đực dài 2,6
mm, không có dạng cánh ngắn, rầy cái dài 2,9 mm, mảnh lưng uốn cong không sâu phía dưới Rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn so với rầy nâu Rầy lưng trắng có 5 tuổi, tuổi 1 có màu trắng sữa cho đến khi xuất hiện nền trắng và xám ở tuổi 3, tuổi 5 mảnh lưng và bụng đồng vàng, có các vết vằn trắng, xám trên nền trắng mịn, chiều dài thân thay đổi từ 0,8 - 2,1 mm Trứng
đẻ thành từng ổ từ 2 - 7 quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gân lá chính của lá tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của lá Khi mới đẻ trong suốt không màu dài
từ 0,96 mm, rộng 0,2 mm, 3 ngày sau khi đẻ đầu trứng xuất hiện điểm màu
đỏ, cuối trứng có nmột đốm màu vàng đục Thời gian phát dục của rầy lưng trắng thay đổi theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ từ 23,8 - 29,80C, độ ẩm 93 -
Trang 2594% thời gian phát dục của trứng là 6,4 - 6,7 ngày, rầy non là 12,5 - 12,9 ngày, vòng đời 23,6 - 20,4 ngày
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Hiển, Trần Hùng, Bùi Văn Ngạc, Lê Anh Tuấn (1979) [10], ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa, ngoài ra rầy lưng trắng còn có thể hoàn thành phát dục của mình trên một số cây khác
như ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa colonum), lồng vực nước, cỏ đuôi phượng, cỏ mầm trầu, cỏ chắc, kê và các loại lúa dại (Oryza
sativa) Cũng như rầy nâu cả rầy non và rầy trưởng thành đều trực tiếp chích
hút vào thân cây lúa sự chích hút có thể làm cho cây héo vàng, xuất hiện màu đỏ rỉ sắt lan từ phần ngọn lá đến các phần còn lại của cây Dịch ngọt do rầy tiết ra giúp cho sự phát sự phát triển của nấm bồ hóng, kéo theo sự khô héo của cây lúa
Các kết quả thí nghiệm của Trần Đình Chiến (1994) [7], cho thấy những loại thuốc độc có hiệu quả đối với rầy nâu thì cũng có hiệu lực đối với rầy lưng trắng như Bassa 50EC, Mipsin Tuy nhiên, các loại thuốc này đều gây chết cao đối với thiên địch của nhóm rầy
Tác giả Trương Thị Ngọc Chi (1990) [8] đã tiến hành thí nghiệm đánh giá hiệu lực của 13 loại thuốc thảo mộc đối với rầy lưng trắng trên giống lúa TN1 trong nhà lưới của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long, đã cho kết quả thu được như sau:
- Phun thuốc dung dịch chiết từ hạt bình bát nồng độ 10% và thuốc lá 10% thì sau 36 giờ hiệu quả diệt rầy lưng trắng đạt 100% tương tự như Bassa 50ND 0,2%
- Phun dung dịch chiết từ rễ cây ruốc cá và bạch đàn chanh ở nồng độ 15% có thể làm giảm mật độ rầy lưng trắng và tăng dần hiệu quả sau 72 giờ phun thuốc
Trang 26- Các dung dịch chiết từ thân cây xương rồng, thân cây nghệ nồng độ 10%, thân ngồng tỏi và lá xoan nồng độ 15% không thấy có hiệu lực sau khi phun 36 và 72 giờ
Theo tác giả Nguyễn Thị Me và nhóm nghiên cứu (2011) [17], xử lý hạt giống lúa trước gieo là biện pháp an toàn nhất trong các biện pháp hóa học, do phần lớn thuốc ngấm vào hạt, được phân hủy từ từ trong cây lúa sau gieo Lượng thuốc rơi vào môi trường rất ít so với biện pháp phun Khi xử lý hạt giống, thuốc không trực tiếp tiếp xúc với các thiên địch nên an toàn với chúng Hiệu quả trừ rầy lưng trắng của biện pháp xử lý hạt giống rất cao mà liều sử dụng cho lượng giống gieo trên 1 ha thấp hơn nhiều so với liều thuốc phun cho 1 ha Khi phun, lượng thuốc dùng cho 1 ha phải rải trên cả 10.000m2, khi xử lý hạt giống, thuốc chỉ tập trung vào các hạt lúa nên nồng
độ thuốc trừ rầy trong cây lúa non rất cao và hiệu quả trừ không những cao
mà còn kéo dài Nhóm nghiên cứu này cũng đã tiến hành thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với rầy lưng trắng tại Nghi Lộc, Nghệ
An trong năm 2010 và đã đưa ra kết luận: Cây lúa ở giai đoạn đẻ nhánh đến trước trỗ, để diệt rầy lưng trắng xâm nhập vào ruộng phải dùng các thuốc có tác dụng lưu dẫn và tiếp xúc, thuốc sinh học có hiệu lực ở mức trung bình với rầy lưng trắng nên khi có dịch không khuyến cáo sử dụng
Theo tác giả Nguyễn Đức Khiêm (1995) [15], mức độ nhiễm rầy lưng trắng của tập đoàn giống lúa của Bộ môn Giống, Khoa Trồng trọt, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội như sau: Nếp 451, Mộc tuyền, U17, Ch,
KV, mật độ rầy lưng trắng cao nhất lúc lúa đứng cái làm đòng, còn giống CR
203 là giống kháng được rầy lưng trắng, rầy nâu, rầy xám
Trong tự nhiên, rầy lưng trắng cũng có nhiều thiên địch và vai trò điều tiết quần thể của chúng cũng đã được nhiều tác giả công nhận Theo tác giả
Trang 27Đinh Văn Thành (1998) [20], vùng Hà Nội cũng có nhiều loài thiên địch của rầy lưng trắng, chúng được chia làm hai nhóm: Ký sinh và Bắt mồi; trong đó nhóm bắt mồi gồm 5 loài nhện, 3 loài bọ rùa, 2 loài bọ xít, 1 loài bọ 3 khoang và 1 bọ cánh ngắn còn nhóm ký sinh gồm 4 loài ký sinh trứng và 1 loài ký sinh rầy non
Với sự xuất hiện của rầy lưng trắng và những hậu quả nghiêm trọng từ loài sâu hại này, nhiều tỉnh phía Bắc đã công bố dịch bệnh lùn sọc đen, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cũng đã có văn bản số 653/QĐ-BNN-BVTV ngày 16/3/2010 quyết định công bố dịch bệnh lùn sọc đen hại lúa ở các tỉnh, thành phố từ Quảng Ngãi trở ra Đồng thời, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo việc phòng trừ bệnh lùn sọc đen hại lúa, theo đó, danh mục hoạt chất thuốc BVTV được khuyến cáo
để phòng trừ rầy lưng trắng bao gồm các hoạt chất hoặc các sản phẩm chứa hỗn hợp các hoạt chất: Dinotefuran, Clothanindin, Thiamethoxam, Pymetrozine, Imidacloprid, Fenobucarb, Isoprocarb, Abamectin, Fipronil, Chlorpyrifos Methyl, Chlorpyrifos Ethyl, Acetamiprid, Buprofezin
Theo Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam năm
2011, các hoạt chất thuốc BVTV đăng ký để phòng trừ rầy nâu gồm có rất nhiều các hoạt chất như: Abamectin, Acetamiprid, Imidacloprid, Fenobucarb, Thiamethoxam,… Tuy nhiên, các sản phẩm được đăng ký để phòng trừ rầy lưng trắng thì chưa nhiều (xấp xỉ 1% so với thuốc đăng ký để phòng trừ rầy nâu), các sản phẩm này chỉ bao gồm có các hoạt chất như Abamectin, Buprofezin, hỗn hợp Acetamiprid + Buprofezin Như vậy, có thể nói, nghiên cứu ứng dụng và thử nghiệm các loại thuốc BVTV tại Việt Nam trong phòng trừ rầy lưng trắng là chưa thực sự nhiều
Trang 283 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Xác định thành phần nhóm rầy hại thân và diễn biến mật độ của rầy lưng trắng hại cây lúa tại một số địa điểm nghiên cứu thuộc một số tỉnh đồng bằng sông Hồng gồm Hà Nam, Nam Định, Thái Bình
Khảo sát trong phòng thí nghiệm và đánh giá hiệu lực ở các nồng độ
xử lý khác nhau của 13 loại thuốc BVTV phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa
Khảo nghiệm ngoài đồng ruộng để đánh giá hiệu lực của 04 loại thuốc
BVTV (đã được chọn lọc từ phòng thí nghiệm) trừ rầy lưng trắng hại lúa
3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
+) Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath)
Trang 29Nguồn: Nguyễn Ngọc Tuấn (2010)
+) Cây lúa cấy (giống Bắc Thơm) tại vùng đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình
+) Thuốc BVTV phòng trừ rầy lưng trắng: Excel bassa 50ND, Sutin 5EC, Penalty 40WP, Shertin 5.0EC, Tikabamec 3.6EC, Conphai 15WP, Miretox 10WP, Amira 25WG, Actara 25WG, Chess 50WG, Penalty gold 50EC, Tik wep 247EC, Exin 4.5HP
+) Các thiết bị, dụng cụ phục vụ cho thí nghiệm
+) Danh mục thuốc BVTV, các văn bản chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh, phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa của các cơ quan chuyên ngành
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Vụ mùa năm 2010
3.2.3 Địa điểm nghiên cứu
+) Phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội:
Trang 30+) 3 địa điểm nghiên cứu thuộc 3 tỉnh trồng lúa tại vùng đồng bằng
sông Hồng, gồm: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Điều tra nhóm rầy hại thân
a Điều tra mức độ phổ biến của các loài rầy:
Điều tra tại 3 địa điểm nghiên cứu thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định,
Thái Bình tại những ruộng cấy lúa giống Bắc Thơm
Tổng số điểm xuất hiện Tần suất xuất hiện (%) =
Tổng số điểm điều tra x 100 Cách đánh giá mức độ phổ biến dựa vào tần suất xuất hiện như sau:
Tần suất xuất hiện Mức độ phổ biến Ký hiệu
Trang 31< 20% : Ít phổ biến +
>20 đến 40% : Phổ biến trung bình ++
b Điều tra diễn biến mật độ rầy lưng trắng
Điều tra tại 3 địa điểm nghiên cứu thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình tại những ruộng cấy lúa giống Bắc Thơm
Điều tra theo phương pháp điều tra dịch hại cây trồng quy định tại Quyết định số 82/2003/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Điều tra định kỳ 7 ngày một lần theo tuyến điều tra trong khu vực điều tra cố định ngay từ đầu vụ vào các ngày thứ ba (hoặc thứ tư) hàng tuần Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 khóm, điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2 m
Dùng khay (20 x 20 x 5 cm) dưới đáy khay có lớp dầu mỏng Đặt nghiêng 1 góc 450 với khóm lúa rồi đập 2 đập, đếm số rầy vào khay rồi nhân với hệ số 2, nhân với số khóm trên 1m2 (nếu mật độ thấp có thể đập liền vài khóm rồi đếm)
3.3.2 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa
a Trong phòng thí nghiệm:
Khảo sát 13 loại thuốc BVTV trừ rầy hại lúa có nguồn gốc bao gồm cả thuốc hóa học và sinh học, các loại thuốc này có nhóm độc từ nhóm 2 đến nhóm 4 Các loại thuốc nghiên cứu thử nghiệm được trình bày tại bảng 3.1
Trang 32Bảng 3.1 Danh sách các loại thuốc BVTV tiến hành thử nghiệm
gốc thuốc
Nhóm độc
Ký hiệu
Trang 33Imidacloprid 2%
Như vậy, trong số các thuốc thử nghiệm, có 2 loại thuốc thuộc độ độc nhóm 4, có 5 loại thuốc có độ độc nhóm 3 và có 6 loại thuốc độc nhóm 2
Trong số các loại thuốc trên thì hầu hết là các loại thuốc đã quen thuộc với bà con nông dân và đã được sử dụng phổ biến trên cả nước, riêng chỉ có thuốc Exin 4.5HP là thuốc mới được đưa vào nghiên cứu
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thử nghiệm hiệu lực của thuốc ở 3 mức nồng độ: 70% nồng độ hướng dẫn, 85% nồng độ hướng dẫn và 100% nồng độ hướng dẫn sử dụng Các loại thuốc thử nghiệm trên 2 giai đoạn của rầy lưng trắng là rầy tuổi 2, rầy trưởng thành
Trang 34Mỗi công thức bố trí 30 con/cây, lặp lại 3 lần Tiến hành thả toàn bộ rầy lưng trắng vào cây lúa, sau đó tiến hành phun thuốc lên cây lúa theo các nồng độ thí nghiệm Theo dõi số lượng rầy sống và tính toán hiệu lực của thuốc sau các thời điểm 12, 24, 48, 72 giờ sau phun thuốc để đánh giá hiệu lực của các loại thuốc BVTV
Hiệu lực của thuốc được tính toán theo công thức Abbott:
(Ca - Ta)
H (%) = ────── × 100
Ca
Trong đó: H (%): là hiệu lực của thuốc (tính theo phần trăm)
Ca: là số lượng cá thể côn trùng sống ở công thức đối chứng sau xử lý Ta: là số lượng cá thể côn trùng sống ở công thức sau xử lý
Ngoài ra, để tiến hành thử nghiệm được hiệu lực của các loại thuốc trong phòng thí nghiệm thì phải có đủ số lượng rầy lưng trắng, vì vậy chúng tôi đã tiến hành nuôi số lượng rầy lưng trắng đủ để phục vụ các thí nghiệm Phương pháp nhân nuôi để lấy đủ số lượng rầy lưng trắng được mô tả như sau:
+) Thu bắt rầy lưng trắng ngoài tự nhiên đem về phòng thí nghiệm thả vào lồng lưới đã có sẵn cấy lúa trong chậu để giữ và nhân nguồn
+) Chuẩn bị các cốc nhựa đã có sẵn cây mạ cao khoảng 15cm, giống Bắc thơm số 7 để tiến hành chuyển rầy non sang
+) Tiến hành ghép đôi rầy đực và rầy cái rồi thả các cặp rầy lưng trắng trưởng thành vào trên cây lúa giai đoạn chuẩn bị trỗ trong cốc nhựa có đất, phía trên có chụp mica và vải màn bịt miệng ống
Trang 35+) Sau khi rầy non nở, hút và chuyển rầy non vừa nở sang các cốc nhựa có giống mạ Bắc thơm đã chuẩn bị trước rồi để trong lồng lưới, để nuôi cá thể +) Theo dõi hàng ngày rầy lưng trắng lột xác để tiếp tục ghép đôi phục vụ cho việc nhân nuôi cá thể
b Ngoài đồng ruộng:
Sau khi tiến hành khảo sát hiệu lực của các loại thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm, chọn ra 04 loại thuốc có hiệu lực cao nhất để khảo nghiệm ngoài đồng ruộng, nồng độ thử nghiệm là nồng độ mà nhà sản xuất hướng dẫn sử dụng
Thí nghiệm ngoài đồng ruộng là thí nghiệm diện rộng, gồm 5 công thức (04 công thức là 04 loại thuốc khảo nghiệm, 01 công thức là đối chứng-không phun), kích thước mỗi ô khảo nghiệm (công thức thí nghiệm) là 300m2, dải bảo vệ 1 m, rãnh 0,5 m, không nhắc lại
Thời điểm xử lý thuốc là khi cây lúa ở giai đoạn trỗ, mật độ rầy lưng trắng ở các công thức trước phun là 20 con/khóm; tiến hành phun khi rầy lưng trắng ở đa số tuổi 1 - 2 Lượng nước thuốc phun là 500 lít / ha
Phương pháp điều tra: Điều tra tại các thời điểm trước phun thuốc, sau phun thuốc 3,5,7,14 ngày Mỗi ô khảo nghiệm điều tra 10 khóm ngẫu nhiên trên 2 đường chéo góc, dùng khay vuông có kích thước 20 x 20 x 5 cm có tráng dầu, đặt nghiêng 1 góc 450 với khóm lúa rồi đập 2 đập để xác định số lượng rầy, các điểm điều tra cách mép ô khảo nghiệm tối thiểu 0,5 mét Đếm
số rầy có trong khung tại các thời điểm trước phun, sau phun 3,5,7,14 ngày
Hiệu lực của các loại thuốc được tính theo công thức Henderson – Tilton:
Trang 36Ta x Cb Hiệu lực (%) của thuốc = 1 -
Tb x Ca
x 100
Trong đó: Ta: là số sâu sống ở công thức xử lý thuốc sau phun
Tb: là số sâu sống ở công thức xử lý thuốc trước phun Ca: là số sâu sống ở công thức đối chứng sau phun Cb: là số sâu sống ở công thức đối chứng trước phun
Xử lý số liệu: Các số liệu trong phòng thí nghiệm được xử lý thống kê theo chương trình IRRISTAT 5.0
Trang 374 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 THÀNH PHẦN RẦY HẠI THÂN LÚA VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG TRẮNG TRONG VỤ MÙA 2010 TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
4.1.1 Thành phần rầy hại thân lúa tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng
Tại miền Bắc hiện nay xuất hiện 3 loài rầy gây hại thân lúa, đó là Rầy nâu, Rầy nâu nhỏ, Rầy lưng trắng
Qua điều tra tại 3 địa điểm nghiên cứu là tỉnh Hà Nam, Nam Định và Thái Bình trong vụ Mùa năm 2010, thành phần nhóm rầy hại thân lúa là tương đối đồng đều nhau, đều xuất hiện 3 loài là Rầy nâu, Rầy lưng trắng và Rầy nâu nhỏ, mức độ phổ biến nhiều là 2 loài Rầy nâu và Rầy lưng trắng Kết quả được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần rầy hại thân lúa (họ Delphacidae) trong vụ mùa năm 2010 tại Hà Nam, Nam Định và Thái Bình
TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Mức phổ
biến
1 Rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal) Delphacidae ++++
2 Rầy lưng trắng Sogatella furcifera
(Horvath) Delphacidae ++++
3 Rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus
Ghi chú: +: Ít phổ biến (<20% tần suất xuất hiện)
++++: Rất phổ biến (>60% tần suất xuất hiện)
Trang 38Qua số liệu bảng 4.1 cho thấy, nhóm rầy hại thân lúa xuất hiện cả 3 loài là Rầy nâu, Rầy lưng trắng, Rầy nâu nhỏ, thuộc họ Delphacidae, bộ cánh đều Homoptera Trong số các loài này, Rầy nâu và Rầy lưng trắng là loài có mức phổ biến cao, còn rầy nâu nhỏ xuất hiện với mức độ thấp hơn
Kết quả nghiên cứu trên cũng phù hợp với những kết quả điều tra thành phần nhóm rầy hại thân lúa trước đây của tác giả Nguyễn Đức Khiêm (1995) [14]
Kết quả tại bảng 4.1 cũng không khác biệt so với những nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Lầm (2011) [16] khi nghiên cứu sự thay đổi về mức
độ quan trọng kinh tế của các loài sâu hại lúa phổ biến tại Việt Nam
4.1.2 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
Tiến hành điều tra diễn biến mật độ của rầy lưng trắng tại 3 địa điểm nghiên cứu thuộc địa bàn 3 tỉnh là: xã Công Lý – huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam, thị trấn Liễu Đề - huyện Nghĩa Hưng – tỉnh Nam Định và xã Thụy Liên – huyện Thái Thụy – tỉnh Thái Bình, kết quả được thể hiện qua bảng 4.2
Trang 39Bảng 4.2 Diễn biến mật độ của rầy lưng trắng (con/m 2 ) trong vụ mùa
năm 2010 tại 3 địa điểm nghiên cứu
Kỳ điều tra
huyện Lý Nhân (Hà Nam)
huyện Nghĩa Hưng (Nam Định)
huyện Thái Thụy (Thái Bình)
Trang 406/10/2010 180,2 510,6 444,0
Diễn biến mật độ rầy lưng trắng tại Lý Nhân - Hà Nam, Nghĩa Hưng - Nam Định và
Thái Thụy - Thái Bình trong vụ mùa năm 2010
20 21
20 28
20 4/8/20
10 11
20 18
20
25/8/
20 1/9/20
10 8/9/20
10
15/9/
20 22
20 29
20 6/10/2
010
13/10/2010
Hình 1 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng (con/m 2 ) tại 3 địa điểm nghiên
cứu trong vụ mùa năm 2010
Qua bảng 4.2, hình 1 cho thấy, tại các địa điểm nghiên cứu của 3 tỉnh đồng bằng sông Hồng, thì mật độ rầy lưng trắng tại tỉnh Nam Định là cao nhất, tỉnh Hà Nam có mật độ là thấp nhất
Rầy lưng trắng xuất hiện ngay từ đầu vụ, tuy nhiên ở mật độ rất thấp, thời gian xuất hiện mật độ cao nhất của các tỉnh cũng không giống nhau, địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Hà Nam có thời gian xuất hiện cao điểm sớm nhất,