1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn

111 862 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 6,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện áp dụng đối với sản phẩm Cục SHTT, 2007 [14]: - Sản phẩm có danh tiếng hoặc chất lượng đặc thù do điều kiện tự nhiên, con người vùng sản xuất mang lại; - Ngành sản xuất sản phẩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

LÊ TRƯỜNG GIANG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG HỒ SƠ BẢO HỘ “CHỈ DẪN ĐỊA LÝ” CHO GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

LÊ TRƯỜNG GIANG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG HỒ SƠ BẢO HỘ “CHỈ DẪN ĐỊA LÝ” CHO GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT BẮC KẠN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

TS Đào Thế Anh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển Hệ thống nông

nghiệp đã tận tình hướng dẫn trong quá trình tôi thực hiện đề tài Xin cảm ơn các đồng nghiệp, đặc biệt là ThS Nguyễn Ngọc Mai, ThS Vũ Nguyên, ThS Vũ Hữu Cường – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban đào tạo sau đại học – Viện

Khoa học Nông nghiệp Việt nam đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học

tập, hoàn chỉnh và bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp này

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận vặn này là trung thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Lê Trường Giang

Trang 6

1.3.1 Nguồn gốc 19 1.3.2 Một số giống hồng phổ biến tại Việt Nam 20

1.3.3.2 Đặc tính sinh vật học, nông học của hồng không hạt Bắc Kạn 29 CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.4.2 Tính chất/chất lượng đặc thù của sản phẩm 32 2.4.3 Xác định nguồn gốc lịch sử hình thành địa danh và sản phẩm 33 2.4.4 Các yếu tố ngoại cảnh tạo nên chất lượng đặc thù của sản phẩm 33 2.4.5 Bản đồ khu vực địa lý mang Chỉ dẫn Địa lý 33

2.5.1 Phương pháp chuyên khảo tài liệu 33 2.5.2 Điều tra có sự tham gia của người dân 34

2.5.3 Đánh giá cảm quan và phân tích chất lượng sản phẩm 34

2.5.4 Phương pháp phân tích đất và mô tả phẫu diện 36

Trang 7

2.5.5 Phương pháp phân tích thống kê nhiều chiều 37 2.5.6 Phương pháp chồng ghép bản đồ trong khoanh vùng sản phẩm 38

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Danh tiếng địa danh Bắc Kạn và các điều kiện tự nhiên 39 3.1.1 Danh tiếng của địa danh Bắc Kạn 39 3.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn 39

3.4 Phân bố của hồng không hạt qua đánh giá của các tác nhân 50

Trang 8

3.5 Chất lượng hồng qua đánh giá cảm quan 51

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

2.1 Thang điểm đánh giá cảm quan cho hồng không hạt 35

2.3 Chỉ tiêu các chất dinh dưỡng trong đất 36

3.2 Đánh giá của người sản xuất và người thu gom hồng tại địa phương

về độ ngon của các giống hồng hiện trồng ở Bắc Kạn

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3.2 Bản đồ phân vùng chất lượng hồng không hạt Bắc Kạn 55

3.4 Bản đồ nhiệt độ tháng lạnh nhất trong năm của Bắc Kạn 67 3.5 Bản đồ thực hành trồng hồng của người dân 70 3.6 Đồ thị tương quan giữa chất lượng hồng và các yếu tố bên ngoài 71 3.7 Bản đồ vùng bảo hộ CDĐL hồng không hạt Bắc Kạn 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý (Protected Geographical Indication) bắt nguồn từ châu

Âu Xuất hiện ở Pháp từ đầu thế kỷ XX, thuật ngữ Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) được phát triển rộng trên thế giới và được Hiệp định quốc tế về sở hữu trí tuệ (TRIPS) thừa nhận vào năm 1994 TRIPS đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đối với các sản phẩm CDĐL

Chỉ dẫn địa lý là một hình thức của quyền sở hữu trí tuệ - dấu hiệu để xác định một sản phẩm có xuất xứ từ một địa điểm tạo ra sản phẩm có chất lượng đặc biệt, có

uy tín hoặc có các đặc tính khác

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới (1986), từ vị trí nhập khẩu, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông lâm thủy sản hàng đầu trên thế giới: gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, thuỷ sản, mật ong và bước đầu hướng tới thị trường rau, quả, hoa Thị trường quốc tế và nội địa là động lực của sự tăng trưởng này Thu nhập và an sinh của nông dân đã được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, tính thiếu ổn định của giá hàng nông sản trong và ngoài nước đã bộc lộ rõ những bất cập của nền nông nghiệp mới tham gia vào cơ chế thị trường dẫn đến hàng nông sản của chúng ta có tính cạnh tranh kém cả trên thị trường thế giới và nội địa (gạo, cà phê, rau, hoa, quả ) Một trong hướng đi mới để giải quyết những yếu kém này là xây dựng và phát triển các nông sản đặc sản theo hướng sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý

CDĐL giúp cải thiện chất lượng và nâng cao hiệu quả kinh tế của sản phẩm (giá hàng chất lượng thường ít biến động và cao hơn so với hàng chất lượng kém trên thị trường quốc tế và nội địa), bình ổn thu nhập của nông dân bằng cách đa dạng hóa hoạt động sản xuất và nâng cao hiệu quả bảo quản/chế biến và tiếp thị đối với hàng nông sản Cụ thể:

- CDĐL hỗ trợ nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, lẻ trong bối cảnh người sản xuất chưa đủ khả năng để xây dựng, phát triển thương hiệu hàng hóa riêng Thông qua

Trang 12

đó, thiết lập ngành hàng riêng cho nông sản đặc sản của Việt Nam (sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng gắn với hệ thống quản lý chất lượng)

- Xu hướng tiêu dùng trong và ngoài nước đang chuyển sang sử dụng các sản phẩm tự nhiên, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Đáp ứng các yêu cầu về CDĐL và quy tắc xuất xứ hàng hóa sẽ nâng cao khả năng tiếp cận, cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước

- Trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam phải ký kết các điều ước song phương,

đa phương về bảo hộ CDĐL Xây dựng và phát triển tốt các sản phẩm nông nghiệp/nông thôn dựa trên cơ chế bảo hộ CDĐL sẽ tạo cơ sở pháp lý để hợp tác và giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế

- Xây dựng, phát triển sản phẩm theo hướng CDĐL còn là tiếp cận mới trong bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì và phát huy các giá trị bản địa, góp phần đa dạng hóa sinh kế của các vùng khó khăn gắn với điều kiện sinh thái Ví dụ: Pháp và Thụy

Sỹ đã khai thác các giá trị của hàng nông sản mang CDĐL để thúc đẩy du lịch và phát triển nông thôn bền vững)

- Một số sản phẩm đặc sản của Việt Nam được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý đang ngày càng phát huy tác dụng (Thanh long Bình Thuận, chè Shan tuyết Mộc Châu, soài cát Hòa Lộc)

Nhu cầu của chính quyền địa phương, người sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông lâm thủy sản đặc sản mang CDĐL đang gia tăng Nhằm phát huy các giá trị kinh tế, văn hóa-xã hội của nông sản, Chính phủ cùng các cơ quan Nhà nước đang hỗ trợ việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm đặc sản: Chương trình 68 (Bộ KH-CN), Chương trình hỗ trợ Sở hữu trí tuệ (Bộ NN và PTNT)

Bắc Kạn nổi tiếng là Hồ Ba Bể - một trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới Đây là hồ nước ngọt thiên nhiên lớn nhất Việt Nam, nằm trên vùng núi đá vôi Nhờ có tiểu vùng khí hậu hồ Ba Bể mà Bắc Kạn có những cây trồng bản địa rất đặc thù, trong đó cây hồng không hạt Bắc Kạn Đây là cây ăn quả đã có từ lâu đời trên 100 năm

Trang 13

Hồng không hạt Bắc Kạn có chất lượng nổi tiếng trong vùng, mẫu mã đẹp nên thường được dùng làm quả biếu cho bạn bè, người thân về thăm quê Trong dân gian hồng không hạt Bắc Kạn còn là vị thuốc chữa bệnh: tai hồng hay còn gọi là thị

đế sắc khô tán thành bột chữa các bệnh về đường ruột, ăn hồng có thể hạ huyết áp

và là một trong những cây trồng được xác định là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh Bắc Kạn

Hồng không hạt Bắc Kạn là một trong những loại quả ngon và hiếm của vùng Đông Bắc Việt Nam Theo đánh giá của các tác nhân thương mại, hồng không hạt Bắc Kạn là một trong những mặt hàng luôn được yêu thích vì quả có chất lượng ngon hơn các giống hồng khác

Những chương trình, dự án hỗ trợ cây hồng không hạt từ trước tới nay chủ yếu vẫn tập chung hỗ trợ các vấn đề về kỹ thuật, cây giống, còn thiếu các chương trình

hỗ trợ tổng thể cả về kỹ thuật, thương mại cũng như các vấn đề thể chế, tổ chức sản xuất đồng bộ Quả hồng không hạt trên thị trường được đánh giá cao nhưng người tiêu dùng rất dễ nhầm với một số giống hồng khác như hồng Lạng Sơn, Tuyên Quang

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của hồng không hạt Bắc Kạn, bên cạnh các biện pháp kỹ thuật, phát triển sản xuất, cần thiết phải tiến hành xây dựng, quản lý và khai thác sản phẩm này theo hướng chỉ dẫn địa lý Khai thác các sản phẩm đặc sản nói chung và hồng không hạt nói riêng theo hướng CDĐL giúp đản bảo về mặt pháp

lý cho thương hiệu sản phẩm, góp phần nâng cao danh tiếng và giá trị sản phẩm CDĐL cũng có thể coi như một công cụ xóa đói giảm nghèo cho những hộ nông dân nhỏ, đặc biệt ở những vùng sâu; vùng xa như Bắc Kạn

Từ các lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ “chỉ dẫn địa lý” cho giống hồng không hạt Bắc Kạn”

Trang 14

2 Mục đích của đề tài

- Xây dựng cơ sở khoa học xác định quan hệ giữa đặc thù tự nhiên và kinh tế

xã hội của hồng không hạt Bắc Kạn với vùng địa lý phục vụ bảo hộ Chỉ dẫn địa lý

- Góp phần hoàn thiện quy trình xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông sản khác

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đối với lĩnh vực KH & CN có liên quan

Khái quát cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc nghiên cứu xây dựng, quản lý

và khai thác chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp đặc sản của Việt Nam

Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu

- Hiệu quả kinh tế: Việc xây dựng thành công CDĐL giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế bền vững cho người dân

- Góp phần đa dạng hóa sinh kế cho các hộ nông dân sản xuất nhỏ tại địa phương

Đối với kinh tế - xã hội và môi trường

- Bảo tồn nguồn gen quí của địa phương

- Sản xuất ra sản phẩm có giá trị cao, an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng của người tiêu dùng

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), 2005 [30]) Điều kiện áp dụng đối với sản phẩm (Cục SHTT, 2007 [14]):

- Sản phẩm có danh tiếng hoặc chất lượng đặc thù do điều kiện tự nhiên, con người vùng sản xuất mang lại;

- Ngành sản xuất sản phẩm có truyền thống lâu đời, có nguy cơ mai một và cần phát triển;

- Có thị trường, tiềm năng phát triển;

- Có nhiều nhà sản xuất, kinh doanh trong cùng một khu vực chất lượng, nhãn hiệu, mẫu mã khác nhau mà chưa được kiểm soát;

- Danh tiếng, uy tín của sản phẩm có hiện tượng hàng giả, hàng nhái…

Điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điệu kiện sau đây (Điều 79 - Luật SHTT, 2005 [30]):

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý quyết định; Trong đó:

+ Danh tiếng của sản phẩm được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó;

+ Đặc tính của sản phẩm được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có

Trang 16

khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp

- Không thuộc các trường hợp loại trừ sau (Điều 80 - Luật SHTT, 2005 [30]): + Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam; chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;

+ Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;

+ Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó

Đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý

- Đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý bao gồm các tài liệu sau (Điều 100, 106 - Luật SHTT, 2005 [30]) và (Điểm 7.1, 43 Thông tư số 01 theo trích dẫn của cục SHTT,

2007 [14]):

+ Tờ khai: theo mẫu quy định, trong đó phải nêu rõ tên gọi, dấu hiệu là chỉ dẫn địa lý, tên sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý và tóm tắt tính chất/chất lượng đặc thù và/hoặc danh tiếng của sản phẩm;

Bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý: phải bao gồm các nội dung tối thiểu sau: mô tả loại sản phẩm, bao gồm cả nguyên liệu thô và các đặc tính lý học, hoá học, vi sinh và cảm quan của sản phẩm; cách xác định khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý; chứng cứ về loại sản phẩm có xuất

xứ từ khu vực địa lý; phương pháp sản xuất, chế biến mang tính địa phương và có tính ổn định; thông tin về mối quan hệ giữa tính chất, chất lượng đặc thù hoặc danh tiếng của sản phẩm với điều kiện địa lý theo quy định; thông tin về cơ chế tự kiểm tra các tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm

+ Bản đồ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý;

+ Chứng từ nộp phí, lệ phí

Trang 17

- Đơn phải bảo đảm tính thống nhất: mỗi đơn chỉ được đăng ký một chỉ dẫn địa lý dùng cho một sản phẩm;

- Trong trường hợp chỉ dẫn địa lý không phải là từ ngữ, chủ đơn phải nộp kèm theo đơn 10 mẫu thể hiện cách trình bày chỉ dẫn địa lý sẽ được sử dụng (kích thước không lớn hơn 80mm và không nhỏ hơn 20mm)

- Trong trường hợp chỉ dẫn địa lý nước ngoài, phải nộp thêm tài liệu chứng minh chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại nước có chỉ dẫn địa lý đó;

Thuyết minh về tính đặc thù của sản phẩm mang Chỉ dẫn địa lý

- Bản mô tả tính đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (Điểm 43.4 Thông tư 01; theo trích dẫn của cục SHTT, 2007 [14]) phải có các thông tin sau đây:

+ Liệt kê các tính chất/chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý

do điều kiện địa lý quyết định - được xác định bằng các chỉ tiêu cảm quan, định tính, định lượng về vật lý, hoá học, sinh học, có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc bằng chuyên gia theo một phương pháp thử xác định; và/hoặc

+ Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý do điều kiện địa lý quyết định - được xác định thông qua sự biết đến sản phẩm đó một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng liên quan, có khả năng kiểm chứng được; và

+ Điều kiện địa lý tạo nên tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, bao gồm: các yếu tố độc đáo về khí tượng, thuỷ văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác; các yếu tố độc đáo về kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, bao gồm cả quy trình sản xuất truyền thống của địa phương (có thể bao gồm một, một số hoặc tất cả các công đoạn, từ sản xuất nguyên liệu, chế biến nguyên liệu đến tạo ra sản phẩm và có thể gồm cả công đoạn đóng gói sản phẩm, nếu công đoạn đó có ảnh hưởng đến tính chất/chất lượng, danh tiếng của sản phẩm), nếu quy trình đó là nhân tố tạo ra và duy trì tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, trong đó có các thông tin rõ ràng và chi tiết đến mức có thể kiểm tra được (nếu trong các thông tin nêu

Trang 18

trên có các thông tin bí mật, bí quyết kỹ thuật chưa được bộc lộ hoặc chưa được biết đến một cách rộng rãi bên ngoài địa phương thì người nộp đơn có quyền từ chối cung cấp các thông tin chi tiết về bí mật, bí quyết đó nếu không được cam kết bảo mật các thông tin đó theo yêu cầu của mình); và

+ Mối quan hệ hữu cơ giữa tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý với điều kiện địa lý

- Bản mô tả tính chất/chất lượng/danh tiếng của sản phẩm phải kèm theo tài liệu xác nhận rằng các thông tin về tính chất/chất lượng/danh tiếng là có căn cứ và xác thực (dựa trên các kết quả khảo nghiệm, nghiên cứu, điều tra…)

Mô tả vùng địa lý

Danh giới vùng chỉ dẫn địa lý phải được xác định một cách chính xác bằng

từ ngữ và bản đồ, trong đó, bản đồ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý phải thể hiện đầy đủ thông tin tới mức có thể xác định chính xác vùng địa lý hội đủ các điều kiện tự nhiên tạo nên tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm (Điểm 43.5 - Thông tư 01, theo trích dẫn của cục SHTT, 2007 [14])

1.2 Tình hình nghiên cứu về CDĐL trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo nhiều tác giả (Bùi Kim Đồng, 2009 [15], 2010 [16]; Bùi Thị Thái và cộng sự, 2008 [32]; Trịnh Văn Tuấn và cộng sự, 2009 [13]), Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là một hình thức của quyền sở hữu trí tuệ - dấu hiệu để xác định một sản phẩm có xuất xứ từ một địa điểm tạo ra sản phẩm có chất lượng đặc biệt, có uy tín

hoặc có các đặc tính khác Có nhiều khái niệm liên quan đến CDĐL, điển hình là:

Chỉ dẫn Nguồn gốc (Indications of Source và Tên gọi xuất xứ (Appellations of Origin)

- Chỉ dẫn Nguồn gốc (Indications of Source): Có hai Hiệp định về vấn đề

này: i) Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (năm 1883) và ii) Hiệp định Madrid về Chỉ dẫn giả mạo hoặc lừa dối về nguồn gốc hàng hoá (năm 1891) Theo Hiệp định Madrid, Điều 1: "Tất cả hàng hoá mang một chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối nếu bị phát hiện thì sẽ bị thu giữ khi nhập khẩu vào bất kỳ quốc gia nào Theo

Trang 19

Hiệp định này, Chỉ Dẫn Nguồn Gốc có thể được định nghĩa là Từ ngữ hoặc Dấu hiệu, sử dụng để chỉ ra một sản phẩm/dịch vụ được bắt nguồn từ một quốc gia, khu vực hoặc một nơi cụ thể, nhưng không bao hàm các yếu tố chất lượng và uy tín (E.g Munchen Bier)

- Tên gọi xuất xứ (Appellations of Origin): Quy định trong Hiệp định Lisbon,

là tên địa lý của một quốc gia, hoặc vùng, hoặc địa phương để chỉ một sản phẩm có nguồn gốc ở đó, chất lượng và đặc tính của sản phẩm có được là do sự độc quyền, hoặc do bản chất của môi trường địa lý (bao gồm cả tự nhiên và các yếu tố con người) Từ định nghĩa này, có thể suy ra rằng một sản phẩm được bảo hộ dưới dạng tên gọi "xuất xứ" phải thể hiện một tên địa lý trực tiếp hoặc một quốc gia, hoặc vùng, hoặc địa phương mà nó bắt nguồn (Ví dụ: Stilton Cheese) Các phần danh tiếng bị loại trừ khỏi điều khoản của định nghĩa trên

- Điều 22,1 của Hiệp định TRIPS định nghĩa thuật ngữ CDĐL như sau: Chỉ

dẫn (indications) xác định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm là một lãnh thổ hoặc vùng hoặc địa điểm, nơi mà chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính của sản phẩm

có được là do nguồn gốc địa lý của nó Chỉ dẫn địa lý (geographical indications) được người tiêu dùng hiểu để biểu thị nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm Như vậy, định nghĩa của TRIPS về CDĐL đã bao hàm cả Tên Gọi Xuất Xứ (TGXX) và Chỉ Dẫn Nguồn Gốc

Hiện nay việc bảo hộ CDĐL trên thế giới có thể quy về ba hình thức:

+ Bảo hộ bằng hệ thống luật pháp riêng: nghĩa là có các quy định pháp luật riêng bảo hộ CDĐL (Pháp, Thụy sĩ, Nga, Bồ Đào Nha, Việt Nam…)

+ Bảo hộ bằng pháp luật về nhãn hiệu: CDĐL được bảo hộ thông qua việc đăng

ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận (Mỹ, Canađa, Anh, ấn Độ …)

+ Bảo hộ bằng luật pháp về kinh doanh: phổ biến nhất là luật chống cạnh tranh không lành mạnh, chống lại các chỉ dẫn sai lệch, gây nhầm lẫn về xuất xứ hàng hóa Hình thức này thường được sử dụng như một hình thức bổ sung, song song với các hình thức khác (Đức, Hungari )

Trang 20

Đến tháng 6/2006, tại Châu âu đã có 413 sản phẩm được bảo hộ tên gọi xuất

xứ và 297 sản phẩm được bảo hộ Chỉ dẫn Địa lý (trong đó Pháp chiếm 27%, Italia 17% và Bồ Đào Nha là 13%) Kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy các sản phẩm được bảo hộ dưới tên gọi TGXX là những sản phẩm yêu cầu cao về sự đặc thù cũng như khả năng quản lý chất lượng vì thế nó được sử dụng nhiều cho các sản phẩm được chế biến Ví dụ, các sản phẩm chế biến từ thịt, sữa chiếm tới 54,1% trong tổng AOP của châu Âu, hoa quả chỉ chiếm 17,4% Còn CDĐL thường dành cho các sản phẩm tươi sống nhiều hơn Vì vậy, các sản phẩm thịt chưa qua chế biến

và rau quả chiếm tới 55,6% tổng số CDĐL được bảo hộ tại châu Âu (Vũ Trọng Bình & cộng sự, 2007 [4])

Những giai đoạn quan trọng trong quá trình xây dựng CDĐL và TGXX

của các nước thuộc Liên minh châu Âu

Theo tổng kết của tác giả Bùi Kim Đồng, (2009 [15], 2010 [16]), Châu Âu là khu vực có nhiều kinh nghiệm nhất về CDĐL trên thế giới với lịch sử dài hàng trăm năm cho việc xây dựng bảo hộ CDĐL và TGXX cho sản phẩm Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nhưng có thể tổng hợp được bốn giai đoạn quan trọng từ các nước có kinh nghiệm xây dựng và phát triển CDĐL và TGXX như Pháp, Italia, Thụy sỹ, …

- Giai đoạn chống lại sự cạnh tranh trên thị trường Đây là giai đoạn quan

trọng nhất thúc đẩy quá trình xây dựng thể chế để bảo hộ sản phẩm Giai đoạn này

dài hay ngắn tùy thuộc tình hình của từng nước Nhưng giai đoạn này thường kéo dài nhất, ví dụ ở Pháp giai đoạn này bắt đầu vào năm 1905-1970, Italia từ 1716-

1962, Thụy sỹ từ 1890-1981

- Điều tiết thị trường Đây là giai đoạn thúc đẩy sự phát triển và duy trì sự ổn định về thị trường của sản phẩm sau khi được bảo hộ Những chính sách của nhà nước, các biện pháp của các tổ chức sản xuất và thương mại đều hướng tới việc ổn

định thị trường và mở rộng phạm vi được bảo hộ (Pháp từ năm 1970 đến 1985,

Italia từ 1963 đến 1992,…)

Trang 21

- Phát triển nông thôn: Đây là giai đoạn tổ chức lại sản xuất nhằm phát triển

sự ổn định khu vực nông thôn (Pháp từ năm 1985 đến 2000, Thụy sỹ bắt đầu từ

1997)

- Giá trị về mặt di sản: Đàm phán và đề nghị công nhận những sản phẩm đặc thù của quốc gia trở thành những di sản của nhân loại Giai đoạn này ở Pháp diễn ra

từ năm 2000

Bài học rút ra từ việc phát triển sản phẩm CDĐL trên thế giới

Theo quan điểm của EU, chỉ dẫn địa lý là quyền sở hữu trí tuệ đứng trên các thương hiệu, thiết kế và bằng sáng chế Không có quyền sở hữu trí tuệ phân biệt đối

xử giữa các loại sản phẩm ở cấp bảo vệ CDĐL cũng nên được phép mở rộng tới các sản phẩm khác Chỉ dẫn địa lý là tên được đặt (hoặc một địa điểm) được sử dụng để xác định nguồn gốc và chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của sản phẩm (Bùi Kim Đồng, 2009 [15])

- CDĐL giúp phân biệt được một sản phẩm theo những tiêu chí chất lượng đặc biệt liên quan tới các cộng đồng có nguồn gốc địa lý và phương pháp sản xuất,

sử dụng riêng Là giải pháp chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường

- CDĐL giúp tổ chức sản xuất của một khu vực bằng cách xác định chỉ tiêu

cơ bản để tăng các giá trị của sản phẩm, tạo điều kiện tiếp thị và thâm nhập vào bất

kỳ thị trường nào

- CDĐL là công cụ để phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững thông qua khai thác các sản phẩm/dịch vụ đặc biệt của nông thôn Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ là những minh chứng sống của sự thành công

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp và đô thị hóa, nông thôn Pháp đứng trước tình trạng bị bỏ rơi (Monde perdu) Tổ chức Đón tiếp Nông dân Pháp (Accueil Paysan français) đã làm sống lại khu vực này bằng cách tổ chức hoạt động tiếp đón du khách kết hợp với các dịch vụ đặc thù của địa phương (ẩm thực các nông sản mang chỉ dẫn địa lý sản xuất tại trang trại, du lịch cộng đồng ) Ngày nay,

Trang 22

hoạt động này đã phát triển thành mạng lưới có qui mô quốc tế (Bùi Kim Đồng,

2009 [15]

Tương tự như vậy, những khu vực chăn nuôi cừu trên núi cao của Tây Ban Nha có nguy cơ biến mất Nông thôn chỉ còn những người già và những người chăn cừu sinh sống Những người chăn cừu này rất khó có 1 gia đình riêng vì phụ nữ trẻ

đã đi khỏi nông thôn Để cứu vãn tình trạng này, việc xây dựng CDĐL cho sản phẩm thịt cừu cùng với các dịch vụ du lịch bằng cừu, ẩm thực thịt cừu trên núi, và khôi phục lại các lễ hội truyền thống đã giúp thay đổi bộ mặt nông thôn khốn khó này Kinh tế phát triển, thu nhập tăng, những nam thanh niên chăn cừu cảm thấy tự hào khi được sử dụng các kiến thức bản địa vốn có của họ và ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn rời bỏ nông thôn để ra thành phố nữa (Nguồn: Hội thảo Quỹ vì

sự Tiến bộ của Con người, Hà Nội tháng 9 năm 2008, theo trích dẫn của (Bùi Kim Đồng, 2009 [15])

- Các sản phẩm CDĐL đặc thù của quốc gia được xây dựng thành các giá trị

di sản của nhân loại (Pháp đã bắt đầu từ quá trình đàm phán năm 2000 đối với sản phẩm rượu vang mang chỉ dẫn địa lý Bordeaux)

- CDĐL góp phần vào việc đa dạng hóa sản xuất và bảo tồn sự đa dạng sinh học, bảo tồn các kiến thức bản địa dựa vào nguồn lợi tự nhiên (Agridea, 2009, theo trích dẫn của (Bùi Kim Đồng, 2009 [15])

Ngược lại, Nhiều hàng hóa đã đạt được danh tiếng giá trị vốn có của sản phẩm mang CDĐL, nếu không được bảo vệ đầy đủ, nó có thể bị các nhà khai thác

thương mại không trung thực bóp méo (Malavika Kumar, 2008 in Geographical

Indications and Extension of Enhanced Protection beyond Wines and Spirits)

Việc sử dụng sai lệch CDĐL của các bên gây bất lợi cho người tiêu dùng và cho người sản xuất hợp pháp Người tiêu dùng bị lừa dối, ảnh hưởng đến niềm tin

để mua được sản phẩm đúng với chất lượng và đặc điểm cụ thể Về phía người sản xuất ra giá trị thật của sản phẩm CDĐL, họ bị người khác lấy cắp danh tiếng sản phẩm của mình

Trang 23

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

1.2.2.1 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam

Mặc dù Luật SHTT ra đời vào năm 2005, nhưng hệ thống đăng ký CDĐL của Việt Nam đã được xây dựng từ năm 1995 và được coi là nước đi đầu trong khối ASEAN về xây dựng bảo hộ CDĐL cho hàng nông lâm thủy sản Nước mắm Phú Quốc và chè Shan tuyết Mộc Châu là 2 sản phẩm đầu tiên là của Việt Nam được đăng ký bảo hộ vào năm 2001 Sau 16 năm xây dựng, Việt Nam đã đăng ký 29 CDĐL trong đó có 26 sản phẩm của Việt Nam và 3 sản phẩm của nước ngoài (Cục SHTT, 2011), có thể phân loại như sau (Bùi Kim Đồng, 2011 [17], số liệu về sản phẩm được bảo hộ đã được cập nhật thêm theo thời gian làm luận văn):

1 Nhóm cây ăn quả: Có 10 sản phẩm, chiếm 34 % tổng số CDĐL của Việt

Nam, bao gồm: Bưởi Đoan Hùng; Thanh long Bình thuận; Vải thiều Thanh Hà; Vải thiều Lục Ngạn; Xoài cát Hòa Lộc; Cam Vinh; Chuối ngự Đại Hoàng; Hồng không hạt Bắc Kạn; Bưởi Phúc Trạch và Mãng cầu Bà Đen

2 Nhóm cây công nghiệp: Có 9 sản phẩm, chiếm 31 % tổng số CDĐL, bao

gồm: Chè Shan tuyết Mộc Châu; Cà phê nhân Buôn Ma Thuột; Hoa hồi Lạng Sơn; Chè Tân Cương - Thái nguyên; Quế vỏ Vân Yên - Yên Bái và Thuốc lào Tiên Lãng (Chè Shan tuyết Mộc Châu là 1 trong 2 sản phẩm đầu tiên được đăng bạ); Chiếu Cói Nga Sơn, Quế vỏ Trà My và Hạt Dẻ Trùng Khánh

3 Nhóm sản phẩm thủy sản chế biến: Có 3 sản phẩm, chiếm 10 %, gồm:

Nước mắm Phú Quốc; Nước mắm Phan Thiết và Mắm tôm Hậu Lộc (nước mắm Phú Quốc là 1 trong 2 sản phẩm đầu tiên được đăng bạ)

4 Nhóm cây lương thực: Có 3 sản phẩm, chiếm 10%: Gạo tám xoan Hải

Hậu; Gạo một bụi đỏ Hồng Dân và Gạo Nàng Nhen Thơm - Bảy Núi

5 Sản phẩm truyền thống: Có 1 sản phẩm, chiếm 3 % (Nón lá-Huế)

6 Sản phẩm nước ngoài đăng ký tại Việt Nam: Có 3 sản phẩm, chiếm 10 %,

gồm: Rượu Cognac của Pháp; Rượu Pisco của Peru và Rượu Scotch whisky của Scotlen và là sản phẩm duy nhất được đề xuất đăng bạ ở thị trường Châu Âu

Trang 24

Thống kê trên cho thấy các sản phẩm mang CDĐL được bảo hộ còn quá ít so với trên 500 sản phẩm nông lâm thủy sản đặc sản có tiềm năng đăng bạ CDĐL của Việt Nam (Nguồn: số liệu ước tính của Cục SHTT) và còn tồn tại nhiều hạn chế (Bùi Kim Đồng, 2011 [17]):

- CDĐL của Việt Nam rất đơn điệu Một CDĐL cho 1 sản phẩm, khác với các nước trên thế giới là 1 CDĐL cho nhiều sản phẩm hoặc cho nhiều dòng sản phẩm;

- Có tới trên 70 % CDĐL là các sản phẩm thô (không qua chế biến) thuộc nhóm cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lương thực;

- CDĐL với các sản phẩm chế biến hoặc tiểu thủ công rất hạn chế, chỉ chiếm dưới 16% tổng số CDĐL của Việt Nam Trong khi đó, CDĐL quốc tế chủ yếu dành cho các sản phẩm chế biến, cũng như đa dạng hóa các sản phẩm chế biến khác nhau dưới cùng một tên địa lý Chiến lược này cho phép họ thuận lợi hơn trong việc marketing và quản lý chất lượng sản phẩm

Bên cạnh đó còn thiếu một số qui định chỉ dẫn địa lý như văn bản về việc xác định nguồn gốc của sản phẩm được sản xuất như thế nào, kiểm soát ra sao để chứng minh rằng sản phẩm đó được sản xuất tại vùng địa lý được bảo hộ… Các qui định về ranh giới lãnh thổ vùng được bảo hộ chỉ dẫn địa lý không qui định rõ ràng trong thuyết minh, đây là bản đồ mô tả lãnh thổ của địa phương sẽ được mang chỉ dẫn địa lý hay bản đồ mô tả vùng sản xuất Nếu trường hợp vùng bảo hộ chỉ dẫn địa

lý nằm trên phạm vi của hai tỉnh sẽ được giải quyết như thế nào để tránh trường hợp: vì những thủ tục phức tạp nên khi gặp phải trường hợp như trên, người ta cố gắng khoanh vùng sản phẩm gọn trong một đơn vị hành chính Điều này làm mất cơ hội cho những người dân trong vùng có điều kiện sản xuất sản phẩm đặc thù nhưng lại không nằm trong vùng được bảo hộ Mặt khác, nhiều các sản phẩm đã được cấp văn bằng chỉ dẫn địa lý nhưng các đối tượng nộp đơn vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 25

1.2.2.2 Đánh giá chung về CDĐL tại Việt Nam

Từ quá trình nghiên cứu kết hợp tham khảo những thông tin từ các nghiên cứu đang triển khai tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, chúng tôi đưa ra một số đánh giá sau :

Tác động tích cực

Hạn chế rủi ro do biến động giá và mở rộng thị trường tiêu thụ:

Nông nghiệp thị trường và hội nhập luôn chịu ảnh hưởng của những biến động bất lợi về giá nông sản trong và ngoài nước Một số sản phẩm mang CDĐL đã đứng vững trước thách thức này, giá bán được giữ vững và liên tục tăng (So với năm được bảo hộ (2001) giá Chè Shan tuyết Mộc Châu đã tăng 1,15 lần (năm 2004 ) và 2,63 lần (năm 2010), ít chịu ảnh hưởng bất lợi của ngành hàng chè thế giới trong thời gian qua Nhờ có bảo hộ CDĐL, Chè Shan tuyết Mộc Châu đã từ bỏ thị trường truyền thống Iraq để phát triển sang các thị trường châu Âu (Anh, Pháp…) Hoặc, Vải thiều Thanh Hà đã được xuất khẩu sang Đức, Canada và Trung Đông… )

Công cụ xây dựng thương hiệu hàng hóa cho nông sản:

Với đặc điểm sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, người nông dân chưa thể

tự mình xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa riêng CDĐL chính là thương hiệu hàng hóa và thiết lập kênh hàng riêng cho nông sản đặc sản của Việt Nam

Tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập cho các tác nhân trong ngành hàng:

Nhiều sản phẩm bảo hộ CDĐL đã phát huy được hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho các tác nhân trong ngành hàng So với năm bảo hộ (2001), doanh thu của công ty chè Mộc Châu đã tăng lên 4,55 lần (năm 2010) nhờ giá bán, năng suất và sản lượng chè tăng Lương của công nhân chè cũng tăng 3,1 lần Với sản phẩm chuối ngự, so với trước thời điểm bảo hộ, doanh thu trên 1 đơn vị diện tích của Chuối ngự Đại Hoàng từ 1,55 triệu đồng/ha (trước năm 2005) lên 2,7 triệu đồng/ha (năm 2008) và 6,75 triệu đồng/ha (năm 2010)

Giúp quy hoạch kinh tế - xã hội:

Một số sản phẩm CDĐL được quản lý và khai thác tốt đã góp phần tích cực trong việc quy hoạch phát triển vùng đặc sản của địa phương Ví dụ Chè Shan tuyết

Trang 26

Mộc Châu sau 3 năm được bảo hộ đã tăng diện tích từ 570 ha (năm 2001) lên 650

ha (năm 2004) và 915 ha (năm 2010)

Các địa phương có CDĐL như Bình Thuận (thanh long), Tân Cương (chè shan tuyết), Phú Quốc (nước mắm) đều thu hút một bộ phận lao động quan trọng trong vùng, giảm di dân và góp phần đảm bảo cho sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững của địa phương (Lê Thị Thu Hà, 2010, theo trích dẫn của Bùi Kim Đồng,

2011 [17])

Bảo tồn đa dạng sinh học:

CDĐL là một tiếp cận mới trong bảo tồn đa dạng sinh học thông qua khai thác giá trị kinh tế của sản phẩm bản địa để bảo tồn nguồn gen quý và bảo tồn để khai thác

Chỉ dẫn địa lý góp phần gia tăng các giá trị văn hóa-xã hội:

Khai thác các CDĐL để làm gia tăng các giá trị văn hóa-xã hội của vùng bảo

hộ ở Việt Nam còn hạn chế Tuy nhiên, bước đầu đã thấy được tính tích cực của hiệu ứng này

Một số điểm hạn chế

Khai thác CDĐL chưa tương xứng với nguồn tài nguyên:

Nếu nhìn vào số liệu thống kê các sản phẩm đã được đăng ký CDĐL ở Việt Nam, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Việt Nam có trên 500 sản phẩm đặc sản gắn liền với những điều kiện địa lý

và con người đặc thù (Nguồn: Thống kê của Cục SHTT) Nếu so sánh giữa nguồn tài nguyên trên và số sản phẩm được bảo hộ CDĐL (29 sản phẩm) thì rõ ràng rằng việc xây dựng CDĐL chưa tương xứng với tiềm năng nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam

CDĐL của chúng ta rất đơn điệu, một CDĐL cho 1 sản phẩm Điều này khác với các nước trên thế giới, họ xây dựng 1 CDĐL (địa danh) cho nhiều sản phẩm hoặc cho nhiều dòng sản phẩm; Điều này gây lãng phí nguồn tài nguyên địa danh

mà có nhiều đặc sản có thể cùng xây dựng CDĐL

Trang 27

Có trên 70 % CDĐL được bảo hộ là các sản phẩm thô (không qua chế biến) thuộc nhóm cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lương thực Xây dựng CDĐL cho các sản phẩm chế biến hoặc tiểu thủ công rất hạn chế (dưới 16% tổng số CDĐL) Trong khi đó, CDĐL quốc tế chủ yếu dành cho các sản phẩm chế biến có giá trị cao, và bảo hộ đa dạng hóa các sản phẩm chế biến khác nhau dưới cùng một tên địa danh Chiến lược này cho phép họ thuận lợi hơn trong việc marketing và quản lý chất lượng sản phẩm

Mặt khác, không phải bất cứ CDĐL nào đã được xây dựng đều mang lại những tác động tích cực như đã nêu ở trên

Bất cập trong việc xây dựng chỉ dẫn địa lý:

Việc xây dựng CDĐL là cả 1 quá trình với yêu cầu làm rõ chất lượng đặc thù của sản phẩm gắn với các điều kiện địa lý và con người Tuy nhiên, Việt Nam lại thiếu cả trang thiết bị, phương pháp phân tích và kinh nghiệm xây dựng CDĐL

Việc một CDĐL chỉ áp dụng duy nhất cho một sản phẩm, đa số dưới dạng nguyên liệu thô (cà phê nhân, hoa hồi, vải quả, bưởi quả, ) mà không mở rộng ra cho các sản phẩm được chế biến từ những nguyên liệu thô này Các nguyên liệu thô thường có giá trị gia tăng thấp nên đã hạn chế khả năng phát huy các giá trị của CDĐL được bảo hộ

Việc lựa chọn sản phẩm để bảo hộ CDĐL chưa phù hợp như khuyến cáo của FAO (cần xác định sản phẩm có tiềm năng về chất lượng và thị trường để bảo hộ) Điều này làm cho một số sản phẩm CDĐL của Việt Nam không phát huy được hiệu quả như mong muốn (Vải thiều Thanh Hà có nguy cơ suy giảm diện tích sau bảo hộ

do không cạnh tranh được với các cây trồng khác ) Một số CDĐL được đăng ký bảo hộ xuất phát từ nhu cầu danh tiếng của địa phương, chứ không phải vì phát triển sản phẩm (nón lá Huế hay thuốc lào Tiên Lãng ) Nhiều CDĐL được xây dựng theo tiếp cận từ trên xuống, không có sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm này nên không gắn kết được họ với sản phẩm

CDĐL là tài sản quốc gia Tuy nhiên, việc bảo hộ mang tính cục bộ, mâu thuẫn giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương (chuối ngự Đại Hoàng có khu vực

Trang 28

địa lý bao phủ 1 phần của tỉnh Nam Định, nhưng chỉ được bảo hộ trên tỉnh Hà Nam) Điều này có khả năng bóp chết sản xuất của những nơi có chất lượng sản phẩm đặc thù nhưng không được đưa vào bảo hộ

Thiếu vắng chính sách công giữa các ngành, các cấp để xác định các sản phẩm có tiềm năng được xây dựng thành CDĐL và xác định vùng bảo hộ Bên cạnh

đó, quá trình thực hiện và đưa vào sử dụng CDĐL cho một sản phẩm tương đối phức tạp đối với các cá nhân hay tổ chức muốn khai thác CDĐL Toàn bộ quá trình chuẩn bị hồ sơ để một sản phẩm có thể được bảo hộ hay không lại giường như có rất ít sự tham gia của những cá nhân hay tổ chức sẽ sử dụng Điều đó dẫn đến một tình trạng là : a) Sản phẩm sau khi được bảo hộ CDĐL có rất ít các tổ chức sản xuất

và người nông dân quan tâm đến, b) Các cơ quan quản lý địa phương chưa có kinh nghiệm, chuyên môn về CDĐL dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc xây dựng cơ chế quản lý và giao quyền sử dụng CDĐL cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu, c) Và

do vậy, các sản phẩm đã được bảo hộ CDĐL không phát huy được lợi thế cạnh tranh trên thị trường

Bất cập trong quản lý và khai thác sản phẩm chỉ dẫn địa lý:

Để phát huy các giá trị của hàng nông sản đặc sản thì việc đăng bạ CDĐL cho sản phẩm là chưa đủ Cần phải có các giải pháp và chính sách đi kèm để quản

lý và khai thác các sản phẩm sau khi đăng bạ

CDĐL là một khái niệm mới được luật hóa ở Việt Nam (2005), các văn bản hướng dẫn thực thi còn thiếu, tính phổ cập và hiệu quả pháp lý chưa cao Vì vậy, ngay cả một số Cơ quan quản lý cũng chưa nắm vững bản chất của vấn đề Nhiều bất cập đã nảy sinh trong việc xác định nguồn gốc sản phẩm, phương pháp kiểm tra xuất xứ hàng hóa (Chè shan tuyết Tân Cương đã phải đăng ký lại, Vinatea đã dùng chè này để ký các hợp đồng xuất khẩu nhưng không ghi rõ nguồn gốc xuất xứ )

Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu của xây dựng CDĐL, thiếu vắng việc bảo hộ thực sự Trong nước, hàng giả đã làm giảm giá trị và uy tín của sản phẩm CDĐL Chưa có CDĐL nào được bảo hộ quốc tế Vì vậy, một số CDĐL của Việt Nam đã bị nước thứ 3 lợi dụng (nước mắm Phú Quốc)

Trang 29

Quản lý và khai thác sản phẩm CDĐL chưa được quan tâm Điển hình là việc mở rộng diện tích bưởi Đoan Hùng CDĐL ngoài vùng bảo hộ bằng các giống bưởi khác đã làm mất uy tín của sản phẩm

Thiếu vắng các tổ chức Tập thể quản lý và sử dụng CDĐL (Hiệp hội, Hội ) của người sản xuất Chính vì vậy, chưa có các chiến lược phát triển sản xuất và maketing để duy trì tính ổn định chất lượng của sản phẩm và phát triển thị trường cho các sản phẩm CDĐL

Không có một chương trình phổ biến cho người tiêu dùng về các sản phẩm CDĐL Chính sách công tập trung ưu tiên cho việc xây dựng CDĐL, ít quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển các sản phẩm đó thành một thương hiệu mạnh Do đó hiệu quả bảo hộ CDĐL ở mức thấp (gần như 100% người tiêu dùng chưa có khái niệm về CDĐL và những sản phẩm nào được bảo hộ CDĐL)

1.3 Một số thông tin chung về cây hồng

1.3.1 Nguồn gốc

Cây hồng (Diospyros) thuộc Bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae), phân lớp

sổ (Dilleniaceae), thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật hạt kín

(Angiospermae) (Nguyễn Thế Huấn, 2005 [22])

Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên ở 320-370 vĩ độ Bắc Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng tại Địa Trung Hải, cũng từ đây hồng được đưa sang Mỹ từ năm 1856, được nhập vào châu Âu năm 1789 (Nguyễn Thế Huấn, 2005 [22])

Cũng theo tác giả Nguyễn Thế Huấn, về nguồn gốc cây hồng có rất nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều nước và ở các thời kỳ khác nhau nhưng đều có chung nhận xét: cây hồng có nguồn gốc ở vùng á nhiệt đới nam châu á, chủ yếu là vùng khởi nguyên Trung Quốc Từ đây hồng được đưa đến nhiều nước trên thế giới

Hồng là cây trồng á nhiệt đới khởi nguyên từ Trung Quốc và cũng là cây trồng có nguồn gốc ở Hàn Quốc (cây bản địa) Việc trồng hồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn quả còn được sử dụng để chữa các bệnh như:

Trang 30

bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngưng chảy máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất như tanin, phenol, axit hữu cơ, chlorophyl…nhưng tanin là nguyên tố chủ yếu

Cây hồng được nhập từ Trung Quốc đến châu Âu vào năm 1789 và di chuyển sang châu Mỹ vào năm 1856

Ở Việt Nam, cây hồng được nhập từ Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam rồi đến Đà Lạt Nam Việt Nam

Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên đều cho rằng cây hồng có nguồn gốc xuất xứ ở vùng á nhiệt đới phía nam châu á, chủ yếu là vùng khởi nguyên cây trồng miền nam Trung Quốc

1.3.2 Một số giống hồng phổ biến tại Việt Nam

Theo Nguyễn Thế Huấn (2005 [22]), tại Việt Nam phổ biến một số giống hồng phân bố ở các nơi như sau:

Tại tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng sinh thái Tây Nguyên

Hồng trồng ở Đà Lạt chủ yếu là các giống thuộc loài Diospyros kaki L Đây

cũng là loài hồng trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số tỉnh phía Bắc Việt Nam Các giống hồng tốt được trồng ở vùng sinh thái này gồm có:

* Hồng trứng lốc

Đặc điểm: quả hình trứng, cân đối, quả khi chín có màu hồng, bóng láng Cây

có tán rất lớn, năng suất cao, có thể đạt 5-6 tạ/cây/năm, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, dễ trồng Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất hiện nay Quả khi chín ăn rất ngọt, vừa giòn vừa dẻo, thích hợp cho việc vận chuyển đi xa, thời gian thu hoạch từ tháng 6 - 8 dương lịch

* Hồng trứng muộn

Đặc điểm: quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng Cây có tán trung bình, năng suất cao, chống chịu tốt, quả khó rụng khi gió lớn Mặc dù chất lượng không bằng hồng trứng lốc, nhưng vì chín muộn (thu hoạch hàng năm vào tháng 10-11) nên giá hồng tươi rất cao Thông thường cây 7-8 năm tuổi có thể cho thu hoạch 3-4 tạ/năm

* Hồng Pome tròn

Trang 31

Đặc điểm: quả tròn to, mã quả rất đẹp, năng suất tương đối cao, trung bình 1 tạ/cây/năm Cây bắt đầu cho thu hoạch từ năm thứ 7 - 8 sau trồng Quả chín có mầu đỏ son, phẩm chất tốt, rất được ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10

Ngoài các giống kể trên, Đà Lạt còn nhiều giống hồng với số lượng không nhiều như: hồng quế hương, hồng gạch, hồng son, hồng hoả tiễn, hồng giòn, hồng Lạng Sơn, hồng xà, hồng nước

Tại tỉnh Thừa Thiên - Huế thuộc vùng sinh thái Bắc Trung Bộ

Hồng đang trồng tại đây có thể được đưa từ các tỉnh phía Bắc vào hoặc từ

Đà Lạt ra và có tên gọi Hồng vuông Huế

Đặc điểm: cây cao to, tán rộng Lá hình elíp rộng, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới có nhiều lông vàng Quả hình vuông dài, vai quả rộng và thót dần về phía dưới, rốn quả tương đối phẳng, có thể dựng đứng quả được Chiều cao quả 4,5-5cm, đường

Trang 32

kính quả 4-4,5cm, trọng lượng quả 80-100g, khi chín, vỏ quả có màu đỏ, thịt quả dẻo,

ngọt, không có hạt, rất được ưa chuộng trên thị trường

Tại tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng sinh thái Bắc Trung Bộ

Ở đây, hồng được trồng tập trung trong hai xã Thạch Đài và Thạch Lĩnh thuộc huyện Thạch Hà, đất đai tương đối cao, dốc thoát nước, diện tích trồng chiếm tới 35,3% tổng diện tích cây ăn quả Chỉ có 2 giống được trồng phổ biến là:

Tại tỉnh Nghệ An thuộc vùng sinh thái Bắc Trung Bộ

Vùng sinh thái này, hồng được trồng tập trung nhiều ở 2 xã là Nam Xuân và Nam Anh thuộc huyện Nam Đàn (có nhiều đất dốc đồi núi) diện tích hồng chiếm tới

Trang 33

33,7% tổng số diện tích cây ăn quả các loại Thành phần giống hồng khá phong phú, bao gồm một số giống sau đây:

* Hồng cậy vuông

Đặc điểm: cây cao trung bình 6,4m, tán cây rộng 7,5m, hình bán nguyệt Lá hơi tròn dài, to trung bình, đầu lá nhọn, mặt trên bóng nhẵn, mặt dưới xanh nhạt có lông tơ mầu nâu tập trung ở gân lá Quả hình vuông, đỉnh quả bằng hoặc hơi lõm Khi chín vỏ quả mầu đỏ, vỏ mỏng giòn, có ít phấn ở gần cuống quả Tai quả nhỏ, vểnh lên, gốc quả lõm ít, thịt quả có mầu đỏ Chiều cao quả 3,3cm, đường kính quả 4,1cm Trọng lượng quả 50g, số hạt trong quả 0,4, tỷ lệ thịt quả 71,5% Một cây cho khoảng 80kg quả

* Hồng nứa

Đặc điểm: cây cao trung bình 8,2m tán rộng khoảng 9m, hình cầu Lá to mầu xanh nhạt, đầu lá tròn Mặt dưới lá có lông tơ màu vàng mọc theo gân lá Quả hình trụ dài, đỉnh quả bằng, khi chín có mầu đỏ, vỏ quả không bóng Phần trên quả (gần tai) có rãnh dọc Thịt quả mầu vàng, ít xơ Tai quả to và vểnh lên Trọng lượng quả 90g Chiều cao quả 5,2cm, đường kính quả 4,8cm, số hạt trong quả 1,5 hạt, tỉ lệ thịt quả 88,1% Một cây có thể đạt tới 100kg quả

* Hồng tiên

Đặc điểm: cây cao trung bình 6m (thấp cây), tán rộng 6m, hình tháp Lá to nhẵn Mặt trên lá hơi vàng, có độ bóng, mặt dưới lá mầu xanh trắng có lông tơ mầu vàng xung quanh gân lá

Quả thuộc dạng quả to, đỉnh quả lõm, nhìn theo dọc quả thì hơi vuông, ưng nhìn chiều ngang thì dài, khi chín có mầu đỏ, vỏ quả dày, trơn, vỏ quả không có vân, có ít phấn ở đỉnh quả Gốc và tai quả lõm sâu Trọng lượng quả nặng 85g, chiều cao quả 5,0cm, đường kính quả 4,7cm Số hạt trong quả 0,5, tỷ lệ thịt quả 89% Một cây cho khoảng 65kg quả

nh-* Hồng tròn dài

Đặc điểm: cây cao khoảng 7m, tán rộng 6,7m hình đống rơm

Trang 34

Lá to, đầu nhọn Mặt trên lá xanh bóng, mặt dưới có lông tơ mầu vàng, mọc thưa

Quả mọc thành chùm từ 1-3 quả, khi chín có mầu đỏ, không hạt Quả hình tròn dài, chóp quả bằng, vỏ quả dày, trơn, hơi có khía, gốc quả lõm, tai quả cong lên, thịt quả mầu đỏ Trọng lượng quả 80g, chiều dài quả 4,9cm, đường kính quả 4,7cm Tỷ lệ thịt quả 90%, tỷ lệ đường 10,5%, tỷ lệ axit 0,2% Năng suất một cây khoảng 142kg

* Hồng gáo

Đặc điểm: cây cao trung bình 6,2m, tán rộng 5,8 - 6,4m, lá to dài, đầu lá nhọn, mầu xanh nâu không nhẵn Quả có dạng quả tim, vai quả to, dưới thắt lại, trôn quả nhọn, tai ôm vào quả, vỏ quả mầu vàng bóng Quả nặng trung bình 63,6g có 2,5 hạt

* Hồng chuột

Đặc điểm: cây cao trung bình 6,0m, tán rộng 6,2-6,5m, phiến lá nhỏ hình bầu dục Quả có dạng tròn dài, đáy quả thắt lại, rốn quả tròn, tai quả cong lên, vỏ quả mầu vàng bóng Quả nặng trung bình 70,6g có 5,1 hạt

Tại tỉnh Hà Nam thuộc vùng sinh thái đồng bằng Bắc Bộ

Vùng sinh thái này, cây hồng chủ yếu được trồng ở 2 xã là Hoà Hậu và Văn

Lý và có 2 giống hồng mang tên địa phương là: Hồng Nhân Hậu, Hồng Văn Lý

* Hồng Nhân Hậu

Đặc điểm: được trồng nhiều ở xã Hoà Hậu, thân cây màu xám, cành bánh tẻ mầu nâu, tán cây hình bán nguyệt, độ cao phân cành trên 1m Lá lớn, hình bầu dục, mầu xanh đậm, mặt trên bóng láng, mặt dưới có lông tơ mầu nâu vàng; chiều dài lá 15,8cm, chiều rộng lá 10,4cm Quả hình trái tim, khi chín có mầu đỏ thắm, thường chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch Vỏ quả mỏng, thịt quả dẻo, ít hạt Trọng lượng quả 150-250g

* Hồng Văn Lý

Đặc điểm: được trồng từ lâu đời ở xã Văn Lý, thân cây mầu xám, cành bánh

tẻ màu xám sáng Tán cây thường hình dù, độ cao phân cành 60-70cm Lá lớn trung bình, hình bầu dục, mặt trên hơi ráp, chiều dài lá 14,4cm, chiều rộng lá 7,5cm Quả

Trang 35

hình trụ, trôn quả tròn, khi chín có mầu đỏ vàng, không hạt Trọng lượng quả 90g, chín vào giáp tết âm lịch

70-Tại tỉnh Hà Tây (cũ) thuộc vùng sinh thái đồng bằng Bắc Bộ

Vùng Thạch Thất chỉ trồng phổ biến một giống hồng có nguồn gốc từ làng Yên Thôn nên người ta còn gọi theo tên địa phương là hồng Yên Thôn hoặc hồng Thạch Thất Do cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao, quả chín vào dịp tết, tính thích nghi rộng, được nhiều người ưa trồng, hiện nay được trồng ra khắp các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Đặc điểm: thân cây màu xám, cành bánh tẻ mầu nâu, tán cây hình tròn hoặc

ô van, độ cao phân cành khoảng 65cm Lá lớn hình bầu dục mầu xanh đậm Mặt trên lá bóng, phản quang, mặt dưới có lông tơ mầu nâu vàng, chiều dài lá 16cm, chiều rộng lá 9,3cm Quả hình trụ, trôn quả hơi lồi, khi chín có mầu đỏ vàng, thư-ờng chín vào tháng 12 - 01 Thịt quả mềm, nhiều nước, khối lượng trung bình 1 quả

từ 150-250g, có từ 0-3 hạt/quả

Tại tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ thuộc vùng sinh thái trung du Bắc Bộ

Là vùng có địa hình khá phức tạp với hơn nửa diện tích là đồi núi, có 3 con sông lớn chảy qua là Sông Hồng, Sông Lô và Sông Đà Khí hậu Vĩnh Phúc vừa mang đặc điểm chung của khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang đặc điểm khí hậu chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng rừng núi Tây Bắc Sự diễn biến nhiệt độ vùng này rất phù hợp cho cây hồng á nhiệt đới sinh tr-ưởng, phát triển vì vậy, vùng này có khá nhiều giống khác nhau đó là:

* Hồng Hạc Trì

Đặc điểm: nguồn gốc từ xã Tiên Cát thành phố Việt Trì, cây cao trên 9m, tán rộng trên 7m, sinh trưởng kh?e Lá hình elíp rộng, mặt trên có mầu xanh hơi vàng, không bóng, mặt dưới mầu xanh trắng, có lông màu vàng Quả hình trụ, trôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt Trọng lượng quả 100-150g, không hạt Khi chín vỏ có màu vàng đỏ, thịt mầu vàng, ăn giòn, có cát, chín vào tháng 9 (thường được thu hoạch đồng loạt vào trước 15/8 âm lịch để ngâm sau 2-3 ngày là ăn được)

Trang 36

* Hồng tiến

Đặc điểm: nguồn gốc ở xã Vân Quán huyện Lập Thạch, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, cây cao đến trên 10m, tán rộng trên 8m Lá to hình bầu dục, mặt trên màu xanh đậm, không bóng, mặt dưới màu trắng xanh có nhiều lông tơ Quả hình trụ vuông, trên và dưới quả đều bằng Quả nặng 120-160g, không hạt hoặc có 1-2 hạt

bé dẹt, chín vào tháng 10, khi chín, quả có mầu đỏ hồng, thịt quả màu đỏ

* Hồng Thạch

Đặc điểm: nguồn gốc ở xã Vân Quán, huyện Lập Thạch, cây to cao trên 10m, tán rộng trên 8m Lá hình bầu dục rộng, mặt trên mầu xanh thẫm, không bóng, mặt dưới mầu trắng xanh có lông màu vàng Quả hình trụ tròn, rốn quả lồi, nặng trung bình 150-200g, có 1-3 hạt/quả, chín vào đầu tháng 9, khi chín, vỏ quả màu đỏ vàng, thịt mầu đỏ hồng, giấm 4 ngày thì chín

* Hồng ngâm quả hình trứng

Đặc điểm: nguồn gốc ở xã Cao Phong huyện Lập Thạch, thân cây bé, cao trên 9m, tán rộng trên 6m (thuộc loại tán hẹp) Lá thuôn dài, mặt trên mầu xanh đậm, bóng, mặt dưới xanh trắng có lông thưa Quả hình trứng nặng 100-150g có 1-3 hạt dài và dày, chín vào tháng 9, khi chín vỏ quả màu vàng, thịt quả mầu vàng nhạt,

ngâm khoảng 3 ngày thì ăn được

* Hồng ngâm quả hình trụ dài

Đặc điểm: nguồn gốc ở xã Cao Phong huyện Lập Thạch, cây không lớn (cao khoảng 7m), tán rộng 4m Lá thuôn dài, mặt trên xanh bóng, mặt dưới mầu trắng xanh có lông tơ thưa màu vàng Quả hình trụ dài nặng 100-150g chín vào tháng 9, khi chín quả có màu vàng không đều, phía tai quả xanh, phía trôn quả vàng có 1-2 hạt, có quả không hạt

Tại tỉnh Lạng Sơn thuộc vùng sinh thái Đông Bắc

Cây hồng được trồng nhiều tại huyện Cao Lộc nằm về phía Bắc tỉnh Lạng Sơn ở vị trí 21053' - 22000' vĩ độ Bắc, 106041' - 106048' kinh độ Đông

Nhiệt độ trung bình năm 21,20C, biên độ nhiệt ngày đêm giao động 6,30C (vào tháng 3) và 9,10C (tháng 11) có năm mùa đông nhiệt độ trong vùng xuống dưới

Trang 37

00C nhưng chỉ trong thời gian ngắn Vùng này có giống hồng nổi tiếng có tên là

hồng Bảo Lâm

Đặc điểm: cây cao to, lá bé hơn các giống khác Quả hình tròn dài nặng 68g, khi chín vỏ quả màu vàng đất, thường chín vào rằm tháng tám âm lịch Khử chát bằng cách ngâm nước, quả qua khử chát ăn giòn, ngọt thơm

66-Ngoài các tỉnh kể trên các tỉnh trung du miền núi phía bắc như Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Mộc Châu - Sơn la, Than Uyên - Lai Châu cũng

có trồng nhiều giống hồng khác nhau trong đó có giống hồng Thạch Thất sinh trưởng phát triển tương đối tốt Tại Yên Bái có giống hồng Bảo Lương, hồng không hạt Lục Yên, tại Bắc Giang phát triển tốt giống hồng Nhân Hậu Tuy nhiên về giống

và diện tích của từng địa phương hiện tại không có những số liệu thống kê chính xác cũng như những đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế so với cây trồng khác để khuyến cáo cho sản xuất Đây cũng chính là những nội dung quan trọng cần được tiến hành điều tra, tổng kết làm cơ sở để xác định nên phát triển cây hồng ở những tỉnh nào, vùng sinh thái nào ở Việt Nam là mang lại hiệu quả kinh tế nhất, giúp người sản xuất yên tâm đầu tư phát triển nghề trồng hồng hiện nay

1.3.3 Hồng không hạt Bắc Kạn

Giống hồng Bắc Kạn không hạt hầu như chưa thấy sử sách nào ghi chép cụ thể, mà chỉ nghe qua những câu chuyện mang tính truyền thuyết của người dân địa phương kể về giống cây này

Lịch sử hình thành và phát triển thôn bản của một số địa phương cho thấy các địa danh được gắn liền với cây hồng Ví dụ như một bản tại xã Bằng Phúc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, theo người dân nói khi thành lập bản, họ

đã thấy trong vùng có nhiều hồng nên đặt tên cho bản là Nà Hồng

Theo tác giả Nguyễn Thế Huấn (2010, [23]), cây hồng không hạt có một số đặc điểm sau:

1.3.3.1 Yêu cầu sinh thái

Yêu cầu nhiệt độ : Thích hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây

hồng không hạt 200-250C, giai đoạn nở hoa yêu cầu nhiệt độ từ 26-270C để quả phát

Trang 38

triển và khi chín cần nhiệt độ thấp hơn, biên độ nhiệt độ ngày - đêm lớn sẽ làm cho

mã quả đẹp Trong chu kỳ sống hàng năm cây Hồng có một giai đoạn ngủ nghỉ đòi hỏi nhiệt độ thấp để phân hóa mầm hoa, tuy nhiên hồng không chịu được nhiệt độ quá thấp

Mưa và độ ẩm: cây hồng vừa chịu được hạn, vừa chịu được ẩm Đây là một

trong những đặc tính quan trọng lí giải vì sao hồng có thể thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau Lượng mưa hàng năm đối với cây hồng tốt nhất là 1200 - 2100mm Độ ẩm 85 - 90% Tuy nhiên, nếu mưa quá to hoặc mưa kéo dài trong kỳ

ra hoa thì sẽ bị ảnh hưởng tỷ lệ đậu quả

Ánh sáng: cây hồng là loại cây ưa ánh sáng, hồng ưa ánh sáng trực xạ,

cường độ vừa phải (2000 - 3000 lux) Ở những nơi đủ ánh sáng cây Hồng có cành

thấp, tán lá rộng, quả phân bố đều trên tán Nơi thiếu ánh sáng thì cây sẽ mọc vống, tán nhỏ, phân bố quả không đều và năng suất thấp

Đất: Hồng có tính thích ứng rộng có thể trồng được trên nhiều loại đất với

nhu cầu tầng đất dày, thoát nước, mực nước ngầm thấp dưới 1m Hồng có ưu điểm nổi bật là chịu được đất xấu, đất nghèo dinh dưỡng hơn các cây khác Tuy nhiên để đạt được năng suất cao chất lượng tốt cần phải bón cân đối và đầy đủ các loại phân, đúng thời vụ, đúng kỹ thuật Độ pH của đất thích hợp đối với cây

Hồng từ 5,0 đến 5,5 (Báo cáo Quy hoạch phát triển cây Hồng không hạt Bắc

kạn đến năm 2015)

Sức chống gió bão: hồng không hạt chống bão yếu vì các lý do sau: Cây

hồng sai quả, quả hồng to và nhiều Lá hồng nhiều, to, hứng gió Mưa bão ở miền Bắc thường đến vào tháng 7, 8, 9, đây cũng là thời điểm hồng sắp chín, quả nặng nhất nên dễ bị gió làm đổ gãy

Về nhu cầu dinh dưỡng: cây hồng có nhiều lá và lá rộng, năng suất quả cao,

rụng lá hàng năm, nên lượng dinh dưỡng mất đi qua các năm rất cao, cần phải bổ sung đầy đủ dinh dưỡng để đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển bình thường

Trang 39

1.3.3.2 Đặc tính sinh vật học, nông học của hồng không hạt Bắc Kạn

Đặc điểm phân loại thực vật

Tên khoa học: Diospyros kaki L

trong đất thấp Vì vậy, cây hồng có thể chịu úng tốt

Chiều cao cây, đường kính gốc (thân):

Hồng là cây thân gỗ, sinh trưởng nhiều năm, tán cây có dạng hình tháp, tốc độ sinh trưởng chậm, thường một cây hồng 30 tuổi đường kính thân chỉ đạt

15 - 20cm, chiều cao cây 7 - 10m Thân có màu nâu đen, đường kính gốc trung bình 30cm

Đặc điểm quan trọng của cây Hồng không hạt được thể hiện qua việc phát triển chiều cao và đường kính gốc Chiều cao cây trung bình của các cây khoảng 6-8m, cây cao có thể đạt trên 10m và thấp khoảng 5 m Đường kính gốc cây dao động trong khoảng từ 22-32cm tuỳ theo tuổi cây Trong đó, các cây còn trẻ sinh trưởng mạnh và có sự biến đổi về đường kính gốc qua các năm rõ ràng hơn các cây già nhiều

năm tuổi sau trồng

Độ rộng tán, số cành cấp 1 của hồng không hạt Bắc Kạn

Về đặc điểm cành hồng, khi còn non có một lớp lông mầu nâu vàng nhỏ li ti, khi cành thuần thục, hoá gỗ lớp lông này không còn nữa Thân cành có màu nâu

Trang 40

đen, lá có màu xanh bóng, khi còn non có màu xanh vàng, khi gần rụng chuyển sang màu vàng đỏ rất đặc trưng

Kết quả theo dõi cho thấy, hồng Bắc Kạn có các đợt cành chính sau:

- Cành xuân: nảy đồng loạt vào trung tuần tháng 2 đến tháng 3, trên cành lúc này có cả mầm hoa và mầm dinh dưỡng

- Cành hè: nảy vào tháng 6, tháng 7

- Cành thu: nảy vào tháng 8, tháng 9

Đối với những cây đã ra hoa kết quả trong đợt cành mùa xuân thường có 2 loại cành: cành sinh trưởng, cành mang hoa

+ Cành sinh trưởng: là những cành không mang hoa, quả, chỉ mang lá làm nhiệm vụ tăng khối lượng cành, cây và tích luỹ dinh dưỡng nuôi quả

+ Cành mang hoa lưỡng tính: là những cành mang quả, phần lớn phát sinh ở phần trên gần ngọn của cành sinh trưởng năm trước chưa ra quả hoặc từ chồi nách thứ 2 - 3 của cành mẹ

Độ rộng tán, số cành cấp 1 cũng là các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển

có ý nghĩa quan trọng đối với đặc điểm của giống cây trồng nói chung và cây hồng

nói riêng

Độ rộng tán không giống nhau, dao động từ 3,0-7,5m tùy thuộc vào tuổi cây

và các điều kiện sinh trưởng của cây

Thời kỳ ra lộc và rụng lá của hồng không hạt Bắc Kạn:

Lá xuất hiện vào mùa xuân, sau khoảng một tháng thì phát triển đầy đủ, lúc này màu lá chuyển dần từ xanh lục sang mầu lục đậm, cây sung sức bước vào thời

kỳ hoạt động mạnh Dạng lá hình thuôn dài, gân lá nổi rõ, giữa gân không có lông Lông tập trung ở hai bên thịt lá, lông có màu vàng, mặt trên lá nhẵn bóng, mặt dưới

có nhiều lông (kết qủa quan sát nhóm nghiêm cứu thấy lá của giống hồng này ở các

cấp tuổi trung bình là: 260 - 370 lông/1cm 2 ) lá rụng kết thúc vào cuối tháng 10 đến

đầu tháng 11 dương lịch

Thời gian ra lộc và kết thúc ra lộc ở cây hồng là tương đối giống nhau theo nhóm tuổi, ngày rụng lá chủ yếu tập trung vào tháng 11 và đầu tháng 12 dương lịch

Ngày đăng: 29/11/2014, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Chỉ tiêu các chất dinh dưỡng trong đất - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 2.3 Chỉ tiêu các chất dinh dưỡng trong đất (Trang 46)
Hình 2.1: Mặt cắt  phẫu diện - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 2.1 Mặt cắt phẫu diện (Trang 47)
Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất Bắc Kạn - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất Bắc Kạn (Trang 52)
Bảng 3.2: Đánh giá của người sản xuất và người thu gom hồng  tại địa phương  về độ ngon của các giống hồng hiện trồng ở Bắc Kạn - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.2 Đánh giá của người sản xuất và người thu gom hồng tại địa phương về độ ngon của các giống hồng hiện trồng ở Bắc Kạn (Trang 57)
Bảng 3.3: Đánh giá của người bán lẻ hoa quả về độ ngon của hồng không  hạt Bắc Kạn - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.3 Đánh giá của người bán lẻ hoa quả về độ ngon của hồng không hạt Bắc Kạn (Trang 58)
Hình 3.2: Bản đồ phân vùng chất lượng hồng không hạt  Bắc Kạn - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 3.2 Bản đồ phân vùng chất lượng hồng không hạt Bắc Kạn (Trang 65)
Bảng 3.9: so sánh chất lượng hồng không hạt Bắc Kạn với một số loại khác - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.9 so sánh chất lượng hồng không hạt Bắc Kạn với một số loại khác (Trang 66)
Bảng 3.10: Đặc thù hình thái hồng không hạt Bắc Kạn                         Loại hồng - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.10 Đặc thù hình thái hồng không hạt Bắc Kạn Loại hồng (Trang 67)
Bảng 3.12: Tổng hợp các chỉ tiêu hóa sinh của hồng không hạt Bắc Kạn  Vùng  Trung bình  Thấp nhất  Cao nhất - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.12 Tổng hợp các chỉ tiêu hóa sinh của hồng không hạt Bắc Kạn Vùng Trung bình Thấp nhất Cao nhất (Trang 70)
Hình 3.3: Sơ đồ các vị trí lấy phẫu diện - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 3.3 Sơ đồ các vị trí lấy phẫu diện (Trang 73)
Bảng 3.15: Lượng mưa trung bình tháng và cả năm - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.15 Lượng mưa trung bình tháng và cả năm (Trang 76)
Hình 3.4: Bản đồ nhiệt độ tháng lạnh nhất trong năm của Bắc Kạn - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 3.4 Bản đồ nhiệt độ tháng lạnh nhất trong năm của Bắc Kạn (Trang 77)
Bảng 3.16: Độ ẩm trung bình tháng và số giờ nắng - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Bảng 3.16 Độ ẩm trung bình tháng và số giờ nắng (Trang 77)
Hình 3.5: Bản đồ thực hành trồng hồng của người dân - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 3.5 Bản đồ thực hành trồng hồng của người dân (Trang 80)
Hình 3.6: Đồ thị tương quan giữa chất lượng hồng và  các yếu tố bên ngoài - nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho giống hồng không hạt bắc cạn
Hình 3.6 Đồ thị tương quan giữa chất lượng hồng và các yếu tố bên ngoài (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w