Trong đó, tiêu biểu như: - Những vấn đề chung về dân chủ và dân chủ XHCN: + Đỗ Nguyên Phương, Trần Ngọc Đường 1992: Xây dựng nền dân chủ xít, công trình này luận giải cả về lý luận và
Trang 1häc viÖn chÝnh trÞ - hµnh chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh
NguyÔn Anh TuÊn
QUAN §IÓM CñA V.I.L£NIN VÒ D¢N CHñ X· HéI CHñ NGHÜA
Vµ Sù VËN DôNG CñA §¶NG CéNG S¶N VIÖT NAM
TRONG THêI Kú §æI MíI
Chuyªn ngµnh : Chñ nghÜa x· héi khoa häc M· sè : 60 22 85
luËn v¨n th¹c sÜ triÕt häc
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS, TS Ng« H÷u Th¶o
Hµ Néi - 2010
Trang 2Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ bắt nguồn từ chữ Hy Lạp Demokratia", có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhưng nhân dân là một khái niệm mang tính lịch sử cụ thể, chẳng hạn, trong xã hội chiếm nô, người nô lệ không được xem là dân, họ chỉ là những con vật biết nói, không có quyền lực Nhân dân theo khái niệm dân chủ, trước hết và chủ yếu là giai cấp thống trị xã hội, nên trong xã hội có giai cấp đối kháng, phần lớn quyền lực tập trung trong tay một số ít người Vì thế, dân chủ trở thành mục tiêu đấu tranh của các giai tầng bị áp bức Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh vì dân chủ trở thành một trong những động lực của lịch sử Từ dân chủ chủ nô đến chuyên chế phong kiến, từ chuyên chế phong kiến đến DCTS, từ DCTS đến dân chủ vô sản đó là những nấc thang trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử dân chủ
Tiếp tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, đưa nhân dân lao động bước vào sự nghiệp xây dựng CNXH và xây dựng nền dân chủ XHCN Trong quá trình đó, V.I.Lênin đã để lại cho các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới một di sản lý luận phong phú và rất nhiều chỉ dẫn thực tiễn sâu sắc cho việc xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nêu lên thành mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng và từng bước tổ chức xây dựng, thực hành dân chủ với những hình thức, bước đi cụ thể Sự vận dụng đó đã khơi dậy sức mạnh của toàn dân, mang lại nhiều thắng lợi to lớn Nhưng trong quá trình này, nhất là từ sau khi nước nhà thống nhất, cũng đã có những vấp váp, sai lầm nhất định Đời sống của nhân dân rất khó khăn, niềm tin vào CNXH và nền dân chủ XHCN suy giảm, đất nước lâm vào khủng hoảng, có lúc trầm trọng Từ trong khó khăn, Đảng ta đã
Trang 3khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có di sản lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn quý báu của V.I.Lênin về xây dựng nền dân chủ XHCN
Công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, trong đó có thành tựu về dân chủ Dân chủ vừa là biểu hiện kết quả của đổi mới vừa là động lực thúc đẩy đổi mới Dân chủ đã trở thành nhu cầu trực tiếp hằng ngày của nhân dân, không chỉ là mơ ước, khát vọng mà trở thành hiện thực cuộc sống, thành hành động cụ thể và là lợi ích thiết thân của nhân dân Dân chủ XHCN là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới, của tiến trình cách mạng XHCN Thực hành dân chủ, phát triển dân chủ, xây dựng
và hoàn thiện nền dân chủ XHCN là con đường tất yếu khách quan để đổi mới thành công và xây dựng CNXH thắng lợi
Xây dựng dân chủ XHCN là sự nghiệp to lớn, mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên trong quá trình xây dựng và thực thi, những sai lầm, vấp váp, thậm chí tổn thất là không tránh khỏi Vì thế, để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đòi hỏi việc nhận thức, tổ chức xây dựng, thực hành dân chủ phải khoa học, thận trọng Quá trình đổi mới vừa qua ở nước ta cũng đã nảy sinh không ít những hạn chế, thách thức trên vấn đề dân chủ, từ đó đòi hỏi công tác lý luận phải giải đáp, làm sáng tỏ vấn đề này Nghiên cứu lý luận dân chủ XHCN từ gốc, trong đó có các tác phẩm lý luận của V.I.Lênin sẽ có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Việc nghiên cứu này không những góp phần nhận thức đầy đủ, đúng đắn và toàn diện, sâu sắc hơn về lý luận dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là để vận dụng sáng tạo, đối chiếu với thực tiễn, giải đáp những vấn đề thực tiễn đất nước đang đặt ra Mặt khác, nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới, sáng tạo của nhân dân ta cũng như kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng trong quá trình đổi mới gần 25 năm qua có thể tìm thấy nhiều lời giải cho việc xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN trong điều kiện mới Đó
Trang 4thực sự là việc làm cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, trước hết của giới lý luận ở nước ta
Theo ý nghĩa đó, người viết chọn đề tài: Quan điểm của V.I.Lênin
về dân chủ xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành CNXH khoa học
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề dân chủ XHCN luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội, trở thành đối tượng khảo sát hấp dẫn của các khoa học chính trị Các nhà khoa học chính trị đã bàn luận khá nhiều về vấn đề này từ các phương diện, cấp độ khác nhau Trong đó, tiêu biểu như:
- Những vấn đề chung về dân chủ và dân chủ XHCN:
+ Đỗ Nguyên Phương, Trần Ngọc Đường (1992): Xây dựng nền dân chủ
xít, công trình này luận giải cả về lý luận và thực tiễn những quan điểm, chủ trương, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị, nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
+ Viện CNXHKH (1992-1993): Báo cáo chuyên đề về dân chủ và cơ
nghiên cứu của nhiều tác giả về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ trên các bình diện và phương pháp tiếp cận khác nhau Từ những vấn đề chung về dân chủ, phương pháp tiếp cận vấn đề dân chủ, dân chủ trong tư tưởng Nho Giáo, trong hệ tư tưởng của CNTB hiện đại, quan điểm mác xít về dân chủ, dân chủ trong CNXH hiện thực và thực trạng dân chủ ở nước ta
- Những công trình nghiên cứu về quan điểm dân chủ của V.I.Lênin:
+ Ngô Hữu Thảo (1990): Những luận điểm của V.I.Lênin về chính trị
số 3 Bài báo trình bày tinh thần cốt yếu từ những luận điểm về chính trị của
Trang 5V.I.Lênin, từ đó luận giải, phân tích những biểu hiện cần có của quá trình dân chủ hoá về chính trị ở nước ta trên các khía cạnh cụ thể
+ Phạm Xuân Mỹ (2000): Từ di sản của V.I.Lênin về dân chủ, Nghiên
cứu lý luận số 1 Bài báo trình bày, phân tích, bình luận khái quát về những luận điểm cơ bản của V.I.Lênin về dân chủ, DCTS và dân chủ XHCN
+ Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh - ĐHKHXH-NV- Khoa Triết
học (2004): Tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ, Nxb CTQG, Hà Nội Các tác
giả đã phân tích những quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ, sự khác nhau giữa dân chủ vô sản và DCTS, ý nghĩa và những bài học đối với quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta hiện nay
+ Giáo sư Đỗ Tư (2004): Tư tưởng chính trị của Lênin từ cách mạng
phân tích những phạm trù cơ bản trong hệ thống lý luận chính trị của V.I.Lênin, từ đó, khẳng định những giá trị trường tồn trong tư tưởng chính trị của Người, cũng như giá trị, ý nghĩa của di sản này đối với cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới
- Về tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh, có:
Lê Xuân Đình (2004): Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề
Chương (2004): Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; Đặng Đình Tân - Đặng Minh Tuấn (2004): Quan niệm của Chủ tịch Hồ
Các công trình trên đã trình bày cơ sở hình thành, phát triển và
những nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng như những yêu cầu, điều kiện để đưa tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực đời sống xã hội Hồ Chí Minh được đánh giá là nhà dân chủ thực hành và là mẫu mực trong thực hành dân chủ, là mẫu mực trong vận dụng chủ nghĩa Lênin
Trang 6- Về xây dựng, phát triển dân chủ XHCN trong đổi mới ở nước ta, có
các công trình:
* Bàn chung về dân chủ và đổi mới:
Trần Khắc Việt (2004): Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: vấn đề
Hà Nội; GS.TS Hoàng Chí Bảo(2006): Thành tựu hai mươi năm đổi mới -
Công(2009): Xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nxb CT-HC, Hà Nội
Những công trình trên khẳng định vai trò của dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN; khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế, nêu những suy ngẫm, trăn trở và đề xuất các giải pháp xây dựng nền dân chủ ở nước ta thời kỳ đổi mới
* Phương thức thực thi dân chủ có:
Nguyễn Thị Vy (2000): Mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp ở nước
Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà
- CN.Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (Đồng chủ biên) (2009): Phản biện xã hội và
Nhóm công trình này bàn về các phương thức, cơ chế thực thi dân chủ, thành tựu và giải pháp thực hiện phát huy dân chủ ở nước ta
* Về hệ thống chính trị có:
GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2005): Hệ thống chính trị ở cơ sở
Đình Hoan (Chủ biên) (2008): Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống
Trang 7Các công trình này bàn về hệ thống chính trị: thực trạng, giải pháp đổi mới Trong đó, bàn nhiều về thực trạng và quan điểm, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của các bộ phận của hệ thống chính trị cũng như quan hệ, cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị
* Về dân chủ ở cơ sở có:
Tòng Thị Phóng (2004): Khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ
(2009): Nhìn lại mười năm thực hịên Quy chế dân chủ cơ sở, Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở), số 26; GS.TS Hoàng Chí Bảo (2010): Dân chủ và dân
Những công trình này phân tích, đánh giá quá trình xây dựng, phát huy dân chủ cơ sở, nhất là cơ sở nông thôn, loại hình cơ sở chủ yếu của nước ta
Tóm lại, các công trình khoa học trên đây đã cho thấy: Quan điểm về dân chủ và dân chủ XHCN của V.I.Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới đã được nghiên cứu ở các cấp độ, khía cạnh khác nhau:
- Có công trình, những quan điểm dân chủ của V.I.Lênin được trình bày cùng với tư tưởng dân chủ của C.Mác, Ph.Ăngghen; có công trình bàn riêng về quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ và giá trị, ý nghĩa của những quan điểm này đối với thực tiễn Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu về quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới đã có khá nhiều Tuy nhiên, để đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống, nhất là phân tích, đánh giá sự vận dụng quan điểm dân chủ XHCN của V.I.Lênin thì vẫn còn là mảnh đất trù phú đối với các khoa học chính trị
Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ XHCN và sự vận dụng những quan điểm này của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, nhất là ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ Triết học dưới góc độ chuyên ngành CNXH khoa học
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trang 8- Mục đích: Đề tài hệ thống hoá, phân tích, đánh giá những quan điểm, cơ bản của V.I.Lênin về dân chủ XHCN, làm rõ sự vận dụng những quan
điểm, tư tưởng ấy của Đảng ta trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng: Nghiên cứu những quan điểm về dân chủ XHCN của V.I.Lênin và sự vận dụng những quan điểm ấy của Đảng ta trong thời kỳ
đổi mới
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ có nội dung phong phú, ở đây
đề tài chỉ hệ thống hoá, phân tích và đánh giá những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về dân chủ, DCTS, nhất là dân chủ XHCN qua một số tác phẩm tiêu
biểu: Nhà nước và cách mạng (7/1917); Những nhiệm vụ trước mắt của chính
+ Bước đầu tìm hiểu sự vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về dân chủ XHCN của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta, chủ yếu là thời kỳ đổi mới, từ 1986
đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Trang 9dân chủ trong cách mạng XHCN, đồng thời có sử dụng kết quả nghiên cứu từ một số công trình khoa học có liên quan
- Phương pháp luận của luận văn: Luận văn được nghiên cứu trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin; phương pháp logic - lịch sử; phân tích, tổng hợp và phương pháp xử lý tư liệu
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các quan điểm về dân chủ XHCN của V.I.Lênin, từ đó, khẳng định những giá trị bền vững, cũng như chỉ ra những luận điểm cần tiếp tục nghiên cứu
- Góp phần phân tích, đánh giá việc Đảng lãnh đạo xây dựng nền dân chủ XHCN theo tinh thần của V.I.Lênin trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất các giải pháp để tiếp tục xây dựng và phát huy dân chủ XHCN ở nước ta
7 ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin khoa học về vấn đề dân chủ XHCN, cả về lý luận và thực tiễn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập các nội dung liên quan đến dân chủ, nhà nước và hệ thống chính trị trong CNXH khoa học và các chuyên ngành khoa học khác
- Luận văn có thể góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục xây dựng và phát huy dân chủ XHCN trong điều kiện hiện nay ở nước
ta trên các cấp độ khác nhau
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu chính gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1 QUAN ĐIểM CủA V.I.LêNIN Về DâN CHủ
“demos” là nhân dân, “kratos” là quyền lực [5, tr.154, 155]
Như vậy, ban đầu, để hoạt động của cộng đồng (nhất là hoạt động sản xuất vật chất và những hoạt động phuc vụ sản xuất vật chất) diễn ra bình thường và đạt được mục đích thì các thành viên trong cộng đồng phải cử ra (uỷ quyền) những đại diện để chỉ huy, điều khiển Khi những người này không xứng đáng, không còn có khả năng thực thi lợi ích cộng đồng thì bị cộng đồng phế bỏ (bãi miễn) ở đây, nguồn gốc quyền lực là từ nhu cầu khách quan của hoạt động sản xuất ngày càng có tính xã hội hoá Chủ thể quyền lực là mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, của nhân dân, trước hết là của những người lao động Quyền lực ấy gọi là quyền lực công (quyền lực của cộng đồng, của xã hội)
Những người nắm quyền lực công, lúc đầu có thể là những người có ưu thế về sức khoẻ, trí tuệ, tuổi tác, kinh nghiệm, đạo đức Khi xã hội phân hoá giai cấp thì giai cấp nắm tư liệu sản xuất trở thành chủ thể quyền lực công, sử dụng quyền lực ấy chủ yếu và trước hết để bảo đảm lợi ích của giai cấp mình
Đó là lúc giai cấp chủ nô lập ra nhà nước dân chủ chủ nô của mình (nhà nước
Trang 11Aten ở Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ VIII đến thế kỷ V tr.CN) Thực chất, mọi lợi ích, quyền lực đã bị giai cấp chủ nô thâu tóm “Nhân dân” ở đây chỉ là một số
ít trong xã hội, gồm những người chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số trí thức
và những người tự do khác Còn đa số nhân dân lao động, những người nô lệ,
bị mất hết quyền lực, họ chỉ là những “công cụ biết nói” Vậy, quyền lực nhân dân, quyền lực công bị tha hóa thành quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của giai cấp chủ nô
Không cam chịu, nhân dân lao động đã vùng dậy đấu tranh chống chế độ tư hữu, chống nhà nước của giai cấp bóc lột để đòi quyền dân chủ của mình Dân chủ, do đó, trở thành vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn trong lịch
sử nhân loại
Tóm lại, khái niệm dân chủ có thể hiểu với những nội dung cơ bản sau:
- Dân chủ là quyền lực của nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực Quyền lực ấy là tự nhiên, có thật Nguồn gốc quyền lực nhà nước xuất hiện từ cộng đồng, xã hội C.Mác từng viết: “… sự thật là nhà nước xuất hiện từ cái số
đông ấy, cái số đông tồn tại dưới dạng những thành viên của gia đình và những thành viên của xã hội công dân” [51, tr.315 - 316] Do vậy, theo C.Mác, trong chế độ dân chủ, chúng ta có chế độ nhà nước của nhân dân, nhà nước ra đời, tồn tại vì nhân dân, chứ không phải nhân dân tồn tại vì nhà nước
- Dân chủ là việc nhân dân thực thi quyền lực của mình Hoạt động thực thi quyền lực trước hết là hoạt động sản xuất cộng đồng vì lợi ích chung, trong
đó có lợi ích của mỗi thành viên Và đồng thời, nhân dân cử ra những người chỉ huy, quản lý cũng như phế bỏ những người đó khi không còn xứng đáng nữa
Đó là cách thức, phương thức nhân dân tổ chức thực thi quyền lực của mình
- Trong xã hội có giai cấp, nhà nước, “nhân dân” là ai, quyền lực thuộc
về những ai, cách thức tổ chức thực thi quyền lực như thế nào, chủ yếu phụ thuộc vào lợi ích, lập trường của giai cấp thống trị Đấu tranh giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước trở thành trọng tâm của các cuộc
đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân chủ trong các thời đại khác nhau của lịch
sử loài người
Trang 12Dưới thời đại CNTB chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bước vào thời kỳ bão táp, V.I.Lênin đã có nhiều luận giải chung về dân chủ và chế độ dân chủ ở các phương diện sau:
Mọi cơ quan được bầu ra hay mọi hội nghị đại biểu đều có thể coi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thật sự cho ý chí của nhân dân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng
cử được thừa nhận và được áp dụng Nguyên tắc cơ bản đó của dân chủ chân chính, chung cho tất cả mọi cuộc hội nghị đại biểu, không trừ trường hợp nào [39, tr.126]
Trang 13Thứ hai, với tính cách là chế độ chính trị, hình thức nhà nước thì chế độ dân chủ bao hàm dân chủ và chuyên chính
Một mặt, nó “thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” Mặt khác, nó “chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người được quyền ngang nhau trong việc xác
định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước” [37, tr.123] Trong nhà nước dân chủ, chế độ dân chủ thì dân chủ và chuyên chính là hai mặt đối lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau Tất nhiên, mức độ, phạm vi, đối tượng dân chủ, chuyên chính ở các nhà nước, các chế độ dân chủ sẽ không như nhau, do
điều kiện lịch sử cụ thể quy định Chế độ dân chủ không phải chỉ là chuyên chính, chuyên chính không hoàn toàn đối lập và loại trừ dân chủ, chuyên chính là một mặt của chế độ dân chủ, là cái bảo đảm thực tế cho dân chủ
giai cấp: dân chủ của ai, cho ai, chuyên chính của ai, đối với ai? Không có dân chủ “thuần tuý”, “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”
Khi phê phán sai lầm cơ hội của Cauxki về vấn đề này, V.I.Lênin khẳng
định: “Nếu không khinh thường lẽ phải và không khinh thường lịch sử, thì ai cũng thấy rõ rằng chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau thì không thể nói đến “dân chủ thuần tuý” được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính giai cấp” [41, tr.304] Mỗi giai cấp giải thích về dân chủ, cả về phương diện lý thuyết và thực tế với các cách thức và mức độ khác nhau, tuỳ lập trường, quan
điểm và lợi ích của giai cấp mình Do đó, dân chủ trước hết và chủ yếu là dân chủ của giai cấp thống trị, bị quy định, chi phối bởi lợi ích, lập trường của giai cấp thống trị xã hội Tất nhiên, dân chủ của giai cấp thống trị muốn được thực thi và bảo đảm thì nó, dù muốn hay không muốn cũng phải thể hiện ra dưới những hình thức, mức độ ít nhiều rộng rãi, nghĩa là, không chỉ cho nó mà còn cho lực lượng khác C.Mác từng viết: “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào
nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó” [52, tr 253]
Trang 14Thứ tư, dân chủ không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là thành tựu, thước đo trình độ giải phóng con người, đưa con người đạt tới bình đẳng, tự do Dân chủ luôn gắn với bình đẳng, tự do V.I.Lênin viết: “Dân chủ là bình
đẳng…” [37, tr.122] Nhưng trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, thì tự do, bình đẳng cũng bị giới hạn Nền dân chủ bao hàm chuyên chính, mang bản chất giai cấp nên sẽ không có bình đẳng chung chung, “dân chủ thuần tuý”,
“tự do thuần tuý” được Với ý nghĩa này, tự nó khẳng định, khái niệm, khẩu hiệu “nhà nước nhân dân tự do” mà các nhà lý luận tư sản, những tay bồi bút cho chế độ tư sản đưa ra chỉ là trò ảo thuật của ngôn từ nhằm đánh lừa, làm rối nhiễu đầu óc những ai thiếu hiểu biết về lý luận và hời hợt về thực tiễn, vì thật
ra, “nhà nước tự do là nhà nước được tự do đối với công dân của mình, tức là nhà nước với một chính phủ độc tài” [37, tr.79] Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì tự do, dân chủ với người này, giai cấp này thì đồng thời hạn chế, thậm chí tước đoạt tự do, dân chủ của người khác, giai cấp khác V.I.Lênin khẳng định: “Chừng nào còn nhà nước thì chừng đó không có tự do Đến khi
có tự do thì không còn nhà nước nữa” [37, tr.117]
(thiểu số phục tùng đa số)
Chế độ dân chủ là sự thừa nhận nguyên tắc ấy Tất nhiên, V.I.Lênin viết:
“chế độ dân chủ và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số không phải là những chuyện giống hệt như nhau Chế độ dân chủ, đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số” [37, tr.151] Trong thời kỳ bão táp cách mạng, từ góc
độ chính trị xã hội, V.I.Lênin bàn nhiều đến tập trung dân chủ như là một
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống tổ chức quyền lực Người xem tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc có ý nghĩa sống còn đối với các tổ chức cách mạng trong tiến trình cách mạng XHCN “Nhưng cần phải hiểu rõ rằng chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ” [40, tr.185]
Trang 15Thứ sáu, dân chủ gắn với công khai Công khai là một nội dung của dân chủ, chế độ dân chủ
V.I.Lênin viết: “Nói chế độ dân chủ mà không có tính công khai… thì thật là kì cục” [27, tr.176] Các khía cạnh của công khai được V.I.Lênin bàn
đến là tự do thảo luận, tự do ý kiến, tự phê bình và phê bình, nhất là thái độ
đối với những sai lầm, khuyết điểm của cá nhân, của tổ chức và của chính quyền trước nhân dân Người nhấn mạnh: “phê bình ở đây không phải là để phê bình mà là để đưa ra được những chủ trương, nghị quyết đúng đắn” [46, tr.440] Thừa nhận sai lầm, thiếu sót, thất bại và dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, từ đó kiên quyết sửa chữa, như thế chúng ta mới học được cách chiến thắng Thậm chí, kể cả việc công khai sai lầm trước kẻ thù cũng là việc cần thiết V.I.Lênin nói: “Chúng ta không nên che dấu sai lầm của chúng ta trước
kẻ thù Ai sợ điều đó, người ấy không phải là người cách mạng” [48, tr.40]
pháp, biện pháp trong đấu tranh giai cấp
ở điều kiện của nước Nga lúc ấy, V.I.Lênin cho rằng, “muốn đánh đổ CNTB, chủ nghĩa đế quốc thì không thể dùng những cải cách dân chủ, dù là những cải cách dân chủ “lý tưởng” đi nữa…” [34, tr.92] Nghĩa là, V.I.Lênin hiểu con đường, biện pháp cải cách dân chủ là con đường, biện pháp có tính chất thoả hiệp, cải lương, điều hoà giai cấp và không thực tế
tế và chính trị Người viết:
Cũng như bất cứ một thượng tầng chính trị nào nói chung, bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định Vì vậy, nếu tách “dân chủ trong sản xuất” ra khỏi bất cứ một thứ dân chủ nào khác, thì không có ý nghĩa gì cả [46, tr.344, 345]
V.I.Lênin còn viết: “Trong đời sống, chế độ dân chủ không bao giờ “tách riêng” được, mà nó sẽ “đứng chung trong toàn bộ”, nó sẽ ảnh hưởng đến kinh
Trang 16tế, sẽ thúc đẩy sự cải tạo kinh tế, nó sẽ chịu ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế” [37, tr.97]
đổi cùng với vận động, phát triển của lịch sử
“Chế độ DCTS đã từng thay thế chế độ phong kiến, và chế độ dân chủ vô sản thay thế chế độ DCTS” [41, tr.304-305] Đó là vấn đề có tính quy luật của lịch sử dân chủ, của lịch sử tiến hoá nhân loại V.I.Lênin xem xét chế độ dân chủ trong sự tiến hoá tới CNXH, chủ nghĩa cộng sản Người viết: “phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, đó là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội” [37, tr.97] Như vậy, từ chế độ phong kiến đến DCTS, từ DCTS đến dân chủ vô sản, từ dân chủ vô sản
đến không còn dân chủ nữa (dân chủ tự tiêu vong), đó là con đường biện chứng của lịch sử sinh động
Trên cơ sở những vấn đề chung về dân chủ và chế độ dân chủ như thế, V.I.Lênin phân tích, luận giải về DCTS và dân chủ vô sản
1.1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ tư sản
độ cai trị của một ông vua bằng dân chủ của toàn bộ giai cấp tư sản Dưới các hình thức phong phú của nó, nhất là dưới chế độ công hoà dân chủ, thì nó là hình thức nhà nước có thể đem lại một chế độ dân chủ ít nhiều đầy đủ, là một bước tiến dài trong lịch sử tiến hoá của nhân loại
Trang 17Chế độ DCTS, theo V.I.Lênin, nó được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Người viết: “…trong từng nước khác nhau, thì các tơ rớt và các ngân hàng lại không giống nhau về hình thức cụ thể của chúng Các hình thức chính trị lại càng không giống nhau trong các nước đế quốc chủ nghĩa tiên tiến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức” [34, tr159] Theo V.I.Lênin, “…dân chủ về mặt chính trị chỉ là một trong những hình thức có thể có của kiến trúc thượng tầng của CNTB Như thực tế đã chứng minh, CNTB và chủ nghĩa đế quốc đều phát triển được dưới mọi hình thức chính trị, bằng cách làm cho tất cả các hình thức ấy phụ thuộc vào nó” [34, tr.29] Trong đó, “chế độ cộng hoà là một trong những hình thái kiến trúc thượng tầng chính trị có thể có được của xã hội tư bản chủ nghĩa, hơn nữa, đó là hình thái dân chủ nhất trong những điều kiện hiện nay” [34, tr124]; chế độ cộng hoà dân chủ đại nghị (quyền lực thuộc
về nghị viện) là “kiểu nhà nước tư sản hoàn thiện nhất, tiên tiến nhất” [35, tr197] Hơn nữa,
Chế độ cộng hoà dân chủ là hình thức tốt nhất có thể có được của CNTB; cho nên sau khi nắm được hình thức tốt nhất ấy, thì tư bản xây dựng quyền lực của mình một cách vững vàng và chắc chắn đến nỗi không một sự thay đổi nhân viên, hay cơ quan, hay chính đảng nào trong nước cộng hoà tư sản, lại có thể làm lung lay được quyền lực ấy [37, tr.18]
Quả thực, chế độ cộng hoà dân chủ của CNTB là “bộ áo nguỵ trang” [42, tr.59], là ‘cái áo giáp che thân cho họ” [42, tr.420]
1.1.2.2 Bản chất của nền dân chủ tư sản
hình thức khác nhau, “nhưng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản” [37, tr.44]
“Trong bất cứ một nước tư bản văn minh nào, cũng chỉ có DCTS, chứ không có “dân chủ nói chung” [41, tr.599] Chế độ DCTS là dân chủ của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản và vì giai cấp tư sản Còn chuyên chính của
Trang 18giai cấp tư sản để bảo vệ, thực thi lợi ích của giai cấp tư sản Cơ sở của cái bản chất DCTS, theo V.I.Lênin: “Mọi tự do chính trị nói chung, dựa trên quan hệ sản xuất hiện đại, nghĩa là những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đều là một thứ tự do tư sản Yêu sách tự do biểu hiện trước tiên lợi ích của giai cấp tư sản” [28, tr.128] Vì thế, “trong xã hội tư bản chủ nghĩa, những vấn đề chủ yếu trong đời sống kinh tế của nhân dân lao động, tình cảnh họ bị đói rét hoặc
đời sống của họ được tốt đẹp, đều do nhà tư bản với tư cách là ông chủ, đấng thượng đế quyết định!” [44, tr.330] Nghị viện tư sản, ngay cả nghị viện của nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất trên thế giới cũng không bao giờ được những người nghèo coi là những “cơ quan của mình” [40, tr.253] V.I.Lênin kết luận: “Chừng nào chế độ tư hữu về ruộng đất và về các tư liệu sản xuất khác còn tồn tại thì chế độ cộng hoà dân chủ nhất tất nhiên vẫn là một nền chuyên chính của giai cấp tư sản” [42, tr.111-112]
xem là hình thức tiên tiến nhất thì vẫn chỉ là nền dân chủ của số ít, dân chủ của người giàu, một nền dân chủ rất hạn hẹp
Chính vì thế, sau mấy trăm năm CNTB ra đời, khẩu hiệu tự do, bình
đẳng, bác ái mà giai cấp tư sản giương lên đã không thể được thực hiện đầy
đủ Về điều này, V.I.Lênin viết: “chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị bó trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa và do đó, thực ra, nó luôn luôn là một chế độ dân chủ đối với một thiểu số, vẫn chỉ là một chế độ dân chủ đối với riêng những giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà thôi” [37, tr.107] Ông phê phán gay gắt: “Dân chủ cho một thiểu số rất nhỏ, dân chủ cho người giàu, đó là nền dân chủ trong xã hội tư bản chủ nghĩa”; ở đó,
“chúng ta chỉ có một thứ dân chủ cắt xén, khốn khổ, giả dối, một thứ dân chủ chỉ dành riêng cho bọn giàu có, cho số ít” [37, tr.107, 110]
và trấn áp, tước đoạt dân chủ đối với số đông nhân dân lao động
“Không có một nhà nước nào, dù là dân chủ nhất, mà lại không có trong hiến pháp của nó những chỗ ngoắt ngoéo hay hạn chế, khiến giai cấp tư
Trang 19sản có thể đem quân đội chống lại công nhân, có thể tuyên bố luật giới nghiêm…trong trường hợp “vi phạm trật tự”, nhưng thực ra là trong trường hợp mà giai cấp bị bóc lột “vi phạm” tình trạng nô lệ của mình và có mảy may
ý gì không muốn sống đời nô lệ nữa” [41, tr.307] Giai cấp tư sản đã “dùng trăm phương nghìn kế để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước, không cho họ tự do hội họp, tự do xuất bản” [41, tr.311] Chế độ DCTS đã dày công xây dựng nên hàng trăm pho luật ức chế công nhân, trói chân tay người nghèo khổ, tạo nên hàng nghìn chuyện bắt bẻ và trở ngại cho nhân dân lao động “Chế độ DCTS là chế độ tuyên bố một cách trịnh trọng và huyênh hoang đủ mọi thứ tự do và quyền lợi, nhưng trên thực tế lại không để cho chính đại đa số dân cư, tức là công nhân và nông dân, được hưởng dù là chút ít những thứ tự do và quyền lợi ấy” [42, tr.116] Đối với chế độ đại nghị tư sản, V.I.Lênin chỉ rõ:
Hãy xem bất cứ nước nào có chế độ đại nghị, từ Mỹ đến Thuỵ
Sỹ, từ Pháp đến Anh, Na Uy… thì thấy rằng, công tác thật sự của nhà nước đều làm ở hậu trường và đều do các bộ, các văn phòng, các ban tham mưu làm Trong các nghị viện, người ta chỉ chuyên nói suông với mục đích duy nhất là lừa bịp “dân thường” thôi” [37, tr.57]
Từ đó, V.I.Lênin đi đến kết luận, không chỉ trong các nước quân chủ lập hiến - đại nghị mà cả trong những nước cộng hoà dân chủ nhất nữa, thì thực chất của chế độ đại nghị tư sản là: cứ mấy năm lại một lần quyết định xem người nào trong giai cấp thống trị sẽ chà đạp và đè nén nhân dân trong nghị viện [37, tr.56 - 57]
chuyên chính, bạo lực trấn áp của nó Giai cấp tư sản dùng nhiều công cụ, phương tiện và phương pháp khác nhau để trấn áp, nhưng theo V.I Lênin, chung quy lại, có hai phương pháp chủ yếu:
Phương pháp thứ nhất là phương pháp bạo lực, hãm hại, cấm
đoán và đàn áp Về thực chất, đó là một phương pháp mang dấu vết của chế độ nông nô, của thời trung cổ… Phương pháp đấu tranh khác mà
Trang 20giai cấp tư sản dùng… là chia rẽ công nhân, làm rối loạn hàng ngũ của
họ, mua chuộc một số đại biểu hoặc một số nhóm của giai cấp vô sản
để lôi kéo họ sang phe giai cấp tư sản… Những thủ đoạn loại này không mang tính chất nông nô; nó mang tính chất tư sản thuần tuý hiện đại, phù hợp với chế độ tiến bộ và văn minh của CNTB, phù hợp với chế độ dân chủ [31, tr.377]
Dù dưới phương pháp, hình thức nào, trong chế độ DCTS, khủng bố và chuyên chính tư sản vẫn thống trị, nó biểu hiện ra một cách công nhiên mỗi khi bọn bóc lột thấy dường như quyền hành của tư bản bị lung lay [41, tr.604-605] Chế độ nhà nước tư sản, nghị viện tư sản, quân đội, cảnh sát trong chế
độ DCTS thực ra là “bộ máy để cho những nhúm người bóc lột dùng để đàn áp hàng triệu người lao động” [41, tr.560] Thực vậy:
Nhà nước dưới chế độ tư bản, nhà nước theo đúng nghĩa của nó,
là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với một giai cấp khác, hơn nữa, lại là của thiểu số đối với đa số Một thiểu số người bóc lột muốn tiến hành có kết quả việc trấn áp thường xuyên một đa số người bị bóc lột thì đương nhiên phải hung ác, tàn bạo đến cực độ trong
sự trấn áp, phải gây ra hàng bể máu [37, tr.110, 111]
Như vậy, chế độ DCTS thực chất và chủ yếu là chuyên chính, trấn áp của thiểu số đối với đa số Tất nhiên, hình thức, mức độ dân chủ và chuyên chính không như nhau ở những thời gian, không gian khác nhau của chế độ DCTS Lịch sử CNTB cận hiện đại và đương đại vẫn chứng minh một cách sinh động rằng, “chế độ DCTS càng phát triển thì trong trường hợp có sự chia
rẽ về chính trị sâu sắc và nguy hiểm cho giai cấp tư sản, nó càng tiến gần đến tàn sát hay nội chiến” [41, tr.309]
Chế độ DCTS là “một thiên đường cho bọn giàu có”, là một cái cạm bẫy và cái mồi giả đối với những người bị bóc lột, đối với những người nghèo [41, tr.305] ở đó, quần chúng lao động bị gạt ra, không được tự do hội họp, tự
do xuất bản, không được tham gia quản lý nhà nước ở đó, “công nhân và tất
Trang 21cả những người lao động đều đói ăn, thiếu mặc, bị phá sản và kiệt quệ” [41, tr.480] ở đó, các giai cấp lao động bị áp bức, bị mê muội, bị giam hãm trong cảnh bần cùng, dốt nát, dã man trong hàng thế kỷ” [41, tr.72] ở đó, phụ nữ (tức là một nửa nhân loại) bị hai tầng áp bức: trong xã hội, họ bị bọn tư bản áp bức, họ không có quyền gì cả, không được bình đẳng với nam giới ; và trong gia đình, họ bị giam hãm bởi “chế độ nô lệ gia đình” [46, tr.463- 464] Bởi vậy, trong chế độ DCTS, những người lao động chịu đựng cảnh đói khổ, khốn cùng đến nỗi họ “không thiết gì đến dân chủ”, “không thiết gì đến chính trị” Chế độ DCTS gạt họ ra, không cho họ tham gia tích cực vào chế độ dân chủ, vào đời sống chính trị
Như vậy, theo tư tưởng của V.I.Lênin về DCTS thì đó là nền dân chủ của bọn tư sản giàu có, nền dân chủ của số ít, do số ít và vì số ít bọn bóc lột Còn đối với đa số nhân dân lao động, họ bị tước đoạt dân chủ, bị trấn áp và bị lừa phỉnh Đó là DCTS, là thực chất của nó, “nếu nó không giữ đông đảo quần chúng trong sự áp bức, ngu muội, nghèo khổ và dốt nát” thì nó đã không còn
là CNTB nữa [42, tr.472- 473]
1.1.2.3 Thái độ của những người cộng sản đối với dân chủ tư sản
Thái độ của giai cấp công nhân và các đảng cộng sản đối với DCTS cũng là vấn đề lớn trong lý luận về dân chủ của V.I.Lênin Theo V.I.Lênin, chế độ DCTS cũng có sự phát triển biện chứng của nó nên thái độ, lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân và đảng của nó cũng không thể như nhau trong các thời điểm, các điều kiện hoàn cảnh khác nhau của lịch sử
Thứ nhất, trong điều kiện vẫn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế nhưng giai cấp tư sản đã trở thành một giai cấp phản động, V.I.Lênin cho rằng, giai cấp công nhân vẫn phải thông qua “con đường tự do tư sản và tiến
bộ tư sản” [28, tr.130] Tất nhiên trong cuộc cách mạng này (cách mạng
DCTS kiểu mới), giai cấp công nhân tham gia với vai trò là người tiên phong, lãnh đạo Đó là cách thức, con đường để giai cấp công nhân, nhân dân lao
động có thể làm cho CNXH gần lại
Trang 22Thứ hai, trong giới hạn CNTB, DCTS, giai cấp công nhân và đảng của
Chế độ DCTS càng phát triển, càng “làm cho cuộc đấu tranh giai cấp trở nên rộng rãi, công khai, có ý thức” [30, tr.139] “Chế độ DCTS càng phát triển thì công nhân càng thấy rõ rằng nguồn gốc đau khổ là CNTB…công nhân của dân tộc bị áp bức càng nhận rõ tất cả đều do CNTB sinh ra” [34, tr.165] Nên
“giá trị không thể phủ nhận của nó (DCTS) là ở chỗ đã giáo dục và rèn luyện giai cấp vô sản đứng lên đấu tranh” [41, 123] V.I.Lênin đòi hỏi, “phương pháp mác xít để giải quyết vấn đề dân chủ là ở chỗ giai cấp vô sản, trong cuộc
đấu tranh giai cấp của mình, sử dụng tất cả mọi thiết chế và khuynh hướng dân chủ chống giai cấp tư sản nhằm chuẩn bị cho giai cấp vô sản chiến thắng giai cấp tư sản, đánh đổ giai cấp tư sản” [34, tr.93] Ngay cả trong điều kiện CNTB đã trở nên phản động toàn diện (thành chủ nghĩa đế quốc), thì nó vẫn
“đẻ ra những nguyện vọng dân chủ trong quần chúng… làm gay gắt thêm sự
đối kháng giữa chủ nghĩa đế quốc phủ nhận dân chủ với quần chúng khát khao dân chủ” [34, tr.92] Tuy nhiên, trong việc lợi dụng giá trị của DCTS thì “chế
độ cộng hoà dân chủ là hình thức nhà nước tốt nhất cho giai cấp vô sản dưới chế độ tư bản chủ nghĩa” [37, tr.25]
Thứ ba, về nguyên tắc, “chừng nào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để giành toàn bộ chính quyền chưa phải là vấn đề trước mắt, thì chúng
ta vẫn phải bắt buộc lợi dụng những hình thức DCTS” [41, tr.537]
Trong tình hình ấy, việc những người cộng sản tham gia các cuộc bầu
cử vào nghị viện tư sản, thậm chí tham gia vào nghị viện thì đó là một sách lược đúng đắn Bởi vì:
Chừng nào chúng ta chưa đủ sức giải tán nghị viện tư sản thì chừng đó chúng ta phải đấu tranh chống nó ở bên trong và từ bên ngoài… Chừng nào những người cộng sản chưa có khả năng nắm được chính quyền… chừng nào giai cấp tư sản còn nắm được chính quyền, kêu gọi các giai cấp trong nhân dân tham gia bầu cử thì chừng đó chúng
Trang 23ta có nhiệm vụ tham gia bầu cử để cổ động tất cả những người lao động, chứ không phải chỉ những người vô sản…Chính từ trong nghị viện tư sản, từ trong lòng của nó, chúng ta, những người cộng sản phải làm cho nhân dân biết được sự thật… hiểu được tất cả những mánh khoé đê tiện
Thứ tư, chế độ dân chủ vô sản không thể có được bằng con đường nghị
Việc tham gia vào nghị viện tư sản là cần thiết đối với đảng của giai cấp vô sản cách mạng để giáo dục quần chúng qua các cuộc bầu cử
và qua sự đấu tranh của các đảng phái trong nghị viện Nhưng nếu chỉ
bó hẹp cuộc đấu tranh giai cấp ở việc đấu tranh trong nội bộ nghị viện, hay coi việc đấu tranh trong nội bộ nghị viện là hình thức cao nhất, có tính chất quyết định, chi phối các hình thức đấu tranh khác, thì như thế
có nghĩa là thực tế chuyển sang phía giai cấp tư sản để chống lại giai cấp vô sản [44, tr.25]
Thứ năm, trong điều kiện giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bằng bạo lực cách mạng nắm được chính quyền, từng bước xây dựng nền dân chủ mới thì việc kế thừa những thành tựu tiến bộ mang tính khách quan của
lặp lại, trở về với chế độ DCTS Vấn đề này, một mặt, thể hiện lập trường giai cấp, mặt khác, thể hiện biện chứng phát triển của chế độ dân chủ V.I.Lênin phân tích:
Khi giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền rồi và khi cộng hoà Xô viết đã thực hiện một kiểu chế độ dân chủ cao hơn thì mọi bước thụt
Trang 24lùi quay trở lại chế độ đại nghị tư sản và chế độ DCTS đều tuyệt đối là một hành vi phản động, phục vụ lợi ích của bọn bóc lột, bọn địa chủ và bọn tư bản Những khẩu hiệu ca ngợi cái gọi là chế độ dân chủ chung, chế độ dân chủ cho tất cả mọi người, cho toàn thể quốc dân, một chế độ dân chủ siêu giai cấp, nhưng trên thực tế là một chế độ DCTS, thì chỉ có thể phục vụ cho lợi ích của bọn bóc lột mà thôi [42, tr.111]
Như vậy, theo V.I.Lênin, chế độ DCTS là một bước tiến phát triển tiến
bộ so với các chế độ dân chủ trước đó Tuy nhiên, trong tính lịch sử cụ thể, nó không tránh khỏi những hạn chế do tính quy định của cái bản chất DCTS Vì thế, nó không thể tồn tại mãi mãi, mà loài người có nhu cầu khách quan thay thế nó bằng một nền dân chủ cao hơn về chất
1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa 1.2.1 Tính tất yếu và phương thức ra đời của dân chủ xã hội chủ nghĩa
Do tính hạn chế của DCTS, khi vận động đến những điều kiện chín muồi sẽ mất đi và thay vào đó là một nền dân chủ mới: dân chủ vô sản, dân chủ XHCN Lịch sử tạo điều kiện và đòi hỏi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đông đảo phải “nhìn về phía trước để đem chế độ dân chủ vô sản thay chế độ DCTS”
V.I.Lênin viết: “Giai cấp công nhân cần có một nền dân chủ…có khả năng trở thành một hình thức của cách mạng XHCN, cũng như trở thành công
cụ của cuộc cách mạng đó” [37, tr.321] Bởi vì, “Không thể có một CNXH thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn” [33, tr.324]; “CNXH dựa trên kinh tế, nhưng hoàn toàn không thể quy toàn bộ CNXH vào kinh tế
được… trên cơ sở đó còn cần phải thiết lập một tổ chức nhà nước dân chủ, một quân đội dân chủ” [34, tr.27] và, “cuộc cách mạng XHCN không phải chỉ
là một cuộc giao chiến duy nhất mà thôi, nó là một thời kỳ bao gồm cả hàng loạt những trận giao chiến để thực hiện những cải cách kinh tế và dân chủ trong tất cả các lĩnh vực” [33, tr.79] Như vậy, để tiến đến CNXH, chủ nghĩa cộng sản thì chuyên chính vô sản, dân chủ vô sản là con đường, nhiệm vụ tất
Trang 25yếu khách quan Sự ra đời, phát triển của dân chủ XHCN không những là kết quả mà nó còn trở thành một trong những nội dung, mục tiêu, phương thức và
động lực cơ bản của cách mạng XHCN
Trong bước thứ nhất của tiến trình cách mạng XHCN, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng từng khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng, giai cấp công nhân phải bằng bạo lực cách mạng lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền, giành dân chủ Tiếp tục tinh thần ấy, trong
điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin cũng chỉ rõ: giai cấp công nhân phải “lật đổ CNTB, tước đoạt giai cấp tư sản, coi đó là cơ sở cần thiết để xoá bỏ tình trạng bần cùng của quần chúng cũng như để thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện tất cả mọi cải cách dân chủ” [33, tr 79] Bởi vì: "Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vô sản không thể bằng con đường “tiêu vong”
được, mà chỉ có thể, theo quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi” [33, tr.27]
Nhưng, V.I.Lênin cũng lưu ý:
Một số trường hợp có tính chất ngoại lệ, thí dụ như trong một nước nhỏ nào đó, khi một nước láng giềng lớn đã hoàn thành cuộc cách mạng xã hội, có thể là giai cấp tư sản chịu từ bỏ chính quyền một cách hoà bình, nếu chúng biết rằng chẳng có hy vọng gì chống cự lại được và nếu chúng muốn giữ cái đầu của chúng hơn [34, tr.159]
Theo tính phổ biến ấy của tiến trình cách mạng XHCN, một điều kiện quan trọng để giai cấp công nhân và nhân dân lao động có thể giành chính quyền, xây dựng nền dân chủ mới cho mình, là họ phải “được giáo dục theo tinh thần dân chủ triệt để nhất và kiên quyết cách mạng nhất để làm việc đó” [33, tr79] và phải “hoàn toàn chiến thắng chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân” [44, tr.28] Theo đó, trong một nước mà giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là thiểu số trong nhân dân thì vẫn có khả năng lật đổ giai cấp tư sản, giành quyền thống trị” [44, tr.27] Thực tế là, ở Nga, năm 1905 và
1917, nhân dân đã lập ra nhà nước Xô viết, sáng tạo ra chế độ dân chủ mới
Trang 26theo cách thức của mình Như vậy là, “tại một nước kém phát triển nhất trong
số các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã thu được thắng lợi” [40, tr.594] CNXH đã sinh thành ở nước Nga lạc hậu [40, tr.667], nền dân chủ XHCN đã ra đời ở “trung tâm nhà quê của châu Âu” Chống lại quan điểm sai lầm cho rằng, nhân dân Nga chưa đủ trình độ để “thiết lập” Công xã, rằng nông dân chưa đủ trình độ để hưởng tự do, V.I.Lênin khẳng định:
Sự phá sản về mặt kinh tế và cuộc khủng hoảng do chiến tranh gây ra, càng trầm trọng bao nhiêu, thì càng cần thiết phải có một hình thức chính trị hoàn hảo nhất làm dễ dàng cho việc hàn gắn những vết thương khủng khiếp do chiến tranh đã gây ra cho nhân loại Nhân dân Nga càng kém kinh nghiệm về mặt tổ chức, thì càng phải cương quyết bắt tay vào công cuộc xây dựng về mặt tổ chức do bản thân nhân dân tiến hành [35, tr.199]
Trường hợp nước Nga, là “trường hợp sinh đẻ đặc biệt khó khăn” Nó thừa hưởng một gia tài gồm những tàn phá chồng chất, nên những hy sinh, những khó khăn mà nước Nga phải đối mặt có thể sẽ lớn hơn so với các nước khác Đập tan “nhà tù của các dân tộc” bằng con đường cách mạng bạo lực là vinh quang, nhanh chóng, nhưng là con đường nhiều đau đớn, lắm chông gai Vì những lý do đó, V.I.Lênin sớm nhận thấy: “so với các nước tiên tiến thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là việc dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, với ý nghĩa là tổ chức toàn vẹn một xã hội XHCN, lại là một việc khó khăn hơn” [42, tr.367]
V.I.Lênin dự báo, “nhiều nước khác sẽ đi tới cùng một mục đích, sẽ đi tới chính quyền Xô viết bằng những con đường khác, bằng những con đường nhân đạo hơn” [42, tr.313]
Tóm lại, về tính tất yếu và phương thức ra đời của nền dân chủ XHCN
được V.I.Lênin khái quát như sau:
Từ chủ nghĩa đế quốc ngày nay chuyển sang cách mạng XHCN ngày mai, nhân loại cũng sẽ trải qua những con đường có muôn màu muôn vẻ… Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến CNXH, đó là điều không
Trang 27tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau, mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội [34, tr.160]
1.2.2 Bản chất, nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa
Về vấn đề này, V.I.Lênin đề cập như sau:
Một, với tư cách là chế độ chính trị, chế độ nhà nước, thực chất của dân chủ XHCN là chuyên chính vô sản V.I.Lênin viết: “Bước chuyển từ CNTB lên chủ nghĩa cộng sản, cố nhiên không thể không đem lại rất nhiều hình thức chính trị khác nhau, nhưng thực chất của những hình thức ấy tất nhiên sẽ chỉ là một, tức là: chuyên chính vô sản” [37, tr.44] Vậy, chuyên chính vô sản là gì? Theo V.I.Lênin: “chuyên chính vô sản là hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản… chuyên chính vô sản là sự phá bỏ nền DCTS và lập nền dân chủ vô sản” [43, tr.297]; “là một nhà nước thuộc một kiểu khác, nhà nước vô sản, một bộ máy để giai cấp vô sản trấn áp giai cấp tư sản”; “là chế độ dân chủ cho những người bị bóc lột và phải trấn áp bọn bóc lột” [41, 122, 316]
Khi giai cấp công nhân nắm chính quyền, giai cấp tư sản, CNTB đã bị
đánh bại nhưng nó chưa bị tiêu diệt hẳn, nó còn nhiều ưu thế và sức mạnh nên
sẽ phản kháng một cách lâu dài, dai dẳng và nuôi hy vọng phục hồi với “một nghị lực tăng gấp mười lần, với một sự cuồng nhiệt và lòng hận thù tăng gấp trăm lần, để chiếm lại cái “thiên đường” đã mất” [41, tr.320-321] V.I.Lênin nói: “ Lịch sử dạy rằng, chưa bao giờ có một giai cấp bị áp bức nào đạt được
địa vị thống trị và có thể đạt được địa vị thống trị mà lại không phải trải qua một thời kỳ chuyên chính, nghĩa là lại không giành lấy chính quyền và không dùng bạo lực để đè bẹp sự kháng cự tuyệt vọng nhất, điên cuồng nhất, chẳng
từ bất cứ một tội ác nào, một sự kháng cự mà bọn bóc lột luôn luôn tiến hành” [41, tr.600] Do đó, bước tiến từ CNTB lên chủ nghĩa cộng sản, từ DCTS lên dân chủ vô sản không có con đường nào khác ngoài con đường chuyên chính
Trang 28vô sản Dân chủ vô sản là chuyên chính vô sản và chuyên chính vô sản chính
là nhà nước của giai cấp vô sản Đó là bản chất giai cấp vô sản của chế độ dân chủ vô sản, dân chủ xã hội củ nghĩa
chủ và chuyên chính Chỉ có điều, đó là một nền dân chủ kiểu mới và chuyên
chính kiểu mới Chuyên chính kiểu mới, dân chủ kiểu mới là “chế độ dân chủ
cho nhân dân; cho số đông, đi đôi với trấn áp tất yếu đối với số ít, đối với bọn bóc lột” [37, tr.109, 110] Tuy nhiên, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh: “thực chất của chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực, cũng không phải chủ yếu
là bạo lực” [42, tr.463]
Ba, là bước tiến nhảy vọt trong lịch sử dân chủ của nhân loại, chế độ dân chủ XHCN là chế độ dân chủ rộng rãi, dân chủ của đa số nhân dân, do đa số
và vì đa số nhân dân lao động Đúng vậy:
Lần đầu tiên đây không phải là một thiểu số, không phải chỉ độc những người giàu, chỉ độc những tầng lớp có học, mà là quần chúng chân chính, quảng đại quần chúng lao động đang tự mình xây dựng đời sống mới của mình, đang dựa vào kinh nghiệm bản thân để giải quyết các vấn
đề gay go nhất của tổ chức XHCN…Lần đầu tiên, quần chúng nhân dân giải quyết được, dựa trên quy mô hàng trăm triệu người, nhiệm vụ thực hiện chuyên chính của những người vô sản và nửa vô sản, nhiệm vụ mà không giải quyết được thì không thể nào nói đến CNXH được [41, tr.74] Trong nền dân chủ XHCN, quần chúng từ vị thế bị giai cấp tư sản áp bức bóc lột thì nay họ làm chủ xã hội, tham gia thường xuyên và quyết định vào việc quản lý nhà nước
V.I.Lênin viết: “Mục đích của chúng ta là làm cho hết thảy những người nghèo khổ, không trừ một ai, đều thực tế tham gia quản lý” [40, tr.251] Bản chất của nhà nước Xô viết, của chế độ dân chủ XHCN là ở chỗ: “do đông đảo quần chúng quản lý, do chính những giai cấp trước kia bị CNTB áp bức, quản lý” [42, tr.286] Đối với nhân dân Nga, V.I.Lênin nhấn mạnh là, họ phải tự mình quản lý nước Nga Với ý nghĩa đó, nhà nước XHCN, chuyên chính vô
Trang 29sản, chế độ dân chủ vô sản là của nhân dân lao động chứ không phải là của kẻ khác Chính vì thế, V.I.Lênin khẳng định: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất
cứ chế độ DCTS nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền Xô viết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” [41, tr.312- 313]
Tính chất XHCN của chế độ Xô viết, tức là chế độ dân chủ vô sản là
ở chỗ: trước hết, các cử tri đều phải là quần chúng lao động và bị bóc lột, còn giai cấp tư sản thì bị loại ra; hai là, mọi thủ tục và những sự hạn chế
có tính chất quan liêu đều bị xoá bỏ, quần chúng tự quy định lấy thể thức
và thời hạn bầu cử, hoàn toàn có quyền tự do bãi miễn những người mà
họ đã bầu ra; ba là, toàn thể nhân dân đều học tập được công tác quản
lý và bắt đầu đảm nhận công tác quản lý [40, tr.249- 250]
Dưới chế độ XHCN những viên chức không còn là “những kẻ “quan liêu” nữa, không còn là “quan lại” nữa, khi mà dần dần, ngoài việc bầu họ ra người ta còn có thể bãi miễn họ bất cứ lúc nào, người ta lại còn rút lương của
họ xuống ngang mức lương trung bình của công nhân, và thêm nữa, người ta lại thay những cơ quan đại nghị bằng những cơ quan “hành động”, vừa lập pháp vừa hành pháp” [37, tr 142]
sản riêng của tư bản thành tài sản chung của xã hội” [37, tr.54] Đây là cơ sở kinh tế của nền dân chủ XHCN, vì “bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết đinh” [46, tr.345] Dân chủ trong kinh tế là một nội dung quan trọng của chế độ dân chủ XHCN, là nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp xây dựng CNXH Do đó:
Chúng ta chỉ có một khẩu hiệu, chỉ có một phương châm là: ai lao
động thì được quyền hưởng những phúc lợi của cuộc sống Những kẻ ăn không ngồi rồi, những kẻ ăn bám, hút máu nhân dân lao động không có
Trang 30quyền được hưởng những phúc lợi đó… Tất cả cho công nhân, tất cả cho những người lao động [41, tr.100]
Để làm được việc đó, phải “thực hiện một bước tiến khổng lồ trong sự phát triển lực lượng sản xuất” Vì:
Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ mới CNTB đã tạo ra một năng suất lao
động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô CNTB có thể bị đánh bại hẳn,
và sẽ bị đánh bại hẳn, vì CNXH tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều [43, tr.18, 25]
những cơ sở kinh tế, chính trị của sự áp bức bóc lột, công hữu hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu sẽ kéo theo biến đổi căn bản về lĩnh vực văn hóa xã hội, sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, sự khác nhau giữa lao động chân tay
và lao động trí óc cũng sẽ dần dần không còn nữa Khi đó, “những người lao
động và những người bị bóc lột có thể thực sự hưởng được tất cả những phúc lợi của nền văn hoá, văn minh và dân chủ” [42, tr.116] Nhưng đến khi đó, bất
cứ việc quản lý nào cũng bắt đầu trở nên không cần thiết nữa và chế độ dân chủ càng hoàn thiện bao nhiêu thì nó càng gần đến lúc trở thành thừa bấy nhiêu” [37, tr.125] Tất nhiên, trên hiện thực, điều đó còn rất xa, phải đến chủ nghĩa cộng sản, một xã hội không còn giai cấp nữa mới có thể đưa lại một chế
độ dân chủ thật sự hoàn bị Vậy là, theo logich của sự phát triển dân chủ, việc
“thủ tiêu nhà nước cũng là thủ tiêu chế độ dân chủ và nhà nước tiêu vong cũng
là chế độ dân chủ tiêu vong” [37, tr.101]
Năm, dân chủ vô sản không phải ra đời từ hư vô, nó “thoát thai từ trong lòng CNTB mà ra” nên mang theo nhiều “dấu vết” của “pháp quyền tư sản”… Vì thế, khi chủ nghĩa cộng sản còn ở giai đoạn thấp, thì “ không những vẫn còn pháp quyền tư sản, mà vẫn còn cả nhà nước tư sản nhưng không có giai cấp tư sản” [37, tr.121] Do đó, chế độ dân chủ vô sản trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản chưa thể có ngay sự bình đẳng, công bằng thật sự, chưa có
Trang 31dân chủ đầy đủ, hoàn bị; sẽ không tránh khỏi những “hạn chế”, “thiếu sót”, thậm chí cả những thất bại Vấn đề là, những người cộng sản phải có thái độ nghiêm túc, dũng cảm và kiên quyết sửa chữa sai lầm
Năm 1919, sau hai năm xây dựng chế độ Xô viết ở Nga, V.I.Lênin một mặt, tiếp tục khẳng định những nguyên tắc của nền dân chủ XHCN, mặt khác, cũng lưu ý, để có một nền dân chủ XHCN thật sự thì còn phải tiến hành hàng loạt những công việc lớn lao và lâu dài Đó là:
Chính quyền Xô viết…về nguyên tắc, đã đưa lại một chế độ dân chủ vô sản cao nhất… một kiểu mẫu về chế độ dân chủ cho toàn thế giới… Trên lời nói, thì… Xô viết là bộ máy chính quyền của tất cả quần chúng lao động, nhưng thực tế thì mọi người chúng ta không ai còn lạ rằng còn
xa mới được như thế Không phải vì pháp luật đã gây trở ngại như trước kia dưới chế độ tư sản…Nhưng… nếu chỉ có pháp luật không thôi thì chưa đủ Mà cần phải tiến hành một công tác lớn về giáo dục, tổ chức, văn hoá, công tác đó không thể nào dùng pháp luật mà hoàn thành nhanh chóng được, nó đòi hỏi một công tác lớn lao và lâu dài [42, tr.199]
Như vậy, theo lôgích phát triển của chế độ dân chủ XHCN cái bản chất của nền dân chủ này là đã rõ, nhưng nội dung bản chất ấy đạt được đến đâu và biểu hiện ở mức độ nào thì còn lệ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc
1.2.3 Hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động của dân chủ xã hội chủ nghĩa
Bàn đến vấn đề này,V.I.Lênin đưa ra một số tư tưởng như sau:
cộng sản, cố nhiên không thể không đem lại rất nhiều hình thức chính trị khác nhau” [37, tr.44], như cách mạng Nga đã sáng tạo ra hình thức sau Công xã Pari là hình thức Xô viết Xô viết đã tạo điều kiện thuận lợi và
dễ dàng để nhân dân thực hiện việc bầu cử và bãi miễn đại biểu của mình Từ kinh nghiệm của Công xã Pari, Xô viết đã hợp nhất quyền hành
Trang 32pháp và lập pháp để trở thành những cơ quan hành động chứ không phải
là “nói suông”, làm cho bộ máy nhà nước nói chung, và quân đội, cảnh sát nói riêng trở thành gần gũi với những người lao động [42, tr.114 -115] Chế độ Xô viết đã tịch thu tài sản của bọn địa chủ và bọn tư bản và
“Chính quyền Xô viết …thu hút quần chúng…bị bóc lột vào việc quản lý nhà nước…tạo điều kiện thuận lợi cho họ có khả năng tự tổ chức và quản
lý nhà nước bằng mọi cách” [41, tr.311- 312]
Xô viết là hình thức chính quyền nhân dân cao nhất, cho dù “Xô viết xuất hiện và trưởng thành trong nước lạc hậu của chúng ta (nước Nga), nhưng
về mặt khách quan, nó phải trở thành hình thức chính quyền của nhân dân lao
động toàn thế giới” [40, tr.667] Đó “chẳng những là một hình thức thiết chế dân chủ kiểu cao hơn… mà còn là hình thức duy nhất có khả năng đảm bảo chuyển một cách dễ dàng nhất lên CNXH” [39, tr.192] Đánh giá cao về hình thức này, V.I.Lênin nhận thấy, mặc dù nó không phải một liều thuốc linh ứng, không thể ngay một lúc chữa khỏi những căn bệnh của quá khứ do bọn bóc lột gây ra, nhưng Người tin tưởng rằng, “chính nhờ nó mà chuyển lên được CNXH” [42, tr.287]
Cùng với ý nghĩa đó, năm 1922, V.I.Lênin rất rõ ràng khi nhấn mạnh:
Có thể là bộ máy của chúng ta còn tồi, nhưng người ta nói rằng cái máy hơi nước đầu tiên được phát minh cũng tồi, thậm chí người ta cũng không biết là nó có thể chạy được không Đó không phải là điều căn bản
Điều căn bản, chính là máy đó đã được phát minh ra Dẫu cho cái máy hơi nước đầu tiên, xét về hình thức bề ngoài là không thể dùng được, nhưng ngày nay chúng ta cũng đã có được đầu máy xe lửa Dẫu cho bộ máy nhà nước của chúng ta còn kém cỏi, nhưng nó đã được sáng tạo ra,
đó là một phát minh lịch sử vĩ đại nhất, một nhà nước kiểu vô sản đã
được sáng tạo ra [49, tr.127]
viết, lãnh đạo xây dựng chế độ dân chủ XHCN
Trang 33Đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội một cách toàn diện thông qua các phương thức cụ thể Trước hết, thông qua các cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của mình, đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với nhà nước và xã hội V.I.Lênin giải thích: “nhiệm vụ của chúng ta chỉ là định
đường lối nguyên tắc và nêu ra khẩu hiệu Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảng thông qua là những điều mà toàn nước cộng hoà phải tuân theo” [47, tr.74] Người khẳng định: “trong nước cộng hoà của chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của ban chấp hành trung ương đảng” (45, tr.38) Từ chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của
đảng, các cơ quan nhà nước sẽ cụ thể hoá thành các chính sách thực tiễn
Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội còn thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước và các tổ chức quần chúng ở đây, những cán bộ,
đảng viên này, một mặt, “là người đại diện chính quyền Xô viết”, mặt khác,
“là đại diện cho đảng nắm chính quyền” để điều khiển toàn bộ nước Nga [45, tr.181] Qua họ mà hoạt động của nhà nước đạt được mục đích, hiệu quả như mong muốn [49, tr.103]
Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội còn bằng công tác kiểm tra Nội dung kiểm tra là “kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác”, và “kiểm tra lại những chủ trương” để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa [49, tr.19, 443]
Đảng lãnh đạo còn phải thông qua công tác vận động, tổ chức nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Theo V.I.Lênin, “Điều quan trọng
đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai, tham gia việc quản lý nhà nước” [40, tr.68] Đồng thời, “giáo dục nhân dân, cho đến tận những tầng lớp ở bên dưới nhất, nghệ thuật quản lý nhà nước, không phải chỉ bằng sách vở, mà bằng cách chuyển lập tức ở khắp nơi sang những hoạt động thực tiễn, sang áp dụng những kinh nghiệm của quần chúng” [35, tr.337] Để làm được điều đó, thì mỗi đảng viên phải “tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo sinh động của nhân dân” [39, tr.68-69]
Trang 34Thứ ba, trong hệ thống tổ chức quyền lực cấu thành nền dân chủ XHCN, V.I.Lênin cũng rất chú ý đến vai trò của các tổ chứcchính trị xã hội của quần chúng nhân dân Theo V.I.Lênin, đây là nền tảng duy nhất và thường xuyên của toàn bộ chính quyền nhà nước, của toàn thể bộ máy nhà nước Tổ chức quần chúng của công nhân và những người nửa vô sản xưa kia bị CNTB áp bức, thì nay tham gia thường xuyên và quyết định vào việc quản lý nhà nước theo lối dân chủ [41, tr.609] Trong các tổ chức ấy, Công đoàn có vai trò, vị trí
đặc biệt Khi Đảng Cộng sản đã nắm chính quyền:
Đảng phải giáo dục, lãnh đạo công đoàn, nhiều hơn trước kia, theo lối mới chứ không phải chỉ theo lối cũ, nhưng đồng thời không được quên rằng, công đoàn vẫn còn và sẽ còn lâu dài là “trường học chủ nghĩa cộng sản” không thể thiếu được, là trường học dự bị cho vô sản học tập áp dụng chuyên chính của mình, là sự tập hợp tất yếu của công nhân để làm cho việc quản lý toàn bộ nền kinh tế trong nước tuần tự chuyển trước hết sang tay giai cấp công nhân rồi sau sang tay toàn thể những người lao
động [45, tr.42]
Và “công đoàn phải là người cộng tác gần nhất, cần thiết nhất của chính quyền nhà nước Công đoàn, nói chung, là trường học chủ nghĩa cộng sản, thì nói riêng phải là trường học quản lý công nghiệp XHCN (rồi dần dần quản
lý nông nghiệp) cho tất cả quần chúng công nhân, rồi cho tất cả những người lao động” [48, tr.423] Bởi vậy, quan tâm lãnh đạo, xây dựng các tổ chức công
đoàn vững mạnh, hiệu quả phải là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của việc xây dựng và thực hành nền dân chủ XHCN
xây dựng nền sản xuất lớn trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Để khắc phục những hạn chế của kinh tế hàng hoá và CNTB thì phải “chuyển sang kinh doanh lớn trên cơ sở công hữu và phải bắt tay thực hiện ngay việc
đó, đồng thời giáo dục quần chúng và học hỏi quần chúng những biện pháp thực tiễn thích hợp để thực hiện sự chuyển biến đó” [35, tr.336]
Trang 35Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Nga, V.I.Lênin thấy rằng, từ một nước tiểu nông, lạc hậu đi lên có thể phải thực hiện hàng loạt những bước thụt lùi, có thể phải từ bỏ những biện pháp tấn công chính diện, có thể phải thực hiện những cuộc bao vây lâu dài, gian khổ Cải tạo lại toàn bộ nền kinh tế xã hội, bằng cách chuyển từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ, cá nhân, riêng lẻ, sang nền kinh tế tập thể lớn là một bước quá độ lâu dài Do đó, nếu “dùng những biện pháp lập pháp hay hành chính hấp tấp và không thận trọng, thì chỉ làm cho bước quá độ đó kéo dài thêm và chỉ thêm khó khăn cho nó mà thôi” [43, tr.316] Thay vào đó,
“phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua CNTB nhà nước, tiến lên CNXH, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế” [48, tr.189]
Đời sống thực tế và những bước tiến khách quan của cách mạng Nga đã chỉ cho V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích thấy sự cần thiết phải áp dụng Chính sách kinh tế mới, thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tôn trọng, khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động Như vậy, xây dựng CNXH phải dựa trên cơ sở thực hiện nhiều hình thức dân chủ về kinh tế để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, từ đó mà có năng suất lao động cao - nhân
tố quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới Đó là con đường, phương thức quan trọng để xây dựng và thực thi dân chủ XHCN về mặt kinh tế cũng là nội dung, phương thức cơ bản trong xây dựng, củng cố vững chắc nền dân chủ XHCN nói chung
vô sản phải trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột, sự phá hoại của bọn phản
động và những đồng minh của chúng Sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, kẻ thù sẽ tiếp tục phản kháng một cách lâu dài, dai dẳng với nhiều hình thức, thủ đoạn Cách mạng càng lớn lên thì sự phản kháng của kẻ thù càng quyết liệt [41, tr.72] Do đó, nhà nước vô sản, dân chủ vô sản tất yếu phải đấu tranh, chuyên chính với kẻ thù, trấn áp sự chống đối,
Trang 36phá hoại của chúng Tất nhiên, hình thức, mức độ chuyên chính, trấn áp như thế nào thì lệ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể trong tiến trình đấu tranh cách mạng, lệ thuộc trình độ phát triển của các lực lượng cách mạng, nhất là lệ thuộc vào hình thức, mức độ phản kháng của giai cấp tư sản và những đồng minh của chúng Chẳng hạn, ở Nga, có lúc phải tước quyền bầu cử của bọn bóc lột là do
“tự nó” đã nảy ra trong quá trình đấu tranh cụ thể ở nước Nga mà không phải là bắt buộc đối với chuyên chính vô sản, dân chủ vô sản nói chung
Kẻ thù của nhân dân, của dân chủ, của cách mạng còn là tệ quan liêu, hối
lộ trong bộ máy nhà nước Bởi vì, V.I.Lênin nhấn mạnh, “những người cộng sản trở thành những tên quan liêu” là kẻ thù tệ hại nhất và “nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó” [50, tr.235] Chống quan liêu, hối
lộ, xây dựng bộ máy đảng, nhà nước trong sạch, tinh gọn, hiệu quả, do đó phải
là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của quá trình xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN
thất bại, khi đó phải có thái độ đúng đắn, nghiêm túc sửa chữa để vượt qua khó khăn và đó cũng là một trong những nhiệm vụ, phương thức để xây dựng
và hoàn thiện nền dân chủ XHCN Sau khi giai cấp công nhân nắm chính quyền, một mặt, phải đối mặt với những tàn tích của xã hội cũ để lại, mặt khác, phải chấp nhận những hạn chế của chính mình, vốn là “giai cấp lao
động bị áp bức, bị mê muội, bị giam hãm trong cảnh bần cùng, dốt nát, dã man trong hàng thế kỷ” [41, tr.72] Trong điều kiện đó, những “khẩu hiệu cũ: ai lo phận nấy, thượng đế lo cho tất cả” vẫn còn tồn tại Trong mỗi công
đoàn, mỗi nhà máy, còn có quá nhiều người thường nghĩ tới mình, còn thì mặc trời và những nhà chức trách” [41, tr.551] Trong xã hội còn không ít người “luyến tiếc quá khứ” và cũng không ít người dao động, ngả nghiêng Bởi vậy, việc cải tạo nền kinh tế xã hội, chiến thắng được những thói quen lạc hậu là một cuộc chiến đấu khổng lồ, “một triệu lần khó khăn hơn là đè bẹp bọn áp bức” [42, tr.445]
Trang 37“Công nhân xây dựng một xã hội mới, nhưng họ chưa biến thành những con người mới” [41, tr.551], đấy là một thực tế Do đó, người cách mạng không tránh khỏi việc phạm phải những sai lầm, khuyết điểm Hơn nữa, các lãnh tụ của công nhân cũng không phải là thánh thần nên sai lầm, khuyết điểm
là không đáng sợ mà đáng sợ là che dấu sai lầm, trốn tránh khuyết điểm Vậy, cần phải lấy sai lầm làm bài học như V.I.Lênin khẳng định: “Những sai lầm thường khi lại bổ ích, nếu người ta học tập được về những sai lầm đó, nếu những sai lầm đó tôi luyện con người” [48, tr.576]
Đối với thất bại cũng thế, vì “chỉ khi nào chúng ta không sợ thừa nhận những thất bại và những thiếu sót của mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thật đáng buồn nhất đi nữa, chỉ khi đó chúng ta mới học
được cách chiến thắng” [48, tr.379] Đó chính là việc thực hiện tự phê bình và phê bình trong đảng, nhà nước và xã hội Đó là phương thức, nguyên tắc quan trọng để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN
chủ XHCN là phải thu hút đa số nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Việc thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước được V.I.Lênin xem
là “phương pháp tuyệt diệu” để tăng sức mạnh của nhà nước Tất nhiên, để làm nhiệm vụ và phương pháp đó, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách tỉ
mỉ, chu đáo, thận trọng từ nhận thức đến thực tiễn:
+ V.I.Lênin chỉ rõ, phải đoạn tuyệt với định kiến rằng, “chỉ có bọn giàu
có hay bọn công chức xuất thân từ các gia đình giàu có mới có khả năng quản
lý nhà nước” Đồng thời, “điều căn bản nhất là gây cho những người bị áp bức
và những người lao động tin tưởng vào sức mạnh của bản thân họ rằng họ có thể và phải tự mình quản lý công việc nhà nước hằng ngày” [38, tr.416- 418] + Tham gia quản lý nhà nước là là việc không đơn giản đối với đông đảo người lao động Vì vậy, không còn con đường nào khác, phải học quản lý nhà nước và phải học ngay lập tức Nhưng cần chú ý: “giáo dục nhân dân, cho đến tận những tầng lớp ở bên dưới nhất, nghệ thuật quản lý nhà nước, không phải
Trang 38chỉ bằng sách vở, mà bằng cách chuyển lập tức ở khắp nơi sang những hoạt
động thực tiễn, sang áp dụng kinh nghiệm của quần chúng”
+ V.I.Lênin khẳng định, không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên
bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong trong những cơ quan đại biểu là đủ mà quan trọng là phải “xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt
đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực
sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước Quần chúng càng chủ
động, càng có nhiều ý kiến, càng mạnh dạn và càng có tinh thần sáng tạo khi tiến hành công việc đó thì lại càng tốt [35, tr.337]
Đối với dân chủ cơ sở ở nông thôn, V.I.Lênin lưu ý: “chỉ có các tổ chức nào do chính nông dân tiến hành theo sáng kiến tự do của họ và đã được họ kiểm nghiệm trên thực tế mà thấy có lợi thì mới có giá trị” [42, tr.251]
+ Trong việc thu hút tất cả những người lao động tham gia quản lý nhà nước, V.I.Lênin đánh giá cao vai trò của phụ nữ, rằng công việc đó sẽ không thể thực hiện được “nếu không lôi cuốn phụ nữ tham gia sinh hoạt chính trị” [46, tr.463]
+ Phải tạo điều kiện và nghiêm túc thực hiện thi đua kiểm kê, kiểm soát Nhân dân thực hiện việc quản lý của mình, qua đó, lựa chọn được những người có tài tổ chức, những người như thế rất đông trong nhân dân Những người lãnh đạo, quản lý, “không nên sợ nhân dân”, phải học hỏi kinh nghiệm giải quyết của nhân dân…
+ Việc bầu cử và bãi miễn các đại biểu phải thuận lợi và dễ thực hiện với nhân dân” V.I.Lênin đưa ra chỉ dẫn: Mọi cơ quan được bầu ra hay hay mọi hội nghị đại biểu đều có thể coi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thật sự cho ý chí của nhân dân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cử được thừa nhận và được áp dụng” [39, tr.126] Trường hợp việc thiết lập quyền bãi miễn gặp không ít khó khăn, nhưng theo V.I.Lênin, những khó khăn đó chỉ là những khó khăn thuần tuý kỹ thuật và có
Trang 39thể khắc phục được dễ dàng Vì vậy, “nếu từ chối không chịu áp dụng quyền bãi miễn, trì hoãn việc thi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ và hoàn toàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng XHCN đã bắt đầu ở nước Nga” [39, tr.126]
+ Để xây dựng thành công CNXH và nền dân chủ XHCN, đòi hỏi “phải
có kiên nhẫn để thí nghiệm hàng trăm, hàng nghìn những phương pháp, phương thức để hoàn chỉnh được những cái nào thích hợp hơn cả” Do vậy, V.I.Lênin chỉ rõ:
Chúng ta nên nghiên cứu cẩn thận những mầm non của cái mới, hết sức chú ý đến chúng, giúp bằng đủ mọi cách cho chúng trưởng thành lên… Trong số những mầm non ấy, có một số nào đó sẽ không tránh khỏi bị tiêu vong… vấn đề là ở chỗ phải khuyến khích tất cả những mầm non của cái mới, chẳng kể những mầm non đó như thế nào; cuộc sống sẽ chọn lọc những cái nào có nhiều sức sống nhất trong số những mầm non
đó [43, tr.23- 24]
Góp phần quan trọng vào việc này, V.I.Lênin yêu cầu báo chí cách mạng phải thực sự là công cụ bảo vệ, bênh vực, cổ vũ cho những mầm non XHCN trên mọi lĩnh vực
1.2.4 Vai trò và ý nghĩa của dân chủ XHCN bước đầu thực hiện ở Nga
Theo V.I.Lênin, “con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản, phải trải qua chuyên chính vô sản chứ không thể đi theo hướng nào khác cả” và “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể đưa lại một chế độ dân chủ thật sự hoàn bị” Với ý nghĩa đó, “chế độ dân chủ triệt để, một mặt, biến thành CNXH, và mặt khác,
đòi hỏi thực hành CNXH” [37, tr.108, 110, 96]
Nước Nga, một đất nước rộng lớn và lạc hậu vào bậc nhất của Châu Âu, nhân dân lao động cách mạng đã lập nên Nhà nước và đã bước đầu thực hành một nền dân chủ tiến bộ Đúng vậy, “Chính quyền Xô viết là chính quyền đầu tiên trên thế giới (nói cho thật đúng thì đó là chính quyền thứ hai, vì Công xã Pari trước kia đã bắt đầu làm như vậy) thu hút quần chúng, chính là quần
Trang 40chúng bị bóc lột vào việc quản lý nhà nước” [41, tr.311] Đó là “một kiểu mới
về nhà nước, một kiểu mới và cao nhất về dân chủ, đó là hình thức của chuyên chính vô sản, là một phương thức quản lý nhà nước không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản” [41, tr.74] Chế độ dân chủ mới ở nước Nga không chỉ mang lại dân chủ, hạnh phúc cho hàng chục triệu người lao động ở Nga, mà nó còn khẳng định những giá trị, ý nghĩa ra ngoài phạm vi của nước Nga V.I.Lênin chỉ rõ:
Trong một nước lạc hậu, công nhân và nông dân nghèo, thậm chí thiếu kinh nghiệm nhất, thiếu học thức nhất, ít quen công việc tổ chức nhất, cũng đã có thể, trong suốt một năm trời, giữa những khó khăn chưa từng thấy, trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột bảo vệ chính quyền của người lao động, thiết lập nên một chế độ dân chủ vô cùng cao hơn và rộng hơn tất cả những chế độ dân chủ trước kia trên thế giới và mở đầu công cuộc sáng tạo của hàng chục triệu công nhân và nông dân nhằm thực hiện CNXH trong thực tiễn [41, tr.373]
V.I.Lênin lưu ý rằng, trên con đường cách mạng XHCN, xây dựng dân chủ XHCN, nước Nga bắt đầu cuộc cách mạng ấy là việc tương đối dễ, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó, và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, với ý nghĩa là
tổ chức toàn vẹn một xã hội XHCN, một nền dân chủ triệt để, lại là một việc khó khăn hơn [42, tr.367] Với tinh thần đó, V.I.Lênin cho rằng: kinh nghiệm phong phú của nước Nga lại càng có ý nghĩa rộng lớn đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới “Chúng ta biết rất rõ rằng chúng
ta còn nhiều thiếu sót trong việc tổ chức chính quyền Xô viết…” nhưng
“Chính quyền Xô viết là con đường tiến lên CNXH, do quần chúng cần lao tìm ra, và vì thế, nó là con đường đúng đắn” [42, tr.287] V.I.Lênin còn viết:
“Nếu chính quyền Xô viết bị chủ nghĩa đế quốc liên minh đè bẹp, trong trường hợp xấu nhất ấy, những sách lược Bônsêvích cũng không vì thế mà không có ích lợi to lớn cho CNXH và giúp cho sự lớn mạnh của cách mạng thế giới vô địch” [41, 374]