Đề tài “Mô hình dữ liệu không gian áp dụng cho mạng lưới cấp nước" tập trung nghiên cứu các mô hình dữ liệu không gian, cơ sở dữ liệu không gian Geodatabase về các vấn đề như các đối tượ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***
LÝ THẮNG CƯỜNG
MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
ÁP DỤNG CHO MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Đồng Nai, Năm 2013
Trang 2LÝ THẮNG CƯỜNG
MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN ÁP DỤNG
CHO MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC
Chuyên ngành: Công nghệ thông tin
Mã số: 60480201
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN VĨNH PHƯỚC
Đồng Nai, năm 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn khoa học Thầy PGS.TS Trần Vĩnh Phước Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành Thầy đã tận tình giúp đỡ, truyền thụ những kiến thức quý báu giúp tôi vượt qua được những khó khăn để hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy lớp cao học Công nghệ thông tin khóa
2 cùng tất cả các thầy cô Khoa Công nghệ thông tin trường Đại học Lạc Hồng
đã truyền thụ những kiến thức bổ ích để phục vụ cho công việc sau này và trong quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty TNHH một thành viên cấp nước Đồng Nai đã tạo điều kiện tốt cho tôi được được tiếp cận nghiên cứu thực tế công tác quản lý, vận hành mạng lưới cấp nước Đặc biệt là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các bạn học viên lớp Cao học khóa 2 ngành Công nghệ thông tin đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đồng Nai, tháng 09 năm 2013 Người thực hiện luận văn
Lý Thắng Cường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Mô hình dữ liệu không gian áp dụng cho
mạng lưới cấp nước” này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu sử dụng trong luận văn và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực
Đồng Nai, tháng 9 năm 2013
Học viên
Lý Thắng Cường
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Thành phần dữ liệu là thành phần rất quan trọng nó chiếm nhiều thời gian và kinh phí khi xây dựng một hệ thống ứng dụng GIS Giá trị hệ thống phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác, tính lịch sử và tính thời sự của dữ liệu Việc quản lý dữ liệu theo thời gian, lưu lại lịch sử thay đổi của thông tin cũng như có một mô hình dữ liệu không gian phù hợp là rất cần thiết
Đề tài “Mô hình dữ liệu không gian áp dụng cho mạng lưới cấp nước" tập trung nghiên cứu các mô hình dữ liệu không gian, cơ sở dữ liệu không gian Geodatabase về các vấn đề như các đối tượng không gian, các thành phần dữ liệu, cấu trúc dữ liệu, mối quan hệ topo giữa các đối tượng Từ đó đề xuất một mô hình dữ liệu thích hợp cho mạng lưới cấp nước nhằm góp phần đáp ứng các nhu cầu thực tế trong công tác quản lý ma ̣ng lưới cấp nước t ại Công ty Cấp nước Đồng Nai
Từ khóa: Mô hình dữ liệu không gian, Geodatabase, mạng lưới cấp nước
Trang 6MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 4
1.7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN 6
2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIS 6
2.1.1 Các thành phần của GIS 7
2.1.2 Một số ứng dụng của GIS 8
2.2 MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN 10
2.2.1 Đối tượng không gian 11
2.2.2 Phân loại đối tượng không gian 12
2.2.3 Mô hình dữ liệu không gian raster, vector 13
Trang 72.2.3.1 Mô hình raster 13
2.2.3.2 Mô hình vector 14
2.2.4 Dữ liệu thuộc tính 15
2.2.4.1 Thuộc tính không gian 16
2.2.4.2 Thuộc tính phi không gian 16
2.3 CẤU TRÚC DỮ LIỆU KHÔNG GIAN 16
2.3.1 Cấu trúc dữ liệu raster 17
2.3.1.1 Mô tả cấu trúc 17
2.3.1.2 Dạng hình học và tính topo của dữ liệu raster 18
2.3.2 Cấu trúc dữ liệu vector 20
2.3.2.1 Cấu trúc Spaghetti 20
2.3.2.2 Cấu trúc Topology 21
2.3.3 Cấu trúc TIN 23
2.3.4 Quan hệ topology giữa các đối tượng không gian 23
2.4 CẤU TRÚC DỮ LIỆU KHÔNG GIAN TRONG SQL SERVER 24
2.4.1 Kiểu dữ liệuGeography 25
2.4.2 Kiểu dữ liệu Geometry 25
2.4.3 Sự khác nhau giữa 2 kiểu dữ liệu 27
2.5 CƠ SỞ DỮ LIỆU KHÔNG GIAN GEODATABASE 29
2.5.1 Đặc điểm và các loại Geodatabase 29
2.5.1.1 Single-User Geodatabase 30
2.5.1.2 Multiuser Geodatabase 30
2.5.1.3 Tính năng đa người dùng trong Geodatabase 31
2.5.1.4 Lưu trữ trong hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ 33
2.5.2 Các đối tượng dữ liệu trong Geodatabase 35
2.5.3 Biểu diễn dữ liệu trong Geodatabase 38
2.5.3.1 Biểu diễn các đối tượng vector 38
2.5.3.2 Biểu diễn đối tượng dạng lưới với raster 39
2.5.3.3 Biểu diễn bề mặt với TIN 40
2.5.4 Tổ chức dữ liệu bên trong Geodatabase 40
2.5.4.1 Geodatabase 40
2.5.4.2 Geographic dataset 40
Trang 82.5.4.3 Object classes 41
2.5.4.4 Feature classes và Topology 41
2.5.4.5 Relationship class 41
2.5.5 Mô hình mạng trong Geodatabase 42
2.5.5.1 Geometry network 42
2.5.5.2 Logical Network 43
2.5.5.3 Các quy tắc kết nối 44
CHƯƠNG 3 : MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN ÁP DỤNG CHO MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC 47
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DỮ LIỆU ĐƯỜNG ỐNG CẤP NƯỚC 47
3.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỮ LIỆU MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC 50
3.2.1 Nhóm chuyên đề đường ống 51
3.2.2 Nhóm chuyên đề thiết bị cơ sở 51
3.3 CẤU TRÚC DỮ LIỆU CỦA MẠNG LƯỚI ĐƯỜNG ỐNG CẤP NƯỚC 52
3.3.1 Các lớp đối tượng của nhóm chuyên đề đường ống 52
3.3.1.1 Lớp đường ống 52
3.3.1.2 Lớp ống truyền dẫn 53
3.3.1.3 Lớp ống phân phối 53
3.3.1.4 Lớp ống nhánh 54
3.3.2 Các lớp đối tượng nhóm thiết bị cơ sở 55
3.3.2.1 Lớp thiết bị cơ sở 55
3.3.2.2 Lớp ống nối 56
3.3.2.3 Lớp trụ cứu hỏa 56
3.3.2.4 Lớp đồng hồ 57
3.3.2.5 Lớp đồng hồ tổng 57
3.3.2.6 Lớp đồng hồ con 58
3.3.2.7 Lớp Van 59
3.3.2.8 Lớp van hệ thống 59
3.3.2.9 Lớp van điều khiển 60
3.4 THIẾT KẾ MÔ HÌNH DỮ LIỆU 62
3.4.1 Mô tả chi tiết các lớp không gian 62
3.4.2 Mô tả các đối tượng dữ liệu thuộc tính 67
Trang 93.4.3 Mô hình dữ liệu 69
CHƯƠNG 4: CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM 72
4.1 CÀI ĐẶT MÔ HÌNH XUỐNG HỆ QUẢN TRỊ CSDL 72
4.2 KHAI THÁC THỬ NGHIỆM DỮ LIỆU 76
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ESRI Environmental Systems Research
Institute
Viện nghiên cứu môi trường Hoa Kỳ
GIS Geographic Information systems Hệ thống thông tin địa lý
RDBMS Relational Database Management
System
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ
Trang 12Hình 2.9 Từ mô hình đến định dạng tệp tin dữ liệu không gian 16
Hình 2.20 Quan hệ không gian giữa các đối tượng địa lý 23 Hình 2.21 Các kiểu dữ liệu không gian trong SQL Server 25
Trang 13Hình 3.1 Hệ thống cấp nước 47
Hình 3.20 Mô hình cơ sở dữ liệu mạng lưới cấp nước mức logic 70
Hình 4.1 Xuất mô hình thiết kế ra file định dạng xml 72
Hình 4.3 Kết nối đến CSDL CapNuoc lưu trong SQL server 73 Hình 4.4 Import mô hình vào CSDL bằng công cụ Schema Wizard 74 Hình 4.5 MHDL được cài đặt xuốngCSDL dưới góc nhìn ArcCatalog 74 Hình 4.6 MHDL được cài đặt xuống CSDL dưới góc nhìn SQL server 75 Hình 4.7 Tải dữ liệu vào CSDL bằng Simple Data Loader 75 Hình 4.8 Hiển thị thông tin cấp nước trên nền bản đồ địa chính 76
Trang 15CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước sạch và sử dụng nước sạch là nhu cầu thiết yếu của con người, kể
cả trong xã hội nguyên thủy đến xã hội hiện đại như ngày nay Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày và chất lượng cuộc sống của các địa bàn khu dân cư cũng như sự phát triển của kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng, tình hình biến động dân cư của các địa phương trong cả nước cũng ngày một đa dạng và phức tạp Đặc biệt, ở các khu vực đang đô thị hóa nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng cấp thiết Vì vậy ngành cấp nước cần phải có một công cụ quản lý, cập nhật thông tin, dữ liệu một cách thường xuyên, đầy đủ và chính xác
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học, việc nghiên cứu và phát triển ứng dụng dựa trên nền tảng công nghệ GIS sẽ giúp ta xây dựng một hệ thống thông tin cấp nước phục vụ hiệu quả công tác quản lý mạng lưới và tài sản cấp nước
1.2 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống của đô thị hiện đại, việc thiết kế và xây dựng một hệ thống quản lý cấp nước cần phải đáp ứng được các yêu cầu về sự phát triển tăng lên một cách nhanh chóng của dân cư và hệ thống cơ sở hạ tầng để làm sao trong một khoảng thời dài, hệ thống vẫn có thể đáp ứng được một cách tối
Trang 16đa khả năng cung cấp nước sạch và không bị ảnh hưởng bới sự thay đổi của kết cấu cơ sở hạ tầng
Ở nước ta, đặc biệt là các thành phố lớn Mạng lưới cấp nước rất đa dạng
về chủng loại, lắp đặt phân tán trên di ện rô ̣ng, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, vận hành và bảo quản tài sản cấp nước Công tác quản lý dữ liệu
về mạng lưới cấp nước trước đây chủ yếu dùng phương pháp lưu trữ thủ công, không nhất quán và khó tra cứu Những năm gần đây ngành cấp nước đã đẩy mạnh việc ứng dụng GIS vào công tác quản lý của mình
Nhận thức tầm quan trọng của dữ liệu GIS trong một hệ thống GIS, đề tài “Mô hình dữ liệu không gian áp dụng cho mạng lưới cấp nước" được nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng các nhu cầu thực tế trong công tác quản
lý mạng lưới cấp nước
1.3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Thiết kế và Xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu không gian cho mạng lưới cấp nước để thu thập, cập nhật, xử lý và hiển thị thông tin cần thiết trên máy tính
Cài đặt thử nghiệm mô hình trên một phần dữ liệu hiện trạng của Công
ty Cấp nước Đồng Nai
1.3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mô hình dữ liệu không gian khả dụng cho hệ thống mạng lưới cấp nước
- Quy định áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia (Ban hành kèm Quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT ngày 27/02/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)
1.3.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trang 17Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định về chuẩn thông tin địa lý cơ sở
và các hướng dẫn việc tạo lập, chỉnh lý, quản lý và khai thác Geodatabase để
từ đó nghiên cứu xây dựng mô hình dữ liệu không gian áp dụng cho mạng lưới cấp nước
Phạm vi về lãnh thổ nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu dữ liệu quản lý thực tế về mạng lưới cấp nước trên địa bàn thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tổng quan về mô hình dữ liệu không gian, cơ sở dữ liệu không gian
- Đặc điểm của dữ liệu mạng lưới đường ống cấp nước
- Đề xuất mô hình dữ liệu mạng lưới cấp nước; cấu trúc dữ liệu của mô hình
- Cài đặt thử nghiệm trên một phần dữ liệu hiện trạng của Công ty Cấp nước Đồng Nai
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng quan tài liệu: Từ các nguồn tài liệu khác nhau
- Phương pháp phân tích và so sánh: Phân tích áp dụng chuẩn thông tin địa lý
cơ sở quốc gia và các văn bản pháp quy về quản lý cấp nước, đồng thời nghiên cứu đúc kết kinh nghiệm từ các phần mềm quản lý mạng lưới cấp nước hiện có
- Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu: Khảo sát các quy trình tác nghiệp
có liên quan đến công tác quản lý mạng lưới cấp nước; thu thập số liệu về khu vực như bản đồ quy hoạch, địa bàn dân cư, cụm công nghiệp
- Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp chuyên gia: Áp dụng mô hình Geodatabase trong việc thiết kế CSDL không gian Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ nền để phát triển hệ
Trang 18thống như: ArcGIS Desktop, ArcSDE, ArcGIS Engine của ESRI; Visual Studio.Net, hệ quản trị CSDL Microsoft SQL
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN
Việc xây dựng mô hình dữ liệu không gian cho mạng lưới cấp nước trên nền tảng công nghệ GIS là tiền đề quan trọng để hướng đến hoàn thiện hệ thống thông tin về hệ thống cấp nước phục vụ công tác quản lý mạng lưới và tài sản cấp nước trên môi trường công nghệ hiện đại, khoa học học thay thế cho phương thức quản lý truyền thống (quản lý trên giấy)
Luận văn xây dựng phương pháp luận và xây dựng mô hình dữ liệu dựa trên cơ sở quy định, quy chuẩn hiện hành về lĩnh vực cấp nước sạch tại Việt Nam, tích hợp thí điểm dữ liệu thực tế tại Công ty Cấp nước Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai nên có thể ứng dụng cho các đơn vị cấp nước khác
1.7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Nội dung trình bày của luận văn bao gồm các chương sau:
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Nội dung chương này trình bày: đặt vấn đề; tính cần thiết của đề tài; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; nội dung nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
Chương này trình bày tổng quan về hệ thống thông tin địa lý; trình bày các kiến thức nền về mô hình dữ liệu không gian; cấu trúc của dữ liệu không gian; cấu trúc dữ liệu không gian trong SQL
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN ÁP DỤNG CHO MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC
Nội dung chính của chương này tập trung vào: các kiến thức cơ bản của ngành cấp nước Trình bày các đặc điểm của dữ liệu mạng lưới cấp nước; đề xuất mô hình dữ liệu; phân tích, thiết kế CSDL cho mô hình
CHƯƠNG 4: CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM
Nội dung chính của chương này: cài đặt vật lý mô hình dữ liệu lên máy
Trang 19tính; tích hợp dữ liệu thực tế của Công ty cấp nước Đồng Nai để thử nghiệm
mô hình
KẾT LUẬN
Trình bày kết quả đạt được của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIS (Geographic Information System)
Xuất phát từ những quan điểm, góc độ khác nhau về chức năng, ứng dụng, hệ thống,… Hệ thống thông tin địa lý - GIS (Geographic Information System) có những định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung những định nghĩa sau đây được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng phát triển GIS
Hệ thống thông tin địa lý GIS là một công cụ tập hợp những quy trình dựa trên máy tính để lập bản đồ, lưu trữ và thao tác dữ liệu địa lý, phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược
GIS là một tập hợp có tổ chức của phần cứng, phần mềm, con người, dữ liệu và các phương pháp phân tích để thu nhận, lưu trữ, cập nhật, phân tích và hiển thị tất cả các dạng thông tin địa lý có quan hệ không gian nhằm giải quyết các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất
GIS là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với dữ liệu có tham chiếu tọa độ địa lý Nói cách khác, GIS là hệ thống gồm hệ CSDL với những dữ liệu có tham chiếu không gian và một tập những thuật toán để làm việc trên dữ liệu đó (Star and Estes, (1990))
Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống thông tin bao gồm một số phụ
hệ (subsystems) có khả năng biến đổi các dữ liệu địa lý thành những thông tin có ích (Calkins và Tomlinson, (1977); Marble, (1984))
GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên
đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý GIS là một công cụ đa năng đã được chứng minh là rất có giá trị trong việc giải quyết nhiều vấn đề thực tế, từ thiết lập tuyến đường, mạng lưới các đường ống phân phối, phân chia các thửa đất đến lập báo cáo chi tiết cho các ứng dụng quy hoạch hay mô phỏng các chuyến bay trên toàn cầu
Trang 212.1.1 Các thành phần của GIS
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) bao gồm các thành phần: Phần cứng (Hardware), Phần mềm (Software), Dữ liệu (Data), Con người (People) và Phương pháp phân tích (Analysis)
Hình 2.1: Các thành phần của hệ thống Gis
(nguồn: Michael Zeiler (1999))
Thiết bị (hardware) gồm: hệ thống máy tính ( Server, Workstation); hệ thống mạng máy tính (LAN, WAN, internet); các thiết bị ngoại vi (GPSs, survey devices, scanners, printers, plotters,…)
Phần mềm (software): là tập hợp các câu lệnh, chỉ thị nhằm điều khiển phần cứng của máy tính thực hiện một nhiệm vụ xác định, phần mềm hệ thống thông tin địa lý có thể là một hoặc tổ hợp các phần mềm máy tính Phần mềm được sử dụng trong kỹ thuật GIS phải bao gồm các tính năng
cơ bản sau: nhập và kiểm tra dữ liệu (Data input); lưu trữ và quản lý cơ sở
dữ liệu địa lý (Geographic database); xuất dữ liệu (Display and reporting); biến đổi dữ liệu (Data transformation); truy vấn và phân tích (Query and Analysis)
Dữ liệu (data): Dữ liệu GIS bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian là một thành phần quan trọng trong các hệ thống thông tin địa
lý thường được chia làm hai phần chính là cơ sở dữ liệu nền và cơ sở dữ liệu chuyên đề
- Cơ sở dữ liệu nền bao gồm những lớp dữ liệu cần thiết cho hầu hết
Trang 22các hệ thống thông tin địa lý như dữ liệu về lưới tọa độ, dữ liệu về giao thông, dữ liệu về thủy văn, dữ liệu độ cao, dữ liệu hành chánh, v.v
- Cơ sở dữ liệu chuyên đề bao gồm dữ liệu của các thực thể chuyên ngành về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các chuyên ngành kinh tế xã hội
Phân tích (analysis): hay còn gọi là các quy trình xử lý tác nghiệp được nhà phân tích thiết kế hệ thống xác lập khi xây dựng hệ thống Một hệ thống thông tin địa lý cần có tối thiểu các quy trình sau: quy trình nhập dữ liệu, quy trình lưu trữ dữ liệu, quy trình truy vấn dữ liệu, quy trình xuất dữ liệu và quy trình hiển thị dữ liệu
Con người (people): con người là yếu tố quyết định sự thành công trong tiến trình kiến tạo hệ thống và sự hữu hiệu của hệ thống trong tiến trình khai thác vận hành Từ tiến trình vận hành, khai thác hệ thống, hai nhóm người đã hình thành: người dùng trong hệ thống (internal users) và người dùng ngoài hệ thống (external user)
- Người dùng trong hệ thống là một thành phần của hệ thống, đó là những người làm việc trực tiếp với hệ thống thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu
- Người dùng ngoài hệ thống không phải là thành phần của hệ thống Nhóm người này sử dụng kết quả phân tích của hệ thống để
ra quyết định
2.1.2 Một số ứng dụng của GIS
Từ khi ra đời GIS đã được nhiều ngành, nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu và ứng dụng GIS được thiết kế như một hệ thống chung để quản
lý dữ liệu không gian, nhờ những khả năng phân tích và xử lý không gian,
kỹ thuật GIS hiện nay được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Các ngành khoa học tự nhiên như quản lý tài nguyên, môi trường, khai thác khoáng sản, quy hoạch đô thị, Các ngành khoa học xã hội như quản lý dân số, giới tính, quản lý giáo giục, y tế, Sau đây là một số ứng dụng GIS
Trang 23trong các lĩnh vực tiêu biểu:
Tài nguyên, môi trường: Có rất nhiều ứng dụng đã phát triển trong
những tổ chức quan tâm đến môi trường Với mức đơn giản nhất thì người dùng sử dụng GIS để đánh giá môi trường, ví dụ như vị trí và đặc điểm cây rừng Ứng dụng GIS với mức phức tạp hơn là dùng khả năng phân tích của GIS để mô hình hóa các tiến trình xói mòn đất, sự lan truyền ô nhiễm trong môi trường khí hay nước, phân tích các biến động khí hậu, thủy văn hay quản
lý đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất Nếu những dữ liệu thu thập gắn liền với đối tượng vùng và ứng dụng sử dụng các chức năng phân tích phức tạp thì mô hình dữ liệu dạng ảnh (raster) có khuynh hướng chiếm ưu thế
Chính quyền địa phương: Ứng dụng trong các tổ chức chính quyền là
một trong những lĩnh vực ứng dụng rộng lớn nhất của GIS, bởi vì đây là một
tổ chức sử dụng dữ liệu không gian nhiều nhất Tất cả các cơ quan của chính quyền địa phương đều có thể sử dụng các tiện ích của GIS trong việc tìm kiếm và quản lý thửa đất, bảo dưỡng nhà cửa và đường giao thông GIS còn được sử dụng trong các trung tâm điều khiển và quản lý các tình huống khẩn cấp
Giao thông vận tải: GIS có khả năng ứng dụng mạnh mẽ trong lĩnh
vực giao thông vận tải Việc lập kế hoạch và duy trì cở sở hạ tầng giao thông
rõ ràng là một ứng dụng thiết thực, hiện nay một lĩnh vực mới đang được quan tâm đến là ứng dụng định vị trong vận tải hàng hải, và hải đồ điện tử
Sự hỗ trợ của GIS rất đáng kể trong loại hình đặc trưng này
Dịch vụ tài chính ngân hàng: GIS được sử dụng trong lĩnh vực dịch
vụ tài chính tương tự như là một ứng dụng đơn lẻ Hiện nay việc sử dụng GIS đang tăng lên trong lĩnh vực này, nó là một công cụ đánh giá rủi ro với độ chính xác cao những khu vực có độ rủi ro cao nhất hay thấp nhất Lĩnh vực này đòi hỏi những dữ liệu cơ sở khác nhau như là địa chất học, thời tiết và giá trị tài sản
Trang 24Các dịch vụ điện, nước, gas: Những ứng dụng này trong lĩnh vực này
đòi hỏi những bản đồ số với độ chính xác cao Để quản lý tốt các đặc điểm và
vị trí của dây cáp, đường ống, van, mô hình dữ liệu vector được áp dụng
Kinh doanh bán lẻ: GIS thường được dùng để lưu trữ những dữ liệu
về kinh tế - xã hội của khách hàng trong một vùng nào đó Một vùng thích hợp cho việc xây dựng một siêu thị có thể được tính toán bởi thời gian đi đến siêu thị, và phạm vi ảnh hưởng của những siêu thị cạnh tranh
2.2 MÔ HÌNH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
Các thực thể trong thế giới thực được biểu diễn bằng những đối tượng không gian dưới dạng dữ liệu số bao gồm các thuộc tính không gian và thuộc tính phi không gian Các thực thể tồn tại trong thế giới thực còn được gọi là thực thể không gian
Đối tượng không gian (spatial object) là những thực thể không gian được biểu diễn vào trong máy tính
Mô hình không gian là sự đơn giản hóa thế giới thực, là tập những phần
tử biểu diễn các thực thể không gian trong thế giới thực Mô hình dữ liệu không gian tương ứng với tập các nguyên tắc để chuyển thế giới thực thành các đối tượng không gian được miêu tả một cách Logic
Trong GIS, dữ liệu về các đối tượng không gian được biểu diễn dưới dạng nhị phân theo mô hình raster hoặc vector Mô hình raster biểu diễn các đối tượng không gian thành những ô lưới bằng nhau gọi là điểm ảnh (pixel), mỗi điểm ảnh chỉ có một thuộc tính Trong mô hình vector, các đối tượng không gian được biểu diễn như những điểm, đường, vùng
GIS quản lý dữ liệu không gian và phi không gian một cách riêng biệt
và có khả năng liên kết với các hệ quản trị cơ sở dữ liệu bên ngoài
Trang 25Hình 2.2: Từ thế giới thực đến mô hình không gian và MHDL không gian
(nguồn: Trần Vĩnh Phước(2003))
2.2.1 Đối tƣợng không gian
Đối tượng không gian là phần tử của tập mô hình không gian tượng trưng cho các thực thể không gian trong thế giới thực Trong hệ thống thông tin địa lý, mỗi thực thể không gian có thể được biểu diễn thành những đối tượng dạng điểm, đường, vùng, bề mặt hoặc khối
Biểu diễn các đối tượng không gian trong Gis:
a) Các đối tượng dạng điểm như những địa vật
đặc trưng trong các bản đồ tỉ lệ nhỏ được biểu diễn trong không gian 0-D
Hình 2.3:Đối tượng điểm
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
b) Các đối tượng dạng đường như tim đường giao
thông được biểu diễn trong không gian 1-D
Hình 2.4:Đối tượng đường
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
c) Các đối tượng có dạng vùng phẳng như sông
hồ được biểu diễn trong không gian 2-D
Hình 2.5:Đối tượng vùng
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
Mô hình không gian chứa các đối tượng không gian
Thế giới thực chứa các thực thể không gian
Mô hình dữ liệu không gian chứa
dữ liệu của các đối tượng không gian
Trang 26
d) Các đối tượng có dạng của một mặt cong bất
kỳ như bề mặt địa hình, được biểu diễn trong không gian 2.5-D
Hình 2.6:Đối tượng bề mặt
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
e)Các đối tượng dạng hình khối như đường hầm, tòa
nhà được biểu diễn trong không gian 3-D
Hình 2.7: Đối tượng hình khối
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
Các đối tượng không gian cũng có thể được nhóm theo hai loại khác nữa tùy theo chúng thuộc loại “tự nhiên” hay “ phi tự nhiên” Các đối tượng không gian tự nhiên tương ứng với các thực thể không gian rời rạc có thể nhận diện được trong thế giới thực Các đối tượng phi tự nhiên là các thực thể được con người tạo ra như đường bao đất đai hay một pixel
2.2.2 Phân loại các đối tƣợng không gian:
Hình 2.8: Phân loại đối tượng không gian
(nguồn:Trần Vĩnh Phước (2003))
Đối tƣợng không gian tự nhiên
- Đối tượng không gian giới hạn theo mẫu (Sampling-Limited Spatial Objects) là những đối tượng biểu diễn các thực thể không gian tự nhiên mà
Đối tượng không gian
Giới hạn mẫu
Giới hạn định nghĩa
Không đồng đều Đồng đều
Trang 27thông tin về nó như hình dạng và kích thước được xác định bởi những thông tin tổng thể cho từng thực thể
- Đối tượng không gian giới hạn theo định nghĩa (Definition-Limited Spatial Objects) là những đối tượng biểu diễn các thực thể không gian tự nhiên mà những thông tin về nó đã được định nghĩa
Đối tƣợng không gian phi tự nhiên
- Đối tượng không gian phi tự nhiên không đồng đều (Irregular Imposed Spatial Objects) là những đối tượng biểu diễn các thực thể không gian do con người đặt ra có hình dạng và kích thước không đồng đều.Ví dụ: vùng hành chánh
- Đối tượng không gian phi tự nhiên đồng đều (Regular Imposed Spatial Objects) là những đối tượng biểu diễn các thực thể không gian do con người đặt ra có hình dạng và kích thước giống nhau như các pixel trong một ảnh raster
2.2.3 Mô hình dữ liệu không gian Raster, Vector
Có hai mô hình dữ liệu được áp dụng cho hệ thống GIS là mô hình dữ liệu Raster và mô hình dữ liệu Vector Mỗi mô hình có những ưu điểm và khuyết điểm riêng
Mô hình Raster rất thích hợp đối với việc chia nhỏ các biến liên tục theo không gian thường được sử dụng cho các ảnh số; phân tích và xử lý ảnh số là những môn học tồn tại lâu dài với nhiều ứng dụng rộng rãi trong ảnh viễn thám, ảnh y học,
Mô hình Vector thích hợp cho việc vẽ bản đồ, biểu diễn bản đồ Trong mô hình Vector, đường được tạo bằng cách nối tuần tự các điểm, hoặc các đỉnh (Vertex) Mỗi đỉnh được tạo ra từ một cặp tọa độ không gian, vì vậy nó có tên
là Vector
2.2.3.1 Mô hình Raster
Mô hình dữ liệu dạng Raster phản ánh toàn bộ vùng nghiên cứu dưới
dạng một lưới các ô vuông hay điểm ảnh (pixcel)
Trang 28Mỗi điểm ảnh được xem như đồng nhất cùng một thuộc tính Mô hình Raster có các đặc điểm:
Các điểm được xếp liên tiếp từ trái qua phải và từ trên xuống dưới
Mỗi điểm ảnh (pixcel) chứa một giá trị
Một tập các ma trận điểm và các giá trị tương ứng tạo thành một lớp (layer)
Trong cơ sở dữ liệu có thể có nhiều lớp
Mô hình dữ liệu raster là mô hình dữ liệu GIS được dùng tương đối phổ biến trong các bài toán về môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên Mô hình dữ liệu raster chủ yếu dùng để phản ánh các đối tượng dạng vùng là ứng dụng cho các bài toán tiến hành trên các loại đối tượng dạng vùng: phân loại; chồng xếp
2.2.3.2 Mô hình vector
Mô hình vector biểu diễn các đối tượng không gian theo ba dạng: điểm, đường, vùng Mô hình vector áp dụng cho các đối tượng không gian tự nhiên giới hạn theo mẫu hoặc giới hạn theo định nghĩa và những đối tượng không gian phi tự nhiên không đồng đều Các đối tượng đường được tuyến tính hóa bằng những đoạn thẳng (vector) được xác định bởi tọa độ hai điểm đầu và cuối gọi là các “đỉnh” (vertex) Khi các Vertex càng gần nhau thì đối tượng được biểu diễn càng chính xác Cấu trúc lưu trữ dữ liệu trong mô hình vector phức tạp hơn mô hình raster và việc xây dựng các thuật toán chồng lớp bản đồ trong mô hình vector cũng phức tạp hơn
i) Mô hình “sợi bún” (spaghetti)
Điểm được xác định bởi cặp tọa độ (x,y)
Đường được tuyến tính hóa từng đoạn, biểu diễn bằng một chuỗi những cặp toạ độ (xi,yi)
Vùng được xác định bởi một đường khép kín và được biểu diễn bằng một chuỗi cặp tọa độ (xi,yi) có tọa độ đầu và tọa độ cuối trùng nhau
Trang 29 Bảng tọa độ (xi,yi) được lưu trữ như là thuộc tính không gian của các đối tượng
ii) Mô hình Topo (Topology)
Đường được chia thành nhiều cung (arc) có định hướng, mỗi cung được thành lập một hoặc nhiều đoạn thẳng, giới hạn bởi các đỉnh đầu mút của cung gọi là nút (node), mỗi cung có nút đầu và nút cuối
Các bảng thuộc tính topo sẽ mô tả các quan hệ không gian giữa các cung, các nút và các vùng
Các thuộc tính topo của các đối tượng không gian là các thuộc tính về
sự tiếp giáp, sự chứa đựng và sự liên kết của các đối tượng
Các thuộc tính Topology của các đối tượng không gian không bị thay đổi bởi các phép biến đổi như chuyển dịch, thay đổi tỉ lệ, phép quay
iii) Mô hình TIN
Mô hình mạng tam giác không đều (Triangulated Irregular Network - TIN) được sử dụng chủ yếu để biểu diễn các bề mặt độ cao số (Digital Elevation Surface) Trong mô hình TIN, các vị trí điểm tạo thành các đỉnh của tam giác mà các cạnh càng đều nhau càng tốt
Thuận lợi của mạng tam giác là kích thước của tam giác có những điều chỉnh một cách tự động theo mật độ điểm, vùng có nhiều điểm gần nhau thì tam giác nhỏ, vùng có ít điểm và xa nhau thì tam giác lớn
Mô hình TIN cũng thuận tiện trong việc biểu diễn các đối tượng không liên tục, như các vách đá, các đứt gãy địa hình, các đường bờ biển và các đáy thung lũng
Trang 30trọng đối với tác vụ đang xét Đối với các ứng dụng GIS, thuộc tính thời gian
và chuyên đề được gộp chung lại với nhau (thuộc tính phi không gian)
2.2.4.1 Thuộc tính không gian
Thuộc tính không gian là dữ liệu về vị trí, topo và hình học của các đối tượng không gian
Vị trí không gian của các đối tượng được ghi lại theo hệ tọa độ kinh vĩ,
hệ tọa độ của một các phép chiếu bản đồ chuẩn hoặc theo các tọa độ thẳng tùy ý với một gốc cục bộ
Con người không nghĩ về vị trí của các đối tượng không gian qua các tọa độ của chúng mà qua các mối quan hệ không gian (thường là mối quan hệ topology) với những đối tượng đã biết
Trong các hệ thống thông tin địa lý hiện tại, các thuộc tính của hình học topo được tạo ra một cách tự động bằng cách “building topology” được lưu lại một cách rõ ràng trong các bảng thuộc tính
2.2.4.2 Thuộc tính phi không gian
Thuộc tính thời gian và thuộc tính chuyên đề của các đối tượng không gian được gọi chung là thuộc tính phi không gian
Thuộc tính thời gian đề cập đến tuổi của các đối tượng, hoặc thời gian thu thập dữ liệu
Thuộc tính chuyên đề đề cập đến các loại thuộc tính khác của đối tượng, các thuộc tính không liên quan đến vị trí hay thời gian
Thuộc tính của các đối tượng không gian được tổ chức thành các cơ sở
dữ liệu và được quản lý bởi một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS)
Cơ sở dữ liệu thuộc tính được xây dựng theo các mô hình: mô hình phân cấp, mô hình mạng hay mô hình quan hệ
Trong đó, mô hình quan hệ được sử dụng phổ biến nhất
2.3 CẤU TRÚC DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
Cấu trúc dữ liệu không gian là cách sắp xếp, tổ chức dữ liệu không gian
sao cho thích hợp với máy tính số Cấu trúc dữ liệu không gian là trung gian
Trang 31giữa mô hình dữ liệu với định dạng tệp dữ liệu
Hình 2.9: Từ mô hình đến định dạng tệp tin dữ liệu không gian
( nguồn: Trần Vĩnh Phước (2009))
Dữ liệu về các đối tượng không gian có thể được xây dựng theo mô hình raster hoặc vector với các cấu trúc tương ứng Cấu trúc raster được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống xử lý ảnh và GIS raster Các cấu trúc Vector chiếm
ưu thế trong các hệ thống CAD với những tiềm năng vẽ bản đồ mạnh mẽ Có nhiều cấu trúc khác nhau được phát triển cho cả hai mô hình Vector và Raster Việc chọn lựa một cấu trúc dữ liệu tốt nhất tùy thuộc vào bản chất dữ liệu và phương thức chúng được sử dụng Nhiều GIS tận dụng cả hai mô hình Raster
và Vector với nhiều cấu trúc dữ liệu khác nhau cho cùng một mô hình Mỗi cấu trúc đều có những thuận lợi và bất lợi riêng Việc chuyển từ một cấu trúc này sang cấu trúc kia là rất quan trọng
2.3.1 Cấu trúc dữ liệu Raster
2.3.1.1 Mô tả cấu trúc
Mô hình raster chia không gian thành những ô lưới hình vuông (chữ nhật, hoặc tam giác) có kích thước bằng nhau gọi là điểm ảnh (pixel)
Mỗi pixel được xác định vị trí bằng cặp toạ độ (x,y) là số thứ tự của hàng
và cột của pixel Pixel là phần tử cơ sở của cấu trúc dữ liệu raster để biểu diễn một đặc trưng địa lý f(x,y) nào đó, nghĩa là dữ liệu trong mỗi điểm ảnh là đồng nhất
Trong cấu trúc raster, đường được biểu diễn bằng những pixel có cùng giá trị f(x,y) liên tiếp nhau
Mô hình
dữ liệu không gian
Định dạng tệp tin dữ liệu không gian
Cấu trúc
dữ liệu không gian
Trang 32 Vì trong cấu trúc raster, các pixel được xếp theo hàng, cột như một ma trận điểm nên đường ở đây không trơn mà có dạng zic-zac
Vùng được xác định bằng một mảng gồm nhiều điểm ảnh có cùng giá trị thuộc tính f(x,y) trải rộng ra theo nhiều phương
Cấu trúc dữ liệu raster có hai đặc điểm cần lưu ý:
- Mỗi điểm ảnh chỉ biểu diễn một thuộc tính, xác định bởi giá trị f(x,y)
- Khi thay đổi độ phân giải (kích thước điểm ảnh thay đổi), dung lượng dữ liệu thay đổi theo Dung lượng dữ liệu tăng theo bình phương tỉ lệ gia tăng độ phân giải (Tham khảo [6])
2.3.1.2 Dạng hình học và tính Topology của dữ liệu Raster
Đối tượng điểm (Point objects)
Mỗi đối tượng điểm là một điểm ảnh được gán ID điểm, toạ độ (i, j) và các thuộc tính
Hình 2.10: Điểm trong cấu trúc raster
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
Đối tượng đường (Line objects)
Mỗi đối tượng đường được gán ID đường, chuỗi tọa độ định dạng đường
và các thuộc tính
Hình 2.11: Đường trong cấu trúc raster
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
Đối tượng vùng (Polygon objects)
Mỗi đối tượng vùng được gán ID vùng, nhóm tọa độ định dạng vùng và thuộc tính
Trang 33Hình 2.12: Vùng trong cấu trúc raster
Hình 2.13: Hướng chảy trong raster
Trang 34Hình 2.15:Nút trong raster
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
2.3.2 Cấu trúc dữ liệu Vector
Các đối tượng không gian khi biểu diễn ở cấu trúc vector thường tổ chức dưới dạng điểm, đường và vùng trên một hệ thống tọa độ xác định Mỗi điểm được xác định bởi một cặp toạ độ (x,y); đường được xác định bởi một chuỗi liên tiếp các điểm và vùng được xác định bởi một đường khép kín
Hai cấu trúc dữ liệu Vector thông dụng là cấu trúc Spaghetti và cấu trúc Topology Trong cấu trúc vector các đối tượng trong không gian được phân loại thành 3 dạng:
Đối tượng điểm: Điểm dùng cho tất cả các đối tượng không gian mà biểu diễn như một cặp tọa độ (x,y)
Đối tượng đường: Đường được dùng để biểu diễn tất cả các đối tượng có dạng tuyến, được tạo nên từ hai hoặc nhiều cặp tọa độ (x,y)
Đối tượng vùng: Vùng là một đối tượng hình học hai chiều
Hình 2.16: Điểm, Đường, Vùng trong cấu trúc vector
Trang 35 Đường được biểu diễn bằng một chuỗi những cặp toạ độ (xi,yi)
Vùng được xác định bởi một cung khép kín và được biểu diễn bằng một chuỗi cặp tọa độ (xi,yi) có tọa độ đầu và tọa độ cuối trùng nhau Cấu trúc không ghi nhận đặc trưng kề nhau của hai vùng kề nhau, nghĩa là tại đường chung của hai vùng kề nhau có hai đường độc lập Cấu trúc Spaghetti được sử dụng để lập bản đồ số rất tốt, nhưng không thích hợp cho các bài toán phân tích GIS vì không mô tả được các quan hệ không gian
Mỗi cung được mô tả như là một chuỗi những đoạn thẳng nối liền nhau, điểm đầu và cuối cung gọi là nút (node), những điểm giữa cung gọi là đỉnh (vertex)
Nút là điểm giao nhau của hai hay nhiều cung, đối với những cung độc lập, nút là điểm cuối cùng của cung, không nối liền với bất kỳ cung nào khác
Vùng là một chuỗi những cung nối liền nhau và khép kín, những cung này chính là đường biên của vùng
Một vùng có thể được giới hạn bởi hai đường cong khép kín lồng vào
Trang 36nhau và không cắt nhau
Hình 2.18: Điểm, đường, vùng trong cấu trúc topology
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
Các đối tượng địa lý trong cấu trúc topology được mô tả trong hình 2.19:
Hình 2.19: Cấu trúc topology của đối tượng địa lý
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
- Bảng topology vùng xác định những cung làm đường biên của vùng, phần bên ngoài bản đồ cũng được xem như một vùng không xác định cung đường biên
- Bảng topology nút xác định mỗi nút thuộc những cung nào
- Bảng topology cung xác định quan hệ của nút và vùng với cung
- Bảng thứ tư lưu trữ tọa độ của các cung bằng cách lưu trữ tọa độ của các nút và đỉnh của cung, để từ đó vị trí của mỗi phần tử trên bản đồ được liên
hệ với thế giới thực
Trang 372.3.3 Cấu trúc TIN
Các điểm phân bố không đều tham gia tạo thành một mạng tam giác khớp với nhau Các đỉnh của những tam giác này là những điểm gốc Bản thân các tam giác này là những vùng Các cạnh của tam giác là một trường hợp đặc biệt của chuỗi (chain) - các đoạn thẳng với các nút (node) cũng là các đỉnh (Vertex) Mỗi tam giác hay “bề mặt (facet)” có thể được xem xét như các mặt phẳng (planar)
Dạng hình học của các mặt phẳng được định nghĩa hoàn toàn bởi các giá trị (x,y,z) của 3 nút Cấu trúc topology của một TIN được lưu trữ một cách khá rõ ràng theo nhiều cách khác nhau
Cách lưu trữ topology của TIN phổ biến nhất là cách sử dụng các tam giác làm các đối tượng không gian cơ bản với các liên kết Topology tới các tam giác lân cận và một tập các điểm
Cách thứ hai là cách sử dụng các nút là những phần tử không gian cơ bản với các liên kết tới những điểm được nối tới nó
2.3.4 Quan hệ topology giữa các đối tƣợng không gian
Trong thực tiễn ứng dụng GIS, tất cả các quan hệ không gian có thể có trong dữ liệu không gian được sử dụng một cách logic với nhiều cấu trúc dữ liệu phức tạp
Hình 2.20: Quan hệ topology giữa các đối tượng
(nguồn: Trần Vĩnh Phước (2003))
Trang 38Quan hệ điểm-điểm
- “Trong giới hạn (is within)”: Nằm trong giới hạn một khoảng cách cụ thể
- “Gần nhất với (is nearest to)”: Gần nhất so với một điểm cụ thể
Quan hệ điểm-đường
- “Nằm trên đường (on line)”: điểm nằm trên một đường
- “Gần nhất với (is nearest to)”: Điểm gần nhất so với một đường
Quan hệ điểm-vùng
- “Chứa bên trong vùng (is contained in)”: Điểm chứa bên trong vùng
- “Nằm trên biên (on border of area)”: Một điểm nằm trên đường biên của vùng
Quan hệ đường-đường
- “Giao nhau (intersects)”: Hai đường giao nhau
- “Băng qua (crosses)”: Hai đường băng qua mà không giao nhau
- “Chảy vào (flow into)”: Một nhánh sông chảy vào một dòng sông
Quan hệ đường-vùng
- “Giao nhau (intersects)”: Một đường giao (cắt) với một vùng
- “Đường biên (borders)”: Đường là một phần biên của vùng
Quan hệ vùng-vùng
- “Chồng lớp (overlaps)”: Hai vùng chồng lên nhau
- “Nằm bên trong (is within)”: Một vùng nằm bên trong một vùng khác
- “Kế cận (is adjacent to)”: Hai vùng cùng có một đường biên chung
2.4 CẤU TRÚC DỮ LIỆU KHÔNG GIAN TRONG SQL SERVER
Có hai kiểu dữ liệu không gian được định nghĩa trong SQL2008 là
Geography và Geometry Cả hai đều được thực hiện như các loại Microsoft
NET Framework Common Language Runtime (CLR) và có thể được sử dụng
để lưu trữ các loại khác nhau của các yếu tố địa lý như điểm, đường và vùng
Cả hai loại dữ liệu cung cấp các thuộc tính và các phương thức có thể sử dụng
để thực hiện các hoạt động không gian như tính toán khoảng cách giữa các địa điểm và tìm ra các điểm giao nhau
Trang 392.4.1 Kiểu dữ liệu Geography:
Kiểu dữ liệu Geography cung cấp một cấu trúc lưu trữ dữ liệu không gian được xác định bằng các cặp tọa độ (vĩ độ và kinh độ) Điển hình của việc
sử dụng loại dữ liệu này là xác định các tuyến đường, các tòa nhà, hoặc các đặc điểm địa lý như dữ liệu vector có thể được phủ lên một bản đồ raster cơ
sở có tính đến độ cong của trái đất, hoặc tính các khoảng cách vòng tròn cực lớn như quỹ đạo đường bay trong vận tải hàng không
2.4.2 Kiểu dữ kiệu Geometry:
Kiểu dữ liệu Geometry cung cấp một cấu trúc lưu trữ dữ liệu không gian được xác định bởi các tọa độ trên một mặt phẳng tùy ý Kiểu dữ liệu này thường được sử dụng trong các hệ thống lập bản đồ khu vực, hoặc cho các bản đồ sơ bộ - yếu tố độ cong của Trái đất không cần thể hiện trong các bản
đồ này
Geometry là kiểu dữ liệu phù hợp với Open Geospatial Consortium (OGC) Simple Features for SQL Specification version 1.1.0 và phù hợp với SQL MM (ISO tiêu chuẩn) (Tham khảo [12])
Cả hai loại dữ liệu không gian trong SQL Server 2008 cung cấp một bộ các instance và phương thức có thể sử dụng để thực hiện các truy vấn và các hoạt động trên dữ liệu không gian
Kiểu dữ liệu Geography và Geometry hỗ trợ 11 đối tượng dữ liệu không gian Tuy nhiên, chỉ có 7 trong số các loại là instantiable nghĩa là ta có thể tạo và làm việc với những trường hợp này (hoặc khởi tạo chúng) trong một cơ sở dữ liệu Các trường còn lại kế thừa những thuộc tính từ các kiểu dữ liệu cha mẹ của nó để phân biệt chúng như Curve, MultiCurve, Surface, MultiSurface, CurvePolygons và Geometry (Tham khảo [13])
Hình vẽ dưới đây mô tả hệ thống phân cấp Geometry dựa trên các kiểu
dữ liệu Geometry và Geography Các kiểu Instantiable của Geometry và Geography được chỉ định màu xanh lam
Trang 40Hình 2.21: Các kiểu dữ liệu không gian trong SQL Server (nguồn: http://technet.microsoft.com)
Hình trên cho thấy, bảy loại instantiable của kiểu dữ liệu Geometry và Geography là Point, MultiPoint, LineString, MultiLineString, Polygon, MultiPolygon và GeometryCollection Các kiểu dữ liệu Geometry và Geography có thể nhận ra một trường hợp cụ thể miễn là nó được định dạng
đúng, thậm chí nếu khi nó không được xác định một cách rõ ràng Ví dụ, nếu
ta xác định một trường hợp điểm một cách rõ ràng bằng cách sử dụng phương thức STPointFromText (), Geometry và Geography nhận ra thể hiện này là Point Nếu ta định nghĩa cùng trường hợp trên bằng cách sử dụng các phương thức STGeomFromText (), các loại dữ liệu của cả 2 kiểu Geometry và Geography cũng nhận biết được đây là thể hiện của một điểm (Tham khảo [13])
Các kiểu dữ liệu của Geometry và Geography được chia thành 2 nhóm là Simple và Collection Trong đó loại Simple bao gồm các kiểu: Point, LineString, CircularString, CompoundCurve, Polygon và CurvePolygon Loại Collection bao gồm các kiểu: MultiPoint, MultiLineString, MultiPolygon, GeometryCollection
Bảng 2.1: Các kiểu dữ liệu không gian trong SQL server (2008)
Point
Point là một đối tượng đại diện cho một điểm duy nhất Nó
luôn luôn được xác định bởi cặp tọa độ ( X,Y) và có thể có
thêm một độ cao Z và một độ đo M