Tổ thành loài là nhân tố quyết ñịnh tính chất quần xã thực vật rừng cũng là ñặc trưng cơ bản ñể giám ñịnh, phân biệt các loại hình quần xã thực vật rừng khác nhau [3] Nói ñến cấu trúc rừ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên rừng ở Việt Nam ña dạng và phong phú Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau: sức ép về gia tăng dân số, nạn phá rừng bừa bãi, nạn du canh du cư, ñô thị hoá, nên diện tích và chất lượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài, ñặc biệt trong giai ñoạn 1980-1985 trung bình mỗi năm chúng ta mất khoảng 235.000 ha rừng Từ năm 1990 trở lại ñây diện tích rừng liên tục tăng lên do nhận ñược nhiều sự quan tâm của các tổ chức trong và ngoài nước Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm
2008, diện tích rừng toàn quốc là 13,2 triệu ha (ñộ che phủ 38,7%) [47] Mặc dù diện tích rừng tăng lên nhưng hiện nay tài nguyên rừng lại ñang bị suy giảm về chất lượng ña dạng sinh học, phá vỡ cân bằng sinh thái Tình trạng săn bắt, khai thác các loài ñộng thực vật quý hiếm diễn ra phức tạp với tốc ñộ nhanh chóng là một trong các nguyên nhân chính làm cho số lượng các loài ñộng thực vật trong sách ñỏ Việt Nam tăng nhanh Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là tác ñộng thô bạo của con người làm vượt quá khả năng tự phục hồi của rừng Ngoài ra, cũng có những nguyên nhân liên quan tới tính không hợp lý của các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh, hoặc những phát triển kinh tế xã hội phiến diện ñã làm gia tăng những tác ñộng tiêu cực ñến rừng gây tổn thất ña dạng sinh học một cách nghiêm trọng, dẫn ñến sự tuyệt chủng của nhiều loài thực vật có giá trị như Cẩm
lai vú (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain) Đây là thách thức lớn, ñòi hỏi chúng
ta phải thay ñổi nhận thức và hành ñộng ñể ñạt ñược sự phát triển bền vững
Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri) là loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae)
ñược sử dụng làm ñồ gỗ từ rất lâu và có giá trị kinh tế cao Đây là loài ñặc hữu Đông Dương, cho gỗ rất quý, cứng, thớ mịn, dễ gia công, mặt cắt nhẵn, dễ ñánh bóng, ăn vecni, ñược dùng ñể ñóng ñồ ñạc cao cấp như giường, tủ, bàn ghế, làm
ñồ mỹ nghệ, trang trí và ñồ tiện khảm Trong tình hình hiện nay, trồng rừng cây
gỗ lớn bản ñịa là một biện pháp tích cực góp phần bảo tồn phát triển những loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao ñồng thời duy trì ñộ che phủ của rừng
Trang 2Hiện nay Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri) ñang bị săn lùng ráo riết ngoài tự
nhiên và môi trường sống ñang bị thu hẹp nhanh chóng Mặc dù có khu phân bố
rộng nhưng bị chia cắt và chịu tác ñộng mạnh mẽ nên Cẩm lai vú (Dalbergia
oliveri) ñang bị ñe dọa nghiêm trọng ngoài tự nhiên Theo sách ñỏ Việt Nam
(năm 2007), loài cây này ñược xếp hạng EN (nguy cấp) [40] Theo Nghị ñịnh số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ thì Cẩm lai vú là loài cây gỗ bị cấm khai thác và cần có các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt [47]
Tỉnh Đăk Lăk, năm 1982 có hơn 1,2 triệu ha rừng, ñến năm 1999 còn khoảng
1 triệu ha rừng và ñến năm 2002 chỉ còn hơn 994 ngàn ha, với tỉ lệ che phủ 50,8% [47] Trước tình hình ñó vấn ñề phục hồi rừng và phủ xanh ñất trống, ñồi núi trọc trở nên cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng Do ñó, việc gây trồng Cẩm lai vú vừa nhằm bảo tồn nguồn gen, phát triển loài cây này vừa ñể gia tăng diện tích che phủ rừng là ñiều cần thiết
Vườn Quốc gia Yok Đôn (VQG Yok Đôn) ñược thành lập năm 1992 với diện tích ban ñầu là 58.200 ha Ngày 18 tháng 3 năm 2002 Chính phủ ñã ra quyết ñịnh số 39/2002/QĐ - TTg về việc mở rộng diện tích của Vườn lên 115.545 ha Phần diện tích mới mở rộng của Vườn Quốc gia Yok Đôn là diện tích của hai lâm trường Bản Đôn và Buôn Đrang Phok, trước ñây ñã qua khai thác hiện nằm trong phân khu phục hồi sinh thái của Vườn Hiện nay, tại Vườn Quốc gia Yok Đôn, Cẩm lai vú ñang bị khai thác lẻ bằng các phương tiện thủ công và diện tích phân bố ngày càng bị thu hẹp dần
Chính vì thực tiễn ñó chúng tôi ñã chọn ñề tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm phân
bố, yêu cầu sinh thái loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain)
phục vụ bảo tồn nguồn gen tại Vườn Quốc gia Yok Đôn” Đề tài nhằm mục
tiêu nghiên cứu ñặc ñiểm sinh thái học của loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri)
ñể làm cơ sở cho việc ñề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp ñể vừa bảo ñảm mục ñích bảo tồn nguồn gen, vừa mang lại thu nhập cho người dân,
ñồng thời làm giảm sự tác ñộng của con người vào tài nguyên rừng
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu về loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain)
Những thông tin nghiên cứu trên thế giới về loài cây Cẩm lai vú (Dalbergia
oliveri) tuy còn ít so với những nghiên cứu về các loài cây phổ biến khác song
các nghiên cứu này cũng tương ñối ña dạng và phong phú
1.1.1.1 Tên gọi và phân loại
Theo một số tài liệu nghiên cứu trên thế giới thì loài Cẩm lai vú có các tên khoa học sau:
Dalbergia bariensis Pierr (1898)
Dalbergia duperreana Pierr (1898)
Dalbergia mamosa Pierr (1898)
Dalbergia dongnaiensis Pierr (1898)
Dalbergia oliveri Gamble ex Prain (1897)
Trong khuôn khổ của ñề tài chúng tôi sử dụng tên khoa học của Cẩm lai vú là
Dalbergia oliveri Gamble ex Prain [40], [41]
Cẩm lai vú thuộc họ Đậu (Fabaceae) Theo ñịnh nghĩa của hệ thống phân
loại sinh học thực vật APG (Angiosperm Phylogeny Group) thì ñây là một họ lớn Tất cả các thành viên trong họ này ñều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong ñó bầu nhụy lớn khi phát triển ñược sẽ tạo ra quả thuộc loại quả ñậu, hai vỏ có thể tách ñôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ Các loài trong họ này theo truyền thống ñược phân loại trong ba phân họ [47]:
+ Phân họ Vang (Caesalpinioideae) hay họ Vang - Caesalpiniaceae: Hoa của
chúng ñối xứng hai bên, nhưng thay ñổi nhiều tùy theo từng chi cụ thể Chi
Cercis thì hoa tương tự như hoa của các loài trong phân họ Faboideae, trong khi
tại chi Bauhinia thì có hoa ñối xứng với 5 cánh hoa bằng nhau
+ Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae), hay họ Trinh nữ - Mimosaceae: Các cánh
hoa nhỏ và thông thường có dạng hình cầu hay là cụm hoa dạng bông và các nhị hoa là bộ phận sặc sỡ nhất của hoa
Trang 4+ Phân họ Đậu (Faboideae hay Papilionoideae) (họ Fabaceae nghĩa hẹp hay
họ Papilionaceae): Một cánh hoa lớn và có nếp gấp trên nó, hai cánh hoa cận kề
mọc bên cạnh còn hai cánh hoa dưới nối liền với nhau ở ñáy, tạo thành một cấu
trúc tương tự như cái thuyền con Cây Cẩm lai vú thuộc vào phân họ Đậu
1.1.1.2 Nghiên cứu về phân loại, hình thái, một số tính chất gỗ và giá trị
sử dụng
Việc mô tả hình thái loài nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả ở
nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu Theo Pierre (1897), loài Cẩm lai vú
(Dalbergia olivei) thuộc họ Đậu (Fabaceae), thuộc bộ Đậu (Fabales), là cây gỗ
lớn cao từ 25-30m, ñường kính có thể ñạt tới 80cm [5] Theo Flore Forestiere de
la Cochinchine (Pierre, 1879); Flore générale de l'Indo - chine (H.Lecomte, 1907)
thì Cẩm lai Vú thuộc họ Đậu (Fabaceae) Theo Flore Forestiere de la Cochinchine
(Pierre, 1879); Flore générale de l'Indo - chine (H.Lecomte, 1907), thì Cẩm lai vú
(Dalbergia oliveri) thuộc họ Đậu (Fabaceae), là cây gỗ lớn thường xanh, cao 20 -
30m, tán rộng, thưa Vỏ màu xám ñiểm ñốm trắng, vàng nhẵn có sợi Thân phân
cành sớm, lúc non màu xanh nâu, sau chuyển thành xám nhạt [15] Tán xoè rộng,
cành lớn, cành non nhẵn, nhiều ñốm sần sùi Lá kép lông chim một lần lẻ, mọc
cách, dài 10-18cm Cuống lá dài 9-13cm màu lục, có cạnh, mang 9-13 lá chét Lá
chét hình trứng trái xoan, ñầu nhọn dần, ñuôi gần hình tròn, dài 3-3.5cm, rộng 1-1.4cm, mặt trên xanh thẫm nhẵn bóng, mặt dưới nhạt hơn, gân bên 5-6 ñôi
Cuống lá chét dài 4-5mm Lá kèm sớm rụng Hoa tự hình xim, 2 ngả tập trung
thành ngù hoặc viên chùy ở ñầu cành Hoa lưỡng tính không ñều Đài hợp hình
ống, mép có 5 thùy tạo thành hai môi Tràng màu trắng xanh, 5 cánh có móng
Nhị 10 xếp thành 2 bó Bầu phủ lông, vòi nhụy dài Quả ñậu bẹt, mỏng, mang 1-2 hạt Quả dài 5-9cm, rộng 2.5-3.5cm, ñầu và ñuôi nhọn dần, mép quả mỏng
thành cánh, nơi có hạt nổi gồ lên thành núm dày Quả non màu xanh lục, khi chín
màu nâu không tự nứt
Gỗ có giác lõi phân biệt, giác màu trắng nhạt sau chuyển thành màu vàng; lõi
Trang 5Tỷ lệ co rút lớn, thớ mịn, vân ñẹp, dễ ñánh bóng, không bị mối mọt Gỗ có thể sử dụng ñể ñóng ñồ mộc cao cấp, ñồ mỹ nghệ, trang trí nội thất và chạm khắc Gỗ có giác màu vàng nhạt, lõi màu nâu ñỏ có vân ñen, không bị mối mọt
1.1.1.3 Nghiên cứu về vật hậu
Theo Flore Forestiere de la Cochinchine (Pierre 1879), Cẩm lai vú ra hoa tháng
12 năm trước ñến tháng 1 năm sau, mùa quả từ tháng 2 – 4 [5]
1.1.1.4 Nghiên cứu về ñặc tính sinh học, sinh thái, phân bố và cấu trúc quần thể
* Nghiên cứu về ñặc tính sinh học, sinh thái và phân bố
Theo Chanpaisang (1994), Shahunanu và Phanmnoda (1995) và Cole (1999) Cẩm lai vú phân bố trong các kiểu rừng rậm thường xanh và rừng nửa rụng lá ở Myanma, Thái Lan, Cam Pu Chia, Lào và Việt Nam Theo Chanpaisang (1994), loài Cẩm lai vú chịu ñược chế ñộ mưa mùa và biên ñộ nhiệt lớn, nhiệt ñộ tối cao
từ 37- 45oC, nhiệt ñộ tối thấp từ 4.2-12oC, lượng mưa bình quân 3600mm/năm Theo Bunyaveijchewin (1983), loài Cẩm lai vú sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa 1200-1600mm/năm [15]
800-* Nghiên cứu về cấu trúc quần thể
Theo Kurintakan (1975) và Shahunalu (1995), Cẩm lai vú ít khi mọc thuần
loài thành từng ñám, mà thường mọc hỗn giao với Căm xe (Xylia xylocarpa), Giáng hương (Pterocarpus macrocapus Kurz), Bằng lăng (Lagertroemia
nay vẫn chưa có công trình nào xem xét mối quan hệ giữa chúng với nhau
Trang 61.1.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh thái
W Lacher (1978) ñã chỉ rõ vấn ñề cần nghiên cứu sinh thái thực vật, sự thích
nghi thực vật ở các ñiều kiện tự nhiên khác nhau [33] E.P Odium (1975) ñã
phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể
nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài Trong trường hợp ñó chu kỳ sống
và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường ñược ñặc biệt chú ý
Ngoài ra, các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể ñịnh
lượng bằng phương pháp toán học, mô phỏng, phản ánh các quy luật tương quan
trong tự nhiên [33]
Các phương pháp thực nghiệm sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ
giữa các loài, phương pháp ñiều tra ñánh giá …ñược trình bày cụ thể trong
“Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen D Wratten and Gary L.A Fry (1980) [8]
1.1.3 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể
thực vật rừng theo không gian và thời gian Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh
thái (tổ thành, dạng sống, tầng phiến, nhóm loài sinh thái); cấu trúc hình thái
(tầng thứ, mật ñộ và mạng hình phân bố mật ñộ) và cấu trúc thời gian Khác với
cấu trúc rừng trồng, cấu trúc rừng tự nhiên dựa vào nhân tố tự nhiên thông qua
các biện pháp kỹ thuật tác ñộng của con người ñể ñem lại hiệu quả cao nhất mà
rừng mang lại Cấu trúc rừng hợp lý là cơ sở quan trọng phát huy tối ña hiệu ích
của rừng Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc lâm phần là nội dung không thể thiếu ñược
khi nghiên cứu rừng tự nhiên[11]
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần quần thể thực
vật rừng theo không gian và theo thời gian Việc nghiên cứu cấu trúc tổ thành
tầng cây cao thông qua tài liệu ñã quan sát ñể từ cấu trúc thực tế tạo ra một cấu
trúc ñịnh hướng cho việc ñề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp
Cấu trúc phản ánh kết quả của quá trình ñấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa
Trang 7các loài trong rừng Cấu trúc là ñặc ñiểm "nổi bật nhất, là tác nhân chi phối sự
tái sinh và diễn thế rừng" (Nguyễn Văn Trương, 1973) Phân tích ñược ñặc ñiểm
cấu trúc của một kiểu rừng là yêu cầu ñầu tiên làm cơ sở cho việc ñề xuất các hướng tác ñộng như xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng, nuôi dưỡng rừng hoặc ñề xuất phương thức trồng rừng mô phỏng theo rừng tự nhiên ñể cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi [11] Do ñó nghiên cứu ñặc ñiểm cấu trúc lâm phần có Cẩm lai vú phân bố là một trong các nội dung nghiên cứu của ñề tài ñể làm cơ sở cho việc phục hồi và bảo tồn loài cây này
Tổ thành loài là nhân tố quyết ñịnh tính chất quần xã thực vật rừng cũng là ñặc trưng cơ bản ñể giám ñịnh, phân biệt các loại hình quần xã thực vật rừng khác nhau [3]
Nói ñến cấu trúc rừng, cấu trúc cần quan tâm ñầu tiên là cấu trúc tổ thành tầng cây cao, vì tổ thành là nhân tố cấu thành nên sinh thái và hình thái của rừng, nói lên khả năng thích nghi cũng như sự phân bố ñặc trưng của mỗi rừng, do ñó nghiên cứu tổ thành sẽ cho thấy mối quan hệ sinh thái giữa các cây trong quần
xã thực vật rừng [11] Vì vậy, nghiên cứu ñánh giá tổ thành loài cây ưu thế trong lâm phần có Cẩm lai vú phân bố sẽ ñánh giá ñược mối quan hệ sinh thái của Cẩm lai vú với các loài cây ưu thế làm cơ sở cho việc ñề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh ñể phục hồi loài cây có giá trị này
* Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng ñể biết ñược những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ ñó có cơ sở ñể ñề xuất các biện pháp kỹ thuật tác ñộng phù hợp làm cơ
sở cho việc phục hồi và bảo tồn các loài cây rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt ñới ñã ñược Richard P.W (1933 - 1934), Baur G.N (1962), Odum E.P (1971), tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan ñiểm, khái niệm và mô tả ñịnh tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Trang 8Baur G.N [3] ñã nghiên cứu các vấn ñề về cơ sở sinh thái học nói chung và
về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong ñó ñã ñi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên
Catinot (1965), Plaudy J [37] nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu ñồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,
Odum E.P (1971) [42] ñã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935
* Nghiên cứu ñịnh lượng cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ñã có từ lâu và ñược chuyển dần từ mô tả ñịnh tính sang ñịnh lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong ñó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Các nghiên cứu ñịnh lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học ñược ñưa vào sử dụng ñể mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Rollet B L (1971) ñã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và ñường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố ñường kính ngang ngực, ñường kính tán bằng các dạng phân bố xác xuất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull ñể mô hình hoá cấu trúc ñường kính thân cây loài Thông, [42] Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không ñược vận dụng trong ñề tài này
Một vấn ñề nữa có liên quan ñến nghiên cứu cấu trúc rừng ñó là việc phân loại rừng theo cấu trúc ngoại mạo Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là ñặc ñiểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số ñặc ñiểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO
Trang 9mạo của quần xã thực vật đã khơng tách khỏi hồn cảnh sinh thái của nĩ, từ đĩ hình
thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái [10]
1.1.4 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tổ thành cây tái sinh sẽ là tổ thành rừng trong tương lai nếu như điều kiện
thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây thân gỗ tái sinh Kết quả nghiên
cứu về tổ thành cây tái sinh cho phép dự đốn và đánh giá được tình hình rừng
kế cận, do tính kế thừa giữa các thế hệ của các lồi cây rừng Vì vậy biết được tổ
thành cây tái sinh cĩ thể đề xuất các giải pháp kỹ thuật tác động nhằm điều chỉnh
tổ thành một cách hợp lý theo hướng cĩ lợi nhất cho mục đích kinh doanh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái
rừng, biểu hiện của nĩ là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những lồi cây
gỗ ở những nơi cịn hồn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau khai
thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trị lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế
hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi
thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ [6]
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành lồi cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm
phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh tầng cây gỗ
lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Khi đề cập đến vấn đề điều tra tái
sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ơ vuơng theo hệ thống do
Lowdermilk (1927) đề nghị, với diện tích ơ đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến
4 m2 Với diện tích ơ nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ơ
phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình
tái sinh rừng [11]
Trong đề tài này chúng tơi thiết lập các ơ dạng bản cĩ diện tích 4m2 (2m x 2m) để điều tra cây tái sinh
Richards P W (1952) [43] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ơ
dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi
thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra
Trang 10chẩn đốn" mà theo đĩ kích thước ơ đo đếm cĩ thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), cĩ nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung cĩ đủ lượng cây tái sinh cĩ giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh dưới tán rừng là rất cần thiết Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể
Van Steenis (1956) [44] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đĩ là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này khơng chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà cịn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới
Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên thì các nhân tố như ánh sáng (thơng qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N (1962) [3] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự nảy mầm và phát triển của cây con Tuy nhiên, ảnh hưởng này thường khơng rõ ràng Ngồi ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi cĩ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ
và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn cĩ ảnh hưởng đến cây tái sinh Đối với rừng nhiệt đới, số lượng lồi cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Số lượng lồi cây cĩ giá trị kinh tế thường khơng nhiều và được chú ý hơn, cịn các lồi cây cĩ giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù cĩ vai trị sinh thái quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và cĩ những biện pháp tác động phù hợp
Tĩm lại, các cơng trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng
tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên nĩi chung và rừng nhiệt đới nĩi riêng Đĩ là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu trúc và tái
Trang 11Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần chủ yếu của rừng tầng cây gỗ (I.X.Melekhov, 1970) hay ñó là sự phủ ñịnh, sự thay thế cây gỗ già bằng thế hệ cây gỗ non diễn ra ở rừng (P.X.Pogrebniak, 1968) Tái sinh rừng là một biện pháp ñể thực hiện tái sản xuất tài nguyên rừng Vì vậy, nghiên cứu ñặc ñiểm tái sinh của rừng ñể nắm ñược xu hướng, quy luật diễn thế, ñịnh hướng tác ñộng biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm dẫn dắt thế hệ rừng tương lai theo hướng có hiệu quả nhất [41]
Trong khuôn khổ của ñề tài chúng tôi xem xét ñặc ñiểm tái sinh trên các khía cạnh: mật ñộ và chất lượng ñể làm cơ sở cho việc phục hồi Cẩm lai vú trong tương lai
1.2 Các nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu về loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain)
1.2.1.1 Tên gọi và phân loại
Ngoài tên gọi thông thường, Cẩm lai vú còn có một số tên gọi khác mang tính ñịa phương ñó là: Cẩm lai bà rịa, Cẩm lai ñồng nai, Cẩm lai bông, Cẩm lai mật, Nênh, Padong deng
Về danh pháp quốc tế, Cẩm lai vú cũng ñược nhiều nhà khoa học gọi tên khác nhau Theo Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000) [5] Cẩm lai vú có các tên gọi
khác nhau như: Dalbergia bariensis Pierr, 1898; Dalbergia duperreana Pierre, 1898; Dalbergia mamosa Pierr, 1898; Dalbergia dongnaiensis Pierr, 1898 Sau khi ñi sâu phân tích tác giả xác ñịnh ñây chính là một loài có tên là Dalbergia
oliveri Gamble ex Prain,1897 Quan ñiểm này cũng ñược nhiều tác giả ủng hộ
Đây cũng chính là tên khoa học của loài Cẩm lai vú ñược tác giả sử dụng trong
ñề tài này
Ở Việt Nam họ Đậu (Fabaceae) là một trong 10 họ có số loài lớn nhất
(Nguyễn Tiến Bân, 1997) [1], (Viện Địa lý, 1999) [38] Chính vì vậy, họ Đậu là ñối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, chủ yếu là cây gỗ lớn Họ này ñôi khi còn có tên gọi khác là
Trang 12Papilionaceae Theo các tác giả [1], họ Đậu ở Việt Nam có khoảng 90 chi: Abrus, Aeschynomene, Alysicarpus, Amphicarpaea, Antheroporum, Canavalia, Cyamopsis, Erythrina, Dalbergia, Pueraria, ….Họ Đậu có trên 450 loài trong ñó
cây Cẩm lai vú thuộc chi Dalbergia
Các kết quả nghiên cứu về số loài trong họ Đậu ở nước ta cũng rất khác nhau, tuy nhiên các kết quả ñều cho thấy là họ Đậu là họ có nhiều loài thuộc dạng bậc nhất nước ta
Về phân loại, do là một họ có số lượng loài rất lớn nên các nghiên cứu ở nước
ta mới chủ yếu tập trung vào phân loại các phân họ và chi, việc phân loại ñến cấp loài còn rất ít nghiên cứu
1.2.1.2 Nghiên cứu về hình thái, phân loại và giá trị sử dụng
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1999), Lê
Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000) [5], Cẩm lai vú thuộc họ Đậu (Fabaceae) là
cây gỗ lớn cao từ 25-30m, ñường kính có thể ñạt tới 80cm Thân tròn thẳng Vỏ màu nâu, nhiều vết loang trắng Vết vỏ ñẽo dày màu vàng nhạt, có mùi sắn dây Tán xoè rộng, cành lớn và thưa Cành non nhẵn, nhiều ñốm sần sùi Lá kép lông chim một lần lẻ, mọc cách, dài 10-18cm Cuống lá dài 9-13cm màu lục, có cạnh, mang 9-13 lá chét Lá chét hình trứng trái xoan, ñầu nhọn dần, ñuôi gần hình tròn, dài 3-3.5cm, rộng 1-1.4cm, mặt trên xanh thẫm nhẵn bóng, mặt dưới nhạt hơn, gân bên 5-6 ñôi Cuống lá chét dài 4-5mm Lá kèm sớm rụng Hoa tự hình xim, 2 ngả tập trung thành ngù hoặc viên chuỳ ở ñầu cành Hoa lưỡng tính không ñều Đài hợp hình ống, mép có 5 thuỳ tạo thành hai môi Tràng màu trắng xanh,
5 cánh có móng Nhị 10 xếp thành 2 bó (9+1) Bầu phủ lông, vòi nhụy dài Quả ñậu bẹt, mỏng, mang 1-2 hạt Quả dài 5-9cm, rộng 2.5-3.5cm, ñầu và ñuôi nhọn dần, mép quả mỏng thành cánh, nơi có hạt nổi gồ lên thành núm dày Quả non màu xanh lục, khi chín màu nâu không tự nứt Gỗ có giác lõi phân biệt, giác màu trắng nhạt sau chuyển thành màu vàng; lõi màu ñỏ sẫm sau chuyển thành tím ñen
Gỗ rất cứng, nặng, tỷ trọng d = 1,07 - 1,15 Tỷ lệ co rút lớn, thớ mịn, vân ñẹp, dễ
Trang 13ñánh bóng, không bị mối mọt Gỗ dùng ñóng ñồ mộc cao cấp, ñồ mỹ nghệ, trang trí nội thất và chạm khắc rất ñẹp Gỗ có giác màu vàng nhạt, lõi màu nâu ñỏ có vân ñen, không bị mối mọt Thường dùng ñóng ñồ quý và ñồ mỹ nghệ cao cấp
1.2.1.3 Nghiên cứu về ñặc tính sinh học, sinh thái, phân bố và cấu trúc quần thể
* Nghiên cứu về ñặc tính sinh học, sinh thái và phân bố
Theo Viện ñiều tra Quy hoạch Rừng (FIPI, 1996) và Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), Cẩm lai vú thường gặp ở trong các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai, Tây Ninh Loài này phân bố ở ñộ cao từ 300-700m, trên nhiều loại ñất khác nhau và sinh trưởng tốt nhất ở loại ñất Bazan vàng ñỏ hoặc ñất bồi
tụ tầng dày, thường gặp ven sông suối Cẩm lai vú là loài cây ưa sáng, mọc tương ñối chậm và thường chiếm tầng cao của tán rừng
Theo Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng (1992), Cẩm lai vú mọc rải rác trong rừng
ẩm thường xanh, rừng nửa rụng lá, hoặc ở rừng khô, thưa, rụng lá theo mùa (rừng Khộp); thường gặp cây này ở ven sông, suối, vùng ñồi thấp dưới 1.000m Là cây ñặc hữu Đông Dương; ở Việt Nam, Cẩm lai vú phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên và một số tỉnh Đông Nam Bộ Là cây ưa sáng, sinh trưởng trung bình, tái sinh ít, nảy mầm kém, lúc non chịu bóng một phần
*Nghiên cứu về cấu trúc quần thể
Theo kết quả ñiều tra của Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên (2001), Cẩm lai vú thường gặp trong các kiểu rừng hỗn giao
lá rộng thường xanh, mọc xen lẫn với các loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Trinh nữ (Mimoraceae), họ Re (Lauraceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Sim (Myrtaceae) Tuy số lượng cá thể không nhiều, nhưng nhờ có kích thước lớn nên chúng thường chiếm tầng cao của tán rừng và giữ vai trò quan trọng trong kết cấu của lâm phần [47]
Trang 14Rừng nửa rụng lá thường có cấu trúc tầng thứ ñầy ñủ 5 tầng, trong ñó cây rụng
lá nằm ở tầng vượt tán và tầng chính của rừng Cẩm lai vú thường mọc xen với các
loài thuộc các họ thực vật chủ yếu trong kiểu rừng này là họ Tử vi (Lythraceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae), (Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, 2001,[47])
* Nghiên cứu về sinh trưởng ở vườn ươm và rừng trồng
Cho tới nay, mới chỉ có một số người dân tiến hành trồng thử Cẩm lai vú ở vườn nhà, tuy nhiên kết quả cho thấy sinh trưởng chậm và có hiện tượng phân cành sớm hơn ở tự nhiên Chưa có một cơ quan chức năng có thẩm quyền nào tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm trồng loài cây quý hiếm này
1.2.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh thái
Sinh thái cây rừng ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu, Bảo Huy (1997) nghiên
cứu ñặc ñiểm sinh thái và sinh trưởng của loài Xoan mộc (Toona suremi
Blume Merr) với các loài cây khác Hà Thị Mừng (2000), nghiên cứu quan hệ sinh thái loài Giáng Hương ((Pterocapus macrocapus Kurz) với các loài cây khác trong rừng khộp Các nghiên cứu này ñã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sinh thái loài kết hợp với xử lý thống kê trên máy vi tính ñể ñưa ra ñược quan hệ sinh thái loài nghiên cứu với các loài ưu thế khác trong quần xã làm cơ sở cho việc ñề xuất các giải pháp gây trồng phát triển Có rất nhiều phần mềm ứng dụng
ñể xử lý thống kê như SPSS, Statgraphics Plus, Excel Microsoft Excel là phần mềm không chỉ có chức năng tính toán thông thường mà còn có chức năng chuyên sâu về ứng dụng thống kê trong sinh học, nông lâm nghiệp, quản lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường[18] Vì vậy, ñề tài này ñã sử dụng phần mềm Excel trong việc xử lý ñánh giá các kết quả khảo sát ñược trong thực tế ñể xác ñịnh mối quan hệ sinh thái của cây Cẩm lai vú với các loài ưu thế làm cơ sở cho việc phục hồi loài cây này tại VQG Yok Đôn
Võ Hùng (2006), nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh thái của loài Kim tiền thảo
Trang 15thái thu thập ñược ñã làm cơ sở cho việc lựa chọn giải pháp gây trồng thử nghiệm Tìm hiểu các nhân tố sinh thái là một trong những vấn ñề quan trọng phục vụ cho việc trồng và kinh doanh rừng Tác giả ñã sử dụng các phương pháp ñiều tra phân bố, thu thập số liệu, phân tích ñịnh tính, ñịnh lượng ñưa ra các nhân tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của Kim tiền thảo Để xác lập mối quan hệ giữa số lượng cây Kim tiền thảo xuất hiện với các nhân tố sinh thái nhà nghiên cứu ñã sử dụng phần mềm thống kê Statgraphic ñể xây dựng và phân tích mối quan hệ ña biến Các biến số ñịnh tính ñược mã hoá thống nhất theo chiều biến thiên thay ñổi, các biến số ñịnh lượng ñược sử dụng giá trị thực ñể xây dựng phương trình, làm cơ sở cho việc gây trồng thử nghiệm loài cây này
Phần mềm Statgraphics Plus là phần mềm thống kê ñược ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu, phân tích dữ liệu của nhiều ngành khác nhau về tự nhiên, xã hội Để ñánh giá xác ñịnh các nhân tố sinh thái chính ảnh hưởng ñến phân bố cây Cẩm lai vú ñề tài ñã sử dụng phần mềm Statgraphics Plus ñể xây dựng hàm xác ñịnh mối quan hệ ña biến ñó
Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái, sinh thái, phân bố, công dụng, bảo tồn của một số loài lâm sản ngoài gỗ quan trọng ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, Bảo Huy và cộng sự (2007) [20] Phương pháp ñiều tra có sự tham gia ñã ñược sử dụng ñể thu thập các thông tin Đây là một phương pháp thu hút sự tham gia của người dân, cơ sở cho việc ñề xuất các giải pháp bảo tồn hợp lý
Bảo Huy, Hồ Viết Sắc và cộng sự, năm 2004, khi xây dựng mô hình bảo tồn
và phát triển các loài cây thuốc ở vùng ñệm VQG Yok Đôn ñã tiếp cận tìm hiểu kiến thức sinh thái ñể xác ñịnh sinh cảnh và vùng phân bố của các loài cây thuốc Tác giả ñã sử dụng phần mềm Mapinfo Professional ñể xây dựng bản ñồ phân bố các loài cây thuốc làm cơ sở dữ liệu ñể lưu trữ và giúp quản lý có hiệu quả tài nguyên cây thuốc tại VQG
Trang 16Mapinfo Professional là phần mềm thuộc nhóm GIS ñược xây dựng nhằm giúp chúng ta xử lý bản ñồ số cũng như quản lý các thông tin ñịa lý GIS là một
hệ thống quản lý thông tin dữ liệu không gian ña dạng, ñược phát triển dựa trên
cơ sở công nghệ máy tính, phần mềm, ảnh viễn thám với mục ñích lưu trữ, cập nhật, quản lý, hợp nhất, tổng hợp, mô hình hóa, phân tích và ñưa ra các giải pháp
ở nhiều lĩnh vực, cấp ñộ khác nhau tùy theo mục tiêu của người sử dụng [21] Tại Việt Nam công nghệ GIS ñược thí ñiểm khá sớm và ñến nay ñược ứng dụng trong khá nhiều ngành như quy hoạch nông lâm nghiệp, quản lý rừng, lưu giữ tư liệu ñịa chất, ño ñạc bản ñồ, ñịa chính, quản lý ñô thị … ñã mang lại hiệu quả bước ñầu cho hoạt ñộng phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của nước ta và ñang có nhiều triển vọng phát triển nhanh trong thời gian sắp tới Trong khuôn khổ của ñề tài chúng tôi ñã sử dụng phần mềm Mapinfo Professional ñể xây dựng bản ñồ mật ñộ phân bố Cẩm lai vú ñể tạo lập cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát loài và tổ chức quản lý bảo tồn có hiệu quả
Cao Lý (2005, 2006) khi nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa các loài thực vật thân gỗ nhằm phục hồi rừng khộp theo mục tiêu ña dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Yok Đôn ñã nhấn mạnh phương pháp luận là sử dụng kết hợp giữa phương pháp ñiều tra kỹ thuật với nghiên cứu có sự tham gia (Participatory Action Research - PAR) Phương pháp phân tích thống kê ñược sử dụng trong tiến trình phân tích và xử lý số liệu nhằm phát hiện các mối quan hệ sinh thái giữa các loài cây thân gỗ Kiến thức sinh thái ñịa phương, qua tiếp cận cộng ñồng sẽ ñược kết hợp với các kiến thức kỹ thuật nhằm phục vụ việc phục hồi rừng khộp nhằm bảo tồn ña dạng sinh học trên quan ñiểm sinh thái, cảnh quan [25] Mối quan hệ sinh thái giữa các loài thực vật thân gỗ trong sinh cảnh rừng khộp là một trong những cơ sở quan trọng trong việc phục hồi tính ña dạng của sinh cảnh rừng khộp Giữa các loài có mối quan hệ tác ñộng qua lại với nhau ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển
Tìm hiểu ñược các ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học của các loài ñộng
Trang 17dưỡng sẽ ñáp ứng ñược các mục ñích khác nhau trong bảo tồn ña dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên rừng và góp phần dẫn dắt rừng phát triển ổn ñịnh Ở nước ta nghiên cứu về sinh thái cây rừng cũng rất ñược quan tâm
Từ những nghiên cứu trên, chúng ta có thể kế thừa các phương pháp nghiên cứu sinh thái cây rừng, vận dụng trong công tác nghiên cứu của ñề tài
1.2.3 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trần Ngũ Phương (1970) [29] ñã chỉ ra những ñặc ñiểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả ñiều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 ñến năm 1965 Nhân tố cấu trúc ñầu tiên ñược nghiên cứu là tổ thành và thông qua ñó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng ñược phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Thái Văn Trừng (1978) [30] ñã tiến hành phân chia thực vật rừng nhiệt ñới Việt Nam ñiển hình thành 5 tầng: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Việc áp dụng phương
pháp vẽ "biểu ñồ phẫu diện" sau khi ñã ño chính xác vị trí, chiều cao và ñường
kính thân cây, bề rộng và bề dày tán lá của toàn bộ những cây gỗ (tầng A) trên
một dải hẹp ñiển hình của khu tiêu chuẩn theo Richards và Davids (1934) ñã thể
hiện khá rõ sự phân chia theo tầng của thực vật trong hệ sinh thái rừng Bên cạnh
ñó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn ñể phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, ñó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, ñộ tàn che nền ñất ñá của tầng ưu thế, hình thái sinh thái lá và trạng thái mùa của tán lá Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng ñược vận dụng triệt ñể trong phân loại
rừng theo quan ñiểm sinh thái phát sinh quần thể
Trong những năm gần ñây, do có sự hỗ trợ của các phần mềm tính toán nên
có rất nhiều công trình nghiên cứu ñịnh lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là các công trình của các tác giả sau: Đồng Sỹ Hiền (1974) [13] dùng hàm Meyer và hệ ñường cong Poisson ñể nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng
tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu ñộ thon cây ñứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1975) ñã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách ñể biểu diễn
Trang 18cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng,
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trong thời gian qua cho thấy việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta ñã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều ñóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cấu trúc rừng gần ñây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc ñề xuất các biện pháp kỹ thuật tác ñộng vào rừng thường thiếu yếu
tố sinh thái nên chưa thực sự ñáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn ñịnh lâu dài Bởi lẽ bản chất của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh là giải quyết những mâu thuẫn sinh thái phát sinh trong quá trình sống giữa các cây rừng và giữa chúng với môi trường Vì vậy, ñể ñề xuất ñược các biện pháp kỹ thuật lâm sinh làm cơ
sở cho việc phục hồi và bảo tồn, ñòi hỏi nghiên cứu cấu trúc rừng một cách ñầy
ñủ và phải ñứng trên quan ñiểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học và sản lượng Nghiên cứu xác ñịnh mối quan hệ sinh thái của các loài ưu thế trong lâm phần có Cẩm lai vú phân bố là một trong các nội dung nghiên cứu của ñề tài ñể làm cơ sở cho việc ñịnh hướng phục hồi loài cây này theo xu hướng tuân theo các quy luật
tự nhiên
1.2.4 Nghiên cứu về tái sinh
Vấn ñề nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên một cách hệ thống và ñầy ñủ ở nước
ta còn hạn chế Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường ñược ñề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí Khi bàn về vấn ñề ñảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan (1964) ñã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh
(Erythrophleum fordii) dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay
từ ñầu giai ñoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố ảnh hưởng ñáng kể ñến tỷ lệ nảy mầm
Trong giai ñoạn từ 1962 ñến 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch Rừng ñã ñiều
Trang 19Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả ñiều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962 - 1964) bằng phương pháp ño ñếm ñiển hình Từ kết quả ñiều tra tái sinh, dựa vào mật ñộ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [23] ñã phân chia khả năng tái sinh rừng thành
5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật ñộ tái sinh tương ứng là trên 12.000 cây/ ha, 8.000 - 12.000 cây/ha, 4.000 - 8.000 cây/ ha, 2.000 - 4.000 cây/ ha Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng ñến số lượng mà chưa ñề cập ñến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả ñiều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) ñã tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những ñặc ñiểm tái sinh của rừng nhiệt ñới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo ñám ñược thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không ñều trên mặt ñất rừng Những nhận xét trên
sẽ ñược ñề tài vận dụng trong việc ñánh giá mật ñộ tái sinh của Cẩm lai vú ñể có thể nhận biết ñược chiều hướng phát triển của rừng trong tương lai
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [30] ñã nhấn mạnh tới ý nghĩa của ñiều kiện ngoại cảnh ñến các giai ñoạn phát triển của cây tái sinh Theo tác giả, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ñiều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh Nguyễn Văn Trương (1983) [31] ñã ñề cập mối quan hệ giữa cấu trúc quần xã thực vật rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên ñã khái quát ñặc ñiểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ ñó làm cơ sở ñịnh hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu [6] Trần Cẩm Tú (1998) [34] tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh và ñã rút ra kết luận áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể ñảm bảo khôi phục vốn rừng, ñáp ứng mục tiêu
Trang 20sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác ñộng phải có tác dụng thúc ñẩy cây tái sinh mục ñích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải ñồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng ñiều tiết tầng tán của rừng; ñảm bảo cây tái sinh phân bố ñều trên toàn bộ diện tích rừng Những kết luận trên ñây có thể sử dụng ñể tham khảo cho những ñề xuất biện pháp mở tán rừng, chặt cây gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khi khai thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng Đây là các cơ sở ñược tham khảo cho việc ñề xuất các biện pháp kỹ thuật tác ñộng vào rừng khi nghiên cứu phân bố cây tái sinh trên mặt ñất của loài Cẩm lai vú
Trần Ngũ Phương (2000) [29] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam ñã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: "Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau, dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ ñược phục hồi" Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật phát triển của các loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bảng cân ñối giữa một bên là mặt thoái hoá và một bên là mặt phục hồi tự nhiên, tác giả này và các cộng tác viên ñã kết luận: "mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân ñối ñược với mặt thoái hoá về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn ñảm bảo cho ñất nước một ñộ che phủ thích hợp, chúng ta không thể trông cậy vào quy luật tự tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể ñi theo con ñường tái sinh nhân tạo và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án"
Thực tế cho thấy, với ñiều kiện nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ ñược triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu ñầy ñủ về tái sinh tự nhiên cho từng
Trang 21ñối tượng rừng cụ thể là rất cần thiết nếu muốn ñề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác
Các công trình nghiên cứu ñược ñề cập trên ñây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu ñặc ñiểm tái sinh tự nhiên Đây là những cơ sở cho việc nghiên cứu ñặc ñiểm tái sinh trong ñề tài này
1.3 Thảo luận
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn ñề có liên quan ñến nghiên cứu sinh thái rừng, cấu trúc rừng và tái sinh có thể rút ra một số nhận xét sau ñây:
+ Các công trình nghiên cứu trên thế giới ñược tiến hành tương ñối bài bản,
ña dạng và phong phú, trong ñó ñáng chú ý là có những nghiên cứu cơ sở sinh thái và mô tả hình thái làm cơ sở cho việc ñề xuất các biện pháp gây trồng thử nghiệm ngoài tự nhiên, phát triển công tác trồng rừng, nhằm mục ñích bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững Các kết quả nghiên cứu này ñã góp phần quan trọng vào thực tiễn kinh doanh rừng và phát triển tài nguyên rừng theo hướng bền vững
+ Nghiên cứu các ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học của các loài ñộng thực vật rừng sẽ ñáp ứng ñược các mục ñích khác nhau trong bảo tồn ña dạng sinh học góp phần dẫn dắt rừng phát triển ổn ñịnh và bền vững cho tương lai
+ Những nghiên cứu về cấu trúc quần thể, yếu tố sinh thái, phân bố, hình thái, tính chất gỗ và giá trị sử dụng ñã làm cơ sở cho việc lựa chọn các phương pháp của ñề tài
Từ tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan ñến nội dung của
ñề tài cho thấy cây Cẩm lai vú ñã ñược nghiên cứu khá nhiều mặt; bao gồm từ
mô tả hình thái thực vật ñến yêu cầu sinh thái, gây trồng, công dụng, giá trị và thị trường thương mại Hiện nay, sự phân bố Cẩm lai vú ở nước ta nói chung và Tây Nguyên nói riêng ñang bị thu hẹp dần, ñây là loài cây gỗ có giá trị ñem lại lợi ích kinh tế cao, thị trường gỗ mở rộng
Trang 22Tuy nhiên, ñể bảo tồn và phát triển một loài cây có giá trị cao thì các vấn ñề sau còn cần ñược nghiên cứu làm rõ:
+ Mối quan hệ giữa phân bố cây Cẩm lai vú với các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tổng hợp, làm cơ sở quy hoạch vùng bảo tồn loài này
+ Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, tiểu hoàn cảnh rừng ñến khả năng tái sinh Cẩm lai vú làm cơ sở bảo tồn nội vi và ngoại vi loài cây này
+ Quy trình kỹ thuật gieo ươm, ñiều kiện và kỹ thuật gây trồng Cẩm lai vú trong từng ñiều kiện cụ thể
+ Ứng dụng công nghệ GIS (Geographic Information System) trong bảo tồn loài về mặt sinh thái
Do ñó, cần có các nghiên cứu tiếp theo về nhiều mặt ñể bảo tồn cũng như
phát triển cây Cẩm lai vú Xuất phát từ thực tiễn ñó, ñề tài: “Nghiên cứu ñặc
ñiểm phân bố, yêu cầu sinh thái loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliveri Gamble
ex Prain) phục vụ bảo tồn nguồn gen tại vườn quốc gia Yok Đôn” là cần
thiết với mong muốn góp thêm một phần cơ sở dữ liệu, thông tin khoa học về một loài cây có giá trị ở Việt Nam
Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi ñã lựa chọn
kế thừa các phương pháp nghiên cứu thích hợp ñể vận dụng trong khuôn khổ của
ñề tài Sử dụng kết hợp giữa phương pháp ñiều tra kỹ thuật với phân tích số liệu trên máy vi tính ñể xây dựng cơ sở khoa học cho việc ñề xuất giải pháp bảo tồn
và phát triển loài Cẩm lai vú Phương pháp phân tích thống kê toán học trong Lâm nghiệp ñược sử dụng trong tiến trình phân tích và xử lý số liệu nhằm phát hiện các mối quan hệ sinh thái loài và phân tích các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng ñến sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của Cẩm lai vú Đề tài ñã sử dụng phần mềm Excel và Statgraphics Centurion XV, Mapinfo ñể xử lý số liệu và phân tích kết quả
Trang 23CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 2.1 Địa ñiểm, ñối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Địa ñiểm và ñối tượng nghiên cứu
Địa ñiểm nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Yok Đôn cách thành phố Hồ Chí Minh 400 km về phía Bắc Cách thành phố Buôn Ma Thuột, trung tâm tỉnh Đắk Lắk 40km về phía Tây Vườn nằm trên ñịa phận hành chính của các xã: Krông Na-Huyện Buôn Đôn; Ea Bung và Cư M’lanh-Huyện Ea Súp,Tỉnh Đăk Lăk; Đăk Wil-Huyện Cư Jut,Tỉnh Đăk Nông có tổng diện tích tự nhiên : 115.545 ha (theo quyết ñịnh số : 39/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2002)
Phía Đông ranh giới chạy theo tỉnh lộ 1A, từ ngã ba Cư M’Lan ñến Bản Đôn
và sau ñó ngược sông Srêpôk ñến ranh giới huyện Cư Jut
Phía Tây là biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia
Đối tượng nghiên cứu: Loài Cẩm lai vú (Dalbergia oliver) và các quần xã
thực vật có Cẩm lai vú phân bố
Trang 242.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nhân tố sinh thái ảnh hưởng ñến loài nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên
cứu 5 nhóm nhân tố sinh thái theo Thái Văn Trừng [30] có ảnh hưởng ñến phân
bố, tái sinh tự nhiên loài nghiên cứu:
+ Nhóm nhân tố ñịa lý - ñịa hình: Toạ ñộ UTM, vị trí (khe, chân, sườn, ñỉnh),
ñộ cao, ñộ dốc, chiều dài dốc, hướng phơi
+ Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ văn: Lượng mưa trung bình năm, nhiệt ñộ, ñộ
ẩm không khí, ánh sáng (Lux) và cự ly ñến sông suối gần nhất
+ Nhóm nhân tố ñá mẹ - thổ nhưỡng: Loại ñất, màu sắc ñất, ñộ dày tầng ñất,
ñộ xốp ñất, ñộ ẩm ñất, pH ñất, tỉ lệ kết von, ñá nổi
+ Nhóm nhân tố khu hệ thực vật: Kiểu rừng, trạng thái, ñộ tàn che, tổng tiết diện ngang, cấu trúc tầng tán, cấu trúc tổ thành loài, loài tre le, tỷ lệ che phủ của tre le, loài thảm thực bì, tỷ lệ che phủ của thực bì
+ Nhóm nhân tố sinh vật - Con người tham gia vào quá trình phát sinh những kiểu phụ nhân tác, trong ñó nhân tố con người là quan trọng nhất
Về bảo tồn loài : Đề tài chỉ ñề xuất một số giải pháp, biện pháp kỹ thuật lâm
sinh nhằm bảo tồn, phục hồi và phát triển loài Cẩm lai vú tại Vườn Quốc gia Yok Đôn Các giải pháp kinh tế xã hội không thuộc phạm vi nghiên cứu của ñề tài này
2.2 Đặc ñiểm khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Địa hình
Nhìn tổng quát Vườn Quốc gia Yok Đôn phân bố trên ñịa hình tương ñối bằng phẳng, nghiêng dần từ Nam lên Bắc và từ Đông sang Tây Độ cao trung bình từ 150m-200m so với mặt nước biển, ñộ dốc bình quân từ 70-100
Bề mặt hiện tại của Vườn là kết quả của quá trình bào mòn và tích tụ lâu dài Những nơi có ñịa hình cao (ñồi núi) chịu ảnh hưởng của quá trình bào mòn, ngược lại những nơi ñịa hình thấp chịu ảnh hưởng của quá trình tích tụ Nhìn
Trang 25Địa hình núi thấp: Phân bố rải rác trên diện tích của Vườn, dọc theo bờ phải
sông Srêpôk là dãy Cư Minh, Cư M’lan chạy suốt từ Đông sang Tây tới biên giới Việt Nam - Căm Pu Chia Đỉnh cao nhất là Cư M’Lan (502 m) và các ñỉnh 498
m, 382 m cuối cùng là ñỉnh Chư Minh (384 m) Bờ trái sông Srêpôk có núi Yok Đa (466 m), gần ranh giới phía Nam của Vườn là núi Yok Đôn (482 m) ñược ñặc trưng bởi kiểu rừng kín lá rộng thường xanh nên ñược chọn làm biểu tượng tên gọi cho Vườn là Yok Đôn
Địa hình ñồi: Là dạng cơ bản và cũng chiếm phần diện tích lớn nhất của
Vườn Quốc gia Chúng ñược tạo bởi các dãy ñồi lượn sóng xen kẽ với những ñồi riêng lẽ Đây là vùng chuyển tiếp giữa ñịa hình vùng núi thấp với vùng ñồng bằng, vì vậy ñộ chia cắt không lớn, ñộ dốc bình quân từ 7o-10o
Địa hình tích tụ (ñồng bằng): Phân bố dọc sông Srêpôk và các suối lớn
trong vùng, là kết quả của hoạt ñộng quá trình bào mòn san bằng các ñồi cát bột kết và quá trình bồi tụ ở những nơi trũng ven sông, suối trong Vườn Độ dốc bình quân từ 50-70 Bề mặt ñịa hình tương ñối ñơn giản
2.2.1.2 Thổ nhưỡng
Do kiến tạo của ñịa chất với nền ñá mẹ chủ yếu là ñá sa thạch, phiến sét và granit, cùng với sự phân hóa sâu sắc của chế ñộ khí hậu 2 mùa rõ rệt với nền nhiệt ñộ ẩm của vùng là nhân tố quyết ñịnh hình thành và phát triển các lớp thổ nhưỡng trong Vườn Các quá trình Feralit, rửa trôi, bào mòn, tích tụ là quá trình
cơ bản ñể tạo lớp thổ nhưỡng bề mặt của ñất VQG Yok Đôn Trong quá trình hòa tan và rửa trôi lớp thổ nhưỡng bề mặt, có sự xuất hiện kết von thành ñá ong (Laterit) trên bề mặt, kết quả lớp ñất mặt mỏng dần và lộ dần lớp ñá ong kết von Các nhóm chính gồm:
Nhóm ñất Feralit vàng ñỏ trên ñá phiến (F s ) ñịa hình núi thấp: là sản
phẩm phong hoá từ các ñá trầm tích phiến sét có tuổi Jura, phân bố những vùng
có ñịa hình ñồi núi thấp Đất có tầng mùn mỏng, thành phần cơ giới nhẹ ñến trung bình phát triển trên ñá trầm tích và biến chất hạt mịn Loại ñất này phân bố
Trang 26chủ yếu ở sườn và ñỉnh núi thấp hữu ngạn sông Srêpôk và núi Yok Đôn, chiếm
2, 5% diện tích Vườn Quốc gia
Nhóm ñất vàng ñỏ trên ñá cát kết (F q ) ñiển hình ở vùng ñồi: tầng ñất
mỏng ñến trung bình, thường có kết von ñá ong phát triển trên ñá Macma axit và trầm tích hạt mịn, tầng ñất dày 30- 50 cm, nhiều thành phần cát, ít mùn, thường
có kết von; phân bố ở vùng Đồi hai bên bờ sông Srêpôk ở ñộ cao từ 300 m trở xuống Loại ñất này chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất (64,7%)
Nhóm ñất xám (X a ) trên vùng bình nguyên: phát triển trên ñá mẹ Granite
và trầm tích hỗn hợp Mezozoi, tầng ñất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, tỷ lệ ñá lẫn cao Đất chua, nghèo mùn, dễ bị xói mòn, rửa trôi, có kết von
ñá ong Các chất hữu cơ bị quá trình khoáng hóa và bị lửa rừng ñốt cháy trở nên nghèo mùn và chua, tỷ lệ ñá lẫn cao dễ bị xói mòn, rửa trôi, có kết von ñá ong Phân bố ở ñộ cao từ 200 - 250 m hai bên bờ sông Srêpôk và chân ñồi hữu ngạn sông Srêpôk, chiếm 26,4% diện tích
Đất dốc tụ (D) thuộc nhóm ñất nâu vàng trên ñá Bazan (F u ): ñây là ñất
phù sa bồi tụ; tầng ñất mặt khá tơi xốp, màu xám ñen, lẫn nhiều chất hữu cơ và sỏi sạn Thành phần cơ giới thịt pha cát, ñất tốt hơn các loại ñất trên, có khả năng canh tác nông nghiệp Loại ñất này phân bố ven sông và các suối lớn, chiếm 6,4% diện tích
2.2.1.3 Khí hậu - Thuỷ văn
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt ñới gió mùa, có hai mùa
rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Nhiệt ñộ trung bình năm là 23,7oC, lượng mưa trung bình năm ño tại trạm Buôn Ma Thuột là 1789mm, ñộ ẩm trung bình là 81%
(ñộ ẩm tương ñối) Lượng bốc hơi là 1.470 mm (số liệu của Trạm khí tượng thuỷ
văn Buôn Đôn năm 2008) Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 ñến tháng 10, tập trung
lượng mưa tới 92,5% lượng mưa cả năm Như vậy lượng nước giữ lại trong ñất chỉ 9mm/năm Thêm vào ñó, mùa khô kéo dài từ tháng 11 ñến tháng 3 năm sau, với lượng mưa không ñáng kể trở nên khô kiệt, thiếu nước cho ăn uống, sinh
Trang 272.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.2.1 Dân số, phân bố dân cư và lao ñộng
Vùng ñệm của VQG Yok Đôn gồm 7 xã thuộc 3 huyện: xã Ea Bung, xã
Cư M'Lan (huyện Ea Súp); xã Krông Na, xã Ea Huar, xã Ea Ver (huyện Buôn Đôn); xã Ea Pô, xã Đăk Wil (huyện Cư Jút) có tổng diện tích là 1221.95 ha với
70 thôn buôn và dân số 32 232 người (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Diện tích, dân số của 7 xã vùng ñệm của VQG Yok Đôn
Xã Buôn Diện tích
(km 2 )
Vùng lõi (km 2 )
Vùng ñệm (km 2 )
Số hộ (hộ)
Dân số (người) Mật ñộ
Tỷ lệ tăng dân số 4,21%, cao so với tỷ lệ tăng dân số toàn quốc là 2,1%
Sự phân bố của dân cư chịu ảnh hưởng sâu sắc của cảnh quan Hầu hết các dân tộc ít người sống thành từng buôn làng gần các sông, suối có nguồn nước ổn ñịnh Người Kinh sống theo các trục giao thông chính, thị trấn
Cộng ñồng dân cư ở ñây có thể chia làm 3 nhóm:
+ Cộng ñồng dân cư bản ñịa chủ yếu là người M'Nông, Ê Đê, Lào, Gia rai,
Ba na, Miên (Cam Pu Chia) Đặc ñiểm cơ bản của nhóm dân cư này là dựa trên nền tảng cộng ñồng thôn, bản, hình thái tổ chức của ñồng bào là buôn, làng Đây
là tổ chức xã hội mang tính xã hội tương ñối hoàn chỉnh, ñộc lập Một bộ phận của ñồng bào dân tộc ít người ñã có sự hòa nhập vào kinh tế thị trường, trong khi
Trang 28ñại bộ phận dân cư vẫn ñang trong quá trình sản xuất dựa vào tự nhiên, trình ñộ dân trí thấp ñang là cản trở cho việc phát triển kinh tế-xã hội của ñịa phương theo hướng nâng cao trình ñộ sản xuất và mức sống cho cộng ñồng dân cư bản ñịa
+ Cộng ñồng người Kinh ñến ñây trước năm 1975, số ñông ở các khu vực thị trấn, dọc theo các trục giao thông Họ có kinh nghiệm tiếp cận với thị trường, năng ñộng và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh
+ Cộng ñồng người kinh và các dân tộc phía Bắc (Thái, Nùng, Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan, ) di cư ñến từ sau năm 1980 theo chương trình di dân của Chính phủ và di cư tự do Họ sống rải rác thu nhập không ổn ñịnh
Như vậy, thành phần cư dân phức tạp, không thuần nhất, phần lớn là lao ñộng phổ thông, chưa có kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá, chưa thích ứng với qui trình sản xuất phù hợp về mặt sinh thái; ñặc biệt là dân di cư tự do là một trong những nguyên nhân sâu xa gây suy giảm ña dạng sinh học trong vùng Bên cạnh ñó, trong vùng còn có một lực lượng lao ñộng lớn:
+ Tỷ lệ nam chiếm: 45,9%; nữ chiếm: 54,1%
+ Tỷ lệ lao ñộng chiếm 45,91% dân số vùng ñệm, trong ñó: Lao ñộng nam chiếm 44,4%, lao ñộng nữ chiếm 55,6% (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Cơ cấu dân số và lao ñộng trong 7 xã vùng ñệm
Trang 29Tỷ lệ lao ñộng, nam, nữ có ảnh hưởng trực tiếp ñến việc phân công lao ñộng trong cộng ñồng, cụ thể là: Nam giới thường ñi vào rừng khai thác gỗ, săn bắt thú rừng, còn phụ nữ thì thu hái lâm sản phụ như măng, cây thuốc, phong lan, Điều này ñã ảnh hưởng ñến tài nguyên rừng ñịa phương
2.2.2.2 Y tế
Các xã trong vùng ñệm ñều có trạm y tế Vấn ñề khó khăn hiện nay là thiếu cán bộ y tế, chỉ có 23 cán bộ y tế (13 y tá và 10 bác sỹ) trên tổng dân số 32.232 người Điều này dẫn ñến công tác chăm sóc sức khoẻ cho cộng ñồng bị hạn chế Các bệnh dịch phổ biến là sốt rét, bệnh ñường ruột và hô hấp; trong ñó sốt rét
là bệnh có tỉ lệ người mắc và có nguy cơ tử vong cao nhất Theo ý kiến của cán
bộ y tế xã, dịch bệnh tập trung cao nhất vào tháng giao mùa hàng năm Ngoài ra các bệnh về ñường ruột và hô hấp mà nguyên nhân chủ yếu là do phong tục tập quán sinh hoạt, không có nước sạch và chăn nuôi theo tập tục mất vệ sinh gây ra Dịch bệnh và các ảnh hưởng của nó ñã làm làm cho ñời sống của cộng ñồng ñã khó khăn lại càng khó khăn thêm Vấn ñề y tế và chăm sóc sức khoẻ ban ñầu cho cộng ñồng là một trong những giải pháp góp phần xoá ñói, giảm nghèo
2.2.2.3 Cơ sở hạ tầng
+ Giao thông: Điều kiện ñịa hình khá bằng phẳng, không xa trung tâm huyện
và thành phố Buôn Ma Thuột, nhưng ñiều kiện giao thông trong 7 xã vùng ñệm còn gặp nhiều khó khăn ñặc biệt trong mùa mưa Toàn bộ hệ thống ñường liên thôn là ñường ñất chỉ có duy nhất một tuyến ñường nhựa từ Buôn Ma Thuột ñi
Ea Sup Điều này ảnh hưởng ñến việc phát triển kinh tế do khó khăn trong việc vận chuyển hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm vì tư thương ép giá Do ñó, sự hỗ trợ của các cấp chính quyền ñịa phương và VQG trong thời gian qua nhằm nâng cao ñời sống của cộng ñồng ñể giảm bớt các áp lực của con người ñối với tài nguyên
ña dạng sinh học của Vườn vẫn chưa ñạt hiệu quả thiết thực
+ Thông tin liên lạc: Các xã ñã có ñiện thoại Các phương tiện thông tin
nghe, nhìn ñã tiếp cận với các thôn bản, góp phần nâng cao ñời sống tinh thần
Trang 30của cộng ñồng ñịa phương Đây là ñiều kiện thuận lợi cho công tác truyền thông quản lý bảo vệ rừng của VQG Yok Đôn ñến từng thôn bản
+ Thuỷ lợi: Chưa ñược chú trọng, các công trình thuỷ lợi: Cư Minh, Ea Mar
và Nà Xược, Ea Ver ñược xây dựng từ năm 1992 chỉ ñủ cung cấp nước cho
62 ha ruộng nước của 3 xã Hầu hết diện tích ñất canh tác ở ñây ñều là ruộng một
vụ, chủ yếu là nhờ mưa
2.2.2.4 Tình hình kinh tế khu vực nghiên cứu
Phần lớn người dân trên ñịa bàn khu vực nghiên cứu sống bằng nghề nông Diện tích ñất canh tác chủ yếu là lúa, ngô và rau màu Ngoài ra, Điều và
Cà phê là các cây trồng khác mang lại lợi ích kinh tế một cách ñáng kể và ñặc trưng của vùng
Bảng 2.3 Diện tích ñất canh tác các loại cây trồng chủ yếu trong 7 xã
vùng ñệm
Xã Dân số
(người)
Lúa (ha)
Ngô (ha)
Cà phê (ha)
Điều (ha)
Rau,màu (ha) Cộng
Qua số liệu bảng 2.3 cho thấy, diện tích bình quân ñể canh tác trên ñầu người
ở khu vực rất thấp, chỉ có khoảng 0,183 ha, thêm vào ñó ñiều kiện của khu vực
Trang 31có mùa khô kéo dài nên thời gian sản xuất kinh tế nông nghiệp chủ yếu diễn ra trong 6 tháng của mùa mưa
Các ngành nghề khác hầu như chưa phát triển hoặc mới chỉ ở mức ñộ nhỏ lẻ trao ñổi tại chổ chưa trở thành hàng hóa Vào thời gian rảnh rỗi, người dân tìm thêm thu nhập từ việc khai thác lâm sản Điều này ñã ảnh hưởng ñến việc quản
lý và bảo vệ tài nguyên rừng ñịa phương
Với ñiều kiện sản xuất như trên, nguồn thu nhập của cộng ñồng trong khu vực nghiên cứu còn thấp, ñể cải thiện kinh tế người dân ñã tác ñộng mạnh mẽ vào tài nguyên rừng làm cho rừng bị suy giảm về diện tích và chất lượng Nhu vậy, ñể quản lý tài nguyên rừng bền vững thì cần phải cải thiện ñời sống của người dân
2.3 Đặc ñiểm hệ ñộng thực vật Vườn Quốc gia Yok Đôn
2.3.1 Hệ ñộng vật
Hệ ñộng vật của Vườn Quốc gia Yok Đôn rất phong phú và ñặc sắc với 69 loài, thuộc 24 họ,11 bộ và 245 loài chim (Hồ Văn Cử, 2006); 48 loài bò sát, 16 loài ếch nhái 5 loài cá và khoảng trên 437 loài côn trùng [26] Trong số này có tới 30 loài thú, 20 loài chim và một số loài bò sát quí hiếm ñã ñược ñưa vào Sách
ñỏ Việt Nam như nai Cà Toong, bò Xám, bò Tót, bò Rừng, trâu Rừng, báo, hổ, công, gà Lôi, gà Lôi (hông tía), sóc bay, Hồng Hoàng, cá sấu nước ngọt Điểm ñặc biệt các loài thú quí ở ñây sống thành những quần thể lớn và tập trung như
bò Tót, bò Rừng, mang Lớn, sói Đỏ, Vọoc và ñặc biệt phải kể ñến loài voi Châu
Á Loài thú quí ñã gắn Vườn Quốc gia Yok Đôn là khu vực duy nhất ở Việt Nam bảo tồn kiểu rừng khô cây họ Dầu (Rừng khộp) có nhiều loài thú lớn quý hiếm với số quần thể lớn và tập trung như: Mang Lớn, bò Xám, nai Cà Toong, voi Châu á, hổ, sói Đỏ Đây cũng là nơi duy nhất của Việt Nam có thể gặp 3 loài
Bò (bò Xám, bò Rừng, bò Tót)
Trang 322.3.2 Hệ thực vật
Vườn Quốc gia Yok Đôn ñược xem như một bảo tàng sống, sinh ñộng ñể nghiên cứu nguồn gốc lịch sử tiến hoá, các mối quan hệ giữa các kiểu rừng thường xanh, rừng bán thường xanh và rừng thưa cây lá rộng rụng lá khô nhiệt ñới (rừng Khộp), ñây là hệ sinh thái ñộc ñáo ñặc trưng của Việt Nam và thế giới
Bảng 2.4 Cấu trúc tổ thành các taxon của hệ thực vật tại VQG Yok Đôn
Những nghiên cứu về ña dạng sinh học ñược thực hiện ở Vườn ñã ghi nhận
có 858 loài thực vật, thuộc 129 họ, 478 Chi, trong ñó: Ngành Thông ñất
(Lycopodiophyta) có số loài thực vật ít nhất ( có 1 họ, 1 chi và 2 loài), Ngành hạt kín (Magnoliophyta) là ngành ña dạng nhất, có 117 họ, 460 chi, 835 loài
(Bảng 2.4)
Số các loài thực vật có khả năng cung cấp gỗ với ñường kính từ 20cm trở lên
là 120 loài gồm nhiều loài gỗ quý như Cà te (Afzelia xylocarpa ), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Cẩm liên (Shorea siamensis), Dầu Trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dầu lông (Dipterocarpus baudii)… và 64 loài thực
vật có thể sử dụng làm dược liệu
Trang 33Các nhà khoa học cũng ñã phát hiện ñược các loài thực vật trên hợp lại và tạo thành một thảm rừng rộng lớn phủ kín hơn 90% diện tích toàn Vườn và có thể ñược chia thành 3 dạng chính như sau:
+ Rừng thưa cây lá rộng, rụng lá về mùa khô (Rừng khộp): là kiểu rừng chiếm ưu thế trong toàn Vườn Đặc trưng của kiểu rừng này là tầng cây gỗ thưa, tán lá không liên tục, rụng lá về mùa khô Nhờ thế, lượng ánh sáng có thể lọt xuống ñất rất lớn, tạo ñiều kiện cho rừng cây tái sinh và lớp cỏ phát triển tốt
+ Rừng kín, thường xanh mưa ẩm nhiệt ñới (Rừng thường xanh): Loài thực
vật ñặc trưng của kiểu rừng này là loài Săng ñào (Hopea siamensis) và Sao ñen (Hopea odorata), ven sông suối là rừng hành lang với ưu thế của loài tre Gai, xen giữa các bụi tre là các cây gỗ khổng lồ của loài Dầu rái (Dipterocarpus
alatus)
+ Rừng kín nửa rụng lá khô nhiệt ñới (Rừng bán thường xanh): Phát triển ở vùng chuyển tiếp giữa 2 kiểu rừng rụng lá (rừng Khộp) và rừng thường xanh là các vạt rừng bán thường xanh, với ưu thế rõ rệt của loài Bằng lăng
Trang 34Hình 2.1 Bản ñồ hiện trạng tài nguyên rừng VQG Yok Đôn
Trang 352.3.2.1 Đa dạng về nguồn tài nguyên cây có ích
Trong tổng số 858 loài thực vật của VQG Yok Đôn có 564 loài thực vật có công dụng (chiếm 65,85%,) Số lượng các loài thực vật tuy ít nhưng tỷ lệ các loài có khả năng ñược sử dụng lại rất cao, tới 65,85% (Bảng 2.5) Điều ñó cho thấy, hệ thực vật ở ñây mặc dù với số lượng loài nhỏ bởi tính giản ñơn của ñiều kiện tự nhiên nhưng lại có một vốn gen khá phong phú và ña dạng
Bảng 2.5 Giá trị sử dụng của hệ thực vật Yok Đôn
số ñại diện như: Thanh táo (Justicia gendarussa) có công dụng làm thuốc và làm cảnh, Mào gà dại (Celosia argentea) công dụng làm thuốc và cảnh, Mà ca lá lớn (Buchanania arborescens) cho gỗ và làm thuốc, Chiêu liêu ổi (Terminalia
corticosa) vừa cho gỗ vừa làm thuốc, Dầu ñồng (Dipterocarpus tuberculatus)
cho gỗ và làm thuốc
Trang 36Đặc biệt là số loài có nhiều hơn 3 công dụng cũng chiếm tới 72 loài (chiếm
8,39% số loài của hệ) với các ñại diện như Củ mài lông (Dioscorea bulbifera) với các công dụng làm thuốc, cảnh và thức ăn; Nhàu núi (Morinda citrifolia.) với các công dụng làm thuốc, cho sợi và dầu; Trám lá ñỏ (Canarium subulatum) làm
thuốc, lấy gỗ và cho quả ăn ñược
* Tài nguyên cây thuốc
Theo kết quả ñiều tra tài nguyên cây thuốc VQG Yok Đôn của Bảo Huy, Hồ Viết Sắc và cộng sự (2004) và nghiên cứu về ña dạng thực vật Vườn Quốc gia Yok Đôn của Ngô Tiến Dũng (2005) thì hệ thực vật Vườn quốc gia Yok Đôn có một nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú với nhiều loài cây thuốc quí
và ñược sử dụng rộng rãi như: Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Nhàu (Morinda spp.), Ngũ gia bì (Schefflera spp.), Sâm bố chính (Hibiscus
sagittaefolius) ñặc biệt khi nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trong cộng
ñồng ñịa phương, ñã phát hiện ñược 2 loài: Hồng bì rừng (Clausena excavata) và Bán Tràng (Hemidesmus sp.) ñược sử dụng như một vị thuốc tăng lực, cùng với
ñó là loài Nhàu (Morinda spp.) một loài có triển vọng lớn ñối với sức khoẻ con
người và ñóng vai trò quan trọng trong vấn ñề phát triển kinh tế cộng ñồng
Trang 37Hình 2.2 Bản ñồ phân bố cây thuốc VQG Yok Đôn
(Nguồn: Phòng kỹ thuật, VQG Yok Đôn )
Trang 38* Tài nguyên cây lấy gỗ
Ngô Tiến Dũng, 2005, ñã thống kê ñược trong VQG Yok Đôn có 158 loài cây lấy gỗ, chiếm 18,41% tổng số loài trong toàn hệ, chiếm 43,05% tổng số loài cây có dạng sống là cây gỗ (hệ thực vật VQG Yok Đôn có tổng số 367 loài có
dạng sống thân gỗ) Có nhiều loài cây quý hiếm như: Cà te (Xylia xylocarpa), các loại Cẩm lai (Dalbergia spp.), Giáng hương quả to (Pterocarpus
macrocarpus), Gụ mật (Sindora siamensis), Săng lẻ (Largestroemia spp.), Cà
chít (Shorea obtusifolia), Cẩm liên (Shorea siamensis), Kiền kiền (Hopea
pierrei), Táu (Vatica spp.)
* Nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ của hệ thực vật VQG Yok Đôn rất ña dạng và phong phú gồm các loài cây có giá trị, triển vọng như là cây ăn quả, lương thực, thức ăn cho người hoặc gia súc; cây làm cảnh (sử dụng hoa hay thế, giáng cây); cây lấy sợi (sử dụng cho thủ công, mỹ nghệ), cây lấy tinh dầu, dầu béo,,
Trong quả nghiên cứu về ña dạng thực vật VQG Yok Đôn, Ngô Tiến Dũng,
2005, ñã xác ñịnh ñược nhóm các loài ăn ñược: có 141 loài (16,43%) với các ñại
diện như Lộc vừng (Barringtonia spp.), Trám (Canarium spp.), Xoài rừng (Mangifera spp.), Bứa (Garcinia spp.), Đào tiên (Crescentia cujete), Bứa mọi (Garcinia harmandii), Chòi mòi chua (Antidesma ghaesembilla), Đậu ván (Lablab purpureus), Sung (Ficus spp.)
Nhóm các cây làm cảnh: 57 loài (chiếm 6,64%) với các ñại diện như: các loài
Lan - Orchidaceae (chủ yếu các loài thuộc chi Dendrobium), Lộc vừng (Barringtonia spp.), Bìm bìm tím ñỏ (Ipomor rubra), Sổ ñất (Dillenia
hookeriana), Tuế (Cycas spp.)
Nhóm cây cho chất ñôc 20 loài (chiếm 2,3% số loài của hệ)
Nhóm các loài cho dầu nhựa: Yok Đôn ñặc trưng bởi rừng Khộp, ở ñó các
loài họ Dầu - Dipterocarpaceae chiếm vai trò cực kỳ quan trọng Do vậy tài
nguyên thực vật ở ñây không thể nào không kể ñến giá trị sử dụng cuả các loại
Trang 39số loài của hệ Một số loại nhựa ñáng kể ñến là dầu chai (chiết xuất từ
Dipterocarpus alatus) dùng cho công nghiệp sơn, véc-ni, sơn mài; tinh dầu 16
loài chiếm 1,8% số loài của hệ (chiết xuất từ Shorea hopea) dùng làm thuốc; nước hoa (từ hoa của Vatica diospyroides, Shorea roxburghii)
Các nhóm cây còn lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng số loài của toàn hệ nhưng ñã góp phần làm tăng tính ña dạng, phong phú nguồn tài nguyên có giá trị
sử dụng của hệ thực vật VQG Yok Đôn Các ứng dụng cụ thể từ một số ít các loài này là giá trị của các loài song mây trong thủ công mỹ nghệ, trong nghề dệt truyền thống của ñồng bào dân tộc
2.3.2.2 Đa dạng nguồn gien quí hiếm
* Theo Sách ñỏ Việt Nam
Theo sách ñỏ cho thấy, có tổng số 23 loài quí hiếm có nguy cơ bị ñe doạ trong tự nhiên cần ñược bảo vệ trong tổng số 858 loài thực vật của hệ thực vật VQG Yok Đôn là những loài nằm trong Sách ñỏ Việt Nam, chiếm 6,75% tổng số loài trong sách ñỏ Việt Nam, chiếm 2,7% số loài của hệ thực vật Yok Đôn
Bảng 2.6 Danh lục các loài cây quí hiếm và mức ñộ khai thác
Trang 40EN A1cd+2cd
bóng
Dipterocarpus turbinatus
CR A1cd+2cd